Hoàn thiện chính sách thuế đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam

  • 128 trang
  • file .doc
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Qua hơn 18 năm kể từ khi có Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm
1987, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã hình thành và không ngừng phát triển mạnh
mẽ, có mặt trên khắp các tỉnh thành trong cả nước, hoạt động trong hầu hết các
ngành kinh tế quốc dân. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (từ đây
về sau gọi tắt là doanh nghiệp FDI) được coi là nhân tố quan trọng góp phần tăng
trưởng kinh tế, nâng cao tính cạnh tranh cho thị trường trong nước, làm nên sức
mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, phát triển đất
nước, tạo điều kiện cho Việt nam hoà nhập vào nền kinh tế thế giới.
Thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay, cùng với việc mở cửa,
đẩy mạnh môi trường đầu tư, nhà nước đã có những chính sách thuế và ưu đãi
nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và thông qua quá trình thực hiện đã bộc
lộ nhiều ưu điểm, và có tính khả thi cao. Tuy nhiên, trước yêu cầu của tình hình
mới như đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập ngày càng sâu rộng,
yêu cầu thu hút đầu tư nước ngoài đòi hỏi chính sách thuế cần phải đổi mới và
hoàn thiện. Thực tế, chính sách thuế đã bộc lộ nhiều nhược điểm như: vấn đề ưu
đãi đầu tư (theo ngành, theo vùng), sự phân biệt doanh nghiệp trong nước và
doanh nghiệp nước ngoài, sự nhất quán và hiệu quả thực hiện của chính sách
thuế, cũng như tính minh bạch của từng chính sách, đặc biệt là một trong những
nguyên tắc hội nhập quốc tế là sự bình đẳng, không phân biệt. Vì vậy, hoàn thiện
chính sách thuế là đề tài mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, có ý nghĩa thời
sự.
Với ý nghĩa đó, tác giả tập trung nghiên cứu đề tài: "Hoàn thiện chính
sách thuế đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam" , góp
phần giải quyết những vấn đề về lý luận và thực tiễn nêu trên.
2. Mục đích nghiên cứu
1
- Góp phần làm rõ lý luận về vị trí vai trò của hoạt động FDI trong nền
kinh tế thị trường tính cạnh tranh cao và trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới, đồng thời nêu lên sự tác động của chính sách thuế của nước sở tại đối
với hoạt động đầu tư này;
- Hệ thống hoá và phân tích một số chính sách thuế như chính sách thuế
nhập khẩu và các chính sách thuế nội địa, cũng như các hình thức ưu đãi thường
được sử dụng trong chính sách thuế đối với hoạt động FDI;
- Nêu những tồn tại và nguyên nhân trong hệ thống chính sách thuế nói
chung ở nước ta. Kết hợp với các quan điểm hoàn thiện chính sách thuế của nhiều
chuyên gia nhằm hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu và các chính sách thuế nội
địa khác, từ đó góp phần cho việc đề xuất các định hướng, các quan điểm đưa ra
các giải pháp hoàn thiện chính sách thuế phù hợp với quan điểm và mục tiêu về
đầu tư nước ngoài trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010.
3. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng chính của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn của chính sách thuế và các giải pháp hoàn thiện các chính sách này đối với
hoạt động FDI ở Việt Nam phù hợp với quan điểm và mục tiêu về đầu tư nước
ngoài trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010.
Chính sách thuế là một công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế của một quốc
gia, bao trùm nhiều lĩnh vực hoạt động trong đời sống xã hội. Chính sách thuế là
chính sách chung đối với tất cả các loại doanh nghiệp, tuy nhiên, phạm vi nghiên
cứu của luận văn chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu chính sách thuế đối với hoạt
động FDI tại Việt nam, đó là: Nêu tác động của thuế đối với doanh nghiệp FDI;
hệ thống hoá và phân tích các chính sách thuế hiện hành của nhà nước; phân tích
những hạn chế còn tồn tại trong chính sách thuế nói chung, làm sáng tỏ và đánh
giá đúng nguyên nhân của những hạn chế đó; nêu quan điểm hoàn thiện chính
sách thuế và các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách này đối với hoạt
động FDI ở Việt Nam.
Phương pháp cơ bản và chủ yếu được vận dụng để nghiên cứu đề tài này là
phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng
2
thời kết hợp với các phương pháp cụ thể khác như: thống kê so sánh, tổng hợp
phân tích các dữ liệu thực tế. Ngoài ra còn vận dụng các quan điểm lý luận của
Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển nền kinh tế trong sự nghiệp đổi mới.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
- Hệ thống hoá một số vấn đề về các doanh nghiệp FDI và tác động của
thuế đối với các doanh nghiệp FDI.
- Khẳng định vai trò quan trọng của các doanh nghiệp FDI trong mục tiêu
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta.
- Phân tích, đánh giá thực trạng các chính sách thuế hiện hành đối với
doanh nghiệp FDI trong thời gian qua, làm sáng tỏ và đánh giá những nguyên
nhân còn tồn tại trong hệ thống các chính sách đó, nâng cao mức độ ảnh hưởng
của của hệ thống chính sách thuế, tạo tiền đề cho các giải pháp nhằm hoàn thiện
hệ thống chính sách thuế đối với hoạt động FDI ở Việt nam.
