Hoàn thiên công tác kế toán lưu chuyển hàng hoá nhập khẩu tại công ty thương mại và xây dựng hà nội (vietracimex-i)

  • 104 trang
  • file .pdf
LUẬN VĂN:
Hoàn thiên công tác kế toán lưu chuyển
hàng hoá nhập khẩu tại công ty thương
mại và xây dựng Hà Nội (Vietracimex-I)
Lời nói đầu
Hiện nay, trong xu thế phát triển và hội nhập kinh tế, hoat động mua bán ngoại
thương ngày càng giữ một vai trò quan trọng trong hoat động thương mại, đặc biệt với xu
hướng “hướng về xuất khẩu” thì kinh doanh xuất nhập khẩu đang là đối tượng quan tâm
chính của nhà nước ta trong những năm gần đây. Cùng với sự phát triển chung của nền
kinh tế quốc dân, kinh doanh xuất nhập khẩu không những trở thành đầu mối kinh tế quan
trọng mà còn tăng cường thúc đẩy quan hệ đối ngoại giữa ta với các nước trên thế giới,
đưa Việt Nam lên một vị thế cao hơn trong chính trường quốc tế (là nước đứng thứ hai về
xuất khẩu gạo).
Thực tế đã khẳng định vai trò phát triển kinh tế thông qua các hoạt động nhập khẩu,
nhất là hoạt động nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp, máy móc, thiết bị với trình độ kỹ
thuật cao, phục vụ cho sản xuất trong nước mà nước ta chưa có điều kiện sản xuất được.
Bên cạnh đó, nhập khẩu còn góp phần nâng cao khả năng tiêu dùng trong nước, tăng
cường tính cạnh tranh về chất lượng sản phẩm trên thị trường hàng Việt Nam, thúc đẩy
quan hệ mua bán quốc tế, giúp Việt Nam theo kịp các nước trong khu vực và trên thế giới.
Hoạt động nhập khẩu chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như chế độ quản lý của nhà
nước về nhập khẩu, chế độ kế toán hiện hành, và các yếu tố trên thị trường như tỷ giá hối
đoái, các điều chỉnh về thuế, lãi suất, nhu cầu tiêu dùng hàng nhập khẩu… Do vậy để tồn
tại và phát triển các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cần phải có được những kinh
doanh phản ánh chính xác, kịp thời những thay đổi trong chế độ quản lý cũng như chế độ
kế toán nhằm đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn hợp lý. Điều đó cũng có nghĩa là
công tác kế toán lưu chuyển hàng hoá nhập khẩu, từ khâu nhập khẩu tới khâu tiêu thụ và
xác định kết quả ở các doanh nghiệp cần phải được nâng cao chất lượng và hiệu quả hơn
nữa.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán lưu chuyển hàng hoá nhập
khẩu ở các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, em lựa chọn đề tài:”Hoàn thiên
công tác kế toán lưu chuyển hàng hoá nhập khẩu tại công ty thương mại và xây dựng
Hà Nội (Vietracimex-I)” cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Chuyên đề thực tập ngoài phần mở đầu và phần kết luận gồm các phần sau:
Phần I : Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán lưu chuyển Hàng hoá nhập khẩu.
Phần II : Thực trạng công tác hạch toán kế toán lưu chuyển hàng hoá nhập khẩu tại
công ty thương mại và xây dựng Hà Nội(Vietracimex-I).
Phần III: Một số ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện công tác kế toán lưu chuyển
hàng hoá nhập khẩu và phương hướng nâng cao hiệu quả kinh doanh tại
công ty Thương mại – Xây dựng Hà Nội.
Phần I
Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán lưu chuyển Hàng hoá
nhập khẩu
I. Đặc điểm hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có ảnh hưởng tới hạch toán lưu
chuyển hàng hoá nhập khẩu.
1. Đặc điểm và vai trò của hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
1.1 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
Nhập khẩu là một trong hai hoạt động quan trọng của ngoại thương. Đó là việc mua,
bán hàng hoá giữa thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài thông qua các hợp
đông thương mại.
Cũng như hoạt động kinh doanh hàng hoá trong nước, hoạt động kinh doanh hàng
hoá nhập khẩu cũng bao gồm 3 giai đoạn: giai đoạn mua hàng, giai đoạn dự trữ và giai
đoạn tiêu thụ. Tuy nhiên nó có một số đặc điểm khác biệt so với hoạt động kinh doanh
hàng hoá trong nước:
-Trong quá trình kinh doanh, phụ thuộc rất lớn vào các chính sách ngoại thương của
nhà nước, luật pháp quốc tế cũng như thị trường quốc tế.
