Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của việt nam trong giai đoạn hiện nay

  • 105 trang
  • file .pdf
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 6
1.1 Khái niệm, mục đích, vai trò của bảo hiểm tiền gửi 6
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm tiền gửi 6
1.1.2 Mục đích của bảo hiểm tiền gửi 12
1.1.3 Vai trò của bảo hiểm tiền gửi trong nền kinh tế thị trường 15
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm tiền gửi 22
1.3 Sự điều chỉnh của pháp luật đối với bảo hiểm tiền gửi 25
TIỂU KẾT 29
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 31
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về bảo 31
hiểm tiền gửi
2.2 Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tiền 35
gửi
2.2.1 Các quy định về chủ thể trong quan hệ bảo hiểm tiền gửi 35
2.2.1.1 Tổ chức bảo hiểm 35
2.2.1.2 Tổ chức tham gia bảo hiểm 52
2.2.1.3 Đối tượng được thụ hưởng bảo hiểm tiền gửi 57
2.2.2 Các quy định của pháp luật liên quan đến tiền được bảo hiểm 60
2.2.2.1 Loại tiền được bảo hiểm 60
2.2.2.2 Hạn mức chi trả bảo hiểm 63
2.2.2.3 Phí bảo hiểm 67
2.2.2.4 Chi trả tiền bảo hiểm 69
TIỂU KẾT 73
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP 76
LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY
3.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tiền gửi và sự cần 76
thiết phải hoàn thiện trong giai đoạn hiện nay
3.1.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tiền gửi 76
3.1.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của 85
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
3.2 Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền 87
gửi của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, hoạt động của hệ thống
ngân hàng Việt Nam đã đạt được những kết qủa đáng khích lệ. Qua đó, hệ thống
ngân hàng phần nào đã khẳng định được vị trí của mình với vai trò cung cấp vốn
cho nền kinh tế. Trong quá trình phát triển đó, các sản phẩm- dịch vụ mà ngân
hàng mang lại cho nền kinh tế ngày càng đa dạng và phong phú hơn. Tuy nhiên,
hoạt động được xem là cơ bản và quan trọng nhất của các ngân hàng là huy động
vốn từ công chúng bằng cách nhận tiền gửi dưới những hình thức nhất định và sử
dụng khoản tiền đó để cấp vốn cho các chủ thể khác đang có nhu cầu sử dụng
trong nền kinh tế. Như vậy, có thể nói một cách khái quát rằng, hoạt động cơ bản
của các ngân hàng là đi vay để cho vay- đây là căn nguyên chính dẫn đến nguy
cơ rủi ro luôn tiềm ẩn đối với hoạt động ngân hàng. Mặt khác, đặc trưng lớn nhất
của hoạt động ngân hàng so với các loại hình doanh nghiệp khác là tính hệ thống
rất cao. Do vậy, khi xảy ra rủi ro, đổ vỡ của một ngân hàng rất có thể sẽ dẫn đến
đổ vỡ của cả một hệ thống, thậm chí còn có thể gây hoảng loạn cho cả một nền
kinh tế. Để đối phó với vấn đề này, Việt Nam cũng giống như các quốc gia khác
đã áp dụng nhiều biện pháp thông qua việc ban hành các quy định của pháp luật
nhằm đem lại sự an toàn ở mức độ cao nhất có thể trong hoạt động ngân hàng.
Xét ở một khía cạnh khác, để bảo đảm cho sự bình ổn trong hoạt động của
các ngân hàng, không thể không tính đến việc bảo vệ sự an toàn cho người gửi
tiền. Bởi lẽ, chính người gửi tiền là đối tác cung cấp vốn cho ngân hàng- một
lượng vốn đóng vai trò quyết định đến lượng tiền mà các ngân hàng có thể sử
dụng để cấp cho nền kinh tế.
Như vậy, vấn đề bảo vệ người gửi tiền và bảo vệ sự an toàn, bền vững trong
hoạt động của các ngân hàng phải được xem xét một cách đồng thời và luôn có
mối quan hệ biện chứng với nhau. Do vậy, bảo hiểm tiền gửi xuất hiện được xem
1
như hoạt động kết hợp hài hoà lợi ích, một mặt bảo vệ lợi ích của người gửi tiền,
mặt khác tạo điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển an toàn, bền vững
của hệ thống ngân hàng.
Nhu cầu đó của nền kinh tế chính là lý do khách quan làm xuất hiện một
lĩnh vực pháp luật mới- pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Ở Việt Nam, vấn đề bảo
hiểm tiền gửi được đề cập từ năm 1994 theo quyết định số101/TCQĐ- BH về
việc ban hành quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của quỹ tín dụng nhân dân đối với
các khoản tiền có kỳ hạn- đây là văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam về bảo
hiểm tiền gửi. Tuy nhiên, bảo hiểm tiền gửi trong giai đoạn này chỉ là một trong
những nghiệp vụ kinh doanh của Bảo Việt- một doanh nghiệp chuyên kinh
doanh các loại bảo hiểm thương mại.
