Giải quyết tranh chấp trong thương mại bằng trọng tài vụ việc theo pháp luật việt nam

  • 89 trang
  • file .pdf
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật dân sự
BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự
ICC : Phòng Thương mại quốc tế
TTTM : Trọng tài thương mại
UNCITRAL : Ủy ban của Liên hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế
VCCI : Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
VIAC : Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam
WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Có thể nói đặc trưng quan trọng, cơ bản, nổi bật nhất của kinh tế thế
giới hiện nay là xu hướng toàn cầu hóa, trong đó quan hệ hợp tác kinh tế quốc
tế luôn được củng cố và phát triển. Trong điều kiện hội nhập quốc tế diễn ra
mạnh mẽ đó thì cũng phát sinh ngày càng nhiều những tranh chấp thương mại
không chỉ dừng lại ở sự gia tăng về số lượng mà độ phức tạp của các tranh
chấp cũng ngày một nâng cao. Trong quan hệ kinh tế quốc tế, trong kinh
doanh thương mại… tranh chấp phát sinh luôn là hiện tượng đương nhiên,
giải quyết tranh chấp là việc làm tất yếu và đang là một vấn đề được bàn đến
nhiều của nền kinh tế thế giới hiện nay. Điều đó cũng giúp định hướng tư duy
của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ kinh tế có phát sinh tranh chấp
các phương thức giải quyết tranh chấp tối ưu trong đó có trọng tài. Theo đánh
giá của Tổng thư ký Tòa án trọng tài quốc tế thì trọng tài được coi là lựa chọn
có nhiều ưu thế nổi bật là tính liên tục, mềm dẻo, bí mật và phán quyết trọng
tài có giá trị chung thẩm…Với tính năng ưu việt của mình mà phương thức
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được coi là lựa chọn được ưa chuộng của
các doanh nghiệp trên thế giới. Tuy nhiên, thực trạng Việt Nam lại cho thấy
các doanh nghiệp chưa thực sự "mặn mà" với việc đem tranh chấp của mình
ra giải quyết tại trọng tài, theo thống kê có hơn 95% tranh chấp thương mại
trong nước được đưa ra Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Sở dĩ có tình trạng trên thì bên cạnh
nguyên nhân chủ quan từ phía các doanh nghiệp còn có nguyên nhân xuất
phát từ hệ thống pháp luật về trọng tài của Việt Nam, đó là hệ thống chưa
thực sự tạo ra một hành lang pháp lý an toàn, hiệu quả để doanh nghiệp trong
và ngoài nước tự tin khi lựa chọn trọng tài.
Sự ra đời của Pháp lệnh Trọng tài thương mại (TTTM) năm 2003 đã
đánh dấu một bước tiến mới trong việc hình thành và hoàn thiện pháp luật về
1
trọng tài tại Việt Nam, đáp ứng nhu cầu lựa chọn phương thức giải quyết
tranh chấp của cộng đồng doanh nghiệp. Thực tiễn áp dụng Pháp lệnh trong
hơn 6 năm qua, tuy được đánh giá có nhiều điểm tiến bộ cùng với sự xuất
hiện của nhiều nhân tố mới như việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO), việc ban hành Luật Thương mại năm 2005, Luật Đầu tư
năm 2005… nhưng một số quy định của Pháp lệnh đã bộc lộ sự bất cập như
thẩm quyền của trọng tài còn nhiều hạn chế, đội ngũ trọng tài viên trong nước
chưa phát triển, cơ chế hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài chưa hiệu quả…
Xuất phát từ thực tế trên đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang thực
thi các cam kết khi gia nhập WTO thì việc ban hành Luật TTTM là một tất
yếu khách quan. Sự ra đời của Luật TTTM với nhiều quy định mới về cơ bản
phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế góp phần tạo niềm tin cho các cá
nhân, tổ chức khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
Một trong những điểm mới đáng ghi nhận là Luật TTTM chính thức quy định
hai hình thức hoạt động trọng tài là trọng tài quy chế và trọng tài vụ việc và
có các quy định nhằm hỗ trợ cho cả hai hình thức trọng tài có cơ hội phát triển
ngang bằng nhau và khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng cả hai hình
thức này. Tuy nhiên để các quy định này không chỉ có hiệu lực trên giấy thì
cần có sự đánh giá khách quan, chính xác những cơ sở lý luận và thực tiễn
của việc ban hành các quy định về hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng
tài vụ việc để thực tiễn hóa các quy định này vào đời sống kinh tế của các cá
nhân, tổ chức. Với mong muốn được luận bàn chuyên sâu, góp phần hoàn
thiện pháp luật trọng tài ở Việt Nam, tác giả chọn đề tài: "Giải quyết tranh
chấp trong thương mại bằng trọng tài vụ việc theo pháp luật Việt Nam".