- Đối tác kinh doanh ở nhiều nước do đó, cách xa về mặt địa lý cũng như có trình độ
quản lý khác nhau, dấn đến thời gian thực hiện quá trình lưu chuyển hàng hoá nhập khẩu
trong các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu thường dài hơn các doanh nghiệp kinh
doanh hàng hoá trong nước gây ra một số khó khăn sau: chi phí vận chuyển, bảo quản bốc
dỡ có thể tăng cao gây ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Chất lượng hàng hoá
có thể bị giảm do thời gian vẩn chuyển kéo dài và với khoảng thời gian lưu chuyển kéo
dài, thị trường hàng hoá nhập khẩu có thể biến động ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh.
Ngoài ra, nếu doanh nghiệp nhập khẩu sử dụng vốn vay để nhập khẩu hàng hoá sẽ làm cho
thời gian thu hồi vốn chậm, làm tăng chi phí lãi vay.
- Thời điểm xác định hàng hoá nhập khẩu tuỳ thuộc vào phương thức giao hàng và
phương tiện chuyên chở: Nếu vận chuyển bằng đường biển tính là hàng nhập khẩu từ ngày
hàng đến địa phận nước ta và được Hải quan ký xác nhận vào tờ khai hàng nhập khẩu. Nếu
vận chuyển bằng đường hàng không thì tính từ ngày hàng hoá được vận chuyển đến sân
bay đầu tiên của nước ta theo xác nhận của Hải quan Hàng không… Việc xác định thời
điểm hàng hoá được coi là nhập khẩu có ý nghĩa quan trọng trong việc hạch toán đúng chỉ
tiêu hàng nhập khẩu và kịp thời giải quyết tranh chấp, thưởng phạt khi giải toả hàng nhập
khẩu.
- Quá trình mua bán đều tính theo thời giá quốc tế và thanh toán bằng ngoại tệ. Do
đó, doanh nghiệp thường chịu nhiều rủi ro về biến động của đồng ngoại tệ thanh toán,
thông qua tỷ giá ngoại tệ thay đổi và phương pháp hạch toán ngoại tệ
1.2 Vai trò của hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế thế giới đang chuyển sang hợp tác và hội
nhập thì thương mại quốc tế trở thành điều kiện tồn tại và phát triển của mối quốc gia
trong đó có nước ta.
Nước ta phát triển đi lên từ một nước có nền kinh tế lạc hậu, tư liệu sản xuất nghèo
nàn, kinh tế thông thương với nước ngoài vẫn còn là linh vực mới mẻ do đó không tránh
khỏi những khó khăn trong kinh doanh thương mại quốc tế, đặc biệt do nguồn nhân lực
hoạt động trong lĩnh vực ngoại thương còn thiếu kinh nghiệm.
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động kinh doanh thương mại trong sự phát
triển chung của nền kinh tế quốc dân, Đảng và Nhà nước đã thực sự chú trọng và đánh giá
đúng đắn về vai trò của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Vai trò đó được thể hiện ở
chỗ:
- Nhập khẩu đáp ứng được nhu cầu về các trang thiế bị máy móc, vật tư, tạo sự phát
triển cân đối trong nền kinh tế quốc dân, đưa sản xuất trong nước theo kịp các nước trên
thế giới.
- Nhập khẩu cho phép khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh về hàng hoá, vốn, công
nghệ của nước ngoài nhằm tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu
vực và thế giới.
- Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo
đà cho tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Nhập khẩu có tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu sự tác động này thể hiện
ở chỗ nhập khẩu tạo đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu, nâng cao kim ngạch xuất khẩu,
tạo môi trường thuận lợi cho công việc cung ứng hàng hoá ra nước ngoài…
2.Đối tượng và phương thức nhập khẩu.
2.1. Đối tượng nhập khẩu hàng hoá
Đối tượng nhập khẩu là tất cả những hàng hoá, trừ những mặt hàng thuộc danh mục
hàng hoá cấm nhập khẩu và những mặt hàng tạm ngừng nhập khẩu được thu mua từ nước
ngoài để phục vụ tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên, không chỉ dơn thuần là phục vụ cho
nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư mà còn là các trang thiết bị, máy moc vật tư kỹ
thuật hiện đại phục vụ cho sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân, trong tất cả các
ngành và trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Bên cạnh những mặt hàng mà các doanh nghiệp được tự do nhập khẩu, còn có
những mặt hàng nhập khẩu có điều kiện hay các mặt hàng cấm nhập khẩu. Hàng hoá nhập
khẩu có điều kiện là hàng hoá theo hạn ngạch hoặc theo giấy phép của bộ thương mại hoặc
bộ chủ quản. Trong trường hợp đặc biệt, khi được phép của thủ tướng chính phủ, doanh
nghiệp mới có thể nhập khẩu các mặt hàng thuộc danh mục hàng cấm nhập khẩu.
2.2 Phương thức nhập khẩu.
Các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu có thể tiến hành xuất nhập khẩu theo
phương thức trực tiếp hay phương thức uỷ thác hoặc kết hợp cả trực tiếp và uỷ thác.
