Hiện thực trong truyện ngắn “cánh đồng bất tận” của nhà văn nguyễn ngọc tư

  • 79 trang
  • file .pdf
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NV
BỘ MÔN NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ ĐOAN TRANG
MSSV: 6106437
HIỆN THỰC TRONG TRUYỆN NGẮN
“CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN” CỦA NHÀ VĂN
NGUYỄN NGỌC TƯ
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS. TRẦN VĂN THỊNH
Cần Thơ, năm 2013
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. 1. Vùng đất Tây Nam Bộ
1.1.1. Những khó khăn của vùng đất Tây Nam Bộ.
1.1.2. Đôi nét về vùng Tây Nam bộ qua các tác phẩm văn học
1.2. Tác giả Nguyễn Ngọc Tư
1.2.1. Tiểu sử
1.2.2. Sự nghiệp sáng tác
1. 3 Tác phẩm “Cánh đồng bất tận”
1.3.1. Tóm tắt tác phẩm
1.3.2. Vài nét về tác phẩm “Cánh đồng bất tận”
1. 4. Một số vấn đề lý luận
1.4.1. Vài nét về văn học hiện thực Việt Nam.
1.4.2. Lí thuyết về tính hiện thực
1.4.2.1. Tính hiện thực một thuộc tính tất yếu trong văn học
1.4.2.3. Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực
1.4.2.4. Hiện thực trong văn học là hiện thực thứ hai, hiện thực là được
sáng tạo lại.
1.4.3. Mối quan hệ giữ hiện thực và hư cấu trong một tác phẩm văn học.
CHƯƠNG 2: HIỆN THỰC VỀ NHỮNG KHÓ KHĂN, KHẮC
NGHIỆT VÀ SỐ PHẬN CỦA NGƯỜI DÂN TÂY NAM BỘ
2.1. Hiện thực về những khó khăn và khắc nghiệt trong cuộc sống của
người dân.
2.1.1. Tự nhiên khắc nghiệt của vùng Tây Nam Bộ.
2.1.2. Một số tiêu cực trong lòng xã hội
2.1.2.1. Tình trạng tham nhũng làm mất lòng tin của người dân
2.1.2.2. Mê tính dị đoan trong thế giới tinh thần của người nông dân
2.2. Hiện thực về số phận con người ở vùng nông thôn
2.2.1. Sương- “Phường làm đĩ” một vũng lầy bất tận.
2.2.2. Út Vũ - người nông dân nuôi vịt chạy đồng với bao ngang trái của cuộc
đời
2.2.3. Nương- nạn nhân của những chuỗi ngày tăm tối.
2.2.4. Điền- Sự mất mát quá lớn
2.2.5. Vợ Út Vũ- nạn nhân của sự thiếu thốn
2.3. Ý nghĩa của hiện thực về những khó khăn, khắc nghiệt và số phận của
người dân Tây Nam Bộ
CHƯƠNG 3: HIỆN THỰC VỀ THẾ GIỚI TINH THẦN CỦA
NGƯỜI NÔNG DÂN TÂY NAM BỘ
3.1. Sân si của con người
3.2. Tình yêu trong cuộc sống ngày nay
3.3. Những suy tư trăn trở của con người
3.4. Niềm tin vào cuộc sống
3.5. Ý nghĩ hiện thực về tinh thần của người nông dân Tây Nam Bộ
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Càng bắt nguồn trong đời sống xanh tươi
luôn luôn sương gió, nghệ thuật càng chân thật, phong phú, càng đẹp, càng trở thành
thức ăn tinh thần của mọi người” [8; tr. 217]. Thật vậy, các tác phẩm xưa nay sống
xanh tươi, được quần chúng ấp ủ nâng niu, chính vì tác phẩm đó đã phản ánh chân
thực hiện thực đời sống xã hội. Nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng từ thời kì sơ
sinh của nó đã tồn tại và phát triển trong sự gắn bó với đời sống. Nhìn vào lịch sử văn
học của nhân loại tiến bộ chúng ta thấy rõ ràng, bất luận thời đại nào, xã hội chính trị
nào, giá trị của văn học được bảo lưu và gần như là một giá trị vĩnh cửu đó là giá trị
hiện thực.
Nhắc đến cái tên Nguyễn Ngọc Tư, là chúng ta lại nhớ ngay đến tác phẩm
“Cánh đồng bất tận”, tuy đó chưa phải là một tác phẩm lớn nhưng chắc chắn nó đã
gây được ấn tượng sâu sắc trong lòng người yêu văn chương. Chúng tôi chọn đề tài:
Hiện thực trong trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư
là vì trong những lí do sau:
Thứ nhất, bây giờ xuất hiện nhiều tác phẩm mang tính hiện thực, cũng nói đến
những vấn đề trong cuộc sống, nhưng trong số những tác phẩm đó rất ít được quan tâm
và không mấy thành công. Vậy, tại sao, cũng phản ánh về những vấn đề trong cuộc
sống nhưng Cánh đồng bất tận lại để lại những ấn tượng sâu sắc và nhức nhối trong
lòng người đọc?
Thứ hai, khi truyện ngắn Cánh đồng bất tận xuất bản được một thời gian, có
nhiều luồng ý kiến cho rằng đó là thứ văn chương phản động, thậm chí là chống cộng,
tục tĩu dâm ô, không mang tính giáo dục, chống lại những chủ trương của Đảng và
Nhà nước, bôi đen xã hội nông thôn hiện nay. Vậy những ý kiến đó có là do đâu? Phải
chăng đó là những vấn đề được hiểu một cách máy móc là “hiện thực”.
Trong phần ghi chép tóm tắt Bài giảng về bản chất tôn giáo của PhoBach,
LêNin tán thành với nhận xét “Nghệ thuật không đòi hỏi người ta phải thừa nhận các
tác phẩm của nó như là hiện thực” [19; tr. 24]. Chúng ta phải thừa nhận một điều, văn
chương là đời sống được hư cấu hóa trên trang giấy. Hiện thực trong văn chương là sự
giả định về đời sống chứ không phải là bản thân đời sống. Vì thế, thưởng thức một tác
phẩm nói chung hay truyện ngắn Cánh đồng bất tận nói riêng không nên quá máy móc
phân biệt giữa trắng với đen, giữa thực tế với hư ảo.
Trong một tác phẩm văn chương, một sự kiện không có sự phân biệt rạch ròi
giữa chân và giả, mà có thể là vừa chân vừa giả. Điều quan trọng là cái thông điệp của
một tác phẩm, cái thông điệp chờ người đọc phát hiện.
Với đề tài Hiện thực trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận”, cũng có rất nhiều
ý kiến và bài viết bàn luận, nhưng chưa thật cụ thể. Người viết tin rằng với sự đam mê
tìm tòi khám phá cùng với sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của thầy cô và các bạn,
người viết có thể hoàn thành tốt luận văn của mình.