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thực tiễn và trong khoa học pháp lý đã có một số bài viết và
một số công trình nghiên cứu ở cấp độ khác nhau về phương thức giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài, có thể nêu một số công trình như: "Hoàn thiện pháp
2
luật về trọng tài thương mại của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế",
Luận án tiến sĩ Luật học của Nguyễn Đình Thơ, Trường Đại học Luật Hà Nội,
2007; "Pháp luật giải quyết tranh chấp bằng hình thức trọng tài", Luận văn
thạc sĩ luật học của Phạm Thị Phương Thủy, Trường Đại học Luật Hà Nội,
2004; "Những vấn đề pháp lý về thỏa thuận trọng tài và thực tiễn áp dụng ở
Việt Nam", Luận văn thạc sĩ luật học của Trần Thị Kim Liên, Trường Đại học
Luật Hà Nội, 2006; "Trọng tài thương mại Việt Nam trong tiến trình đổi mới",
của Dương Văn Hậu, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1999; và một số bài
viết trên các tạp chí chuyên ngành… Tuy nhiên các công trình trên chỉ đề cập
một cách khái quát về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nói
chung mà chưa có công trình nào đề cập một cách chuyên sâu về phương thức
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ việc. Từ đó có thể khẳng định đây là
công trình đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu chuyên biệt
về vấn đề này.
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích
Luận văn tập trung nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng hình thức
trọng tài vụ việc vào giải quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam, đề xuất
hướng hoàn thiện những quy định pháp luật về phương thức giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài nói chung và trọng tài vụ việc nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn đặt ra các nghiên cứu:
- Luận giải cơ sở lý luận của các quy định về phương thức giải quyết
tranh chấp thương mại bằng trọng tài vụ việc.
- Phân tích các quy định hiện hành của pháp luật về trọng tài vụ việc;
đánh giá thực trạng sử dụng phương thức trọng tài vụ việc trong thực tiễn giải
3
quyết các tranh chấp thương mại tại Việt Nam từ đó chỉ ra các khó khăn,
vướng mắc đang và sẽ gặp phải và các nguyên nhân liên quan đến việc sử
dụng trọng tài vụ việc giải quyết tranh chấp.
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về việc áp
dụng và điều chỉnh pháp luật phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
nói chung và trọng tài vụ việc nói riêng nhằm lựa chọn những kinh nghiệp
hay, phù hợp cho việc áp dụng vào Việt Nam.
- Đưa ra những giải pháp nhằm thực tiễn hóa một cách hiệu quả các
quy định của pháp luật nhằm khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng
phương thức trọng tài nói chung và trọng tài vụ việc nói riêng khi cần giải
quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm những quy định pháp luật về
các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài, kinh nghiệm
quốc tế và đi sâu nghiên cứu phương thức giải quyết tranh chấp thương mại
bằng trọng tài vụ việc theo pháp luật Việt Nam.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình
nghiên cứu luận văn sử dụng phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Ngoài ra, luận văn
còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp bình
luận, diễn giải, so sánh, tổng hợp, phân tích…
6. Những kết quả nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật về phương thức giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ việc, luận văn có những đóng góp mới sau đây:
Thứ nhất: Luận văn giải quyết những vấn đề lý luận về tranh chấp
trong hoạt động thương mại và các hình thức giải quyết tranh chấp, nghiên
4
cứu một cách khái quát về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
vụ việc với những phân tích về đặc điểm của trọng tài vụ việc, ưu và nhược
điểm của trọng tài vụ việc và khi nào thì nên dùng trọng tài vụ việc để giải
quyết tranh chấp.
Thứ hai: Luận văn đã phân tích một cách sâu sắc những quy định pháp
luật hiện hành về trọng tài vụ việc, bắt đầu từ việc đánh giá khái quát hiệu quả
của pháp luật đối với hoạt động trọng tài và trọng tài vụ việc, các nguyên tắc
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ việc, thẩm quyền của trọng tài vụ việc
và thủ tục của trọng tài vụ việc. Bên cạnh đó, luận văn còn phân tích chi tiết
thực trạng sử dụng trọng tài vụ việc trong giải quyết tranh chấp tại Việt Nam,
các bất cập và các nguyên nhân cụ thể của các bất cập đó.
Thứ ba: Luận văn bước đầu đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng phương thức trọng tài vụ việc nhằm giải quyết các tranh
chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại bao gồm những giải pháp về mặt cơ
chế, chính sách, pháp luật; các giải pháp từ phía các trọng tài viên, từ phía
doanh nghiệp, từ phía tòa án và cơ quan thi hành án…
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp trong thương
mại bằng trọng tài vụ việc.
Chương 2: Pháp luật và thực trạng giải quyết tranh chấp trong thương
mại bằng trọng tài vụ việc tại Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng trọng tài
vụ việc giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Việt Nam.