Nhập khẩu trực tiếp: Hình thức này được thực hiện ở những doanh nghiệp kinh
doanh xuất nhập khẩu được nhà nước cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu, có khả
năng trực tiếp đàm phán, ký kết hợp đồng mua bán với nước ngoài cũng như am hiểu thị
trường về mặt hàng xuất nhập khẩu.
Nhập khẩu uỷ thác: Hình thức này được thực hiện ở các doanh nghiệp được nhà
nước cấp giấy phép nhập khẩu nhưng không đủ điều kiện trực tiếp tham gia đàm phán, ký
kết hợp đồng mua bán hàng hoá với nước ngoài. Vì vậy, phải uỷ thác cho doanh nghiệp có
khả năng nhập khẩu thực tế để họ thực hiện nhập khẩu hàng hoá cho mình. Doanh nghiệp
nhận uỷ thác nhập khẩu là đại lý mua hàng trong khẩu này và được nhận hàng hoá uỷ thác
từ doanh nghiệp giao uỷ thác và khoản hoa hồng này được ghi nhận là doanh thu của
doanh nghiệp nhận uỷ thác nhập khẩu hang hoá.
3. Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu trong hoạt động kinh doanh nhập
khẩu
Phương thức thanh toán là một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện các hợp đồng
ngoại thương, nó cũng có ảnh hưởng tới quá trình hạch toán kế toán của doanh nghiệp.
Hiện nay, trong lĩnh vực ngoại thương chủ yếu có các hinh thức thanh toán sau:
 Phương thức chuyển tiền:
Chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó một khách hàng của hàng(gọi là
người chuyển tiền ) yêu cầu ngân hàng chuyển một số tiền nhất định cho người thụ hưởng
ở một địa điểm nhất định. Liên quan đế phương thức thanh toán này gồm có các bên sau
đây:
Người chuyển tiền là người mua người nhập khẩu, hay người măc nợ ngân hàng
chuyển tiền là ngân hàng phuc vụ cho người chuyển tiền ngân hàng đại lý là ngân hàng
phục vụ cho người thụ hưởng và có quan hệ đại lý với ngân hàng chuyển tiền.
Người thụ hưởng là người bán, người xuất khẩu hay chủ nợ.
 Phương thức nhờ thu:
Nhờ thu là phương thức thanh toán, trong đó người xuất khẩu hoàn thành nghĩa vụ
giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ tiến hành uỷ thác cho ngân hàng phục vụ thu hộ tiền từ
người nhập khẩu, dựa trên cơ sở hối phiếu và chứng từ do người xuất khẩu lập ra. Phương
thức nhờ thu có hai loại đó la nhờ thu hối phiếu trơn và nhờ thu hỗi phiếu kèm chứng từ.
Nhờ thu hối phiếu trơn khác với nhờ thu hối phiếu kèm chứng từ ở chỗ, người xuất khẩu
uỷ thác cho ngân hàng thu tiền ở người nhập khẩu chỉ căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra
còn chứng từ hàng hoá gửi thẳng cho người nhập khẩu không gửi cho ngân hàng
( Nhờ thu hối phiếu kèm theo chứng từ không chỉ căn cứ vào hối mà căn cứ vào bộ
chứng từ hàng hoá gửi kèm theo điều kiện .Nếu người nhập khẩu thanh toán hoặc chấp
nhận trả tiền thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ cho người nhập khẩu nhận hàng hoá).
 Phương thức tín dụng chứng từ :
Phương thức tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán được sử dụng rộng rãi và
phổ biến nhất ở Việt nam hiện nay .
Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán trong đó một ngân hàng theo yêu cầu
của khách hàng cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng hoặc chấp nhận
hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền nhất đó , nếu người này xuất trình
được bộ chứng từ thanh toán phù hợp được những quy định nêu ra trong thư tín dụng .
Thư tín dụng gọi tắt là L/C :là văn bản pháp lý trong đó một ngân hàng theo yêu cầu
của khách hàng đứng ra cam kết sẽ trả cho người thụ hưởng một số tiền nhất định , nếu
người này xuất trình bộ chứng từ phù hợp với quy định nêu ra trong văn bản đó . Có thể
nói L/C là văn bản quan trọng nhất trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
Tham gia vào phương thức tín dụng chứng từ gồm có các bên sau đây:
+) Người xin mở thư tín dụng: là người nhập khẩu hàng hoá
+) Ngân hàng mở thư tín dụng: là ngân hàng phục vụ người nhập khẩu, ngân hàng
này cung cấp tín dụng và đứng ra cam kết trả tiền cho người xuất khẩu.
+) Người thụ hưởng: là người xuất khẩu hay người nào khác do người xuất khẩu
chủ định. Ngân hàng thông báo thư tín dụng là ngân hàng đại lý cho ngân hàng mở L/C và
phục vụ cho người thụ hưởng.
Nội dung phương thức tín dụng chứng từ:
Sơ đồ 1: Trình tự tiến hành nghiệp vụ tín dụng chứng từ.
