Giải pháp tăng cường huy động vốn tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh phú thọ

  • 80 trang
  • file .docx
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
LỜI MỞ ĐẦU
Với bất kỳ doanh nghiệp nào, vốn là một trong các yếu tố đầu vào cơ
bản của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với Ngân hàng
thương mại( NHTM ) - tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và
thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng và cho vay từ số tiền huy
động được, đồng thời làm các dịch vụ Ngân hàng thì vai trò của nguồn vốn
càng trở nên đặc biệt quan trọng . Qui mô, cơ cấu và các đặc tính của
nguồn vốn quyết định hầu hết các hoạt động của một NHTM bao gồm qui
mô. cơ cấu,thời hạn tài sản và khả năng cung ứng dịch vụ, từ đó quyết định
khả năng sinh lời và sự an toàn của mỗi Ngân hàng .
Trong khi chưa khai thác được số lượng lớn tiền nhàn rỗi trong các tổ
chức kinh tế và dân cư, nhiều Ngân hàng hiện vẫn phụ thuộc vào nguồn
vốn vay, kể cả vay của các Ngân hàng nước ngoài để đáp ứng cho nhu cầu
tăng trưởng tài sản, vì vậy chi phí nguồn vốn cao, sự ổn định và hiệu quả
kinh doanh thấp và chưa phát huy nội lực để phát triển một cách vững trắc.
Các Ngân hàng Việt Nam đều trong tình trạng thiếu vốn trung và dài hạn
cho nhu cầu đầu tư . Việc thu hút nguồn vốn với chi phí cao , sự ổn định
thấp và không phù hợp với sử dụng vốn về qui mô, kết cấu làm hạn chế khả
năng sinh lời , đồng thời đặt Ngân hàng trước nguy cơ rủi ro lãi suất , rủi ro
thanh toán và hơn thế có thể dẫn đến sự mất ổn định trong toàn bộ hệ thống
tài chính như nhiều Quốc gia từng lâm vào. Do vậy yêu cầu tăng cường huy
động vốn có mức chi phí hợp lý và ổn định cao được đặt ra hết sức cấp
thiết đối với Ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung, Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam nói riêng.
Là một chi nhánh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Phú Thọ
__________________________________________________________
1
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
trải qua hơn 10 năm đã đạt tăng trưởng đáng kể trong mở rộng qui mô ,
nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh nhưng thực tiễn đang đặt ra
những thách thức mới ở phía trước. Do ảnh hưởng của tình hình kinh tế xã
hội địa phương , những khó khăn từ môi trường kinh tế vĩ mô, từ nội tại
của mình và cạnh tranh càng gia tăng bởi có thêm hoạt động của các tổ
chức tài chính phi Ngân hàng về huy động vốn như Bảo hiểm, Quỹ hỗ trợ
phát triển, Bưu điện huy động tiền gửi tiết kiệm , Kho bạc huy động trái
phiếu , sự ra đời của Pháp lệnh thương phiếu điều chỉnh các quan hệ tín
dụng thương mại.v.v. Mặt khác trần lãi suất cho vay ngày càng giảm thấp
và những đặc điểm riêng có của mình thì hoạt động huy động vốn của
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Phú Thọ cần áp dụng
những giải pháp thích ứng.
Xuất phát từ đòi hỏi cấp thiết đó , đề tài:
" Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Tỉnh Phú Thọ" được lựa chọn và triển khai
nghiên cứu.
Ngoài lời nói đầu và kết luận , luận văn gồm 3 chương:
- Chương I : Lý luận chung về huy động vốn của Ngân hàng Thương
mại .
- Chương II : Thực trạng về huy động vốn của Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển Nông thôn ( viết tắt là : NHNo & PTNT ) Tỉnh Phú
Thọ .
- Chương III : Giải pháp tăng cường huy động vốn tại NHNo và
Phát triển Nông thôn Tỉnh Phú Thọ .
Để hoàn thành luận văn này em có sử dụng một số tài liệu và đặc biệt
được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo , cô giáo khoa Ngân hàng -Tài
chính Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội và đồng nghiệp tại Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tỉnh Phú Thọ. Đề tài này có
__________________________________________________________
2
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
thể còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý
báu của thầy giáo, cô giáo thuộc bộ môn để em nâng cao nhận thức.