5
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
TRONG THƢƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI VÀ TRỌNG TÀI VỤ VIỆC
1.1. Tranh chấp trong thƣơng mại và các hình thức giải quyết
tranh chấp
1.1.1. Khái niệm tranh chấp trong thương mại
Tranh chấp, theo cách hiểu thông thường, đó là sự bất đồng, sự mâu
thuẫn về một vấn đề nào đó giữa hai hay nhiều bên liên quan. Tranh chấp
thường biểu hiện rất đa dạng và sinh động trong xã hội, trong đời sống: tranh
chấp về chủ thực sự của vật nuôi chạy từ nhà này sang nhà khác, tranh chấp
về ngõ đi chung, tranh chấp về thỏa thuận mua bán đồ vật, về thanh toán, thời
hạn thanh toán… và trong quan hệ quốc tế là tranh chấp về chủ quyền quốc
gia- biên giới, biển đảo… Suy cho cùng, tranh chấp là những mâu thuẫn, bất
đồng về lợi ích mà các bên không thống nhất được với nhau. Tranh chấp, theo
Từ điển tiếng Việt, là sự "đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường
là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên" [35, tr. 1024]. Từ góc độ pháp luật,
tranh chấp được giải thích "là những mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ hợp
pháp giữa các bên trong quan hệ pháp luật" [36, tr. 443]. Pháp luật thực định
của Việt Nam hiện nay chưa có quy định nào giải thích thuật ngữ tranh chấp.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi không tập trung lý
giải và nghiên cứu sâu về thuật ngữ này mà chỉ đề cập khi liên quan đến đối
tượng nghiên cứu. Hiện nay, có rất nhiều cách diễn đạt tranh chấp trong
thương mại như: tranh chấp kinh doanh-thương mại (Điều 29 BLTTDS năm
2004 - cách dùng được chính thức hóa trong BLTTDS), tranh chấp trong hoạt
động thương mại, tranh chấp kinh tế, tranh chấp trong thương mại… Trong
luận văn, tác giả sử dụng thuật ngữ "tranh chấp trong thương mại".
6
Theo Điều 29 BLTTDS năm 2004 có quy định các loại tranh chấp
trong kinh doanh, thương mại - đây được coi như định nghĩa về tranh chấp
kinh doanh - thương mại:
Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án
1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương
mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều
có mục đích lợi nhuận bao gồm: a) Mua bán hàng hóa; b) Cung
ứng dịch vụ; c) Phân phối; d) Ðại diện, đại lý; đ) Ký gửi; e) Thuê,
cho thuê, thuê mua; g) Xây dựng; h) Tư vấn, kỹ thuật; i) Vận
chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường
thủy nội địa; k) Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng
không, đường biển; l) Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá
khác; m) Ðầu tư, tài chính, ngân hàng; n) Bảo hiểm; o) Thăm dò,
khai thác.
2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công
nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
3. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty,
giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành
lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi
hình thức tổ chức của công ty.
4. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp
luật có quy định [20].
Luật TTTM năm 2010 cũng quy định tranh chấp thương mại theo
hướng xác định những tranh chấp trong thương mại thuộc thẩm quyền của
TTTM, bao gồm:
Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
7
1. Tranh chấp phát sinh giữa các bên, trong đó ít nhất một
bên có hoạt động thương mại
2. Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định
được giải quyết bằng trọng tài [25].
Tranh chấp trong thương mại, có thể được hiểu như sau:
Tranh chấp trong thương mại là những bất đồng, xung đột về lợi ích
kinh tế giữa các chủ thể có liên quan đến lĩnh vực hợp đồng thương mại hoặc
các hoạt động kinh tế khác mà theo quy định pháp luật là tranh chấp thuộc
thẩm quyền giải quyết của cơ quan tài phán kinh tế.
Nội dung khái niệm tranh chấp trong thương mại bao hàm những nội dung:
Thứ nhất, là những bất đồng, xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ
thể có liên quan đến lĩnh vực hợp đồng thương mại;
Thứ hai, là tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực hợp đồng thương mại
hoặc các hoạt động kinh tế khác
Thứ ba, theo quy định pháp luật những tranh chấp này thuộc thẩm
quyền giải quyết của cơ quan tài phán kinh tế (Tòa án hoặc trọng tài).
1.1.2. Các hình thức giải quyết tranh chấp
Giải quyết tranh chấp có thể hiểu là việc dàn xếp, giải quyết các mâu
thuẫn, bất đồng phát sinh từ quan hệ pháp luật bằng những phương thức khác
nhau do các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn hoặc do pháp luật quy định.