(2)
Ngân hàng mở (6) Ngân hàng thông
L/C báo L/C
(7)
(1)
(9) Người
(10) nhập (8) Người
(5) xuất
(3) khẩu
khẩu
(4)
(1): Người nhập khẩu nộp đơn xin mở L/C, yêu cầu ngân hàng mở L/C cho người
xuất khẩu thụ hưởng.
(2): Ngân hàng mở L/C theo yêu cầu của người nhập khẩu và chuyển L/C sang ngân
hàng thông báo để báo cho người xuất khẩu biết.
(3):Ngân hàng thông báo L/C thông báo cho người xuất khẩu biết rằng L/C đã mở.
(4): Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tin dụng thì tiến hành giao hàng, nếu không
yêu cầu ngân hàng mở L/C sủa đổi bổ sung thư tín dụng cho phù hợp.
(5): Người xuất khẩu sau khi giao hàng lập bộ chứng từ thanh toán gửi vào ngân
hàng thông báo để được thanh toán.
(6): Ngân hàng thông báo chuyển bộ chứng từ thanh toán sang để ngân hàng mở
L/C xem xét trả tiền.
(7): Ngân hàng mở L/C sau khi kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp thì trích tiền
chuyển sang ngân hàng thông báo để ghi có cho người thụ hưởng.
(8): Ngân hàng thông báo ghi có và báo có cho người thụ hưởng.
(9): Ngân hàng mở L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ cho người
nhập khẩu sau khi nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán.
(10): Người nhập khẩu xem xét chấp nhận trả tiền.
4. Đặc điểm tính giá hàng hoá nhập khẩu.
4.1. Xác định giá nhập kho hàng hoá nhập khẩu.
Để phản ánh chính xác giá thực tế của hàng hoá nhập khẩu, thì yêu cầu đặt ra đối
với các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá là phải xác định toàn bộ chi phí bỏ ra để có
được hàng hoá đó. Giá thực tế của hàng hoá mua tuỳ thuộc vào từng loại hàng hoá khác
nhau (bởi có mặt hàng nhập khẩu không thuộc đối tượng chịu thuế nhập khẩu…) cũng như
tuỳ thuộc vào phương pháp tính thuế GTGT mà doanh nghiệp áp dụng.
Hiện nay, trên thực tế các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia mua bán với nước
ngoài thường sử dụng hai loại giá phổ biến là giá CIF và giá FOB(thường nhập theo giá
CIF và xuất theo giá FOB).
Giá FOB là giá giao nhận hàng tại biên giới nước xuất khẩu. Giá FOB không bao
gồm phí bảo hiểm và phí vận tải.
Giá CIF là giá giao nhận hàng tại biện giới nước mua, bao gồm giá FOB cộng thêm
phí bảo hiểm và phí vận tải.
Nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp
khấu trừ thì việc xác định giá trị thực tế của hàng nhập khẩu được tính như sau:
Giá thực tế Giá mua Thuế Chi phí Giảm giá hàng
Hàng nhập = ghi trên + nhập + thu - mua được
khẩu hoá đơn khẩu mua hưởng
Nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp
trực tiếp thì giá trị thực tế của hàng hoá nhập khẩu còn bao gồm thêm phần thuế GTGT
của hàng hoá nhập khẩu. Trong đó:
Thuế nhập Số lượng mặt hàng chịu Giá tính thuế
Thuế
khẩu Phải = thuế kê khai trong tờ x bằng đồng Việt x
suất
nộp khai hàng hoá nam
Giá tính thuế nhập khẩu là giá CIF.
Thời điểm tính thuế nhập khẩu được quy định là ngày đăng ký tờ khai hàng hoá
nhập. Tỷ giá quy đổi ngoại tệ ra VNĐ là tỷ giá giữa tiền Việt Nam với tiền nước ngoài, do
ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm đăng ký tờ khai hàng hoá nhập với cơ
qua Hải quan.
Thuế GTGT của Giá nhập khẩu Thuế nhập Thuế suất
= + *
hàng nhập khẩu hàng hoá (CIF) khẩu thuế GTGT
Trong trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu những mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc
biệt ,thì trị giá mua hàng cũng sẽ bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) :
Thuế TTĐB của Giá nhập khẩu Thuế nhập Thuế suất thuế
= + *
hàng nhập khẩu hàng hoá (CIF) khẩu TTĐB
Chi phí mua hàng là toàn bộ số chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra có liên quan tới
việc thu mua hàng hoá .Ví dụ như chi phí vận chuyển bốc dỡ,phí mở L/C ….
4.2.xác định giá xuất kho của hàng hoá nhập khẩu
Do giá thực tế của hàng hoá bao gồm hai bộ phận :trị gá mua và chi phí thu
mua.Nên khi xuất kho cần tách riêng hai bộ phận trên để tính toán .