Truyện ngắn Cánh Đồng bất tận đã gây được tiếng vang lớn, bởi những ý nghĩa
mang tính hiện thực hết sức sâu sắc. Sự tranh cãi và bàn luận về tác phẩm cũng không
phải là con số nhỏ. Với tư cách là người tiếp nhận và người nghiên cứu tác phẩm,
người viết mong muốn sẽ tích lũy được nhiều kinh nghiệm nghiên cứu khoa học và
học hỏi thêm nhiều kiến thức mới, làm hành trang cho việc học tập và làm việc sau
này. Đồng thời người viết mong rằng có thể đóng góp một phần nào đó vào việc hiểu
tác phẩm một cách thấu đáo hơn, đóng vai trò là người đặt nền móng các công trình
sau này đạt hiệu quả hơn.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Văn học và hiện thực là một trong những vấn đề trung tâm của lí luận văn học.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cũng như các bài viết nói về mối quan hệ giữa
văn học và hiện thực. Kì thực nghệ thuật bao giờ cũng phản ánh và lí giải đời sống
nằm ngoài giới hạn của nó theo cách riêng. Trong quyển “Bàn về văn học” Goc-ki đã
khẳng định nguồn gốc của thần thoại nguyên thủy là lao động sản xuất xã hội của con
người. Bên ngoài lớp sương mù thần linh hư cấu bao phủ là thực chất cuộc sống của
con người. Ở đây bất cứ ai cũng có thể thấy được tính chất hiện thực, sự thể hiện nội
dung của cuộc sống thực tế đó.
Riêng truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện lần đầu
tiên trên trang 1 báo Văn Nghệ số ra ngày 13/8/2005. Từ khi ra đời đến nay, tác phẩm
đã có một sức thu hút rất lớn với nhiều người đọc nói chung và nhiều nhà nghiên cứu,
phê bình văn học nói riêng. Đã có rất nhiều bài viết bàn luận, chẳng hạn như: Hoàng
Thiên Nga - Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua Cánh Đồng Bất Tận; Đoàn Nhã Văn - Nắng,
gió, vịt, và đàn bà giữa những Cánh Đồng Bất Tận, Nguyễn Thị Hoa - Giọng điệu trần
thuật của Nguyễn Ngọc Tư qua tập truyện “Cánh đồng bất tận”…
Truyện ngắn Cánh đồng bất tận với rất nhiều cảm nhận và ý kiến khác nhau,
mỗi người có một quan điểm và nhìn nhận rất khác nhau. Diễn đàn “Đối thoại với
Cánh đồng bất tận” khép lại vào ngày 13-4. Báo Tuổi Trẻ hôm đó cho biết, có 868 ý
kiến tham gia, trong đó có 13 ý phê phán/855 ủng hộ tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư.
Bản tin này nhấn mạnh: “Chia sẻ với nỗi đau, nỗi nhọc nhằn lam lũ của những phận
người trong tác phẩm, đại đa số bạn đọc cũng đã đồng cảm với tác giả trong khát
vọng nhân văn và nhận ra “cái phao của lòng nhân ái” (như chữ dùng của nhà văn
Trần Kim Trắc trong bài viết “Cánh đồng bất tận có nhiều phù sa”)… Bên cạnh đó,
rất nhiều ý kiến đã nói lên sự kinh ngạc và bất bình, đã phân tích nhiều luận điểm để
tranh luận lại một cách nhìn, cách đọc, cách đánh giá tác phẩm văn học của ông
trưởng Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Cà Mau, đặc biệt là phản bác đối với bài viết của thạc
sĩ Vưu Nghị Lực”. Đa số đọc giả đều đồng tình và hưởng ứng với tác phẩm Cánh đồng
bất tận.
Nhà văn Hữu Thỉnh – chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam: “Cánh đồng bất tận
chuyển tải được nhiều thông điệp nghệ thuật sâu sắc hàm chứa nhiều tầng nghĩa khác
nhau… Thông điệp của Tư ở đây là con người sống phải biết khoan dung và tha thứ.
Chỉ có lấy ân báo oán thì con người mới có thể nguôi ngoai được lòng thù hận và nỗi
đau, nhờ đó, người sẽ người hơn, sẽ lớn lên. Ông bà mình đã dạy thế, và Tư đã chuyển
tải thông điệp đó một cách tài tình, đau đớn. Đây là một truyện ngắn giàu tính nhân
văn”. (theo báo Tuổi Trẻ 12-4).
Nhà thơ Lê Chí, trưởng ban công tác Hội nhà văn Việt Nam tại ĐBSCL:
“Dân chủ, nói nôm na là tính công khai, minh bạch. Điều đó, với Cánh đồng bất tận
của Nguyễn Ngọc Tư, ít nhất đã được chứng minh khá sôi động trong dư luận bạn đọc
trên dưới năm nay. Mỗi người cảm nhận sự hay, dở ở truyện có thể khác nhau, nhưng
có một điều rất đáng được nhìn nhận, đó là thái độ tin cậy của đông đảo bạn đọc cả
nước đối với Cánh đồng bất tận và tài năng của một tác giả nữ rất trẻ ở vùng đất cuối
cùng của đất nước”. (theo Tuổi Trẻ 12-4).
Nhà văn Nguyễn Thanh – chủ tịch Hội Văn nghệ Cà Mau: “Theo tôi, mấy
ông có sơ suất là làm cái báo cáo này gởi cho Hội Văn học nghệ thuật, đề nghị kiểm
điểm. Câu chữ thông báo thì khá nặng nề. Có câu “cấm xuất bản”, tại sao lại cấm
người ta. Cấm là bậy!... Đưa tới đưa lui, có nhiều ý kiến bất lợi như ý kiến của anh
Vưu Nghị Lực hay ý kiến của bà Kim Dân. Các anh phải hết sức lưu ý, nhiều ý la quá
tay”. (báo Tuổi Trẻ 11-5).
Tác giả của bài tiểu luận “Cái đẹp trong truyện ngắn Cánh đồng bất tận của
Nguyễn Ngọc Tư” đã nghiên cứu tác phẩm dưới góc nhìn của cái đẹp. Dựa trên thị
hiếu thẩm mĩ của người đọc, nên Cánh đống bất tận có sức hút lạ lùng, cái đẹp được
biểu hiện bên trong nội dung của tác phẩm. Cái đẹp đó là các trạng thái tâm lí cảm xúc
tinh tế và sâu xa, tất cả làm rung cảm tâm hồn của người đọc.