Phương thức giải quyết tranh chấp do các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn
đã được giới doanh nhân thừa nhận và sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh
vực thương mại là thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án. Nội dung của
các phương thức này cụ thể như sau:
Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó, hai bên
tranh chấp tự mình đàm phán, thỏa thuận về các giải pháp nhằm dàn xếp, giải
quyết ổn thỏa tranh chấp phát sinh giữa họ mà không có sự can thiệp, giúp đỡ
8
của bên thứ ba dưới bất kỳ hình thức và mức độ nào. Thương lượng là
phương thức giải quyết tranh chấp xuất hiện sớm nhất, thông dụng và phổ
biến nhất được các bên áp dụng rộng rãi để giải quyết mọi tranh chấp phát
sinh trong đời sống đặc biệt là trong hoạt động thương mại. Thương lượng có
thể được các bên áp dụng trước khi phát sinh tranh chấp. Điều này được lý
giải bởi trong thực hiện hợp đồng đã ký kết, khởi nguồn của các tranh chấp là
việc vi phạm hợp đồng. Khi một bên vi phạm hợp đồng, các bên thường gặp
gỡ, trao đổi nhằm xác định rõ ai vi phạm, vi phạm gì, mức độ nào, hậu quả
đến đâu...và nếu như quá trình này diễn ra suôn sẻ, bên vi phạm công nhận và
tự giác khắc phục hậu quả thì sẽ không phát sinh tranh chấp. Do vậy, trong
khoa học pháp lý và trong thực tiễn thường cũng có phân biệt rõ vi phạm và
tranh chấp. Quá trình thương lượng có thể kéo dài từ khi vi phạm cho đến khi
các bên hóa giải xong tranh chấp phát sinh.
- Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó, hai bên
tranh chấp nhờ bên thứ ba giúp đỡ để họ gặp gỡ, thảo luận và thỏa thuận về
các giải pháp nhằm dàn xếp, giải quyết ổn thỏa tranh chấp phát sinh. Hòa giải
và trung gian hòa giải thông thường được đánh đồng với nhau. Tuy nhiên
trong thực tiễn giữa hòa giải và trung gian hòa giải cũng có những điểm khác
nhau về phương pháp tiến hành. Người đóng vai trò trung gian và hòa giải
thường đều có những cuộc tiếp xúc với các bên tranh chấp, tuy nhiên, người
trung gian thì tiếp xúc riêng với từng bên để nắm bắt quan điểm, khả năng hòa
giải của từng bên sau đó mới tổ chức buổi hòa giải. Người hòa giải (hòa giải
viên) thường gặp gỡ trực tiếp hai bên ngay từ đầu, có thể đưa ra gợi ý, đề xuất
một hoặc một vài giải pháp, phương án khác nhau để các bên suy nghĩ, thảo
luận và tự quyết định phương án nào mà họ cho là phù hợp nhất nhằm giải quyết
tranh chấp. Thỏa thuận hòa giải không có giá trị bắt buộc. Việc thi hành thỏa
thuận hòa giải hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên tranh chấp.
Nói đến hòa giải thì cần thiết phải phân biệt hòa giải trước (tiền) tố
tụng và hòa giải trong tố tụng Hòa giải tiền tố tụng là việc hòa giải được tiến
9
hành trước khi các bên khởi kiện ra tòa hoặc gửi đơn đến trọng tài. Sau khi
nhận đơn, thụ lý đơn, Tòa án hoặc Trọng tài có nghĩa vụ hòa giải giữa các bên
để giải quyết tranh chấp. Đây là hai quá trình, hai giai đoạn khác nhau trong
giải quyết tranh chấp dân sự nói chung, trong đó có giải quyết tranh chấp
trong thương mại.
- Xét xử của tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó,
một bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp mà không
cần có sự đồng ý, thỏa thuận của bên kia. Tòa án, cụ thể là thẩm phán/hội
đồng xét xử, thụ lý và giải quyết tranh chấp theo đúng quy định của pháp luật,
bản án do tòa án tuyên có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên tranh
chấp và với mọi cá nhân, tổ chức có liên quan.
- Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó, bên trung
gian thứ ba (trọng tài viên) do các bên lựa chọn sẽ đưa ra một quyết định sau
khi hai bên tranh chấp đã có cơ hội bình đẳng để trình bày các vấn đề liên
quan đến tranh chấp. Nếu quá trình trọng tài bảo đảm nguyên tắc tự nguyện,
công bằng thì quyết định của trọng tài viên có hiệu lực bắt buộc thi hành đối
với các bên. Khoản 1, Điều 3, Luật TTTM năm 2010 quy định: "Trọng tài
thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và
được tiến hành theo quy định của Luật này" [25].
1.1.3. Hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại là một tổ chức phi chính phủ, chỉ nhận giải
quyết các vụ tranh chấp khi các bên có thỏa thuận bằng văn bản về việc chọn
trọng tài. Quá trình giải quyết, được thực hiện theo nguyên tắc "phân xử trọng
tài" phù hợp với quy định trong Luật TTTM và quy chế của Tổ chức trọng tài
mà các bên đã lựa chọn.