Sau đó, hoạt động bảo hiểm tiền gửi được tách thành một hoạt động độc lập
và mang tính chuyên biệt theo Nghị định số 89/1999/NĐ- CP ngày 01 tháng 09
năm 1999 về bảo hiểm tiền gửi và hoạt động này được thực hiện bởi tổ chức Bảo
hiểm tiền gửi Việt Nam, tổ chức này được thành lập theo Quyết định số
218/1999/QĐ- TTg ngày 09 tháng 11 năm 1999. Tiếp đến, ngày 16 tháng 03
năm 2000, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số
03/2000/TT- NHNN hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/1999/NĐ- CP về bảo
hiểm tiền gửi. Sau một thời gian áp dụng, Nghị định số 89/1999/NĐ- CP đã bộc
lộ những hạn chế nhất định nên ngày 24 tháng 08 năm 2005 Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 109/2005/NĐ- CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 89/1999/NĐ- CP và ngày 25 tháng 04 năm 2006 Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 03/2006/TT- NHNN thay thế cho
Thông tư số 03/2000/TT- NHNN.
Như vậy, có thể nhận thấy, các quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam là lĩnh vực pháp luật mới và khá quan trọng trong hệ thống các quy
định của pháp điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực tài chính- ngân
2
hàng. Mặc dù là lĩnh vực pháp luật mới được hình thành tại Việt Nam nhưng
pháp luật về bảo hiểm tiền gửi đã dần được hoàn thiện và phần nào đáp ứng
được yêu cầu của thực tiễn nền kinh tế.
Tuy nhiên, tất cả các văn bản pháp luật của Việt Nam hiện hành mới chỉ tồn
tại ở dạng văn bản dưới luật, tính pháp điển chưa cao, chưa tạo ra hành lang pháp
lý ổn định, chưa đồng bộ và phù hợp với các văn bản pháp luật khác có liên quan
và có nhiều quy định đã bộc lộ sự không phù hợp so với đòi hỏi của thực tiễn.
Mặt khác, hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam đã có được sự phát triển nhất
định trong giai đoạn thử nghiệm kể từ năm 1999 đến nay và đặc biệt hơn, trong
giai đoạn hiện nay, khi chúng ta ngày càng hội nhập kinh tế quốc tế một cách
sâu, rộng thì nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về
bảo hiểm tiền gửi nói riêng càng trở nên cần thiết. Điều đó có ý nghĩa cả về lý
luận và thực tiễn. Do vậy, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Hoàn thiện pháp
luật về bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài
cho luận văn tốt nghiệp cao học.
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến bảo hiểm tiền gửi và pháp luật về bảo hiểm tiền gửi đã có một vài
đề tài nghiên cứu. Ví dụ như: “Các giải pháp phát triển hoạt động bảo hiểm tiền
gửi ở Việt Nam”- TS. Nguyễn Thị Kim Oanh; “Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
của Việt Nam”- Th.S. Nguyễn Vân Hoài; TS. Lê Thị Thu Thuỷ- “Xây dựng pháp
luật về bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền”- Tạp chí nghiên cứu lập pháp- Số 6
năm 2007; TS. Lê Thị Thu Thuỷ- “Mô hình bảo hiểm tiền gửi trong thời kỳ hội
nhập kinh tế quốc tế”- Tạp chí Luật học- Số 12 năm 2007... Tuy nhiên, tất cả
những đề tài nghiên cứu đó hoặc là đi nghiên cứu sâu về hoạt động bảo hiểm tiền
gửi, chính sách bảo hiểm tiền gửi dưới giác độ kinh tế hoặc là có nghiên cứu về
pháp luật bảo hiểm tiền gửi nhưng ở giai đoạn trước đó mà hiện nay các quy
định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi đã có nhiều sự thay đổi hoặc là chỉ đề
3
cập đến một khía cạnh của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Do vậy, chúng tôi
nhận thức rằng cần thiết phải nghiên cứu một cách toàn diện các quy định của
pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam hiện hành, đánh giá thực trạng các
quy định và phân tích những đòi hỏi của thực tiễn để đưa ra những kiến nghị góp
phần hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam trong giai đoạn
ngày nay.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích những vấn đề lý luận về tiền
gửi và bảo hiểm tiền gửi, chỉ rõ mục đích, vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với
nền kinh tế. Trên cơ sở chỉ ra sự cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật đối
với hoạt động bảo hiểm tiền gửi, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành về bảo hiểm tiền gửi và đánh giá thực trạng các quy định để từ đó chỉ
ra những bất cập và đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về
bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay sao cho phù hợp với
yêu cầu của sự phát triển và hội nhập quốc tế.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành về bảo hiểm tiền gửi- lĩnh vực pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo
hiểm tiền gửi ở Việt Nam, xác định mối liên hệ của các quy định này trong tổng
thể các các quy định của pháp luật về tài chính- ngân hàng. Trong phạm vi luận
văn này, chúng tôi không đi sâu tìm hiểu tất cả các vấn đề về bảo hiểm tiền gửi
mà chỉ đi sâu phân tích khía cạnh pháp lý, cơ sở lý luận và nội dung các quy định
của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tiền gửi, đồng thời có tham khảo thêm các
quy định của pháp luật một số nước về lĩnh vực bảo hiểm tiền gửi như pháp luật
về bảo hiểm tiền gửi của Hàn Quốc, pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của Mỹ.... để
từ đó, đưa ra những kiến nghị mang tính khoa học thể hiện quan điểm của mình
nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam.