Dối với trị giá mua, kế toán doanh nghiệp có thể sử dụng một trong các phương
pháp tính giá hàng hoá xuất kho sau đây :
Phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO) :
Theo phương pháp này ,giả thiết số hàng hoá nào nhập trước thì xuất trước ,xuất hết
số nhập trước thì mới đến số nhập sau theo giá thực của từng số hàng xuất .Nói cách khác,
cơ sở của phương pháp là giá giá thực tế của hàng hoá mua trước sẽ được dùng làm giáđể
tính giá thực tế của hàng hoá xuất bán trước và do vậy giá trị hagf hoá tồn kho cuối kỳ sẽ
là giá thực tế của số hàng hoá mua vàop sau cùng. Phương pháp này thích hợp trongtrường
hợp giá ổn định hoặc có xu hướng giảm .
Phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO) :
Phương pháp này giả định những hàng hoá mua sau cùng sẽ được xuất trước tiên ,
ngược lại với phương pháp nhập trước xuất trước .
Phương pháp giá hạch toán :
Theo phương pháp này ,toàn bộ hàng hoá biến động trong kỳ được tính theo giá
hạch toán ( giá kế hoạch hoặc một loại giá ổn định trong kỳ).Cuối kỳ,kế toán sẽ điều chỉnh
từ giá hạch toán sang giá thực tế theo công thức sau :
Giá thực tế hàng hoá xuất Giá hạch toán của hàng hoá suất Hệ số giá
= *
bán (hoặc tồn kho cuối kỳ) bán (hoặc tồn kho cuối kỳ) hàng hoá
Phương pháp giá đơn vị bình quân :
Theo phương pháp này ,giá thực tế của hàng xuất bán trong kỳ được tính theo công
thức :
Giá thực tế hàng hoá Số lượng hàng Giá đơn vị
= *
xuất bán hoá xuất bán bình quân
Trong đó giá đơn vị bình quân có thể tính theo một trong ba cách sau :
Cách 1:
Giá đơn vị bình quân Giá thực tế hàng hoá tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
=
cả kỳ dự trữ Lượng hàng thực tế tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Cách 2:
Giá đơn vị bình Giá thực tế hàng hoá tồn đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước)
=
quân cuối kỳ trước Luợng hàng hoá thực tế tồn đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước)
Cách 3 :
Giá đơn vị bình quân Giá thực tế hàng hoá tồn kho sau mỗi lần nhầp
=
sau mỗi lần nhập Lượng hàng hoá thực tế tồn kho sau mỗi lần nhập
Còn đối với chi phí thu mua ,có liên quan tới cả lượng hàng tiêu thụ trong kỳ cũng
như tồn kho cuối kỳ nên cần được phân bổ cho cả hàng tiêu thụ và chưa tiêu thụ .Công
thức tính như sau :
Chi phí mua hàng Chi phí mua hàng Trị giá
Chi phí mua +
đầu kỳ trong kỳ mua của
hàng phân bổ
= Trị giá mua của Trị giá mua của * hàng bán
cho hàng bán
hàng bán ra trong + hàng còn lại cuối ra trong
ra trong kỳ
kỳ kỳ kỳ
II.Các phương pháp hạch toán chi tiết hàng hoá nhập khẩu .
Hạch toán chi tiết hàng hoá đòi hỏi phải phản ánh cả về mặt giá trị, số lượng, chất
lượng của từng loại hàng hoá (từng danh điểm ) theo từng kho và từng người phụ trách vật
chất. Trong thực tế hiện nay có ba phương pháp hạch toán chi tiết hàng hoá sau đây :
1. Phương pháp thẻ song song
Theo phương pháp này ,tại kho thủ kho căn cứ vào các chứng từ nhập xuất hàng hoá
để ghi thẻ kho ( mở chi tiết theo từng danh điểm theo từng kho).Tại phòng kế toán, kế toán
hàng hoá dựa trên chứng từ nhập xuất hàng hoá để ghi số lượng và tính giá trị hàng hoá
nhập xuất kho vào thẻ kế toán chi tiết hàng hoá ( mở tương ứng với thẻ kho ). Cuối kỳ ,kế
toán tiến hành cộng thẻvà đối chiếu số liệu với thẻ kho.Để thực hiện đối chiếu giữa kế toán
tổng hợp và chi tiết ,kế toán căn cứ vào các thẻ kế toán chi tiết để lập “ bảng tổng hợp nhập
xuất tồn kho hàng hoá “. Số liệu của bảng này được đối chiếu với số liệu phần kế toán tổng
hợp .
Ưu điểm của phương pháp này là rất đơn giản trong khâu ghi chép ,đối chiếu số liệu
và phát hiện sai sót,đồng thời cung cấp thônh tin nhập xuất tồn kho của từng danh điểm
hàng hoá kịp thời chính xác .