Trong đề tài nghiên cứu khoa học của Nguyễn Thị Mẫn Vy trường Đại học sư
phạm, Đại học Đà Nẵng đã nghiên cứu về vấn đề “Các lớp từ vựng giàu sắc thái tu từ
trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” đã đi sâu nghiên cứu trên phương diện ngôn ngữ.
Với những từ ngữ mang đậm tính Nam bộ, đặc biệt là lớp từ nuôi vị chạy đồng và lớp
từ cải lương giúp tái hiện chân xác bức tranh hiện thực về cuộc sống trong tác phẩm..
Về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Cánh đồng bất tận không phải là lần đầu tiên
được chúng tôi nghiên cứu. Tác giả Trần Thị Dung (Khoa Ngữ văn – Đại học Vinh)
cũng đã có bài viết với nhan đề: Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư
qua tập truyện Cánh đồng bất tận dài khoảng 1500 từ đăng trên Trang chủ Nguyễn
Ngọc Tư do Trần Hữu Dũng làm quản trị viên. Tuy nhiên đây mới chỉ là một bài viết
ngắn gọn đưa ra một vài luận giải và cảm nhận của người viết đối với hệ thống nhân
vật của Nguyễn Ngọc Tư.
Từ cơ sở của những bài viết trên đây cùng với lòng say mê, hâm mộ của bản
thân đối với tài năng của Nguyễn Ngọc Tư; cũng như sự hấp dẫn của Cánh đồng bất
tận mà đặc biệt là sự khác lạ và độc đáo trong việc miêu tả hiện thực, chúng tôi mạnh
dạn chọn đề tài Hiện thực trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” của nhà văn
Nguyễn Ngọc Tư làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp này.
3. Mục đích nghiên cứu
Từ khi truyện ngắn Cánh đồng bất tận ra đời, đã có rất nhiều ý kiến cũng như
phê bình nhận xét về tác phẩm trên. Với đề tài Hiện thực trong truyện ngắn Cánh đồng
bất tận, chúng tôi phải nghiên cứu phát hiện ra những nét mới, những nét riêng biệt để
chỉ ra đâu chính là hiện thực, và đâu lại là hiện thực được hư cấu hóa. Vấn đề ở chỗ là
đã có quá nhiều bài viết cũng như phê bình nói về tác phẩm Cánh đồng bất tận, nên để
thực hiện tốt đề tài này, cần phải nghiên cứu kĩ lưỡng để không tạo nên sự nhàm chán
đơn điệu, cũng như không đưa ra những gì đã có sẵn.
Mục đích của chúng tôi nhằm làm rõ một cách hệ thống về những yếu tố hiện
thực trong tác phẩm, cụ thể là: Những khó khăn, khắc nghiệt và số phận của con người
ở vùng Tây Nam Bộ với hiện thực về thế giới tinh thần của họ.
4. Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu, tìm hiểu được thể hiện ngay trong đề tài. Đó
là Hiện thực trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.
Như đã nói, vấn đề này chưa có một bài nghiên cứu nào hoàn chỉnh, đơn giản đó chỉ là
những ý kiến của dư luận. Khi phân tích một thể loại tác phẩm nào đó, người viết có
thể đứng ở nhiều góc độ khác nhau như: ngôn ngữ, văn hóa, văn học… thuộc hai
phương diện giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật. Với đề tài Hiện thực trong truyện
ngắn “Cánh đồng bất tận”, chúng tôi sẽ nghiên cứu đâu là hiện thực được thể hiện
trong tác phẩm và đâu lại là sự hư cấu của nhà văn.
Với cơ sở lí luận về hiện thực và hư cấu, chúng tôi sẽ đi làm rõ những vấn đề
được đưa ra. Đó không chỉ gói gọn trong tác phẩm Cánh đồng bất tận mà chúng tôi sẽ
liên hệ với các tác phẩm khác, để có sự đối chiếu so sánh, làm phong phú thêm việc
nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu
Do yêu cầu của đối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu chúng tôi sử
dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau:
Phương pháp tiểu sử: Truyện ngắn Cánh đồng bất tận gắn liền với vùng đất
Tây Nam bộ, nơi mà tác giả đang sinh sống. Đời sống của tác giả rất quan hệ đến tác
phẩm. Muốn hiểu kĩ và đánh giá được tác phẩm, cần phải hiểu thêm về đời sống của
tác giả. Nhằm lí giải một số yếu tố hiện thực trong tác phẩm.
Phương pháp hệ thống cấu trúc: vận dụng phương pháp này nhằm nghiên cứu
văn học ở tất cả các chỉnh thể của nó đều như một cấu trúc phức hợp những yếu tố có
mối liên hệ hữu cơ và tác động lẫn nhau. Khi nghiên cứu tất cả các phương diện ta sẽ
khái quát được tất cả các giá trị của tác phẩm nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
Phương pháp phân tích: Chúng tôi sẽ sử dụng những lí luận thực tiễn nền dựa
trên sự cung cấp của các tư liệu từ phương pháp hệ thống để làm rõ vấn đề trọng tâm
hơn.
Phương pháp tổng hợp: Dựa trên những kết quả thu được từ phương pháp phân
tích chúng tôi sẽ tiến hành tổng hợp lại và đưa ra những nhận định khái quát và trọng
tâm về vấn đề vừa nghiên cứu cũng như đề tài.
Đây là công việc đòi hỏi tính khoa học và chính xác cao, do vậy người viết cần
phải trao dồi và học hỏi nhiều thứ. Cần chuyên tâm suy nghĩ, đưa ra kết luận thật kĩ, vì
ý kiến của dư luận về tác phẩm Cánh đồng bất tận rất mạnh mẽ. Không nên áp đặt vấn
đề một cách chủ quan, mà cần phải khéo léo tìm hiểu và phân tích một cách chính xác
và thuyết phục dựa trên cơ sở lý luận làm nền tảng.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Vùng đất Tây Nam Bộ
1.1.1. Những khó khăn của vùng đất Tây Nam Bộ.
Từ ngày xưa, Vùng đất Tây Nam bộ là vùng đất hoang sơ, gần hết cả vùng đều
là bụi rậm của rừng thấp, những cửa rộng của con sông lớn chảy dài hàng trăm dặm,
bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú sum
suê. Khắp nơi vang tiếng chim hót và tiếng thú kêu. Vào nửa đường trong sông, thấy
những cánh đồng hoang không một gốc cây. Xa nữa, tầm mắt chỉ thấy toàn cỏ cây đầy
rẫy. Hàng trăm, hàng nghìn trâu rừng tụ họp từng bầy. Tiếp đó, nhiều con đường dốc
đầy tre chạy dài hàng trăm dặm. Thời gian, con người dần cải tạo và chinh phục thiên
nhiên. Nhưng với bản chất hoang sơ, đặc thù của nó. Tự nhiên ở một số nơi vẫn còn
rất nhiều khắt nghiệt đe dọa tới đời sống của con người.