Em xin chân thành cảm ơn.
Phú Thọ, ngày 6 tháng 11 năm 2001
Sinh viên thực hiện
Vi Thị Bích Thiện
CHƯƠNG I
__________________________________________________________
3
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1-Tổng quan về Ngân hàng thương mại
Hệ thống Ngân hàng thương mại (NHTM) ra đời là kết quả của quá
trình hình thành và Phát triển lâu dài của kinh tế hàng hoá, của quan hệ
hàng hoá tiền tệ. Tuy khái niệm về NHTM ở mỗi nước có những điểm khác
nhau nhưng đều thống nhất coi NHTM là doanh nghiệp chuyên kinh doanh
tiền tệ và cung ứng những dịch vụ tài chính cho nền kinh tế, là một trong số
những tổ chức tài chính trung gian, các tổ chức tài chính trung gian này
được gọi chung là các định chế tài chính có chức năng giống nhau là dẫn
vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn.
Ở Việt Nam, Pháp lệnh Ngân hàng, HTX Tín dụng và Công ty tài
chính năm 1990 định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh
tiền tệ, mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách
hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện
các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán".
Luật các tổ chức tín dụng (Luật số 02/1997/QH10) Điều 20: “
NHTM là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động
Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Trong đó
“Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân
hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng tiền này để cấp
tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.”
NHTM hoạt động kinh doanh trên cơ sở các điều kiện kinh tế và quy
định của luật pháp, thông qua các hoạt động đó chúng tác động đến nền
kinh tế và đời sống kinh tế xã hội. Cơ sở kinh tế khách quan của chức năng
__________________________________________________________
4
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
mà hệ thống NHTM đảm nhận là sự cần thiết có các trung gian tài chính
dẫn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, làm trung gian thanh toán trong
nền kinh tế v.v...Ngân hàng thương mại nhận tiền gửi hoặc phát hành các
công cụ nợ, sử dụng số tiền này để cho vay với một lãi suất và kỳ hạn nhất
định, người vay phải trả cho Ngân hàng gốc và tiền lãi. Lãi thu được từ các
khoản cho vay và các khoản đầu tư vào chứng khoán tạo nên bộ phận thu
nhập cuả Ngân hàng. Để tạo lập nguồn vốn, Ngân hàng phải trả cho các
khoản tiền gửi hoặc các khoản vay và chi phí khác. Với mục tiêu tăng
cường hoạt động kinh doanh và tối đa hoá lợi nhuận, Ngân hàng thương
mại thường xuyên tổ chức khai thác các nguồn vốn với chi phí thấp để mở
rộng cho vay và đầu tư, .... Xuất phát từ xu hướng phát triển trong hoạt
động của Ngân hàng thương mại hiện đại là mở rộng các hoạt động dịch vụ
Ngân hàng truyền thống. Thông qua việc đa dạng hoá hoạt động , các Ngân
hàng có thể vừa tăng thu nhập vừa có thể cạnh tranh với các định chế tài
chính phi Ngân hàng trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ.
1.2 -Vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
thương mại
Trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải
có vốn, vốn là năng lực chủ yếu nó quyết định đến khả năng, quy mô hoạt
động của Ngân hàng. Ngân hàng có nguồn vốn kinh doanh lớn cho phép
mở rộng các hình thức kinh doanh hay đa dạng hoá các hoạt động kinh
doanh giúp cho các Ngân hàng giảm thiểu rủi ro.
Nguồn vốn quyết định khả năng thanh toán chi trả của một Ngân
hàng, nếu có nguồn vốn lớn, năng lực thanh toán tốt thì sẽ gây được uy tín
trên thị trường.
__________________________________________________________
5
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
Nguồn vốn của Ngân hàng còn là một nhân tố tác động đến sự thắng
lợi trong cạnh tranh tạo cho Ngân hàng có một chỗ đứng vững chắc trên thị
trường. Ngân hàng có khả năng vốn dồi dào cho phép điều chỉnh phí bình
quân đầu vào là một lợi thế cạnh tranh.