Sơ đồ 2: Hạch toán chi tiết hàng hoá theo phương pháp thẻ song song
Phiếu nhập kho, Sổ kế toán
Phiếu xuất tổng hợp
kho
Hàng hoá
Bảng tổng
Thẻ kế toán
hợp nhập
Thẻ kho chi tiết
xuất tồn
hàng hoá
kho hàng
hoá
Ghi chú : Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
đối chiếu
2. Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển .
Phương pháp này phù hợp với các doanh nghiệp có nhiều danh điểm hàng hoá và số
lượng chứng từ nhập xuất hàng hoá không nhiều . Theo phương pháp này ,kế toán chỉ mở
“sổ đối chiếu luân chuyển hàng hoá “ theo từng kho ,cuối kỳ trên cơ sở phân loại chứng từ
nhập xuất theo từng danh điểm hàng hoá và theo từng kho ,kế toán lập “ bảng kê nhập
hàng hoá”,”bảng kê xuất hàng hoá “ và dựa vào các bảng kê này để ghi vào “ sổ đối chiếu
luân chuyển hàng hoá “ .Đồng thời từ “ sổ đối chiếu luân chuyển hàng hoá “ lập “ bảng
tổng hợp nhập – xuất –tồn kho hàng hoá “ để đối chiếu với số liệu của phần kế toán tổng
hợp .
Phương pháp này giảm nhẹ khối lượng công việc ghi chép của kế toán . Tuy nhiên
do dồn công việc ghi sổ ,kiểm tra đối chiếu vào cuối tháng nên trong trường hợp số lượng
chứng từ nhập , xuất của từng danh điểm hàng hoá khá nhiều thì công việc kiểm tra đối
chiếu sẽ gặp nhiều khó khăn và ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các khâu kế toán khác .
Sơ đồ 3: Hạch toán chi tiết hàng hoá theo phương pháp sổ đối
chiếu luân chuyển
Phiếu
Bảng kê nhập hàng hoá
nhập kho
Bảng Sổ kế
tổng toán
hợp tổng
Thẻ kho Sổ đối chiếu luân nhập hợp
chuyển xuất tồn về
kho hàng
hoá
Phiếu Bảng kê xuất hàng
xuất kho
Ghi chú : Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu
3. Phương pháp sổ số dư :
Phương pháp này thích hợp với những doanh nhgiệp có nhiều danh điểm hàng hoá
và đồng thời có số lượng chứng từ nhập xuất mỗi loại khá nhiều.Theo phương pháp này,
thủ kho ngoài việc ghi thẻ kho như các phương pháp trên thì cuối kỳ còn phải ghi lượng
hàng hoá tồn kho từ thẻ kho vào “ sổ số dư “. Kế toán dựa vào số lượng nhập,xuất của
từng danh điểm hàng hoá được tổng hợp từ các chứng từ mà kế toán nhận được khi kiểm
tra các kho theo định kỳ 3 , 5 hoặc 10 ngày một lần,từ đó ghi vào “ bảng luỹ kế nhập xuất
tồn “ ( bảng này được mở theo từng kho). Cuối kỳ, tiến hành tính trên “ sổ số dư “ do thủ
kho chuyển đến và đối chiếu tồn kho từng danh điểm hàng hoá trên “ sổ số dư” với tồn kho
trên “ bảng luỹ kế nhập xuất tồn “. Đồng thời “ bảng luỹ kế nhập xuất tồn kho” lại được
đối chiếu với sổ kế toán tổng hợp về hàng hoá .
Phương pháp này tránh được việc ghi chép trùng lặp và dàn đều công việc ghi sổ
trong kỳ nên không bị dồn việc vào cuối kỳ.Tuy nhiên việc kiểm tra,đối chiếu và phát hiện
sai sót gặp nhiều khó khăn đòi hỏi nhân viên kế toán và thủ kho phải có trình độ chuyên
môn cao.
Sơ đồ 4: Hạch toán chi tiết hàng hoá theo phương pháp sổ số dư
Phiếu nhập Phiếu giao
kho nhận chứng
từ nhập Sổ
kế
toán
Thẻ Sổ số Bảng luỹ tổng
kho dư kế nhập hợp
xuất tồn về
hàng
Phiếu xuất kho Phiếu giao nhận hoá
chứng từ xuất
Ghi chú : Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu
III. hạch toán lưu chuyển hàng hoá nhập khẩu trong các doanh nghiệp hạch toán
hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên .
1. Khái niệm và tài khoản sử dụng .
Để hạch toán các loại hàng hoá tồn kho , kế toán có thể áp dụng phương pháp kê
khai thường xuyên ( KKTX) hoặc kiểm kê định kỳ ( KKĐK) .Việc sử dụng phương pháp
nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp,vào yêu cầu của công tác quản
lý và trình độ cán bộ kế toán cũng như vào quy định của chế độ kế toán hiện hành.