- Một số đề xuất góp ý và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống các chính
sách thuế đối với hoạt động FDI ở Việt nam trong điều kiện cạnh tranh và hội
nhập.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề về hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài và
chính sách thuế đối với hoạt động đó trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế;
Chương 2: Thực trạng chính sách thuế đối với hoạt động đầu tư trực tiếp
của nước ngoài tại Việt Nam;
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách thuế đối với hoạt động FDI tại
Việt Nam phù hợp với quan điểm, mục tiêu về đầu tư nước ngoài và mục tiêu tăng
trưởng kinh tế trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2010.
3
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
CỦA NƯỚC NGOÀI VÀ CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
ĐÓ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NƯỚC
NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Đầu tư quốc tế là một quá trình kinh doanh trong đó vốn đầu tư được di chuyển
từ quốc gia này sang quốc gia khác với mục đích sinh lời.
Trong đầu tư quốc tế thường có hai hay nhiều bên có quyết định khác nhau
cùng phối hợp với nhau để triển khai một dự án đầu tư nhằm đem lại lợi ích cho tất cả
các bên. Khác với hoạt động thương mại quốc tế có thể chỉ diễn ra theo từng vụ việc,
đầu tư quốc tế là một quá trình được kéo dài, có trường hợp 30 năm, 50 năm, hoặc lâu
hơn nữa. Vốn đầu tư quốc tế có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau,
như bằng các loại tiền mặt hoặc giấy tờ có giá trị, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu,
quyền sử dụng đất, các sáng chế phát minh, bí mật công nghệ, nhãn hiệu hàng hoá,…
Lợi ích do hoạt động đầu tư mang lại thường là lợi ích kinh tế, đồng thời còn có cả lợi
ích chính trị, lợi ích văn hoá xã hội, lợi ích về bảo vệ môi trường sinh thái,…
Vốn đầu tư quốc tế có hai dòng chính: Đầu tư của tư nhân và hỗ trợ phát triển chính
thức (ODA) của các Chính phủ, các tổ chức quốc tế.
- Đầu tư của tư nhân: Được thể hiện dưới 3 hình thức:
o Đầu tư trực tiếp: Chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hoặc phần lớn vốn vào
các dự án nhằm dành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh
nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại.
o Đầu tư gián tiếp: Chủ đầu tư nước ngoài mua cổ phần của các công ty ở nước
sở tại (ở mức nhất định) để thu lợi nhuận, không tham gia điều hành trực tiếp
đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư.
4
o Tín dụng thương mại: Cho vay vốn và thu lợi nhuận qua lãi suất tiền vay, phát
hành trái phiếu.
- Hỗ trợ phát triển chính thức ODA:
Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại (cho
vay dài hạn với một thời gian ân hạn và lãi suất thấp) của Chính phủ, các hệ thống của
tổ chức Liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế (như
Ngân hàng thế giới - WB, Ngân hàng phát triển Châu á - ADB, Qũy tiền tệ quốc tế -
IMF,…) dành cho chính phủ và nhân dân nước nhận viện trợ. Các cơ quan và tổ chức
hỗ trợ phát triển trên được gọi là đối tác viện trợ nước ngoài.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức của đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư
nước ngoài đóng góp một số vốn đầu tư lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho
phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư.
1.1.1 Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn
định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt
động kinh doanh với mục đích sinh lời (hoặc công ích).
Doanh nghiệp có đặc điểm là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân, mục
đích kinh doanh là thu lợi nhuận (hoặc công ích). Tại Việt Nam, các doanh nghiệp
được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật doanh nghiệp,
Luật ĐTNN tại Việt Nam, Luật hợp tác xã.
Trong nền KTTT các loại hình doanh nghiệp rất đa dạng và bao gồm rất nhiều
loại, trong đó có doanh nghiệp FDI.
Doanh nghiệp FDI là những loại hình doanh nghiệp có vốn của bên nước ngoài
và có sự quản lý trực tiếp của bên nước ngoài. Doanh nghiệp này hoạt động theo pháp
luật của nước sở tại để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm thu được lợi ích cho
các bên. Trong đó, các đối tác có quốc tịch khác nhau và bên nước ngoài có tỷ lệ góp
vốn tối thiểu để trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp.
1.1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
5
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một phạm trù chỉ tất cả các
loại hình doanh nghiệp có vốn bên nước ngoài ở nước tiếp nhận đầu tư. Doanh nghiệp
FDI bao gồm nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau nhưng chúng đều có các đặc
điểm sau:
- Doanh nghiệp FDI là những tổ chức kinh doanh quốc tế và là những pháp nhân
của nước nhận đầu tư, hoạt động theo luật pháp nước nhận đầu tư, các hiệp định và
các điều ước quốc tế.
- Các doanh nghiệp FDI không chỉ gắn liền với việc di chuyển vốn mà còn gắn
liền với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý, tại thị
trường mới cho cả hai bên đầu tư và nhận đầu tư.
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu hoặc tối đa tùy
theo quy định của luật đầu tư của từng nước, ví dụ như Luật đầu tư của Việt Nam quy
định “số vốn đóng góp tối thiểu của phía nước ngoài phải bằng 30% vốn pháp định
của dự án”. Hay Luật đầu tư của nước Nam Tư trước đây quy định “phần của bên đối
tác nước ngoài đóng góp không dưới 5% tổng số vốn đầu tư”. Trong khi đó ở Hàn
Quốc Luật quy định tối đa bên phía nước ngoài góp 40% vốn pháp định.