4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để có thể thực hiện việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt được những mục đích
nêu trên, chúng tôi sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử làm cơ sở phương pháp luận. Bên cạnh đó, chúng tôi có sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp thống kê, phương pháp so
sánh, phương pháp phân tích- tổng hợp để làm sáng tỏ những nội dung của đề
tài.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
bao gồm ba chương được bố cục như sau:
Chương 1: Tổng quan về bảo hiểm tiền gửi
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tiền gửi
Chương 3: Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền
gửi của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
5
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1.1 Khái niệm, mục đích, vai trò của bảo hiểm tiền gửi
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm tiền gửi
Nghiên cứu lịch sử hình thành và quá trình phát triển hoạt động của các tổ
chức tín dụng có thể nhận thấy rằng, một trong những hoạt động đặc biệt quan
trọng của các tổ chức tín dụng đó là hoạt động huy động vốn từ công chúng.
Hoạt động này được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như nhận tiền gửi
dưới dạng tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành
giấy tờ có giá. Nguồn vốn huy động từ công chúng này sẽ được tổ chức tín dụng
cho các chủ thể khác trong nền kinh tế vay nhằm mục đích phục vụ nhu cầu sinh
hoạt- tiêu dùng hoặc nhằm mục đích tiến hành các hoạt động sản xuất- kinh
doanh. Với hoạt động cơ bản này thì tổ chức tín dụng đã trở thành trung gian tài
chính giữa người cho vay và người đi vay. Xét dưới giác độ pháp lý thì cả người
gửi tiền và người vay tiền đều ký với tổ chức tín dụng một hợp đồng và tổ chức
tín dụng sẽ là người trung chuyển nguồn vốn giữa người thừa vốn và người thiếu
vốn. Tuy nhiên, giữa người gửi tiền và người vay tiền không thiết lập bất kỳ một
quan hệ nào với nhau và cả hai chỉ biết có tổ chức tín dụng là đối tác của mình.
Điều đó có nghĩa rằng, khi tổ chức tín dụng nhận tiền gửi từ công chúng thì tổ
chức tín dụng có toàn quyền sử dụng đồng vốn đó, có quyền cấp tín dụng cho bất
cứ chủ thể nào theo sự lựa chọn của mình và luôn phải chịu trách nhiệm đối với
người gửi tiền.
Như vậy, thuật ngữ “tiền gửi” được sử dụng từ lâu và nó gắn liền với quá
trình hình thành và phát triển của hoạt động ngân hàng. Trong giai đoạn khởi đầu
xuất hiện hoạt động ngân hàng thì thuật ngữ tiền gửi được hiểu và thực hiện một
cách rất đơn giản, đó là các khoản tiền mà người sở hữu nó không muốn hoặc
6
không thể đầu tư vào đâu hoặc không có khả năng bảo đảm an toàn nên đã đem
gửi vào ngân hàng với mục đích tích luỹ và bảo đảm an toàn cho tài sản của
mình. Với quan niệm như vậy, ngân hàng chính là nơi giữ tiền giúp cho một bộ
phận dân cư trong xã hội. Về sau, cùng với sự phát triển của nền kinh tế- xã hội,
hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển hơn, nhu cầu về vốn của các tổ chức,
cá nhân khác trong xã hội ngày càng lớn hơn và điều đó kéo theo sự hình thành
hàng loạt hoạt động nghiệp vụ khác trong hoạt động của các ngân hàng như cho
vay, thanh toán... thì các khoản tiền gửi của công chúng không đơn thuần nhằm
mục đích bảo quản tài sản nữa mà đã được hưởng lãi.
Trong giai đoạn ngày nay, khi nhu cầu về vốn đối với nền kinh tế là cực lớn
thì yêu cầu huy động vốn nhàn rỗi từ công chúng của các tổ chức tín dụng ngày
càng tăng và như vậy, các tổ chức tín dụng ngày càng đưa ra nhiều hình thức để
huy động vốn sao cho phù hợp- một mặt nhằm động viên, khuyến khích được
người gửi tiền, mặt khác vẫn đảm bảo lợi ích của mình khi sử dụng nguồn vốn
huy động đó để cấp tín dụng. Do vậy, thuật ngữ tiền gửi cũng được hiểu rộng
hơn và được quy định một cách cụ thể trong các văn bản pháp luật. Mỗi quốc gia
có quan niệm riêng về tiền gửi và từ đó, có cách phân loại tiền gửi riêng.
Chẳng hạn như pháp luật của Malaixia quy định rằng: “tiền gửi có nghĩa là
một khoản tiền đã nhận hay được hoàn trả theo các điều kiện: a) mà theo đó
khoản tiền sẽ được hoàn trả, có hoặc không có lãi hoặc có cộng thêm phí hoặc
chiết khấu đi; hoặc b) mà theo đó khoản tiền được hoàn trả, toàn bộ hoặc một
phần, với bất kỳ một tính toán nào về tiền tệ hoặc giá trị tiền tệ, và khoản được
trả như vậy không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn hoặc trong những hoàn cảnh được
thoả thuận bởi hoặc thay mặt cho người thực hiện thanh toán và người nhận
thanh toán, bất kỳ là giao dịch được coi như một khoản cho vay, một khoản ứng
trước, một khoản đầu tư, khoản tiết kiệm, mua hoặc mua và bán, nhưng không
7
tính yếu tố xác thực của khoản tiền được trả” (Điều 2- Đạo Luật 372- Luật về
các tổ chức tín dụng- ngân hàng của Malaixia). Như vậy, có thể nhận thấy rằng,
tiền gửi theo cách xác định trên là rất rộng, không đơn thuần chỉ là những khoản
tiền gửi nhàn rỗi của công chúng nhằm mục đích hưởng lãi mà còn bao gồm tất
cả các khoản tiền gửi khác nhằm mục đích đầu tư, đặt cọc hay ứng trước...