Không thể hiểu Cánh đồng bất tận nếu không hiểu miền Tây Nam Bộ. Vùng
đất được gọi là Nam bộ ngày nay cách đây khoảng 300 năm chỉ là một vùng đầm lầy,
nê địa, rừng hoang cỏ rậm, nhiều thú dữ:
“Tới đây xứ sở lạ lùng,
Chim kêu phải sợ, cá vùng phải ghê.”
Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long được bắt đầu khai phá sau khi nhà Nguyễn
tiến về phía Nam từ cuối thế kỹ thứ 17, khoảng 300 năm trước. Đây là một vùng đất
gần như hoang dã, đầy đầm lầy và dã thú, đầy cạm bẫy đối với người Việt đi khẩn
hoang từ thuở ban đầu, một vùng đất mà con người phải chùn bước khi chạm trán với
mọi bất trắc có thể xảy ra bất kể không gian và thời gian. Mọi di chuyễn bằng đường
bộ hầu như hoàn toàn chưa mở mang lúc đầu và người dân tập trung di chuyễn bằng
thủy bộ.
Thời gian con người đã khai hoang vùng đất mới nhưng vẫn còn nhiều khó
khăn và phải đối diện với nó.
Mùa lũ năm 1978, giữa mênh mông nước Tứ giác Long Xuyên, nhìn những gia
đình với cặp vợ chồng, hai ba đứa trẻ, con chó phèn, mấy tay lưới bén, vài chục bẫy
chuột, cái đinh ba cùng chiếc xuồng cũ kỹ lang thang trên mặt nước như nhìn thấy
nhỡn tiền những nhân vật của Sơn Nam mấy chục năm trước. Đó là chưa kể, các hiện
tượng thiên tai và biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến cuộc
sống của con người. Hiện tượng nắng nóng kéo dài và lượng mưa suy giảm khiến tình
hình sử dụng nước thêm khó khăn. Điều kiện thiếu nước và nhiệt độ cao xảy ra ở một
số nơi ngày càng trầm trọng. nguồn nước đồng bằng sông Cửu Long cũng đang đứng
trước nguy cơ an ninh nguồn nước đang bị đe dọa.
Hằng năm, mùa khô là mùa gây khó khăn nhất về nước sinh hoạt cho người dân
khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, nhất là các tỉnh ven biển. Vì vậy, để có nước ngọt
sử dụng, người dân đã phải xoay sở nhiều cách. Mùa khô thường thiếu nước cho sản
xuất và sinh hoạt. Nước biển xâm nhập sâu, gây nhiễm mặn. Mùa lũ gây ngập úng trên
diện rộng gây khó khăn cho đời sống dân cư, cơ sở hạ tầng bị nước lũ phá hoại. Chính
điều kiện khắc nghiệt làm cho cuộc sống của người dân trở nên khó khăn và vất vả
hơn.
Mặc dù đã được đầu tư phát triển song hiện nay Tây Nam Bộ vẫn còn nhiều bất
cập trước yêu cầu mới về phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Áp lực nhân
khẩu quá lớn và tiến bộ xã hội chưa tương đồng với phát triển kinh tế.
Với một vùng lãnh thổ mà các hoạt động kinh tế ở đó cơ bản dựa trên khai thác
tài nguyên đất và nước một cách khá thuận lợi như Tây Nam Bộ thì áp lực dân số và
lao động lớn như vậy vừa là nguyên nhân sâu xa gây ra những thách thức không nhỏ
đối với phát triển triển kinh tế - xã hội, môi trường vừa là vấn đề nhạy cảm đối với sự
ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững. Tỷ lệ hộ nghèo của toàn vùng trong
nhiều năm trước đây trên dưới 20%. Giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho một quy mô
dân số lớn để xoá đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống là những vấn đề
quan tâm hàng đầu của Đảng bộ và chính quyền địa phương các tỉnh vùng Tây Nam
Bộ. Sự chênh lệch về mức sống giữa các tầng lớp xã hội có xu hướng ngày càng gia
tăng cũng là nguyên nhân sâu xa của những khác biệt, mâu thuẫn và khả năng bất ổn
chính trị ở Tây Nam Bộ.
Đó là vài nét sơ khai về một số vấn đề khó khăn ở vùng đất Tây Nam Bộ, mà
người dân ở đây đang gánh chịu. Hiểu về vùng đất Tây Nam Bộ, chúng ta sẽ có cảm
nhận đúng hơn về truyện Cánh đồng bất tận. nơi đó có những con người đang gánh
chịu những vất vả, những lo toan trong cuộc sống.
1.1.2. Đôi nét về vùng Tây Nam bộ qua các tác phẩm văn học
Ngày xưa, vùng đất Nam Bộ là vùng đất lưu đầy, là nơi các chúa Nguyễn đày ải
tội đồ. Tiếp đó là nơi đến của những kẻ cùng đinh trốn xâu lậu thuế. Rồi những người
ham làm giàu, không nề mạo hiểm muốn thử vận may trên vùng đất mới, một vùng đất
trù phú và bạt ngàn rừng xanh. Vùng Tây Nam Bộ, được khai phá và và tạo dựng trong
thời gian dài, nhưng vẫn gắn liền với sự lạc hậu và khó khăn.
Có rất nhiều nhà văn viết về vùng đất Nam Bộ, mỗi người với một cách nhìn rất
khác nhau. Như cơ sở lí luận vừa nêu ra ở những phần trước, hiện thực trong một tác
phẩm văn chương là sự giả định về đời sống chứ không hẳn là bản thân của đời sống,
hiện thực trong văn học là hiện thực được tái tạo qua lăng kính chủ quan của tác giả và
đó là hiện thực thứ hai. Tác phẩm có ý nghĩa hiện thực khi phản ánh được những vấn
đề của xã hội và thời đại. Hẳn không ít tác phẩm đã gây được tiếng vang lớn, cũng như
để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người yêu văn chương Việt Nam. Bởi vì, các tác
phẩm đã tái hiện lại hiện thực vể cuộc sống của con người một cách rõ nét.
“Đất rừng phương nam” là tiểu thuyết của nhà văn Đoàn Giỏi viết về cuộc đời
phiêu bạt của một cậu bé tên An, bối cảnh của tiểu thuyết là các tỉnh miền Tây Nam
Bộ vào những năm 1945. Khi thực dân pháp xâm lượt Việt Nam, chúng mở các cuộc
càn quét, đổ bộ vào Miền Nam khiến người dân ở các đô thị phải di tản. An và gia
đình, phải sống trong cảnh loạn lạc. Theo cha mẹ chạy hết từ vùng ngày tới vùng khác
của miền Tây Nam Bộ. Nhưng cứ vừa ổn định được mấy bữa thì giặc đánh tới nơi và
lại phải chạy. Rồi trong một lần mải chơi, giặc đánh đến và An đã lạc mất gia đình.