Trọng tài cũng là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại
mang tính tài phán. Không giống như tòa án quốc gia, không có hội đồng
trọng tài cố định để giải quyết tranh chấp thương mại mà ở đó cùng một số
10
trọng tài viên nhất định giải quyết nhiều vụ. Trọng tài là một phương thức giải
quyết tranh chấp tư, dựa trên thỏa thuận giữa các bên.
i) Đặc điểm của TTTM
Thứ nhất, tính chung thẩm và hiệu lực của quyết định trọng tài đối
với việc giải quyết tranh chấp
Việc giải quyết tranh chấp tại Trung tâm TTTM có ưu điểm nổi bật so
với Tòa án ở chỗ nhanh gọn, kín đáo và phán quyết của trọng tài là có giá trị
chung thẩm, tức có hiệu lực cuối cùng. Trong khi Tòa án xử thì phải 2 - 3 lần,
từ sơ thẩm đến phúc thẩm, rồi còn thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, rồi còn
khiếu nại, khiếu kiện và còn có sự tham gia của nhiều cơ quan khác (như Viện
kiểm sát...). Còn cách thức giải quyết bằng trọng tài lại hết sức đơn giản và
linh động. Tính chung thẩm của quyết định trọng tài không chỉ có giá trị bắt
buộc đối với các bên đương sự mà nó còn khiến các bên không thể chống án
hay kháng cáo. Xét xử tại trọng tài chỉ có một cấp xét xử. Khi tuyên phán
quyết xong, Ủy ban Trọng tài (Hội đồng trọng tài) hoàn thành nhiệm vụ và
chấm dứt sự tồn tại của mình. Những ưu điểm này đặc biệt quan trọng đối với
hoạt động đầu tư thương mại. Chính những ưu điểm đó bảo đảm rằng nếu các
bên ưu tiên giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì các nhà đầu tư sẽ giảm rủi
ro cho bên nước ngoài khi quyết định tham gia đầu tư thương mại tại Việt
Nam; tạo thuận lợi cho các bên nước ngoài và cả bên Việt Nam thông qua
việc giải quyết tranh chấp tại Việt Nam.
Quyết định trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục
nhanh những tổn thất về tiền, hàng trong kinh doanh thương mại. Quyết định
trọng tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật, như bản án của Tòa
án. Tuy là chung thẩm, nhưng tố tụng trọng tài không đặt vấn đề cưỡng chế
thi hành, nên bên đương sự nào không chấp nhận phán quyết của trọng tài thì
có thể kiện ra Tòa kinh tế theo thủ tục giải quyết các vụ án.
11
Thứ hai, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật
Trọng tài là một tiến trình giải quyết tranh chấp có tính riêng biệt.
Hầu hết pháp luật về trọng tài của các nước đều thừa nhận nguyên tắc trọng
tài xử kín (in camera) nếu các bên không quy định khác. Tính bí mật thể hiện
rõ ở nội dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng nhu
cầu tin cậy trong quan hệ thương mại. Điều đó có ý nghĩa lớn trong điều kiện
cạnh tranh.
Đây là ưu điểm đối với những doanh nghiệp không muốn các chi tiết
trong vụ tranh chấp của mình bị đem ra công khai, tiết lộ trước Tòa án (hoặc
công chúng) - điều mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động
kinh doanh của mình.
Thứ ba, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp liên tục
Các bên đương sự được tự do lựa chọn trọng tài viên. Cách thức lựa
chọn trọng tài và Hội đồng trọng tài phát huy tính dân chủ, khách quan trong
quá trình tố tụng. Hoạt động trọng tài diễn ra liên tục vì Hội đồng trọng tài
(Ủy ban trọng tài) xét xử vụ kiện đã được các bên lựa chọn, hoặc được chỉ
định để giải quyết vụ kiện đó. Khi mang một vụ việc ra xét xử ở Tòa án, có
khả năng thẩm phán được chỉ định giải quyết vụ việc không có trình độ
chuyên môn liên quan đến đối tượng tranh chấp, đặc biệt các ngành có đặc
thù chuyên môn cao như: dầu khí, xây dựng, tài chính, đầu tư, bảo hiểm…
Khi giải quyết bằng trọng tài, các bên hoàn toàn có thể lựa chọn trọng tài viên
có trình độ chuyên môn (4) phù hợp với đối tượng tranh chấp, góp phần nâng
cao hiệu quả, công bằng và chính xác trong giải quyết tranh chấp. Trọng tài
viên - người chủ trì phân xử tranh chấp theo suốt vụ kiện từ đầu đến cuối, vì
vậy, họ có cơ hội tìm hiểu tình tiết vụ việc. Điều này có lợi ngay cả khi các
bên muốn hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán, trọng tài
có thể hỗ trợ các bên đạt tới một thỏa thuận.
12
Thứ tư, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, nhanh
chóng, linh hoạt cho các bên
Tòa án, khi xét xử các bên hoàn toàn phụ thuộc vào sự chỉ đạo của
Tòa án về thủ tục, thời gian, địa điểm, cách thức xét xử… được quy định
trước đó. Trong khi đó, với trọng tài, các bên thông thường được tự do lựa
chọn thủ tục, thời gian, địa điểm phương thức giải quyết tranh chấp theo
phương thức tiện lợi, nhanh chóng, hiệu quả nhất cho các bên trong khuôn
khổ pháp luật cho phép. Điều này có thể làm giảm chi phí, thời gian và tăng
hiệu quả cho quá trình giải quyết tranh chấp.