- Quyền điều hành doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn của chủ đầu tư
trong vốn pháp định. Nếu góp vốn 100% vốn pháp định thì nhà đầu tư toàn quyền
quyết định sự hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Lợi nhuận mà các chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh
doanh và tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định của doanh nghiệp và được phân chia cho
các nhà đầu tư sau khi nộp thuế và chi trả cổ tức.
- Các hình thức biểu hiện của doanh nghiệp FDI như sau:
o Đóng góp vốn để xây dựng xí nghiệp mới;
o Mua lại toàn bộ hoặc từng phần xí nghiệp đang hoạt động;
o Mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sát nhập.
Trên đây là những đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp FDI mà các doanh nghiệp
khác trong nước không có. Nhờ các đặc điểm này mà chúng ta có thể nhận diện được
doanh nghiệp FDI dù chúng hoạt động ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới.
1.1.2 Các hình thức đầu tư FDI cơ bản tại Việt Nam
6
Đầu tư trực tiếp nước ngoài nay đã trở thành một tất yếu kinh tế trong điều kiện
quốc tế hoá sản xuất, lưu thông và được tăng cường mạnh mẽ. Có thể nói trong thời
đại ngày nay không một quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, dù phát triển theo con đường tư
bản chủ nghĩa hay theo định hướng xã hội chủ nghĩa lại không cần đến FDI, và coi đó
là nguồn lực quốc tế cần khai thác để từng bước hội nhập quốc tế. ở Việt Nam, các dự
án đầu tư nước ngoài hiện đã chiếm tới 35% giá trị sản lượng công nghiệp và tồn tại
dưới các hình thức đầu tư khác nhau, cụ thể như sau:
Thứ nhất: căn cứ vào tỷ trọng vốn góp của bên nước ngoài vào vốn pháp định, doanh
nghiệp FDI được chia ra làm hai loại cơ bản:
 Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Có nhiều quan điểm khác nhau về doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài:
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu
tư nước ngoài do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu
trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinh doanh quốc tế, có tư
cách pháp nhân, trong đó các nhà ĐTNN góp 100% vốn pháp định, tự quản lý doanh
nghiệp và tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập ở Việt Nam đã được
hợp tác với nhau và / hoặc với nhà đầu tư nước ngoài để thành lập doanh nghiệp 100%
vốn đầu tư nước ngoài mới ở Việt Nam.
- Hình thức tổ chức hoạt động: Là công ty TNHH pháp nhân Việt Nam
- Vấn đề vốn đầu tư, vốn pháp định và quản trị doanh nghiệp được quy định
trong Luật đầu tư nước ngoại tại Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật
này.
 Hình thức doanh nghiệp liên doanh
Theo Luật kinh doanh của Hoa Kỳ thì: “Liên doanh là một quan hệ bạn hàng
trong đó hai hoặc nhiều chủ thể cùng đóng góp lao động và tài sản để thực hiện một
mục tiêu đặt ra và cùng chia sẻ các khoản lợi nhuận và rủi ro ngang nhau hoặc do các
bên thoả thuận”.
7
Theo một quan điểm khác: “Doanh nghiệp liên doanh là một tổ chức kinh
doanh hợp nhất hoặc liên kết, được thành lập ở nước sở tại và hoạt động theo luật
pháp nước sở tại, trong đó các bên tham gia có quốc tịch khác nhau (OECD).
Cũng theo một quan điểm khác: Liên doanh là một tổ chức kinh doanh hợp
nhất hoặc liên kết, được thành lập ở nước sở tại và hoạt động theo luật pháp nước sở
tại, trong đó các bên tham gia có quốc tịch khác nhau (OECD).
Quan điểm này chưa chỉ ra được bản chất kinh doanh của DNLD.
- Theo Luật ĐTNN tại Việt Nam, thi DNLD là doanh nghiệp do hai bên hoặc
nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh, hoặc hiệp
định ký giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài,
hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh
nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà ĐTNN trên cơ sở
hợp đồng liên doanh.
Khái niệm này nhấn mạnh khía cạnh pháp lý của liên doanh và các trường hợp
thành lập liên doanh nước ngoài mà chưa chỉ rõ bản chất kinh doanh của các liên
doanh.
- Các cách thức hình thành doanh nghiệp liên doanh:
o Doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp hoặc cá nhân nước ngoài (có thể
nhiều bên).
o Doanh nghiệp Việt Nam đã được thành lập ở Việt Nam với:
 Nhà đầu tư nước ngoài;
 Cơ sở khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học hoặc đáp ứng
các điều kiện do Chính phủ quy định;
 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
 Doanh nghiệp liên doanh;
 Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Doanh nghiệp liên doanh được thành lập trên cơ sở một Hiệp định giữa Chính
phủ Việt Nam với chính phủ các nước khác.
- Hình thức tổ chức hoạt động của doanh nghiệp liên doanh:
o Công ty TNHH pháp nhân Việt Nam
8
o Công ty Cổ phần pháp nhân Việt Nam
- Vấn đề góp vốn liên doanh và quản trị doanh nghiệp được quy định cụ thể
trong Luật đầu tư nước ngoại tại Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật
này.
 Hình thức Hợp đồng Hợp tác kinh doanh (BCC)
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký giữa ký giữa hai bên hoặc nhiều
bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam, trong đó quy định trách nhiệm và
phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới. Các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài
để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh.