Phương pháp KKTX là phương pháp theo dõi và phản ánh tình hình hiện có,biến
động tăng,giảm hàng tồn kho một cách thường xuyên liên tục trên các tài khoản phản ánh
từng loại hàng tồn kho. Phương pháp này có độ chính xác cao và cung cấp thông tin về
hàng tồn kho một cách kịp thời,tại bất kỳ thời điểm nào kế toán cũng có thể xác định được
lượng nhập - xuất - tồn kho từng loại hàng hoá tồn kho.
Hạch toán lưu chuyển hàng hoá bao gồm ba phần hành cơ bản : đó là hạch toán
quá trình mua hàng,hạch toán quá trình dự trữ hàng hoá,hạch toán quá trình bán hàng.Tài
khoản sử dụng trong hạch toán lưu chuyển hàng hoá nhập khẩu là tất cả các tài khoản có
liên quan đến ba phần hành trên,được quy định thống nhất trong hệ thống tài khoản được
bộ tài chính ban hành theo quyết định 1141-tc-cđkt ngày 1-11-1995.
*Tài khoản 151 : hàng mua đang đi đường
Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hàng hoá mua đã thuộc quyền sở hữu của
doanh nghiệp,nhưng cuối kỳ hàng vẫn chưa về nhập kho hoặc đã về nhưng chưa làm thủ
tục nhập kho .
Kết cấu của tài khoản này như sau :
-Bên nợ : + Phản ánh giá trị hàng đang đi đường cuối kỳ
+ Kết chuyển giá trị thực tế của hàng đang đi đường cuối kỳ (trường hợp
doanh nghiệp hạch toán theo phương pháp kiểm kê định kỳ).
-Bên có : + Phản ánh giá trị hàng mua đang đi đường ở kỳ trước về nhập kho, hoặc
chuyển giao cho khách hàng....
+ Kết chuyển giá trị thực tế hàng hoá đang đi đường đầu kỳ (trường hợp
doanh nghiệp hạch toán theo phương pháp kiểm kê định kỳ).
-Dư nợ : Giá trị hàng hoá đang đi đường cuối kỳ.
*Tài khoản 156 –hàng hoá:
Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện có của hàng hoá tồn kho,tồn quầy và
nhập –xuất trong kỳ theo trị giá nhập kho thực tế .
Kết cấu của tài khoản này như sau :
-Bên nợ: + Trị giá mua của hàng nhập khẩu trong kỳ
+ Chi phí thu mua hàng hoá
+ Kết chuyển trị giá hàng hoá tồn kho cuối kỳ (hạch toán theo phương pháp
KKĐK).
-Bên có : + Trị giá xuất kho của hàng hoá
+ Trị giá xuất trả lại người bán
+ Giảm giá hàng mua
+ Trị giá hàng thiếu hụt coi như xuất
+ Trị giá hàng hoá tồn kho đầu kỳ đã kết chuyển ( hạch toán theo phương pháp
kiểm kê định kỳ ).
-Dư nợ : Trị giá vốn của hàng tồn kho cuối kỳ
Tài khoản 156 được chi tiết thành hai tài khoản cấp hai sau :
TK 1561 : Giá trị mua của hàng hoá
TK 1562 : Chi phí thu mua hàng hoá
*Tài khoản 157 –hàng gửi bán
Tài khoản này dùng để theo dõi giá trị hàng hoá tiêu thụ theo phương thức chuyển thẳng
hoặc nhờ bán đại lý
Kết cấu của tài khoản này như sau :
-Bên nợ : + Trị giá của hàng hoá gửi bán
+ Kết chuyển trị giá hàng gửi bán cuối kỳ (theo phương pháp kiểm kê định kỳ)
-Bên có : + Giá trị hàng gửi bán đã được khách hàng chấp nhận thanh toán
+ Giá trị hàng gửi bán bị trả lại
+ Kết chuyển hàng gửi bán đầu kỳ (theo phương pháp kiểm kê định kỳ)
-Dư nợ : Giá trị hàng gửi bán chưa được chấp nhận cuối kỳ
*Tài khoản 511 –doanh thu bán hàng
Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp thực
hiện trong một kỳ nhất định .
Kết cấu của tài khoản này như sau :
-Bên nợ : + Các khoản giảm trừ doanh thu (giảm giá hàng bán , hàng bán bị trả lại).
+ Kết chuyển doanh thu thuần vào tài khoản xác định kết quả kinh doanh
-Tài khoản này không có số dư
*Tài khoản 632 : giá vốn hàng bán
Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá vốn hàng bán tiêu thụ trong kỳ
Kết cấu của tài khoản này như sau:
-Bên nợ : + Trị giá vốn của hàng xuất bán trong kỳ
+ Kết chuyển giá trị thực tế hàng tiêu thụ trong kỳ sang tài khoản xác định
kết quả kinh doanh.