Hay trong Luật bảo hiểm tiền gửi của Mỹ quy định rằng: “tiền gửi được
hiểu là số dư tiền hoặc giá trị tương đương chưa được thanh toán đã được nhận
hoặc giữ bởi một ngân hàng hoặc hiệp hội tiết kiệm trong hoạt động kinh doanh
thông thường và từ đó nó cấp hoặc có nghĩa vụ cấp tín dụng, dù là có điều kiện
hay không điều kiện, cho một tài khoản thương mại, séc, tiết kiệm, không kỳ hạn,
hoặc được chứng minh bằng giấy chứng nhận tiền gửi, chứng nhận tiết kiệm,
chứng nhận đầu tư, chứng nhận nợ, hoặc những tên tương tự, hoặc séc hay hối
phiếu rút ra từ tài khoản tiền gửi và được chứng nhận bởi ngân hàng hoặc hiệp
hội tiết kiệm, hoặc thư tín dụng hoặc séc du lịch mà ngân hàng hoặc hiệp hội tiết
kiệm có nghĩa vụ đầu tiên” (Luật bảo hiểm tiền gửi Mỹ- Phần thứ 3)
Không phải là một ngoại lệ, khái niệm tiền gửi cũng được pháp luật Việt
Nam quy định một cách cụ thể trong các văn bản pháp luật. Theo quy định tại
Điều 20- Khoản 9- Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 12
tháng 12 năm 1997 thì: “tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín
dụng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm
và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải
hoàn trả cho người gửi tiền”. Qua định nghĩa trên, có thể nhận diện được những
khoản tiền nào của khách hàng được coi là tiền gửi. Tuy nhiên, nơi tiếp nhận
những khoản tiền đó phải là tổ chức tín dụng, còn các khoản tiền mà khách hàng
gửi tại các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật thì
đó không phải là tiền gửi- đó là một bất cập của pháp luật Việt Nam hiện hành
8
về vấn đề này. Do vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức
tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 15 tháng 06 năm 2004 đã xác định: “tiền
gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức
khác có hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có
kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc
không được hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền” (Khoản 3- Điều
1- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng). Ưu điểm
của định nghĩa này về tiền gửi so với định nghĩa trong Luật các tổ chức tín dụng
ngày 12 tháng 12 năm 1997 ở chỗ xác định đầy đủ hơn về đối tượng nhận tiền
gửi- đó là các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng.
Ngoài ra, trong hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam trong
lĩnh vực tài chính- ngân hàng còn có một văn bản khác cũng đưa ra khái niệm về
tiền gửi đó là Nghị định số 70/2000/NĐ- CP ngày 21 tháng 11 năm 2000 của
Chính phủ về việc giữ bí mật thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của
khách hàng tại các tổ chức tín dụng. Theo quy định tại Nghị định này thì: “tiền
gửi của khách hàng bao gồm tiền đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ của tổ
chức và cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn (kể cả
tiền gửi tiết kiệm và các hình thức tiền gửi khác)”. Qua cách tiếp cận về tiền gửi
của các văn bản pháp luật Việt Nam, có thể rút ra kết luận mang tính khái quát
rằng, tiền gửi là khoản tiền của khách hàng gửi tại các tổ chức được phép thực
hiện các hoạt động ngân hàng và được thực hiện dưới những hình thức theo quy
định của pháp luật.
Phân tích khái niệm trên về tiền gửi cho thấy, các tổ chức nhận tiền gửi của
các tổ chức, cá nhân trong xã hội và sử dụng khoản tiền đó để thực hiện các hoạt
động đầu tư và trong đó có cấp tín dụng cho các chủ thể khác đang có nhu cầu sử
dụng vốn. Như vậy, tổ chức nhận tiền gửi sẽ phải có trách nhiệm chi trả cho
người gửi tiền (bao gồm cả gốc và lãi) mà không phụ thuộc vào việc họ có thu
9
được nợ từ việc cho người khác vay hay không? Với tính chất đó, hoạt động
ngân hàng luôn chứa đựng khả năng rủi ro rất cao và người gửi tiền luôn đặt vấn
đề rằng liệu rằng các ngân hàng luôn vững mạnh về mặt tài chính? Tâm lý lo âu
của người gửi tiền xuất hiện vì nếu xảy ra trường hợp đổ bể thì khoản tiền gửi
của họ cũng mất theo.... Do vậy, cần thiết phải xây dựng niềm tin từ người gửi
tiền. Việc xây dựng niềm tin này trước hết được thực hiện bởi chính tiềm lực tài
chính, kỹ năng hoạt động, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ... của tổ chức nhận
tiền gửi và bên cạnh đó cần thiết phải tạo niềm tin cho người gửi tiền bởi một
chủ thể khác mang tính cụ thể hơn, thiết thực hơn trong trường hợp xảy ra rủi ro
mất khả năng thanh toán của tổ chức nhận tiền gửi- đó chính sự xuất hiện của tổ
chức bảo hiểm tiền gửi. Có thể nhận thấy rằng, sự xuất hiện của bảo hiểm tiền
gửi như một đòi hỏi khách quan của nền kinh tế khi cần tạo ra một sự ổn định và
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong việc bảo vệ người gửi tiền.