- Nghĩa vụ nộp thuế của các bên hợp doanh
o Bên hợp doanh nước ngoài thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính
khác theo Luật đầu tư nước ngoài; Bên hợp doanh Việt Nam thực thực hiện nghĩa vụ
thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của Pháp luật áp dụng đối với doanh
nghiệp trong nước.
o Thuế TNDN và các nghĩa vụ tài chính khác của các Bên hợp doanh (gồm cả
tiền thuê đất, thuế tài nguyên…) có thể được tính gộp vào phần sản phẩm được chia
cho Bên hợp doanh Việt Nam và Bên hợp doanh Việt Nam có trách nhiệm nộp cho
Nhà nước.
- Vấn đề điều hành hoạt động, hợp tác kinh doanh, thành lập văn phòng ban điều
hành được quy định cụ thể trong Luật đầu tư nước ngoại tại Việt Nam và các văn bản
hướng dẫn thi hành Luật này.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của DNLD và doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài bị tác động rất lớn bởi các yếu tố của môi trường kinh doanh ở nước nhận đầu
tư, như trình độ nền kinh tế nơi doanh nghiệp đang hoạt động, mức độ cạnh tranh
trong ngành hàng (lĩnh vực) mà doanh nghiệp đang tiến hành các hoạt động kinh
doanh, thị trường lao động, các yếu tố văn hoá trong kinh doanh.
9
Thứ hai: căn cứ vào loại hìnhh pháp lý của doanh nghiệp FDI: Có thể chia các doanh
nghiệp này thành 3 loại chính:
 Công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn FDI: Là một loại hình công ty đối vốn,
gồm các thành viên liên kết với nhau để kinh doanh trên cơ sở bản điều lệ công
ty, trong đó các thành viên thoả thuận hình thức góp vốn, phân chia kết quả
kinh doanh và quyền quản lý doanh nghiệp giữa các thành viên.
Công ty đối vốn là công ty trong đó các thành viên cùng góp vốn để tiến hành
các hoạt động kinh doanh và mỗi thành viên chỉ chịu trách nhiệm trong phần vốn góp
của mình đối với các khoản nợ của công ty, tức là chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn.
Công ty TNHH có vốn FDI có đặc điểm giống với công ty TNHH như các vấn
đề về ghóp vốn, chuyển nhượng vốn,… được quy định giống như quy định đối với
công ty TNHH nói chung.
Hình thức công ty TNHH chỉ thích hợp với gai đoạn đầu trong hoạt động
doanh nghiệp và thường được áp dụng ở những nước thiếu vốn và ít kinh nghiệm
trong quản lý kinh doanh.
 Công ty cổ phần có vốn FDI: Là một loại công ty đối vốn, trong đó các thành
viên (cổ đông) có cổ phiếu và chỉ chịu trách nhiệm đến hết giá trị những cổ
phần mà mình nắm giữ.
Theo Nghị định số 38/2003/NĐ-CP ngày 15/04/2003 của Chính phủ thì công ty
cổ phần có vốn FDI là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng
nhau gọi là “cổ phần”; trong đó các cổ đông sáng lập nước ngoài nắm giữ ít nhất 30%
vốn điều lệ.
Công ty cổ phần có vốn FDI có các đặc điểm cơ bản giống công ty cổ phần nói
chung: vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Các cổ
phần được trao đổi trên thị trường chứng khoán được gọi là cổ phiếu. Công ty cổ phần
được phát hành các loại cổ phiếu, trái phiếu. Số cổ phiếu tối thiểu mà cá thành viên
HĐQT phải có không được chuyển nhượng trong suốt thời gian tại chức và trong thời
gian 2 năm kể từ ngày thôi giữ chức thành viên HĐQT. Đại hội cổ đông là cơ quan
quyết định cao nhất của công ty.
10
 Công ty sở hữu hoàn toàn và công ty sở hữu chung: Công ty sở hữu hoàn toàn
là công ty có trên 95% vốn thuộc quyền sở hữu của một thành viên nào đó. Còn
ngược lại thì được coi là công ty sở hữu chung.
Ngoài ra còn có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại các doanh nghiệp FDI
như:
Căn cứ lĩnh vực đầu tư, các doanh nghiệp FDI chia thành các doanh nghiệp
FDI hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ.
Căn cứ vào tính chất của SXKD, các doanh nghiệp FDI chia thành doanh
nghiệp FDI chuyên khai thác; doanh nghiệp FDI chuyên hoạt động chế biến và doanh
nghiệp FDI hoạt động phục vụ.
Căn cứ vào địa giới hành chính: các doanh nghiệp FDI hoạt động tại các tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương như Hà Nội, TP. Hồ Chính Minh…, các doanh
nghiệp FDI ở tỉnh Bình Dương, Thanh Hoá,...
Qua phân tích các đặc điểm và bản chất của hoạt động đầu tư trực tiếp của
nước ngoài, ta có thể rút ra những ưu điểm, những nhược điểm của hình thức này như
sau:
Ưu điểm của hình thức FDI:
- Về phía chủ đầu tư:
o Khai thác những lợi thế của nước chủ nhà về: Tài nguyên, lao động, thị trường,
… để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
o Đối với các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia thì việc đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài giúp họ thực hiện bành trướng, mở rộng thị phần và tối ưu hoá hạch toán
doanh thu, chi phí, lợi nhuận,…thông qua hoạt động chuyển giá.
o Giảm chi phí kinh doanh khi đặt cơ sở sản xuất, dịch vụ gần vùng nguyên liệu
hoặc gần thị trường tiêu thụ.
o Tránh được hàng rào bảo vệ mậu dịch ngày càng tinh vi, vì xây dựng được cơ
sở kinh doanh nằm “trong lòng” các nước thực thi chính sách bảo vệ mậu dịch.
o FDI cho phép chủ đầu tư tham gia trực tiếp kiểm soát và điều hành doanh
nghiệp mà họ bỏ vốn theo hướng có lợi nhất cho chủ đầu tư.