Thứ năm, tiết kiệm thời gian
Tính liên tục, đặc biệt trong hoạt động kinh doanh quốc tế đòi hỏi các
bên không thể lãng phí thời gian, điều mà các Tòa án sẽ rất khó đáp ứng được
do luôn phải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc, gây ra khả năng ách
tắc hồ sơ.
Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án cho phép các bên được quyền
kháng án cũng làm cho tiến độ bị kéo dài. Trong thực tế, giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài, ví dụ như giải quyết tranh chấp bằng VIAC thường kéo dài tối
đa là 6 tháng, còn tại Tòa án có thể kéo dài hàng năm trời.
Thứ sáu, duy trì được quan hệ đối tác
Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối
hòa khí lâu dài giữa các bên tranh chấp. Đây là điều kiện không làm mất đi quan
hệ hợp tác kinh doanh giữa các đối tác. Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện.
Xét xử bằng trọng tài sẽ làm giảm mức độ xung đột căng thẳng của
những bất đồng trên cơ sở những câu hỏi gợi mở, trong một không gian kín
đáo, nhẹ nhàng… Đó là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được
quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau và đặc biệt, sự tự nguyện thi
hành quyết định trọng tài của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tưởng tốt
hơn trong quan hệ làm ăn trong tương lai.
13
Thứ bảy, trọng tài cho phép các bên sử dụng được kinh nghiệm của
các chuyên gia
Ưu điểm này thể hiện ở quyền được chọn trọng tài viên của các bên
đương sự, điều mà không tồn tại ở Tòa án.
Các bên có thể chọn một Hội đồng trọng tài dựa trên năng lực, sự hiểu
biết vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực
chuyên ngành có tính chuyên sâu như chứng khoán, licensing, leasing, xuất
nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, sở hữu trí tuệ…
Thứ tám, tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài - một
tổ chức phi chính phủ, nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Tòa án
trên các mặt sau:
Xác định giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài; giải quyết khiếu nại
về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời; xét đơn yêu cầu hủy quyết định trọng tài; công nhận và thi hành
quyết định trọng tài.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu quyền và lợi ích của một
bên bị xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại thì có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhằm: bảo toàn chứng cứ trong trường
hợp chứng cứ bị tiêu hủy hoặc có nguy cơ bị tiêu hủy; kê biên tài sản tranh
chấp để ngăn ngừa việc tẩu tán tài sản; cấm chuyển dịch tài sản tranh chấp;
cấm thay đổi hiện trạng của tài sản tranh chấp; kê biên và niêm phong tài sản
ở nơi gửi giữ; phong tỏa tài khoản tại ngân hàng.
Việc đánh giá và sử dụng nguồn chứng cứ tại các cơ quan trọng tài
rộng hơn, tự do hơn, mang tính xã hội hơn, tạo điều kiện cho các bên làm
sáng tỏ những vấn đề nhạy cảm. Trong khi đó, Tòa án áp dụng các chứng cứ
để tố tụng bị ràng buộc hơn về mặt pháp lý, làm cho các bên tham gia tố tụng
không có cơ hội làm sáng tỏ hết được nhiều vấn đề khúc mắc, không thể hiện
trên các chứng cứ "pháp lý".
14
(ii) Các hình thức tổ chức TTTM
Theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng như quốc tế, hiện có hai
hình thức trọng tài được sử dụng là Trọng tài vụ việc và Trọng tài quy chế. Tùy
thuộc vào ý chí, điều kiện thực tế, thói quen hay nội dung của tranh chấp, các
bên đương sự sẽ quyết định lựa chọn cho mình một hình thức trọng tài phù hợp.
Trọng tài vụ việc
Trong trọng tài vụ việc, các bên tự chịu trách nhiệm thành lập hội
đồng trọng tài để giải quyết tranh chấp và phải quy định các quy tắc sẽ điều
chỉnh cách thức tiến hành tố tụng trọng tài. Khi gặp khó khăn, đôi khi các bên
có thể nhờ một tòa án quốc gia có thẩm quyền can thiệp. Bởi các bên tự tiến
hành trọng tài vụ việc nên họ phải thỏa thuận trực tiếp vấn đề thù lao và chi
phí với trọng tài viên.
Trọng tài quy chế
Trong trọng tài quy chế, các bên nhờ một trung tâm trọng tài hoặc một
tổ chức trọng tài quy chế giám sát tố tụng theo quy tắc tố tụng trọng tài của tổ
chức đó.
Mức độ giám sát tố tụng trọng tài của mỗi tổ chức là khác nhau. Nói
chung, tổ chức trọng tài quy chế giám sát một phần tố tụng trọng tài, và giới
hạn sự trợ giúp trong việc thành lập hội đồng trọng tài (chỉ định các trọng tài
viên), dựa trên nguyện vọng của các bên cũng như các quy tắc tố tụng trọng
tài của chính tổ chức đó.