Mặt khác, Ngân hàng khi có nguồn vốn lớn sẽ có đủ khả năng tài
chính để kinh doanh đa năng trên thị trường, thoát khỏi hình thức kinh
doanh đơn điệu, có quỹ dự trữ cần thiết tạo đà mở rộng quy mô hoạt động
tín dụng và đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả của Ngân hàng.
Đại bộ phận nguồn vốn của Ngân hàng thương mại là nguồn vốn
Ngân hàng huy động được trong nền kinh tế. Để có một khối lượng vốn lớn
từ nhiều nguồn phong phú, đa dạng đòi hỏi Ngân hàng thương mại phải đa
dạng hoá được các nguồn vốn nghĩa là có một tỷ trọng vốn trung và dài hạn
thích hợp để thực hiện chức năng của một Ngân hàng đa năng, khi thực
hiện được điều đó Ngân hàng sẽ luôn giữ được lợi thế trong cạnh tranh , uy
tín của Ngân hàng không ngừng được nâng cao.
Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại bao gồm:
- Nguồn vốn tự có.
- Nguồn vốn huy động.( TG Thanh toán , TG tiết kiệm của dân cư,
Tiền đi vay)
- Nguồn vốn khác.
Trong các nguồn vốn của Ngân hàng thương mại thì nguồn vốn huy
động có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động kinh doanh. Vì vậy
để duy trì và Phát triển Ngân hàng thương mại phải hết sức chú trọng đến
công tác huy động vốn.
__________________________________________________________
6
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
1.3 - Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Các Ngân hàng thương mại với tư cách là bộ phận chủ yếu của hệ
thống tài chính trung gian, nhận tiền của các khách hàng có tiền nhàn rỗi
gửi vào Ngân hàng hoặc phát hành các công cụ tài chính như các chứng chỉ
tiền gửi, trái phiếu ..v.v.. để thu hút vốn.
Các tổ chức, cá nhân mở tài khoản tại Ngân hàng đáp ứng cho nhu
cầu thanh toán , thông qua việc làm trung gian thanh toán và chuyển hoá
các phương tiện thanh toán , Ngân hàng thu hút được lượng vốn lớn trong
thanh toán. Đây là nguồn vốn có chi phí thấp nên các Ngân hàng thương
mại thường xuyên cải tiến các phương tiện, nâng cao công nghệ thanh toán
để thắng thế trong việc hấp dẫn khách hàng gửi tiền và bán thêm các dịch
vụ. Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân thường mở tài khoản tiền
gửi giao dịch tại một hoặc một số Ngân hàng thương mại nhất định, khi cần
thiết yêu cầu rút ra hoặc chuyển trả tiền cho bên thụ hưởng một cách nhanh
chóng vì tính chất của tài khoản này là thanh toán theo yêu cầu. Qua đó
Ngân hàng vừa là thủ quỹ, vừa cung cấp dịch vụ thanh toán theo yêu cầu
của khách hàng.
ở Việt Nam, một trong các yêu cầu bắt buộc khi một doanh nghiệp
hoạt động sản xuất kinh doanh phải mở tài khoản tiền gửi giao dịch tại một
Ngân hàng thương mại, tài khoản này một mặt là nơi thu nhận tiền từ
những người mua hàng hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp này cung ứng, một
mặt là nơi bảo quản tài sản tài chính an toàn, khi cần có thể chi trả bất cứ
lúc nào và trong nhiều trường hợp, số dư của nó được dùng để bảo lãnh hay
đặt cọc cho các hợp đồng hoặc các thoả ước khác.
__________________________________________________________
7
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
Trong khi thực hiện là trung gian thanh toán các Ngân hàng thương
mại còn nhận được tiền gửi các tổ chức tín dụng là một loại tiền gửi giao
dịch.
Để thu hút được tiền gửi phi giao dịch của các tổ chức, cá nhân,
Ngân hàng sử dụng các tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn các
tổ chức kinh tế xã hội hoặc phát hành các loại giấy tờ có giá: kỳ phiếu, trái
phiếu, giấy chứng nhận tiền gửi.