11
o Thông qua FDI, các nhà đầu tư nước ngoài tham dự vào quá trình giám sát và
đóng góp việc thực thi các chính sách mở cửa kinh tế theo cam kết thương mại
và đầu tư song phương và đa phương của nước chủ nhà.
- Về phía nước tiếp nhận đầu tư:
o Giúp tăng cường khai thác vốn của từng chủ đầu tư nước ngoài. Nhiều nước
thiếu vốn trầm trọng nên đối với hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài không
quy định mức đóng góp tối đa của mỗi chủ đầu tư, thậm chí đóng góp vốn càng
nhiều thì càng được hưởng những chính sách ưu đãi về thuế của nước chủ nhà.
o Giúp tiếp thu được công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của
các chủ đầu tư nước ngoài.
o Nhờ có vốn đầu tư nước ngoài cho phép nước chủ nhà có điều kiện khai thác
tốt nhất những lợi thế của mình về tài nguyên, vị trí, mặt đất, mặt nước,…
o Sự canh tranh, ganh đua giữa các nhà đầu tư có vốn trong nước và nước ngoài
tạo động lực kích thích sự đổi mới và hoàn thiện trong các nhà doanh nghiệp và
đây là nhân tố quan trọng đưa nền kinh tế phát triển với tốc độ cao.
o Các dự án FDI góp phần giải quyết việc làm, nâng cao mức sống của người lao
động.
Nhược điểm của hình thứcFDI:
- Nếu đầu tư vào môi trường bất ổn định về kinh tế và chính trị thì chủ đầu tư
nước ngoài dễ bị mất vốn.
- Nước chủ nhà nếu không có một quy hoạch thu hút vốn FDI, đầu tư cụ thể và
khoa học dẫn tới sự đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị bóc
lột quá mức và nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Vì hiện nay ở các nước
tư bản phát triển thực hiện sự kiểm soát gay gắt những dự án gây ô nhiễm môi
trường, nên xu thế nhiều nhà tư bản nước ngoài đã và đang chuyển giao những
công nghệ độc hại sang các nước kém phát triển.
1.1.3 Phân biệt doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp khác
Giữa hai loại doanh nghiệp này có sự khác nhau ở một số khía cạnh chính sau đây:
12
- Về nguồn vốn: Một loại doanh nghiệp chỉ có vốn trong nước, không có vốn
của nước ngoài còn loại doanh nghiệp kia lại có vốn của bên nước ngoài và do bên
nước ngoài trực tiếp quản lý doanh nghiệp.
- Về cơ sở pháp lý: Doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước hoạt động theo
khuôn khổ pháp luật trong nước. Còn doanh nghiệp FDI vừa phải tuân thủ luật pháp
trong nước vừa phải tuân thủ luật pháp nước chủ nhà và luật pháp quốc tế.
- Về quan hệ lợi ích trong doanh nghiệp: Doanh nghiệp có vốn đầu tư trong
nước đại diện cho lợi ích của một quốc gia. Còn doanh nghiệp FDI đại diện cho lợi ích
của đa quốc gia.
- Chính sách của nhà nước đối với các doanh nghiệp này cũng khác nhau, như:
chính sách ưu đãi đầu tư, một số chính sách thuế, chính sách quản lý ngoại hối,…
- Các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt nam
không thuộc các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam có Thông
tư hướng dẫn riêng thực hiện các vấn đề về nghĩa vụ thuế với nhà nước.
- Về mức độ phức tạp trong quan hệ của doanh nghiệp: Do sự khác biệt về trình
độ quản lý, nền văn hoá xuất thân của các đối tác trong các doanh nghiệp FDI nên
mức độ phức tạp trong quan hệ của các doanh nghiệp này cao hơn rất nhiều so với
trong các doanh nghiệp có vốn trong nước.
Ngoài những sự khác biệt trên đây, giữa doanh nghiệp FDI với các doanh
nghiệp trong nước còn có sự khác biệt về các mặt thuận lợi và bất lợi trong quá trình
tiến hành các hoạt động kinh doanh. Các nhà quản lý dù ở cương vị nào cũng cần
nhận thức rõ sự khác biệt này để có các giải pháp phù hợp trong quá trình quản lý các
loại hình doanh nghiệp khác nhau trong cùng một quốc gia.
1.2 VAI TRÒ VÀ SỰ ĐÓNG GÓP CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Đầu tư nước ngoài trên thế giới vấn tiếp tục gia tăng ở mức độ cao hơn mức độ
gia tăng thương mại quốc tế (trên 10%) với những thay đổi đáng kể trong cơ cấu chủ
đầu tư, cơ cấu lĩnh vực đầu tư cũng như tính đa phương và đa chiều, đa hình thức của
hoạt động đầu tư quốc tế. Sự thành công của các nước tiếp nhận đầu tư phản ánh các
13
dòng vốn ồ ạt đổ vào các thị trường đầu tư mới nổi lên trong những năm gần đây,
đồng thời cũng thể hiện quá trình chuyển đổi mạnh mẽ sang hệ thống tài chính toàn
cầu thông thoáng hơn. Tuy nhiên, các quốc gia trước hết là các nước đang phát triển,
cũng cần phải thận trọng hơn trước sự tiếp nhận với quy mô ngày càng lớn các dòng
vốn nói trên vì bản thân sự vận động của chúng rất dễ bị tổn thương do sự nhạy cảm
của thị trường vốn quốc tế, vì những ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển bền
vững cũng như những hậu quả tiêu cực khác có thể xẩy ra trong hoạt động đầu tư quốc
tế.