Một cuộc sống bơ vơ không gia đình, cậu trở thành đứa trẻ lang thang khắp phố nơi.
Đất rừng phương Nam đã mang đến người đọc nhiều thú vị về bối cảnh, con người,
tập tục văn hóa của vùng nông thôn Nam bộ. Ông mượn hình ảnh một cậu bé bị lưu
lạc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ để giới thiệu Đất rừng Phương
Nam. Nơi đó, một vùng đất vô cùng giàu có, hào phóng và hùng vĩ với những con
người trung hậu, trí dũng, một lòng một dạ theo kháng chiến. Tác phẩm gần như tập
hợp tất cả đất rừng và người phương Nam. Có thể nói, Đất rừng phương Nam của
Đoàn Giỏi như một xã hội của miền sông nước Tây Nam bộ thu nhỏ. Bởi ở nơi đó,
người đọc đã tìm thấy hình ảnh người dân của vùng đất phương Nam từ sông Tiền,
sông Hậu trải dài đến Kiên Giang - Rạch Giá, rồi xuống tận rừng U Minh, sau đó dừng
lại ở Năm Căn Cà Mau. Bối cảnh trong Đất rừng phương Nam là cả một đất trời thiên
nhiên ưu đãi, cánh đồng bát ngát mênh mông, sóng nước rì rầm, rừng rậm bạt ngàn trù
phú, thú rừng hoang dã muôn loài… Sự tài tình của Đoàn Giỏi là như tái tạo lại bối
cảnh sông nước, con người của thuở ông cha ta còn mang gươm mở cõi.
Nhà văn Sơn Nam, khi viết tác phẩm “Mùa len trâu” đã vẽ lên nỗi lo sự ám
ảnh thường trực của người dân Đồng bằng sông Cửu Long. Con trâu đối với họ là tài
sản vô cùng quý giá, đó chính là cơ nghiệp của mình và hơn thế nữa, đó chính là thành
viên trong gia đình họ. Am hiểu, gắn bó sâu nặng với cuộc sống vật chất và tinh thần
của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long, nhà văn Sơn Nam đã thể hiện cái nhìn
đa chiều về hành trình len trâu, về những đoàn len trâu. Qua tác phẩm này, nhà văn
Sơn Nam đã gởi đến chúng ta những triết lí vô cùng sâu sắc. Nhân vật chú Tư Đinh
không chỉ có những tính toán về cơm, áo, gạo, tiền mà đằng sau đó còn nắm rõ những
quy luật của cuộc đời. Với chú danh vọng, quyền uy chỉ là những thứ phù phiếm, dễ
đổi thay. Cái trường tồn, bất biến chính là những điều bình dị gắn liền với chuyện sống
còn của người dân. Hành trình “len trâu” của Nhi (con ông), là cả một quá trình thay
đổi và trưởng thành, sau mùa “len trâu” Nhi trở về với một con người hoàn toàn khác,
biết hút thuốc, uống rượu, chửi thề… Hành trình len trâu là hành trình từ con nít trở
thành người lớn, thu nhận vào mình bụi trần tục, nỗi truân chuyên.
Đến với Nguyễn Kim Châu qua truyện ngắn “Gió trên đồng”, ta cũng có sự
đồng cảm sâu sắc với thân phận của những con người nghèo khó, họ luôn khát khao
được hạnh phúc và yêu thương nhưng không thể nào kìm hãm được sự thù tình và trả
thù tình bằng tiền. Tưởng chừng sự trả thù này chỉ xảy ra đối với những kẻ thất học,
nhưng không “Y” trong truyện “Gió trên đồng” lại là một thầy giáo, y cũng có những
khát khao rất đỗi con người, nhưng từ khi người vợ của vứt áo bỏ hắn ra đi với người
đàn ông khác vì kim tiền, y thù đời và trả thù đời từ đó. Trả thù tình bằng tiền, những
đồng tiền mà chính hắn kiếm được sau mùa chăn thả vịt chạy đồng. Hắn chợt sống vậy
những khát khao mái gia đình khi Tết đến. Cái lạnh của những ngày Tết, cái không do
khí gia đình mà hắn bắt gặp đâu đó là hắn thấy thù tình dữ dội và trả thù đến sạch sành
sanh số tiền mà hắn kiếm được. Các nhân vật mà nhà văn Nguyễn Kim Châu xây dựng
đều toát lên một vẻ, một tính cách của con người Nam Bộ. Các nhân vật tuy không
hành động nhiều, nhưng Nguyễn Kim Châu đã rất thành công khi phản ánh chân thật
về cuộc đời, về tình yêu, về giá trị làm người, về những gì ẩn khuất trong tâm hồn con
người.
Không ít người đọc thường hay quan niệm văn học miền Tây Nam bộ là sông
nước, là con đò, là giọng hò huê tình, là viết mà như nói. Nhưng với những tên tuổi
như Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng, Đoàn Giỏi… thì “bộ mặt” văn
học miền Tây Nam bộ không thấp hơn chút nào trong dòng chảy của nền văn học Việt
Nam. Điều đáng nói ở đây là đề tài mà các nhà văn muốn gửi gắm vào trong tác phẩm
của mình, nó cần có thời gian sống, thời gian dấn thân, chứ không thể dựa vào trí
tưởng tượng mà viết hay được. Bởi thực tế khác xa với tưởng tượng nhiều lắm. Thực
tế không chỉ nằm trong hiện thực của đời sống mà còn là sự thật nằm trong tâm trạng
của đời sống ở mỗi con người.
Nhìn một cách tổng thể, tính hiện thực vẫn là môt đặc điểm nổi trội, có sức thu
hút mạnh mẽ và tự nhiên nhất trong văn học ĐBSCL. Có không ít nhà văn sinh ra và
lớn lên, từng chiến đấu và sinh sống ở những vùng miền khác nhau, song khi đến
ĐBSCL, giọng văn của họ cũng dần dần mang đậm tính đặc trưng riêng biệt và trở
thành một bộ phận văn học ĐBSCL, điển hình như nhà văn Nguyễn Thi qua tác phẩm
“Người mẹ cầm súng”.
Trở lại cuộc sống hiện tại của chúng ta đang thay đổi từng ngày từng giờ. Ánh
sáng của công cuộc đổi mới, của nền văn minh đã song hành cùng chúng ta, đã có sức
mạnh tác động sâu sắc đến cuộc sống của nhân dân. Sự thay đổi về đời sống sẽ làm
chuyển đổi nền văn học ở nước ta nói chung và nền văn học ĐBSCL nói riêng.