1.3.1- Huy động vốn dưới hình thức tiền gửi ( Tiền gửi thanh toán )
Các tổ chức kinh tế, xã hội, các tổ chức tín dụng khác, cá nhân mở
tài khoản giao dịch tại các NHTM, thông qua tài khoản này, người sở hữu
chúng có quyền phát hành séc hoặc lệnh chi trả cho người khác. Trước đây,
tài khoản tiền gửi có thể phát séc không được hưởng lãi nhưng để huy động
được nguồn vốn này ngoài việc cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ thanh
toán, các NHTM đã thực hiện trả lãi cho loại tiền gửi này. Loại tiền gửi này
là nguồn vốn Ngân hàng phải chi phí huy động thấp nhất do người gửi tiền
quan tâm nhiều hơn đến tính lỏng trong tài sản của họ.
ở một số nước, một số tài khoản có thể phát séc ra đời nhằm huy
động nguồn vốn ổn định hơn nhưng phải áp dụng lãi suất hấp dẫn hơn như
tài khoản ATS (Automatic trangfer from savings), tài khoản NOW
(Negotiable order of with drawal) xuất hiện ở Mỹ năm 1970 và tài khoản
MMDAs (Money market deposit acounts) đựơc sử dụng từ năm 1982.
Các Ngân hàng thường yêu cầu mức dư tối thiểu trên tài khoản trước
khi người gửi được hưởng lãi, lãi suất trả cho loại tiền gửi này cao hơn tài
khoản vãng lai , đổi lại số dư của nó tương đối ổn định hơn. Những quy
định về loại tài khoản này rất khác nhau giữa các Ngân hàng, tuy nhiên đặc
điểm vốn có của tiền gửi phát hành séc là tiền gửi có thể được thanh toán
khi người gửi yêu cầu nên nguồn vốn này có độ ổn định thấp. Một lý do
__________________________________________________________
8
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
khác gây nên sự mất ổn định của loại tiền gửi này do chi phí của Ngân
hàng cho nó thấp dẫn đến việc cạnh tranh giữa các NHTM để huy động tiền
gửi.
1.3.2-Huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi tiết kiệm của dân cư
Bao gồm hai loại chính là tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi kỳ hạn hoặc
các giấy chứng nhận tiền gửi. Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất
của các NHTM đặc tính chung của loại này là người sở hữu được hưởng lãi
và không được phát séc. Mức lãi suất thường cao hơn tiền gửi giao dịch vì
người gửi tiền không được hưởng nhiều dịch vụ của Ngân hàng và họ đánh
đổi tính lỏng lấy thu nhập từ tài sản của họ.
Tiền gửi trên tài khoản tiết kiệm là loại tiền gửi phi giao dịch phổ
biến nhất, tiền gửi tiết kiệm có thể có hoặc không có kỳ hạn.Tiền gửi không
kỳ hạn có thể được gửi thêm hoặc rút ra bất kỳ khi nào.Tiền gửi có kỳ hạn :
về nguyên tắc không được rút trước hạn tuy nhiên do cạnh tranh về huy
động vốn, các NHTM đã cho phép khách hàng rút theo yêu cầu sau khi họ
phải chịu mức phạt tiền lãi. Đây là nguồn vốn có thời hạn dài nên chi phí
cao và khá ổn định.Tiền gửi kỳ hạn của các tổ chức kinh tế xã hội: là những
khoản tiền gửi có thời gian đến hạn xác định từ một vài tháng đến vài năm.
Lãi suất phải trả cho loại tiền gửi này khá cao và tương quan với kỳ hạn, có
thể với cả quy mô tiền gửi tuỳ theo sự vận dụng của mỗi Ngân hàng.
ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển, tiền gửi có kỳ hạn
được chia làm hai nhóm, tiền gửi kỳ hạn có quy mô nhỏ là loại tiền có lãi
suất cao hơn nhưng có tính lỏng kém hơn tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi kỳ hạn
loại lớn có thể đem bán trên thị trường thứ cấp trước khi đến hạn, ở khía
cạnh này nó giống như một trái khoán. Loại chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá
__________________________________________________________
9
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
lớn CDS (Certificati of deposits) có thể trao đổi xuất hiện ở Mỹ lần đầu vào
năm 1961 và đã trở thành công cụ nợ quan trọng của Ngân hàng tại các
nước có nền kinh tế phát triển.