Tài khoản này không có số dư
Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản liên quan trong hệ thống tài khoản kế
toán như :
TK 111 : Tiền mặt
TK 112 : Tiền gửi ngân hàng
TK 131 : Phải thu khách hàng
TK 138 : Phải thu khác
TK 144 : Ký cược ,ký quỹ ngắn hạn
TK 331 : Phải trả người bán
TK 333 : Thuế và các khoản phải nộp nhà nước
TK 338 : Phải trả khác
TK 532 : Giảm giá hàng bán
TK 531 : Hàng bán bị trả lại
2. Hạch toán nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá
2.1. Trường hợp nhập khẩu trực tiếp
Hạch toán nghiệp vụ nhập khẩu trực tiếp hàng hoá được bắt đầu thực hiện bằng
nghiệp vụ mở L/C theo hợp đồng thương mại đã ký kết.Nếu doanh nghiệp có ngoại tệ gửi
tại ngân hàng mở L/C thì chỉ cần theo dõi chi tiết số tiền gửi ngoại tệ dùng để mở L/C trên
tài khoản 112 (1122) –chi tiết mở thư tín dụng.Nếu doanh nghiệp phải vay ngân hàng mở
L/C thì phải tiến hành ký quỹ một tỷ lệ nhất định theo trị giá số tiền mở L/C .Số tiền ký
quỹ được theo trên tài khoản 144 .Khi ký quỹ số tiền theo % quy định ,kế toán ghi:
Nợ TK 144 : Thế chấp,ký quỹ,ký cược ngắn hạn
Có TK 111,112 : Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng
Người xuất khẩu sau khi nhận được thông báo thư tín dụng đã mở thì tiến hành
chuyển hàng cho người nhập khẩu .
2.1.1 Đối với doanh nghiệp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ
Phản ánh trị giá mua của hàng nhập khẩu :
+Trường hợp hàng đã về kiểm nhận,nhập kho trong kỳ: căn cứ vào thông báo
nhận hàng và các chứng từ có liên quan đến hàng nhập khẩu,kiểm nhận hàng hoá,nhập
kho,kế toán ghi:
Nợ TK 156 (1561) : Trị giá mua của hàng nhập khẩu (TGTT)
Nợ TK 153 (1532) : Trị giá bao bì tính riêng (TGTT)
Nợ (Có) TK 413 : Chênh lệch tỷ giá
Có TK 331 : Giá mua hàng (TGHT)
Có TK 111(1112), 112(1122): Thanh toán bằng tiền mặt (TGHT)
Phản ánh số thuế nhập khẩu của hàng nhập khẩu phải nộp :
Nợ TK 156 (1561) : Tính vào trị giá mua của hàng nhập khẩu (TGTT)
Có TK 333 (3333) : Thuế nhập khẩu phải nộp (TGTT)
Phản ánh số thuế giá trị gia tăng của hàng nhập khẩu phải nộp :
Nợ TK 133 : Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ
Có TK 3331 : Thuế giá trị gia tăng của hàng nhập khẩu phải nộp
+Trường hợp cuối kỳ hàng hoá nhập khẩu vẫn đang đi đường, căn cứ vào các chứng
từ liên quan kế toán ghi:
Nợ TK 151 : Trị giá của hàng mua đang đi đường bao gồm cả thuế nhập khẩu
(TGTT)
Nợ (Có)TK 413 : Chênh lệch tỷ giá
Có TK 331: Giá mua của hàng hoá nhập khẩu (TGHT)
Có TK 111(1112),112(1122): Thanh toán bằng tiền mặt (TGHT)
Có TK 333(3333) : Thuế nhập khẩu phải nộp (TGTT)
Số thuế giá trị gia tăng của hàng nhập khẩu phản ánh như trên. Khi hàng đi đường
kỳ trước về kiểm nhận,nhập kho hay chuyển bán thẳng cho khách hàng,kế toán ghi:
Nợ TK 156(1561) : Trị giá mua của hàng nhập kho
Nợ TK 153(1532) : Trị giá bao bì tính riêng
Nợ TK 157 : Chuyển bán không qua kho
Nợ TK 632 : Giao trực tiếp tại cảng, tại ga
Có TK 151 : Trị giá thực tế hàng đi đường đã kiểm nhận nhập kho
Trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu những mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
(TTĐB), ngoài các bút toán phản ánh trị giá hàng nhập khẩu và thuế nhập khẩu phải
nộp,kế toán phải xác định số thuế TTĐB phải nộp và ghi tăng giá trị mua của hàng nhập
khẩu :
Nợ TK 156( 1561), 151 ….
Có TK 333( 3332): thuế TTĐB
Khi nộp thuế nhập khẩu, thuế GTGT, thuế TTĐB ( nếu có) kế toán ghi:
Nợ TK 333(3331,3332,3333)
Có TK 111,112
*Đối với các chi phí thu mua hàng nhập khẩu, kế toán ghi:
Nợ TK 156(1562) : Chi phí thu mua hàng nhập khẩu (TGTT)
Nợ TK 133 : Thuế GTGT (TGTT)
Nợ (Có) TK 413 : Chênh lệch tỷ giá