1.2. Tác giả Nguyễn Ngọc Tư
1.2.1. Tiểu sử
Nguyễn Ngọc Tư, là một nhà văn trẻ sinh năm 1976. Quê quán: Xã Tân Duyệt,
huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Hiện Nguyễn Ngọc Tư đang sinh sống và làm việc tại
Cà Mau. Nguyễn Ngọc Tư sống giản dị với người con ba tuổi và người chồng làm
nghề thợ bạc. Chị thích tác giả trong nước như: Phan Thị Vàng Anh, Lý Lan, Hồ Anh
Thái…Chị được sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng.
Chị học hết lớp 9 phổ thông, cấp ba bổ túc, nhưng không vì thế mà tài năng viết
văn bị hạn chế. Nguyễn Ngọc Tư là một hiện tượng văn học độc đáo khiến đông đảo
bạn đọc trong và ngoài nước quan tâm, và là một khuôn mặt quen thuộc trên các tạp
chí qua nhiều tạp văn, tạp bút. Nguyễn Ngọc Tư sinh ra trong một gia đình nghèo khó,
nhưng với cái nghèo, với sự từng trãi về thiếu thốn đã làm cho các tác phẩm của
Nguyễn Ngọc Tư mang màu sắc rất đặc biệt. Nên cái tên Nguyễn Ngọc Tư đã tỏa sáng
trên bầu trời văn nghệ. Khi nói về cuộc đời, cô tâm sự: “chúng ta từng bị xơ cứng bởi
cuộc sống tẻ nhạt buồn tênh, nhưng nguy hiểm hơn, chúng ta lại trở nên trơ lì bởi
chính cuộc sống bon chen, bận rộn - khi người ta không còn đủ thời gian để mà vui
hay buồn”… [93]. Chính vì thế mà nhà văn mới thừa nhận rằng: "Đời đã dạy tôi tại
sao và bằng cách nào để chia sẽ với mọi người" đó là những tâm sự từ tận đáy lòng
mà Nguyễn Ngọc Tư đã đúc kết, chia sẽ với bạn đọc.
Khác với tiểu thuyết, truyện ngắn là một “lát cắt” về cuộc sống, mỗi nhà văn
đều có một cái nhìn riêng, một vốn sống riêng, thể hiện qua các tác phẩm của mình.
Nguyễn Ngọc Tư so với Ý Anh. Diệp Mai các tác phẩm của cô, đậm chất Nam Bộ hơn
cả, mang vẻ rất tự nhiên nhẹ nhàng mà không câu nệ, bối cảnh của cuộc sống hiện lên
sinh động qua từng trang viết. Nguyễn Ngọc Tư trẻ cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề nhưng
cô chinh phục được độc giả bởi phong cách đặc sệt Nam bộ vừa quen lại vừa rất lạ.
Như vậy, với những thành công rực rỡ trên con đường sự nghiệp văn chương của
mình, Nguyễn Ngọc Tư đã tạo ra một dấu mộc quan trọng trên tiến trình văn học Việt
Nam.
Từ sau hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp ở cuối thế kỉ XX, người đọc đã luôn chờ
đợi, mong mỏi sự xuất hiện của một hiện tượng mới, một phong cách mới khác ở giới
nhà văn. Như đáp ứng lại nhu cầu ấy của độc giả, từ trong cuộc sống bận rộn của
chúng ta, từ nhịp sống hối hả của con người, Nguyễn Ngọc Tư đã bước ra với một
dáng vẻ kỳ lạ mà gần gũi, giản dị mà tài năng. Sự xuất hiện của cô đã mang đến cho
văn xuôi đương đại Việt Nam một luồng gió mát, tạo nên một sức sống mới của văn
học nước nhà. Đặc biệt, tiếng vang của Cánh đồng bất tận đã đưa nền văn học Việt
Nam đến gần hơn, hòa nhập hơn vào dòng chảy của văn học thế giới. Hơn thế nữa, với
những tác phẩm đặc sắc của mình, Nguyễn Ngọc Tư đã rút ngắn khoảng cách giữa văn
học Nam bộ với văn học của hai miền: Bắc – Trung, xóa nhòa đi những ánh nhìn
không mấy hấp dẫn của phần đa độc giả đối với văn học Nam bộ.
Nhờ làm mới mình trong nghệ thuật xậy dựng nhân vật mà Nguyễn Ngọc Tư đã
đưa truyện ngắn Nam bộ tiến một bước dài về tương lai, khẳng định tính Hiện đại và
Hậu hiện đại trong kỹ thuật viết truyện ngắn. Văn học Nam bộ rút ngắn được khoảng
cách để hội nhập vào dòng chảy văn học hai miền Bắc, Trung và thế giới. Nhưng không
hòa tan đặc trưng Nam bộ trong sáng tác của mình.
Đến với từng trang viết của Nguyễn Ngọc Tư, cái mùi vị của cuộc đời như ngầm
thắm vào da thịt, chúng ta sẽ trưởng thành hơn sau những bài học về cuộc sống. Cái
buồn man mác trong từng thiên truyện của Nguyễn Ngọc Tư làm chúng ta phải suy
ngẫm, và bất chợt chúng ta lại ngộ ra nhiều điều thú vị về chân lí cuộc sống.
1.2.2. Sự nghiệp sáng tác
- Các tác phẩm chính của Nguyễn Ngọc Tư đã được xuất bản:
Sách của chị được tái bản nhiều và được dịch ra tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng
Thụy Điển như:
- Ngọn đèn không tắt (Tập truyện ngắn- Nxb.Trẻ-2000)
- Ông ngoại (Tập truyện thiếu nhi- Nxb.Trẻ-2001)
- Biển người mênh mông (Tập truyện ngắn- Nxb. Kim Đồng-2003)
- Giao thừa (Tập truyện ngắn- Nxb.Trẻ-2003)
- Nước chảy mây trôi (Truyện ngắn và kí- Nxb.Văn nghệ Tp.HCM-2004)
- Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Nxb. Văn hóa Sài Gòn-2005)
- Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (Nxb.Trẻ-2005)
- Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (Tập truyện ngắn. Nxb.Trẻ-2008)
- Yêu người ngóng núi (Tản văn- Nxb.Trẻ- 2009)
- Khói trời lộng lẫy (Tập truyện ngắn- Nxb. Thời Đại 2010).