Do đặc thù của quan hệ thanh toán mà các tổ chức tín dụng thường
mở tài khoản tại các tổ chức tín dụng khác tạo thành tiền gửi của các tổ
chức tín dụng.
1.3.3- Huy động vốn bằng cách đi vay
* Vay chiết khấu hay tái cấp vốn của Ngân hàng Trung Ương
Việc vay vốn từ Ngân hàng Trung ương nhằm bù đắp thiếu hụt tạm
thời của nguồn vốn do sự giảm sút số vốn hiện có so với tài sản của Ngân
hàng thương mại. Tuy nhiên nhu cầu khoản vay này phải phù hợp với mục
tiêu của Ngân hàng Trung ương, ở nhiều nước khoản vay này phải ký quĩ
bằng thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác, chẳng hạn: hối phiếu chấp
nhận thanh toán. Đặc điểm nguồn vốn này là thời hạn ngắn do đó các
Ngân hàng thương mại phải tăng cường huy động các nguồn vốn khác để
trả nợ ngay khi đến hạn. Là nguồn vốn quan trọng khi gặp khó khăn trong
cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn. Chi phí vốn cho tiền vay thường cao
hơn so với các nguồn khác.
* Vay các tổ chức tín dụng khác
Các Ngân hàng thương mại có thể vay vốn của các tổ chức tín dụng
khác trên thị trường liên Ngân hàng trong nước hoặc quốc tế. Tiền vay có
thời hạn từ một ngày (Over night) đến một vài tháng để bù đắp thiếu hụt
__________________________________________________________
10
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
trong cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn tuy nhiên đây là nguồn vốn
thường có thời hạn ngắn và chi phí cao nên việc vay mượn có tính tạm thời,
về lâu dài các Ngân hàng thương mại tìm cách khai thác nguồn vốn tiền gửi
để trả khoản nợ này.
1.3.4.-Huy động vốn bằng các hình thức khác khác
*Phát hành các giấy tờ có giá
Các NHTM phát hành kỳ phiếu và trái phiếu với đặc điểm là có kỳ
hạn và khoản lãi được hưởng ghi trên bề mặt của nó. Hình thức huy động
vốn này được thực hiện với mục đích sử dụng vốn rõ ràng, số lượng và thời
gian phát hành nhất định khi cần thiết. Đối với Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Việt Nam kỳ phiếu Ngân hàng thường chiếm khoảng
50% nguồn vốn huy động có kỳ hạn. Trường hợp khách hàng rút vốn trước
hạn Ngân hàng thanh toán tiền lãi theo lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ
hạn xuất phát từ lý do cạnh tranh và yêu cầu bảo vệ quyền lợi của khách
hàng.
Đặc điểm của khoản nợ này là có tính ổn định cao, quyền đòi tiền
thường xếp sau các khoản tiền gửi. Hiện nay ở Việt Nam có một số loại
giấy tờ có giá có thể được mua bán trên thị trường trong khi với các nước
có thị trường tài chính phát triển, hoạt động mua bán các công cụ nợ diễn ra
khá phổ biến và sôi động.
* Nhận vốn uỷ thác đầu tư
Đối với một số Ngân hàng thương mại, ngoài nguồn vốn huy động,
vay tái cấp vốn của Ngân hàng trung ương còn có thể nhận được nguồn vốn
ủy thác đầu tư của nhà nước và các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế
__________________________________________________________
11
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
theo các chương trình, dự án có mục tiêu cụ thể. Để được nhận nguồn vốn
này, các Ngân hàng phải lập dự án cho từng đối tượng hoặc nhóm đối
tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay. Hiện nay, Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đang nhận vốn uỷ thác của các
dự án: Phục hồi và Phát triển Nông thôn, dự án tín dụng Nông thôn .v..v..