FDI là một bộ phận cấu thành của toàn bộ hoạt động đầu tư quốc gia, mà nguồn
vốn trong nước xét tổng thể có ý nghĩa nhất định, FDI không thay thế được các nguồn
đầu tư khác nhưng có thế mạnh riêng của nó. Trong những năm trước khi nguồn vốn
tích lũy từ nội bộ nền kinh tế còn hạn hẹp, nguồn ODA chưa đáng kể thì FDI chiếm vị
trí quan trọng góp phần cải tiến dần cơ cấu kinh tế quốc dân. FDI là việc tổ chức, cá
nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài
sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp
đồng hợp tác kinh doanh hoặc thành lập doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp
100% vốn đầu tư nước ngoài. Rõ ràng, FDI khác với ODA là không gây ra tình trạng
nợ nần cho các thế hệ mai sau, khi bỏ vốn đầu tư vào Việt Nam chủ đầu tư buộc phải
quan tâm làm cho tiền trở thành tư bản. Trong quan hệ kinh doanh với các đối tác
nước ngoài, Việt Nam thực hiện nguyên tắc “được cùng ăn, thua cùng chịu” theo tỷ lệ
vốn góp.
Cho nên vai trò tích cực của FDI được phát huy đến mức nào tuỳ thuộc chủ yếu
vào những điều kiện bên trong của đất nước, đòi hỏi những cố gắng chủ quan của
chúng ta trong quản lý nhà nước cũng như trong SXKD, không ngừng cải thiện môi
trường đầu tư cho FDI, nhằm tăng cường thu hút và sử dụng vốn FDI với hiệu quả cao
nhất.
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tính đến nay đã có hiệu lực gần 18 năm,
kể từ tháng 12 năm 1997 hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có sự đóng góp to
lớn cho sự phát triển kinh tế và cả xã hội được thể hiện qua các mặt:
14
1.2.1 Doanh nghiệp FDI đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho công cuộc phát
triển kinh tế.
Tính đến tháng 3 năm 2004 Chính phủ Việt Nam đã cấp giấy phép cho hơn
5.400 dự án đầu tư nước ngoài, trừ các dự án hết thời hạn hoạt động hoặc bị giải thể,
hiện còn 4.376 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký là 4,1 tỷ USD. Nguồn vốn
đầu tư này tạo ra một lực mạnh mẽ cho nền kinh tế: Các dự án đầu tư FDI hiện chiếm
35% giá trị sản lượng công nghiệp của Việt Nam, cụ thể: Khu vực đầu tư nước ngoài
chiếm 100% các dự án khai thác dầu thô, sản xuất lắp ráp ôtô, sản xuất máy giặt, tủ
lạnh máy điều hoà, thiết bị văn phòng, máy vi tính. Các dự án FDI chiếm tới 60% sản
lượng thép cán, 55% sản xuất sợi các lợi phục vụ cho ngành công nghiệp dệt may; 4%
sản lượng sản xuất ra da và giầy dép; 76% dụng cụ y tế chính xác; 35% về sản xuất
máy móc thiết bị điện; 28% trong tổng sản lượng xi măng; 25% về thực phẩm đồ
uống;…
Theo Cục đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Lượng vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam trong Qúy 1 năm 2005 đã đạt hơn 1,56 tỷ USD, gấp hơn 2 lần so
với cùng kỳ năm 2004, trong đó tổng vốn đầu tư của các dự án mới đạt hơn 1,2 tỷ
USD. Cũng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong 2 tháng đầu năm 2005, khu vực đầu tư
FDI ước xuất khẩu được 2,401 tỷ USD (gồm cả dầu thô), tăng 27,3% so với cùng kỳ
năm ngoái. Nếu không tính dầu thô doanh nghiệp FDI xuất khẩu đạt 1,384 tỷ USD
trong 2 tháng đầu năm 2004. Trong khi đó, xuất khẩu của kinh tế trong nước ước đạt
1,677 tỷ USD, chỉ tăng 6,9% so với 2 tháng đầu năm 2004.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là kênh vốn quan trọng góp phần thúc đẩy sự tăng
trưởng kinh tế.
Thời kỳ 1991-1995 vốn FDI chiếm 25% tổng vốn đầu tư xã hội
Thời kỳ 1996-2000 tăng 1,8 lần so với giai đoạn trước đó chiếm 24% tổng vốn xã hội.
“ Số liệu lấy từ trang Web của bộ khoa học và đầu tư: www.mpi.gov.vn”
Ngay khi Chính phủ thực hiện chính sách mở cửa: Cho phép các nhà đầu tư
nước ngoài sở hữu đến 30% vốn cổ phần trong các công ty Việt Nam, cổ phần của các
thương hiệu mạnh trên sàn giao dịch được các nhà đầu tư nước ngoài, các qũy đầu tư
tài chính kể cả ngân hàng nước ngoài tìm mua gần hết. Các nhà đầu tư nước ngoài rất
15
muốn được nắm giữ cổ phần trong các công ty Việt Nam có thương hiệu nổi tiếng
trong nước và nước ngoài, họ hy vọng Chính phủ sẽ nới rộng tỷ lệ sở hữu cổ
phần đối với các nhà đầu tư nước ngoài từ 30% lên 49% và thậm
chí là 100% ở những kinh doanh không quan trọng. Rõ ràng thị
trường đầu tư cổ phần đang là một kênh huy động vốn FDI hiệu
quả.