Tổ chức trọng tài có thể thông báo đơn kiện cho bên kia và yêu cầu
bên đó trình bày rõ quan điểm về vụ kiện và việc thành lập hội đồng trọng tài.
Đôi khi, tổ chức trọng tài có quyền ấn định một khoản tiền ước tính đủ để trả
chi phí trọng tài, có quyền yêu cầu các bên thanh toán và khi kết thúc tố tụng,
có quyền quyết định các chi phí cuối cùng. Tổ chức trọng tài quy chế cũng có
thể giám sát quá trình thông báo cho các bên về quyết định được hội đồng
15
trọng tài ban hành. Tuy nhiên, tổ chức trọng tài quy chế cũng có thể không
thực hiện nhiều công việc như vậy. Loại trọng tài này thường được coi là
trọng tài được giám sát một phần.
Trọng tài quy chế cũng có thể là trọng tài được giám sát toàn bộ.
Trong trường hợp này, tổ chức trọng tài không chỉ chịu trách nhiệm nhận đơn
kiện và thông báo cho bên kia, mà còn thành lập hội đồng trọng tài, ấn định
khoản phí ứng trước và có thể còn xác định địa điểm tiến hành trọng tài. Như
vậy, tổ chức trọng tài giám sát toàn bộ quá trình tố tụng và sẽ giải quyết một
số khó khăn nhất định chẳng hạn như quyết định thay thế các trọng tài viên
thiên vị. Đôi khi, tổ chức trọng tài quy chế thậm chí phải bảo đảm nội dung
quyết định trọng tài được chấp nhận về mặt bố cục và có thể lưu ý trọng tài
viên vào một số điểm của nội dung vụ kiện. Tổ chức trọng tài còn giám sát cả
việc thông báo quyết định trọng tài cho các bên và sau khi đã ấn định phí
trọng tài, tổ chức trọng tài bảo đảm các trọng tài viên được trả thù lao. Tóm
lại, tổ chức trọng tài bảo đảm các trọng tài viên được trả thù lao và bảo đảm
các bước của tố tụng trọng tài của tổ chức đó.
iii) Tố tụng TTTM
Trọng tài quy chế và trọng tài vụ việc là những phương pháp khác biệt
của quá trình tố tụng. Các bên trong trọng tài vụ việc thiết lập quy tắc tố tụng
riêng mà họ cho là có thể phù hợp với diễn biến và sự việc của vụ tranh chấp,
trong khi đó các bên trong trọng tài quy chế phải tiến hành trọng tài theo các
trình tự của tổ chức trọng tài mà các bên lựa chọn.
Tuy nhiên, quy tắc chung là "không có thỏa thuận giải quyết bằng
phương thức trọng tài, không có tố tụng trọng tài". Trừ một số ngoại lệ, các
bên phải thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng phương thức trọng tài, và quy
định chi tiết các quy tắc điều chỉnh quá trình tố tụng (chỉ định trọng tài
viên…) hoặc sử dụng các quy tắc tố tụng trọng tài dưới sự giám sát của một
tổ chức trọng tài quy chế. Trong trọng tài vụ việc, các bên tự quyết định tố
16
tụng trọng tài sẽ được tiến hành như thế nào và không có sự trợ giúp của tổ
chức trọng tài quy chế. Trong trọng tài quy chế (cũng được coi như trọng tài
được giám sát), tố tụng trọng tài được tiến hành với sự trợ giúp của một tổ
chức trọng tài quy chế.
Tùy thuộc vào thỏa thuận giữa các bên, cách thức tiến hành tố tụng
trọng tài có thể khác hoặc không khác với cách thức tiến hành tố tụng tại một
tòa án quốc gia. Tuy nhiên, tự các bên (hoặc tổ chức trọng tài quy chế, hoặc
bất kỳ bên thứ ba nào khác được các bên chỉ định) tự thành lập hội đồng trọng
tài. Hơn nữa, các quy tắc tố tụng trọng tài thường linh hoạt hơn và ít nghi thức
hơn các quy tắc của pháp luật quốc gia.
Luật TTTM năm 2010 đã quy định khá chặt chẽ các giai đoạn tố tụng
của trọng tài. Có thể tóm tắt tố tụng trọng tài sẽ gồm các bước sau đây:
- Bước thứ nhất: Gửi đơn khởi kiện
- Bước thứ hai: Thành lập Hội đồng trọng tài
- Bước thứ ba: Nghiên cứu hồ sơ
- Bước thứ tư: Mở phiên họp trọng tài: Phiên họp giải quyết tranh
chấp (không công khai)
- Bước thứ năm: ban hành phán quyết trọng tài.
Trong phạm vi của luận văn, những nội dung cụ thể liên quan tới thủ tục
trọng tài vụ việc sẽ được đề cập một cách cụ thể và chi tiết hơn ở chương sau.