Bảo hiểm tiền gửi đã xuất hiện khá lâu và có rất nhiều cách tiếp cận không
giống nhau về vấn đề này. Theo tài liệu chuyên khảo về bảo hiểm tiền gửi và
quản lý khủng hoảng do Quỹ Tiền tệ Quốc tế phát hành của tác giả Carl Johan
Lindgren và Gilian Garcia thì “bảo hiểm tiền gửi được định nghĩa như một cơ
chế có giới hạn nhưng chính thức cung cấp sự bảo đảm mang tính pháp lý cho
các khoản gốc (và thường là cả lãi) của các khoản tiền gửi” (18- Tr.16). Hay
theo định nghĩa của tác giả Choi J.B trong tài liệu cơ cấu của những hệ thống bảo
hiểm tiền gửi ở Châu Á thì “bảo hiểm tiền gửi là chính sách bảo đảm tất cả hoặc
một phần tiền gửi cùng lãi nhập gốc trên tài khoản tiền gửi sẽ được thanh toán
cho người gửi tiền khi ngân hàng nhận tiền gửi bị phá sản hay mất khả năng
thanh toán, theo cơ chế đồng bộ hoặc cam kết công khai” (19- Tr.25).
Cho đến nay, ở Việt Nam, hoạt động bảo hiểm tiền gửi đã được hình thành
và đi vào hoạt động gần chục năm. Chúng ta đã ban hành những văn bản pháp
10
luật nhằm điều chỉnh hoạt động này và thực tế cho thấy bảo hiểm tiền gửi Việt
Nam phần nào đã thể hiện được vai trò của mình trong việc tạo niềm tin cho
người gửi tiền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền cũng như tạo
ra sự bình ổn cho hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, trong tất cả các văn bản pháp
luật về bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam hiện hành, chưa có một văn bản nào đưa
ra định nghĩa về bảo hiểm tiền gửi. Trong khi đó điều này lại hết sức cần thiết.
Song, qua phân tích trên chúng ta có thể đưa ra định nghĩa mang tính khái quát
về bảo hiểm tiền gửi như sau: Bảo hiểm tiền gửi là thoả thuận giữa tổ chức bảo
hiểm tiền gửi với tổ chức nhận tiền gửi, theo đó tổ chức bảo hiểm tiền gửi sẽ
thực hiện thanh toán thay tổ chức nhận tiền gửi khi tổ chức nhận tiền gửi đó
chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán tiền gửi cho người gửi tiền.
Như vậy, có thể nhận thấy rằng bảo hiểm tiền gửi cũng là một loại bảo hiểm và
vì vậy, nó cũng bao gồm những đặc điểm chung của tất cả các loại bảo hiểm
khác. Điều đó được biểu hiện ở những khía cạnh như: có mua bảo hiểm (nộp
phí) trước kỳ bảo hiểm; chỉ áp dụng khi có rủi ro trong tương lai; không thực
hiện việc hồi tố; tích tụ tài chính của số đông để đền cho số ít khi có rủi ro. Tuy
nhiên, bên cạnh những đặc điểm chung đó, bảo hiểm tiền gửi còn một số đặc
trưng cơ bản như sau:
Thứ nhất: Về chủ thể tham gia. Trong quan hệ bảo hiểm tiền gửi có sự xuất
hiện của ba loại chủ thể đó là tổ chức nhận bảo hiểm tiền gửi; tổ chức tham gia
bảo hiểm tiền gửi và người thụ hưởng bảo hiểm. Đây là điểm khác biệt so với
các loại bảo hiểm khác- thông thường chỉ có sự tham gia của hai chủ thể đó là
bên bảo hiểm và bên được bảo hiểm.
Thứ hai: Chủ thể mua bảo hiểm (nộp phí). Trong quan hệ bảo hiểm tiền gửi
thì tổ chức nhận tiền gửi của người gửi tiền sẽ tham gia vào quan hệ bảo hiểm
tiền gửi với tư cách là tổ chức tham gia bảo hiểm- sẽ là người phải nộp phí bảo
11
hiểm theo một mức độ và thời hạn nộp nhất định. Còn người thụ hưởng bảo hiểm
tiền gửi là người gửi tiền tại tổ chức nhận tiền gửi lại không phải nộp phí bảo
hiểm. Rõ ràng, đây là một điểm rất đặc biệt của bảo hiểm tiền gửi so với các loại
bảo hiểm khác, ở đó chủ thể thụ hưởng bảo hiểm phải là người mua bảo hiểm và
phải nộp phí bảo hiểm.
Thứ ba: Chủ thể tham gia bảo hiểm tiền gửi. Bảo hiểm tiền gửi là loại hình
bảo hiểm chỉ dành riêng cho tổ chức nhận tiền gửi từ các tổ chức và cá nhân
trong xã hội. Do vậy, đối tượng tham gia vào bảo hiểm tiền gửi hẹp hơn so với
các loại bảo hiểm khác- đó là những loại hình bảo hiểm được dành cho sự tham
gia của mọi tổ chức và cá nhân có nhu cầu trong xã hội.
Thứ tư: Điều kiện được hưởng tiền bảo hiểm. Xét trên giác độ chung nhất
thì người thụ hưởng bảo hiểm chỉ được hưởng quyền lợi khi có sự kiện bảo hiểm
phát sinh và thông thường đó là những rủi ro xảy ra đối với người thụ hưởng.