Bảng 1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư (1988-2003)
(Tính đến ngày 31/12/2003 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Đơn vị tính: US Dollar.
Số dự Tổng vốn đầu Vốn đầu tư
Hình thức đầu tư Vốn pháp định
án tư thực hiện
BOT 6 1.370.125.000 411.385.000 912.897.119
Hợp đồng hợp tác kinh doanh 158 3.873.452.177 3.289.410.174 5.243.381.069
100% vốn nước ngoài 3.007 17.285.639.504 7.710.901.629 8.395.422.590
Liên doanh 1.153 18.265.637.941 7.141.465.000 10.049.488.040
Tổng số 4.324 40.794.854.622 18.553.161.803 24.601.188.818
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Bảng 1.2 Tốc độ tăng vốn của các doanh nghiệp
có đến 1/7/2002 so với 1/7/1995
Đơn vị: %
So với 1995 Bình quân năm So với 2001
Tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp 324,2 22,9 14,5
- Doanh nghiệp Nhà nước 249,5 19,6 9,0
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 982,0 40,5 42,4
- Doanh nghiệp FDI 480,8 28,6 14,0
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt nam ngày 20/01/2003.
16
1.2.2 Các dự án FDI ngoài góp phần tăng thu ngân sách, góp phần cải thiện cán
cân thanh toán và cán cân vãng lai của quốc gia.
Hàng ngàn dự án đang hoạt động, đầu tư nước ngoài ngày càng chiếm tỷ lệ cao
trong tổng GDP của Việt Nam.
Năm 1993 dự án FDI chiếm 3.3% GDP.
Năm 1995 dự án FDI chiếm 6.3% GDP
Năm 1999 dự án FDI chiếm 10.1% GDP
Năm 2000-2004 dự án FDI chiếm 13% GDP.
Giai đoạn 1996-2000 thu từ khu vực FDI chiếm tới 6-7% nguồn thu ngân sách quốc
gia. Như vậy các dự án FDI đóng góp đáng kể nguồn thu ngân thu ngân sách quốc gia.
Bảng 1.3: Đóng góp của các dự án FDI đối với sự phát triển kinh tế
Việt Nam
89-
FDI 91 92 93 94 95 96 97 98 99 2000 2001 2002
90
Tỷ trọng trong
1.0 1.5 2.0 3.6 6.1 6.3 7.4 9.1 10 12.2 13.2 13.5 13.8
GDP (%)
Tốc độ tăng
45.6 40.4 13.6 12.8 8.8 21.7 23.2 24.4 20 23 12.1 14
công nghiệp
Tỷ trọng trong
22.4 26.2 26.2 26.2 28.1 26.2 28.9 32 34.4 36 35.4 35
cụng nghiệp
Nguồn: www.oneconomy.com.vn/statistic
Ngoài ra với hoạt động xuất khẩu các dự án đầu tư FDI góp phần cải thiện cán
cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam: Không kể dầu khí thì
kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài thời kì 1991-1995 đạt trên 1.2 tỷ
USD.
Thời kỳ 1996-2000 đạt trên 10.6 tỷ USD.
Năm 2001 đạt 3.67 tỷ USD.
Năm 2002 đạt 4.5 tỷ USD.
Nhiều mặt hàng xuất khẩu quan trọng do các dự án FDI thực hiện như:
- Xuất khẩu dầu thô chiếm 100%
17
- Dầy dép 42%
- Hàng dệt may 25%
- Hàng điện tử máy vi tính và linh kiện 84%
Tỷ trọng trị giá hàng xuất khẩu so với doanh thu của các dự án FDI tăng nhanh 30% ở
thời kỳ1991-1995 chiếm 48% thời kỳ 1996-2000 và đạt 50% năm 2002, trên 50% năm
2003.
Bảng 1.4: Kim ngạch xuất khẩu khu vực FDI
FDI 91 92 93 94 95 96 97 98 99 2000 2001 2002
Xuất khẩu
52 112 260 352 336 788 1790 1982 2547 3300 3670 4500
Xuất khẩu so với
34.4 49.1 53.3 34.3 16.3 28.7 46.9 50.7 55.4 53.5 48.1 50.0
doanh thu %
Nguồn: www.vneconomy.com.vn/sta
Xuất khẩu không kể dầu thô.
1.2.3 Các dự án FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Ở những năm 1988 - 1995, FDI chủ yếu thực hiện trong các ngành kinh doanh
bất động sản, xây dựng khách sạn, khu nghỉ mát, khu chế xuất, văn phòng cho thuê.
Sang thời kỳ 1996 - 2003, FDI thực hiện nhiều hơn vào các ngành sản xuất công
nghiệp và dịch vụ: chiếm 53% vốn đăng ký và 73% vốn thực hiện; các dự án đầu tư
vào dịch vụ bưu chính viễn thông, dụng cụ kỹ thuật tăng 1,4 lần ở thời kỳ này (Nguồn:
www.mpi.gov.vn). Hiện đầu tư nước ngoài chiếm 35% sản lượng công nghiệp ở Việt
Nam với tốc độ tăng trưởng hàng năm trến 20%.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng trong việc hình thành các khu
chế xuất và khu công nghiệp ở Việt Nam, và góp phần đáng kể trong việc nâng cao
năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
1.2.4 Các dự án FDI đóng góp quan trọng trong việc nâng cao trình độ kỹ thuật
và công nghệ của Việt Nam.