1.2. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ việc
1.2.1 . Trọng tài vụ việc (Trọng tài ad-hoc) là gì?
Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về thuật ngữ "Trọng tài vụ việc".
"Trọng tài vụ việc" có thể được hiểu là hình thức trọng tài được lập ra theo
yêu cầu của các đương sự để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và tự giải thể
khi tranh chấp đó đã được giải quyết.
17
Trọng tài vụ việc có nghĩa là trọng tài không được tiến hành
theo quy tắc của một tổ chức trọng tài thường trực. Do các bên
không bắt buộc phải tiến hành trọng tài theo quy tắc của một tổ
chức trọng tài thường trực, họ có thể tự do quy định quy tắc tố tụng
riêng. Nói cách khác, trọng tài vụ việc là trọng tài tự tiến hành (do it
yourself arbitration) [31].
Theo Khoản 7 Điều 3 Luật TTTM năm 2010 thì ‘Trọng tài vụ việc là
hình thức giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này và trình tự, thủ tục
do các bên thỏa thuận" [25].
Địa điểm tổ chức trọng tài vụ việc giữ vai trò vô cùng quan trọng bởi
hầu hết các khó khăn liên quan đến tiến hành trọng tài vụ việc sẽ phải giải
quyết theo luật quốc gia của nơi tiến hành trọng tài. Chẳng hạn như khi các
bên đã thỏa thuận sẽ tiến hành trọng tài vụ việc trước một hoặc ba trọng tài
viên và một bên không tham gia vào tố tụng trọng tài. Vậy sẽ chỉ định bao
nhiêu trọng tài viên? Câu trả lời phụ thuộc chủ yếu vào nơi sẽ diễn ra tố tụng
trọng tài.
Ví dụ, nếu nơi tiến hành trọng tài là Ấn Độ, theo Luật Trọng tài Ấn độ
năm 1996, nếu các bên không quyết định được số lượng trọng tài viên thì Hội
đồng trọng tài sẽ chỉ có một trọng tài viên. Trọng tài viên đó sẽ được chỉ định bởi
Chánh án Tòa án Tối cao Ấn Độ hoặc Chánh án một Tòa án Phúc thẩm Ấn Độ.
Nếu nơi tiến hành trọng tài là Cairo, theo Luật Trọng tài Ai Cập năm
1994, các bên không quyết định được số lượng trọng tài viên thì số lượng
trọng tài viên là ba người và Tòa thượng thẩm Cairo sẽ chỉ định trọng tài viên
cho bên không chỉ định được. Hai trọng tài viên sẽ có 30 ngày để chỉ định
trọng tài viên thứ ba; nếu họ không chỉ định được, Tòa thượng thẩm Cairo sẽ
chỉ định trọng tài viên thứ ba.
Bởi các bên trong trọng tài vụ việc không áp dụng quy tắc của bất kỳ
tổ chức trọng tài quy chế nào, họ nên xác định luật áp dụng càng cụ thể càng
18
tốt nhằm tránh sự gián đoạn trong khi tiến hành tố tụng trọng tài. Các bên nên
quy định hội đồng trọng tài sẽ được thành lập như thế nào, tố tụng trọng tài sẽ
diễn ra ở đâu, và thời hạn (cùng với khoảng gia hạn có thể) để ban hành quyết
định trọng tài. Các bên cũng phải thỏa thuận với trọng tài viên được chỉ định
về các khoản thù lao.
1.2.2 . Đặc điểm của trọng tài vụ việc
Trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa
thuận thành lập để giải quyết tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ tự chấm
dứt tồn tại khi giải quyết xong vụ việc. Đối với trọng tài vụ việc, Ủy ban trọng
tài là do các bên hoặc do đại diện của các bên chỉ định. Sau khi Ủy ban trọng
tài được thành lập, việc phân xử sẽ do Ủy ban trọng tài thực hiện và các bên
không được tham gia vào việc phân xử đó.
Ví dụ về trọng tài vụ việc có thể lấy ngay trong các Hiệp định trong
khuôn khổ ASEAN cộng, trong đó các bên quy định khi có tranh chấp phát
sinh, tranh chấp có thể được đưa ra một Ủy ban trọng tài (thường gồm 3 thành
viên, mỗi thành viên đại diện cho một bên tranh chấp (2) và thành viên thứ ba
làm Chủ tịch Ủy ban trọng tài) phân xử. Nội dung này sẽ được đề cập sâu hơn
ở phần sau của đề tài.
Bản chất của trọng tài vụ việc được thể hiện qua các đặc trưng cơ bản
sau đây:
- Trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự
chấm dứt hoạt động (tự giải thể) khi giải quyết xong tranh chấp.
- Trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều
hành (vì chỉ được thành lập để giải quyết vụ tranh chấp theo sự thỏa thuận của
các bên) và không có danh sách trọng tài viên riêng.
- Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình.
19