* Sử dụng các nguồn vốn khác
Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, các Ngân hàng thương
mại có thể sử dụng kết dư trên các tài khoản thanh toán vãng lai như chênh
lệch thu hộ lớn hơn chi hộ các Ngân hàng khác trong thanh toán liên hàng.
Ngoài ra còn có thể có số dư trên các tài khoản ký quĩ hoặc các khoản quản
lý, giữ hộ nhưng số vốn này không nhiều và Ngân hàng không chủ động
trong việc tập trung nguồn vốn này.
Như vậy, các Ngân hàng thương mại tạo lập nguồn vốn chủ yếu bằng
phương thức huy động vốn để khai thác nguồn vốn nhàn rỗi, vốn trong
thanh toán của khách hàng, trường hợp mất cân đối giữa nguồn vốn và sử
dụng vốn có thể vay vốn các tổ chức tín dụng hoặc dưới hình thức chiết
khấu của Ngân hàng Trung ương và có thể nhận vốn ủy thác đầu tư cùng
với số vốn của chủ sở hữu để có nguồn vốn với qui mô nhất định đủ tài trợ
cho danh mục tài sản. Phương thức huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội giữ
vai trò quan trọng nhất do nó cho phép khai thác, phát huy nội lực để phát
triển kinh tế đồng thời thường có chi phí thấp hơn so với các nguồn vốn
khác.
1.4- Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn
__________________________________________________________
12
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
1.4.1- Môi trường kinh doanh
Hoạt động kinh doanh nói chung và huy động vốn của Ngân hàng
nói riêng luôn gắn với môi trường kinh doanh, đặc biệt là môi trường kinh
tế và pháp lý.
Hệ thống Ngân hàng được coi là “Phong vũ biểu” của một nền kinh
tế, việc huy động và sử dụng vốn của Ngân hàng bị các chỉ tiêu kinh tế như
tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập của thực thể, tốc độ chu
chuyển vốn, tình trạng thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát .v.v... tác động trực
tiếp.
Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh đặc biệt chịu tác động bởi
nhiều chính sách, các quy định của Chính phủ và của Ngân hàng Trung
ương. Thay đổi chính sách của Nhà nước, của Ngân hàng Trung ương về tài
chính, tiền tệ, tín dụng, lãi suất sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn
cũng như chất luợng của nguồn vốn của NHTM. Sự ổn định về chính trị
hay về chính sách ngoại giao cũng tác động đến quan hệ nguồn vốn của
một Ngân hàng với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.
Phân bố dân cư, thu nhập của người dân là một nguồn lực tiềm tàng
có thể khai thác nhằm mở rộng quy mô huy động vốn của NHTM.
Môi trường văn hoá như tập quán, tâm lý, thói quen sử dụng tiền của
dân cư ảnh hưởng nhiều đến quyết định kinh tế của người có thu nhập về
tiêu dùng và tiết kiệm, mức độ chấp nhận rủi ro khi gửi tiền vào các tổ chức
tín dụng hay quyết định chi số tiền nhàn rỗi của họ đầu tư vào bất động sản,
động sản, chứng khoán.
Khả năng ứng dụng công nghệ trở thành một trong những điều kiện
bắt buộc để Ngân hàng tồn tại và Phát triển . Trong những năm ngần đây,
__________________________________________________________
13
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
nhờ tiến bộ của công nghệ thông tin, đã xuất hiện nhiều sản phẩm dịch vụ
mới liên quan đến hoạt động huy động nguồn vốn của Ngân hàng như dịch
vụ Ngân hàng tại nhà (Home banking), máy rút tiền tự động ATM, thư tín
dụng, hệ thống thanh toán điện tử v.v... Với những sản phẩm dịch vụ mới tỷ
lệ gửi tiền, thanh toán qua Ngân hàng ngày càng tăng và đạt tỷ lệ rất cao ở
các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Đức.