18
Về lý thuyết, cùng với dòng vốn FDI vào Việt Nam, các doanh nghiệp FDI sẽ
là một nguồn chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý cho người lao động Việt
Nam và các doanh nghiệp Việt Nam làm việc trong môi trường có sự tương tác với
các doanh nghiệp, nhà quản lý nước ngoài. Thông qua tiếp nhận công nghệ chuyển
giao từ FDI, quốc gia sở tại có thế nâng cao được năng lực công nghệ địa phương để
cải thiện triển vọng tăng trưởng lâu dài của nền kinh tế. Mức độ của ảnh hưởng của
chuyển giao công nghệ là yếu tố quyết định lợi ích lâu dài và bền vững của FDI đối
với nền kinh tế nước sở tại. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng chuyển giao công nghệ
mạnh hay yếu lại phụ thuộc rất nhiều vào môi trường chính sách và năng lực công
nghệ địa phương. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy ảnh hưởng chuyển giao công nghệ sẽ
được thực hiện hoá nếu nền kinh tế nước sở tại có mức độ phát triển công nghệ trung
bình và có những biện pháp ưu đãi thoả đáng đối với các doanh nghiệp FDI tích cực
thực hiện chuyển giao công nghệ.
Thông qua các dự án FDI, nhiều công nghệ mới, hiện đại đã đưa vào sử dụng
tại Việt Nam trong các ngành tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí, ngành bưu chính
viễn thông, sản xuất vi mạch điện tử, sản xuất máy tính, hoá chất, sản xuất ô tô, thiết
kế các phần mềm tin học. Những dự án này đóng góp đáng kể để tăng khả năng cạnh
tranh của công nghệ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Việc sử dụng công nghệ tiến tiến hiện đại ở các dự án FDI cũng tạo ra sự kích
thích các doanh nghiệp nội địa phải đầu tư đổi mới cạnh tranh với sản phẩm của các
doanh nghiệp có vốn nước ngoài trên thị trường nội địa và xuất khẩu.
Các mô hình quản lý và các phương thức kinh doanh hiện đại của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam đổi mới tư duy
quản lý kinh doanh và công nghệ để tăng khả năng cạnh tranh.
1.2.5 FDI góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế thị trường ở Việt Nam đưa
nền kinh tế Việt Nam hội nhập nhanh với nền kinh tế thế giới.
Tác động quan trọng nhất của FDI là góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế xã hội
của nước ta, như tăng năng suất lao động xã hội - một yếu tố mang tính quyết định
trong cạnh tranh của các doanh nghiệp; cân bằng cán cân thanh toán quốc tế; hình
19
thành các định chế tiền tệ, tín dụng dần đáp ứng các chuẩn mực, thông lệ quốc tế, góp
phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động phát triển quan hệ kinh tế giữa Việt Nam
và các nước khác.
Ngoài ra các doanh nghiệp FDI ở nước ta có đặc điểm khác các nước khác là
đối tác tham gia DNLD: đối tác phía Việt Nam tham gia DNLD tuyệt đại bộ phận là
các doanh nghiệp Nhà nước (chiếm tới 92% tổng dự án liên doanh), trong khi ở các
nước thì đối tác trong nước tham gia vào các doanh nghiệp FDI lại tuyệt đại bộ phận
là các doanh nghiệp tư nhân.
Trong những năm đầu mới thu hút FDI, hình thức doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài ít được các nhà đầu tư lựa chọn. Trong những năm gần đây, khi hình thức
DNLD gặp nhiều khó khăn trong vận hành, các nhà đầu tư bắt đầu ưa chuộng hình
thức 100% vốn nước ngoài hơn. Hiện nay hình thức 100% vốn nước ngoài tuy đã tăng
vọt về số lượng so với trước đây (3007 dự án/4160 dự án, xem số liệu bảng 1.1),
nhưng hầu hết là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ và là các chi nhánh của
công ty đa quốc gia. Đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành cơ chế tài
chính đối với các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam.
Ngoài những thành tựu các doanh nghiệp FDI đã mang lại, trong thực tế vẫn
còn một số hạn chế như: nhận thức quan điểm về ĐTNN còn chưa nhất quán, hình
thức đầu tư chưa được mở rộng, môi trường đầu tư thiếu tính ổn định, công tác qui
hoạch còn chậm, công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động FDI còn yếu kém,
buông lỏng, nguyên nhân rất lớn là công tác cán bộ là yếu tố quyết định nhưng đang là
khâu yếu nhất.
Cho đến hết năm 2003, đã có 74 quốc gia và lãnh thổ có dự án đầu tư vào Việt
Nam trong đó có trên 80 công ty xuyên quốc gia nằm trong 500 công ty xuyên quốc
gia hàng đầu thế giới, chính dự án này có tác động không nhỏ tới thay đổi cơ chế
chính sách quản lý kinh tế Việt Nam theo hướng hội nhập quốc tế, chúng tác động đến
xoá bỏ sự bao vây, cấm vận quốc tế đối với Việt Nam, hỗ trợ Việt Nam gia nhập
ASEAN, ký kết trên 100 hiệp định song phương và đa phương trong đó có Hiệp định
thương mại Việt - Mỹ.
20