Tuy nhiên, trong quan hệ bảo hiểm tiền gửi thì sự kiện bảo hiểm xảy ra lại không
trực tiếp xảy ra đối với người thụ hưởng mà đối với tổ chức nhận tiền gửi của
người gửi tiền- đó là khi tổ chức nhận tiền gửi chấm dứt hoạt động mà không có
khả năng chi trả tiền (bao gồm tiền gốc và lãi nhập gốc) cho người gửi tiền. Khi
đó, tổ chức tham gia bảo hiểm sẽ phải làm hồ sơ đề nghị được thanh toán bảo
hiểm cho người thụ hưởng mà người thụ hưởng không phải trực tiếp làm yêu cầu
bồi thường.
Thứ năm: Tính bắt buộc của chủ thể tham gia. Xuất phát từ mục đích của
bảo hiểm tiền gửi mà hầu hết các nước trên thế giới đều quy định việc tham gia
bảo hiểm tiền gửi là yêu cầu bắt buộc đối với các tổ chức có nhận tiền gửi của
các tổ chức và cá nhân trong xã hội. Trong khi đó, hầu hết các loại bảo hiểm
khác lại coi tự nguyện là nguyên tắc trong hoạt động của mình, việc tham gia bảo
12
hiểm hay không xuất phát từ nhu cầu và sự tính toán của chính các chủ thể trong
xã hội.
1.1.2 Mục đích của bảo hiểm tiền gửi
Bản chất của bảo hiểm tiền gửi xét trên giác độ kinh tế, đó là một loại hình
dịch vụ mà sự xuất hiện của loại hình dịch vụ này đóng vai trò đặc biệt quan
trọng cho sự bình ổn của các tổ chức nhận tiền gửi và người gửi tiền. Mặc dù,
mục đích cụ thể của bảo hiểm tiền gửi của các quốc gia khác nhau là không
giống nhau (có quốc gia thì bảo hiểm tiền gửi vì mục tiêu lợi nhuận, có quốc gia
thì bảo hiểm không vì mục tiêu lợi nhuận) nhưng xét một cách khái quát nhất thì
bảo hiểm tiền gửi được thiết lập nhằm một số mục đích như sau:
Thứ nhất: Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Có thể
nhận thấy rằng, trong hoạt động ngân hàng thì huy động tiền gửi từ nguồn tiền
nhàn rỗi của dân chúng là một hoạt động rất được chú trọng và luôn là mục tiêu
mà các tổ chức tín dụng hướng tới. Song, do tính chất đặc thù của các chủ thể có
các khoản tiền gửi này mà bảo hiểm tiền gửi của tất cả các nước đều đưa việc
bảo đảm sự an toàn của các khoản tiền gửi của dân chúng thành mục đích hàng
đầu. Điều đó được lý giải bởi lẽ, người gửi tiền- hay nói ở một khía cạnh hẹp
hơn đó là người gửi ít tiền ở đây chủ yếu là người có thu nhập thấp, với khoản
tiền tiết kiệm của mình không thể hoặc không đủ để họ có thể sinh lợi. Hầu hết
trong số họ là những người có những hạn chế nhất định trong việc tiếp cận và
phân tích các thông tin về kinh tế, xã hội nói chung và các thông tin về tổ chức
và hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi của họ nói riêng. Qua nghiên cứu
thực tế của nhiều nhà kinh tế học, chẳng hạn như Carisano cho thấy rằng khi có
sự đổ bể ngân hàng xảy ra thì đời sống của những người gửi tiền có thu nhập
thấp sẽ bị tác động nhiều hơn đối với các chủ thể gửi tiền khác. Điều này là hoàn
toàn dễ hiểu, ngay cả khi số lượng tiền gửi của họ là ít hơn trong tương quan so
13
sánh với các khoản tiền gửi của các chủ thể khác thì phần tiền lãi mà họ được
hưởng cũng có ý nghĩa rất lớn đối với cuộc sống của bản thân và gia đình họ. Từ
đó, khi có sự đổ bể ngân hàng hay mới chỉ là tin đồn về sự đổ bể ngân hàng thì
người gửi tiền có thu nhập thấp thường có những phản ứng tức thì, quá mức nếu
như không muốn nói là mang tính bày đàn- đồng loạt rút tiền khi mà họ chưa có
nhu cầu sử dụng, thậm chí không biết sử dụng vào mục đích gì khi rút tiền khỏi
ngân hàng. Sự kiện rút tiền một cách đồng loạt năm 2003 tại ngân hàng Á Châu-
ACB ở Việt Nam, là một minh chứng điển hình khi nói về phản ứng rút tiền
đồng loạt của người gửi tiền.
Qua phân tích trên chúng ta có thể nhận thấy mối quan hệ qua lại giữa sự đổ
bể (tin đồn về sự đổ bể) ngân hàng với phản ứng rút tiền gửi đồng loạt của người
gửi tiền. Sự đổ bể ngân hàng (tin đồn về sự đổ bể ngân hàng) dẫn đến sự rút tiền
đồng loạt và ngược lại chính sự rút tiền đồng loạt của người gửi tiền có thể sẽ
dẫn đến sự đổ bể của ngân hàng. Do vậy, bảo vệ sự an toàn của người gửi tiền
cũng chính là bảo vệ sự an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng và đây
chính là mục đích hàng đầu của bảo hiểm tiền gửi.