Với tay viết trẻ, Nguyễn Ngọc Tư đã không ngừng hoàn thiện mình, để không
ngừng cho ra đời những tác phẩm hay và có giá trị. Trong số các tác phẩm đã in, tập
truyện Cánh đồng bất tận được coi là thành công hơn cả. Tính đến tháng 02 năm 2007,
tập truyện Cánh đồng bất tận đã tái bản đến lần thứ 12. Năm 2007, Nguyễn Ngọc Tư
được mời sang Hàn Quốc để nói về Cánh đồng bất tận và tác phẩm này được dịch ra
tiếng Hàn. Đầu năm 2009, cũng chính Cánh đồng bất tận được chuyển thể thành một
kịch bản cùng tên.
- Giải thưởng:
Giải I- Cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần II- tác phẩm “Ngọn đèn không
tắt”- năm 2000.
Giải B- Hội nhà văn Việt Nam- Tập truyện “Ngọn đèn không tắt”- năm 2001, Tặng
thưởng dành cho tác giả trẻ- Uỷ ban Toàn Quốc, Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam-
Tập truyện “Ngọn đèn không tắt”- năm 2000 và Nguyễn Ngọc Tư là một trong “Mười
gương mặt trẻ tiêu biểu năm 2003” do Trung ương Đoàn trao tặng.
1.3. Tác phẩm “Cánh đồng bất tận”
1.3.1. Tóm tắt tác phẩm
Truyện ngắn Cánh đồng bất tận lấy bối cảnh miền Tây Nam Bộ. Ở nơi đó, ông
Út Vũ là một nông dân chân chất, hiền lành làm nghề thợ mộc. Rồi một ngày, ông tình
cờ gặp một cô gái xinh đẹp đang ngồi khóc trên bến sông. Cô gái xinh đẹp, có “nụ
cười lấp lánh cả khúc sông” và “làn da trắng như bông bưởi” ấy đã làm xiêu lòng trái
tim của Út Vũ. Cả hai nên vợ nên chồng, sống hạnh phúc bên căn nhà lá nằm cạnh con
sông Dài có những hàng mắm cặp mé sông và có với nhau 2 đứa con: Nương , Điền .
Hạnh phúc không ở lâu với gia đình Út Vũ. Cuộc sống nghèo khó, lại rày đây
mai đó khiến ông không thể giữ được tình yêu của người vợ đang trong thời kỳ xuân
sắc. Cô “bỏ nhà theo trai”, để lại cho chồng 2 đứa con nhỏ bơ vơ và mái nhà tranh
vách lá. Hận vợ phụ tình, ông Vũ đốt nhà, dắt con phiêu bạt trên chiếc ghe đi chăn vịt
từ cánh đồng này đến cánh đồng khác. Thời gian thấm thoát trôi, những cánh đồng mà
cha con ông Vũ đi qua không sao kể xiết, nhưng nỗi hận trong lòng ông vẫn không thể
nguôi ngoai. Nó khiến ông ngày càng trở nên cộc cằn và cáu gắt. Trong khi đó, Nương
lớn lên ngày càng xinh đẹp như mẹ. Bao nhiêu bực dọc, bao nhiêu uất ức và căm hận
của ông vì thế đều trút lên hai đứa con của mình và lên những người đàn bà mà ông
bắt gặp. Ông hận tất cả đàn bà. Ông để họ yêu mình và rồi lại bỏ rơi họ theo cách mà
ông đã từng bị bỏ rơi.
Cuộc sống nặng nề và u ám của 3 cha con ông Vũ cứ thế tiếp diễn, ngày qua
ngày. Cho đến một ngày kia, 2 chị em Nương và Điền tình cờ giải cứu cho cô gái điếm
tên Sương đang bị những người đàn bà trong xóm đánh ghen, tra tấn. Sự xuất hiện của
Sương đã mang lại chút không khí đầm ấm cho 2 đứa bé thiếu tình thương của cha mẹ,
cho những bữa cơm của Nương và Điền thêm phần ấm áp và cho cuộc sống tinh thần
của 2 chị em bớt tẻ nhạt. Tuy nhiên, đối với ông Vũ, sự xuất hiện của Sương càng
khiến vết thương của ông thêm phần nhức nhối. Ông vẫn lạnh lùng. Ông vẫn cáu gắt
và đay nghiến thân phận “làm đĩ” của Sương, dù có thể ở tận sâu đáy lòng mình, ông
có dành cho Sương một chút tình cảm, giống như là tình yêu. Trớ trêu thay, người phụ
nữ “làm đĩ” ấy lại đem lòng yêu ông Vũ. Cô làm tất cả để bảo vệ 3 cha con ông, kể cả
việc “bán thân” để đổi lấy đàn vịt.
Tuy nhiên, tình yêu ấy lại được đáp lại bằng sự chua chát và thái độ thù hận.
Sương quyết định bỏ đi. Điền cũng bỏ nhà đi tìm Sương. Chỉ còn lại Nương và ông
Vũ, tiếp tục cuộc hành trình cô độc trên những cánh đồng bất tận…Cho đến một ngày,
khi trái tim của ông Út Vũ dần nguôi ngoai, tình thương của người cha quay về thế chỗ
cho những hận thù thì một biến cố lớn lại ập đến cho gia đình ông Vũ, cho cô con gái
tội nghiệp của ông…Trên “Cánh đồng Bất Tận”, con gái ông bị bọn côn đồ ăn cắp vịt
cưỡng hiếp trước sự bất lực của người cha.
1.3.2. Vài nét về tác phẩm “Cánh đồng bất tận”
Cánh đồng bất tận là sự thành công đặc biệt của Nguyễn Ngọc Tư trong việc
miêu tả nỗi đau, những nỗi đau bất tận trước những tình cảnh làm quặn thắt lòng
người.
Tác phẩm Cánh đồng bất tận xuất bản, có nhiều luồng ý kiến khen chê nhau,
tạo nên một làn sóng dư luận mạnh mẽ. Trước đó có rất nhiều tác phẩm của Nguyễn
Ngọc Tư cũng đã được nhiều người biết đến như Ngọn đèn không tắt, biển người mênh
mông…Nhưng đến khi tác phẩm Cánh đồng bất tận ra đời thì đã gây được vang lớn và
cơn sốt trong dư luận. Có thể nói, tác phẩm Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư
đã làm dậy sóng nền văn học Việt Nam. Ý kiến đồng tình với Cánh đồng bất tận thì
cho rằng đây thật sự là một tác phẩm hay và suất sắc, phản ánh được nỗi cơ cực vất vả
của con người, Nguyễn Ngọc Tư đã mạnh dạn viết lên những hiện thực xã hội mà
không e dè trước rìu búa của dư luận. Thứ hai, luồng ý kiến không đồng tình thì cho
rằng: tác phẩm Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư không hướng con người đến
chân, thiện, mĩ, không mang tính giáo dục con người.
Cánh đồng bất tận là một truyện ngắn hay và xuất sắc, vì nó chứng tỏ bút lực
của Nguyễn Ngọc Tư trong việc đào sâu vào hiện thực cuộc sống và khơi sâu vào thân
phận con người, nó đầy ấp hơi thở và tính nhân văn. Một tác phẩm chất chứa nhiều
tầng nghĩa, phải đọc nhiều lần mới thẩm thấu hết ý nghĩa mà tác phẩm mang lại. Quan
trọng ta phải hểu mấu chốt của vấn đề đó là bắt nguồn từ tình yêu sang thù hận và cuối
cùng là quả báo.
Bài viết của thạc sĩ Vưu Nghị Lực nhận xét về truyện ngắn Cánh Đồng Bất
Tận, xin trích dẫn một vài đoạn trong bài viết đó như sau: “Cây bút nữ xứ Cà Mau ơi,
cô phải biết những cánh đồng này chứ: Cánh đồng hoang, Máu thắm đồng Nọc Nạn,
Đồng Chó ngáp... Những chuyện mà cô kể không còn là chuyện của cánh đồng nữa;
tôi nghĩ đó là “vũng lầy bất tận” thì đúng hơn. Mọi thứ do nhân xưng “tôi” cố ý xuyên
tạc bằng trí tưởng tượng nhồi nhét, bằng thao tác lượm lặt và một mặc cảm về tính
giao bệnh hoạn. Cánh đồng của Nguyễn Ngọc Tư tất cả đều dâm ô hết.” hay “Thông
điệp của Ngọc Tư trong Cánh đồng bất tận là gì, hiện thực của hôm nay mà như thế
thì cô biểu mọi người phải làm sao đây hả Ngọc Tư?”. Hay “Vậy hà cớ gì lần này cô
phỉ nhổ vào cái cánh đồng ấy tàn tệ đến thế?
Tôi nhớ trong văn học dân gian - kho tàng trí khôn của ông bà tổ tiên bao đời, chưa
thấy chuyện phỉ báng cánh đồng, mà chỉ có làm đẹp thêm thôi. Văn học nghệ thuật cận
- hiện đại cũng vậy, bởi lẽ cánh đồng quê bao giờ cũng mỹ cảm lắm, tha thiết lắm, lam
lũ mà anh hùng, nghèo khó mà son sắt...” và đôi lúc lại rất nặng nề “Xua đuổi, bôi tro
trát trấu lên phận nghèo, chửi mắng bọn ngu dốt dân mình, bắt nhân vật mình ai cũng
đê hèn... không có một bóng người trong tác phẩm của mình thì sao gọi là nhân ái?”
“Nếu các bạn vẫn bảo lưu đứa con bệnh hoạn này, còn định làm thành phim nữa chứ,
thì tôi xin thay mặt 80% nông dân lam lũ mà trong đó có cha mẹ ông bà tôi, cha mẹ
ông bà của các bạn hãy vị tình mà bỏ hai chữ “cánh đồng” đi. Nên thay vào đó là
“Vũng lầy bất tận”, vì với các bạn thì “cánh đồng đã tận” rồi” [14].
Tuy nhiên bên cạnh đó Cánh đồng bất tận nhận được không ít lời khen ngợi và
dồng tình từ phía độc giả, vì sau lưng Nguyễn Ngọc Tư còn có độc giả, còn có những
người đã từng thấy và chứng kiến những hiện thực nghèo khổ thiếu thốn ở vùng nông
thôn.
1.4 . Một số vấn đề lý luận
1.4.1. Vài nét về văn học hiện thực Việt Nam
Trào lưu văn học hình thành và phát triển chủ yếu trên văn đàn Việt Nam trong
khoảng nửa đầu thế kỉ XX có khuynh hướng miêu tả đời sống, phơi bày thực trạng xã
hội và đi sâu phản ánh tình cảnh khốn khổ của quần chúng. Trước khi trở thành một
trào lưu chính thức, văn học hiện thực đã xuất hiện lẻ tẻ trong một số truyện ngắn của
Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học và truyện dài các tiểu thuyết “Tiền bạc bạc tiền”,
“Thầy Thông Ngôn” của Hồ Biểu Chánh. Nhưng phải đến thời kì 1931-1935, trào lưu
văn học hiện thực mới được thật sự khẳng định.
Văn học thời kì này đã phản ánh được tình cảnh bị phá sản, vô sản hóa, lưu
manh hó của một bộ phận tiểu tư sản, dân nghèo thành thị trong cuộc khủng hoảng
kinh tế (1929-1933), phần nào đã vạch ra tình trạng bất công nhất là sự suy thoái về
đạo đức xã hội ở thành thị, bộ mặt độc ác xấu xa của kẻ bốc lột. Về nghệ thuật, tuy
trào lưu hiện thực ở chặng này chưa có tác phẩm có sức khái quát lớn với những điển
hình bất hủ, phần lớn còn nhiều dấu vết văn báo chí, nhưng đã có những tài năng thật
sự với những sáng tác đặc sắc được công chúng hoan nghênh như: Vũ Trọng Phụng
(về phóng sự), Nguyễn Công Hoan (về truyện ngắn), Tú Mỡ (thơ trào phúng).
Sang thời kì năm 1936-1939 trước ảnh hưởng của phong trào Mặt trận dân chủ,
văn học hiện thực đã phát triển rực rỡ. Các nàh văn hiện thực đều sáng tác đặc biệt dồi
dào và đạt đến đỉnh cao của họ: Nguyễn Công Hoan với hàng trăm truyện ngắn và
nhiều truyện dài, tiêu biểu là “Lá ngọc cành vàng” (1935), “Ông chủ”(1935)… Vũ
Trọng Phụng với hàng loạt tiểu thuyết xuất sắc “Số đỏ” (1936), “Vỡ đê”(1939)…Ngô
Tất Tố với nhiều tiểu phẩm đặc sắc và bước vào làng tiểu thuyết với tác phẩm đột xuất
“Tắt đèn”(1936), Nguyên Hồng bắt đầu với tiểu thuyết “Bỉ vỏ”(1936).
Có những nhà văn vốn thuộc một khuynh hướng văn học khác, thời kì này do
chịu ảnh hưởng của phong trào, cũng viết nhiều tác phẩm có giá trị hiện thực: Lan
Khai với tiểu thuyết “Lầm than”(1938) viết về đời sống công nhân mỏ, “Mực mài
nước mắt” viết về tình cảnh khốn khổ của nghề viết văn. Thạch Lam với một số truyện
ngắn trong tập “Gió lạnh đầu mùa”.
Phạm vi phản ánh hiện thực được mở rộng, các nhà văn có xu hướng việc dựng
nên bức tranh xã hội rộng lớn. Nhân vật của họ không chỉ là đám dân nghèo, lưu manh
thành thị mà gồm nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Điều đáng chú ý là họ đã vạch ra