Thứ hai: Bảo vệ các trung gian thanh toán. Có thể nhận thấy rằng ngân
hàng luôn giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, ngoài việc cấp vốn
cho nền kinh tế thì ngân hàng còn là trung gian thanh toán cho các chủ thể. Một
đặc trưng của hoạt động ngân hàng đó là mang tính hệ thống và phản ứng dây
chuyền. Đều đó cho thấy, khi một ngân hàng bị khủng hoảng thì có thể sẽ gây
ảnh hưởng đến tất cả các ngân hàng khác, kể cả các ngân hàng đang hoạt động
tốt. Vì vậy, việc đưa ra các biện pháp phòng ngừa nguy cơ xảy ra đổ vỡ và phản
ứng dây chuyền cho cả hệ thống nhằm bảo vệ các trung gian thanh toán, giảm
thiểu những tổn thất có thể xảy ra đối với các trung gian thanh toán nói riêng, đối
với nền kinh tế nói chung là hết sức cần thiết. Trong đó, trước hết và quan trọng
14
nhất là phải bảo đảm được tình hình tài chính của các trung gian thanh toán sao
cho luôn ở thế ổn định và phát triển. Để thực hiện được điều đó, chúng ta phải áp
dụng nhiều biện pháp khác nhau, một trong các biện pháp đó là bảo hiểm tiền
gửi. Thông qua bảo hiểm tiền gửi, giúp cho các trung gian thanh toán có thể
quản lý, phân tán rủi ro của số ít cho số đông và tích tụ tài chính từ số đông cho
số ít. Điều đó càng có ý nghĩa hơn đối với các trung gian thanh toán Việt Nam
trong điều kiện hiện nay, khi chúng ta thực hiện hội nhập kinh tế một cách toàn
diện, khi mà các chủ thể đều được hoạt động và cạnh tranh lành mạnh trong một
môi trường pháp lý bình đẳng.
Thứ ba: Tạo điều kiện tồn tại và phát triển đối với các tổ chức tín dụng có
quy mô nhỏ và mới thành lập. Điều này là hoàn toàn hợp lý. Bởi lẽ, xét trên giác
độ pháp lý thì mọi chủ thể đều bình đẳng trong quá trình hoạt động mà sẽ không
có một sự ưu tiên đặc biệt nào. Tuy nhiên, một điều rất dễ nhận thấy là, đối với
các tổ chức tín dụng vừa mới đi vào hoạt động sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong
quá trình cạnh tranh và bảo hiểm tiền gửi xuất hiện như một biện pháp hỗ trợ đắc
lực trên đường đua của họ. Nói như vậy không có nghĩa rằng, bảo hiểm tiền gửi
không có ý nghĩa gì đối với các tổ chức tín dụng khác mà ở đây, chúng ta muốn
nhấn mạnh mục đích của bảo hiểm tiền gửi đến sự tồn tại và phát triển của các tổ
chức tín dụng mới, quy mô hoạt động và nguồn vốn đầu tư ban đầu nhỏ.
Thứ tư: Khắc phục hậu quả khi xảy ra sự cố trong hoạt động của các tổ
chức tham gia bảo hiểm. Có thể nhận thấy rằng, đây là mục đích ngoài mong
muốn của chủ thể bảo hiểm tiền gửi và chủ thể tham gia bảo hiểm tiền gửi và kể
cả người thụ hưởng trong quan hệ bảo hiểm tiền gửi. Tuy nhiên, sự đổ vỡ của
các chủ thể tham gia bảo hiểm là hoàn toàn có thể xảy ra và dường như đó là
điều rất khó tránh khỏi trong hoạt động kinh doanh nói chung và trong hoạt động
kinh doanh ngân hàng nói riêng. Khắc phục hậu quả khi xảy ra sự cố trong hoạt
15
động của các chủ thể tham gia bảo hiểm phải được hiểu đó là sự bắt đầu ra tay
của tổ chức bảo hiểm tiền gửi. Trong trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm có
nguy cơ mất khả năng chi trả, khi đó tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thể áp dụng
các biện pháp cần thiết như cho vay hỗ trợ để chi trả các khoản tiền được bảo
hiểm, đứng ra bảo lãnh các khoản vay đặc biệt để có nguồn chi trả các khoản vay
được bảo hiểm... Trong trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm đã thực sự mất
khả năng thanh toán, đã có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì
tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải thực hiện việc chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho
chủ thể thụ hưởng.
1.1.3 Vai trò của bảo hiểm tiền gửi trong nền kinh tế thị trƣờng
Qua phân tích những mục đích của bảo hiểm tiền gửi nêu trên, phần nào
chúng ta nhận thấy vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với sự tồn tại và phát triển
của ngành ngân hàng nói riêng và đối với sự phát triển kinh kế, xã hội nói chung.
Vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với sự phát triển kinh tế, xã hội được quyết
định bởi bản chất kinh tế của bảo hiểm tiền gửi- một loại hình dịch vụ. Loại hình
dịch vụ mà bảo hiểm tiền gửi cung cấp là loại hình dịch vụ đặc biệt, theo cách
phân loại của nhà kinh tế học Stiglitz thì dịch vụ bảo hiểm tiền gửi thuộc loại
hàng hoá không thuần tuý, cơ sở của cách phân loại này là dựa vào tính không
thụ hưởng một cách tuyệt đối của loại hình dịch vụ này (44). Bởi lẽ, bảo hiểm
tiền gửi góp phần bình ổn cho hệ thống tài chính của quốc gia, do vậy, mà người
thụ hưởng theo nghĩa rộng đó là toàn xã hội mà không nhất thiết phải là người
gửi tiền. Trong đó, người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm sẽ là người
được thụ hưởng một cách trực tiếp từ bảo hiểm tiền gửi khi mà chủ thể- nơi mà
họ gửi tiền mất khả năng thanh toán. Ngược lại, chủ thể nhận tiền gửi sẽ được
hưởng từ sự hậu thuẫn, từ sự hỗ trợ của tổ chức bảo hiểm tiền gửi- từ đó yên tâm
trong việc sử dụng nguồn vốn huy động từ dân chúng. Khi đã có một nền tài
16
chính ổn định, an toàn thì các chủ thể khác có thể giúp cho các cá nhân và tổ
chức khác trong xã hội có cơ hội tốt cho việc phát triển, phúc lợi xã hội tăng và
cả xã hội đều được hưởng. Như vậy, bảo hiểm tiền gửi có vai trò quan trọng
trong việc phát triển kinh tế, xã hội. Vai trò đó được thể hiện một cách gián tiếp
thông qua vai trò của hệ thống ngân hàng. Vì vậy, vai trò của bảo hiểm tiền gửi
đối với sự tồn tại và phát triển của hệ thống ngân hàng cũng là vai trò của bảo
hiểm tiền gửi đối với việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Với cách lý
luận đó, bảo hiểm tiền gửi có một số vai trò nổi bật như sau:
Một là: Bảo hiểm tiền gửi góp phần mang lại niềm tin của công chúng đối
với hệ thống ngân hàng. Có thể khái quát hoạt động của ngân hàng thông qua
việc thực hiện hai chức năng cơ bản, đó là: chức năng làm trung gian tín dụng;
chức năng làm trung gian thanh toán. Điều đó có nghĩa rằng, các ngân hàng
muốn tạo dựng niềm tin nơi công chúng thì họ phải tìm cách thực hiện tốt các
chức năng của mình.
Với chức năng làm trung gian tín dụng cho thấy ngân hàng là cầu nối giữa
các chủ thể trong nền kinh tế. Theo đó, ngân hàng thực hiện việc huy động
những khoản tiền nhàn rỗi của các chủ thể trong xã hội để hình thành nên quỹ
cho vay của ngân hàng và thực hiện việc cấp vốn cho các chủ thể khác có nhu
cầu sử dụng vốn trong nền kinh tế thông qua các hợp đồng tín dụng. Chu trình
này diễn ra một cách liên tục và như vậy, ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là
người cho vay.
Còn chức năng làm trung gian thanh toán thực chất là việc ngân hàng thông
qua các biện pháp chuyên môn, nghiệp vụ của mình để cung cấp cho nền kinh tế
một loại hình dịch vụ- dịch vụ thanh toán. Loại hình dịch vụ này được thực hiện
trên cơ sở yêu cầu của khách hàng. Theo đó, ngân hàng có thể trích một khoản
tiền từ tài khoản của khách hàng để thanh toán cho một chủ thể khác hoặc nhập
17
tiền vào tài khoản của khách hàng... Với những biểu hiện như vậy, chúng ta có
thể coi ngân hàng chính là “thủ quỹ” của khách hàng. Có thể nhận thấy một cách
rõ nét vai trò trung gian thanh toán của các ngân hàng đối với nền kinh tế, nó làm
cho tốc độ lưu thông của hàng hoá nhanh hơn, an toàn hơn trong việc thanh toán,
tốc độ luân chuyển vốn nhanh hơn... Và như vậy, xã hội càng văn minh, kinh tế
càng phát triển thì loại hình dịch vụ này càng được chú trọng hơn.
Các chức năng của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung
và hỗ trợ cho nhau. Trong đó, chức năng trung gian tín dụng là cơ bản và là cơ
sở để thực hiện chức năng trung gian thanh toán, chức năng trung gian thanh
toán có ảnh hưởng trước tiên đến niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân
hàng. Trong hoạt động của mình, các ngân hàng thực hiện tốt các chức năng trên
chính là cơ sở để tạo dựng niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng.
Việc thiết lập một hệ thống bảo hiểm tiền gửi sẽ thực sự gặp khó khăn nếu
chúng ta không giải quyết được những vấn đề quan trọng liên quan đến sự bình
ổn của hệ thống tài chính và ngược lại các cơ sở tạo ra sự bình ổn của hệ thống
tài chính sẽ phát huy hết sức mạnh của mình nếu có sự xuất hiện của bảo hiểm
tiền gửi. Hiện nay, hầu hết các nước đều thiết lập cơ chế bảo hiểm tiền gửi quốc
gia và cam kết rằng, trong trường hợp ngân hàng mà họ gửi tiền mất khả năng
chi trả thì những khoản tiền được bảo hiểm vẫn được thanh toán. Khi người gửi
tiền nhận thức được rằng, khoản tiền gửi của mình luôn được đảm bảo chi trả thì
tất nhiên họ không có ý định rút tiền khi ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn
về tài chính. Kết quả tạo lập niềm tin từ công chúng vào hoạt động của các ngân
hàng chính là ngăn chặn từ xa việc rút tiền đồng loạt, từ đó, giảm được nguy cơ
tan vỡ của hệ thống ngân hàng.
Bằng các hoạt động của mình như cung cấp cho công chúng đầy đủ các
thông tin về các ngân hàng; hỗ trợ tài chính cho các tổ chức tham gia bảo hiểm
18