Hoạt động kinh doanh Ngân hàng ngày càng có sự tham gia của
nhiều loại hình Ngân hàng mới và các tổ chức tài chính phi Ngân
hàng.Cạnh tranh có xu hướng gia tăng mạnh, càng giảm đi sự khác biệt gữa
các Ngân hàng thương mại với các tổ chức tài chính phi Ngân hàng. Khách
hàng có tiền nhàn rỗi có thể đầu tư trực tiếp vào mua chứng khoán của
Chính phủ và công ty. Xu hướng cạnh tranh trong ngành Ngân hàng càng
gia tăng do các yếu tố: Thay đổi chính sách về tài chính - tiền tệ, đổi mới
tài chính của doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, chứng khoán hoá và toàn
cầu hoá.Cạnh tranh trong ngành Ngân hàng về tiền gửi diễn ra dưới nhiều
hình thức. Các tổ chức tài chính phi Ngân hàng ít bị giới hạn bởi các điều
khoản liên quan đến tiền gửi do vậy khách hàng có thể thoả thuận về qui
mô tiền gửi, lãi suất và thời hạn. Các Ngân hàng có thể áp dụng những điều
kiện giống nhau cho tất cả các khách hàng gửi tiền.Vì lý do này, các sản
phẩm dịch vụ liên quan đến tiền gửi được mở rộng và được phổ biến
nhanh chóng. Thêm vào đó, nhiều tổ chức tài chính phi Ngân hàng có thể
huy động tiền gửi có kỳ hạn, thậm chí còn cung cấp các tài khoản không kỳ
hạn (Tiết kiệm bưu điện). Do cạnh tranh, lãi suất tiền gửi tăng lên trong khi
giá dịch vụ liên quan đến tiền gửi giảm xuống điều này ảnh hưởng trực tiếp
đến kết quả kinh doanh của các Ngân hàng.
1.4.2-Chiến lược khách hàng của Ngân hàng về huy động vốn
__________________________________________________________
14
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
Giờ đây, khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn Ngân hàng mà theo họ
là thuận tiện hơn chứ không chỉ đơn thuần là nơi cất trữ tiền tệ và kiếm lời
từ lãi suất. Do đó, các Ngân hàng nhận thấy cần có chiến lược khách hàng
đúng đắn trong hoạt động nói chung và trong huy động vốn nói riêng.
Trước tiên, Ngân hàng cần hiểu được động cơ, thói quen và những
mong muốn của người gửi tiền, thậm chí từng đối tượng khách hàng gửi
tiền thông qua phân tích lợi ích của khách hàng. Mục đích gửi tiền của
doanh nghiệp thường là nhờ Ngân hàng quản lý, ký quỹ hoặc nhờ chi trả
trong thanh toán trong khi các cá nhân gửi tiết kiệm có mục đích là hưởng
lãi. Mục đích của tiền gửi trên loại tài khoản khác nhau cũng rất khác nhau
như tiền gửi giao dịch để phát hành séc thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn để
dành tiền cho tiêu dùng, đầu tư trong tương lai đồng thời hưởng lãi.
Trên cơ sở những thông tin của khách hàng, Ngân hàng có thể đưa ra
hệ thống các chính sách và biện pháp phù hợp để có được quy mô và chất
lượng nguồn vốn mong muốn. Hệ thống các chính sách đáp ứng và gợi mở
nhu cầu liên quan đến huy động vốn bao gồm:
Các chính sách liên quan đến sản phẩm và dịch vụ tiền gửi của Ngân
hàng. Nhóm chính sách này nhằm vào việc đánh giá các loại sản phẩm dịch
vụ cung cấp và chất lượng của chúng như: Chất lượng tài khoản, kỳ hạn và
các dịch vụ liên quan đến tiền gửi như rút tiền tự động, giao dịch tại nhà,
rút ngắn thời gian thanh toán. Những năm gần đây các Ngân hàng đã đa
dạng hoá sản phẩm dịch vụ, hoàn thiện và đổi mới nâng cao chất lượng sản
phẩm dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường đồng thời mở rộng phát triển
dịch vụ mới.
Các chính sách về giá cả, lãi suất tiền gửi, tỷ lệ hoa hồng và chi phí
dịch vụ được coi là giá cả của các sản phẩm và dịch vụ tài chính. Ngân
__________________________________________________________
15
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
hàng sử dụng hệ thống lãi suất tiền gửi như một công cụ quan trọng trong
việc huy động tiền gửi và thay đổi quy mô nguồn vốn. Để duy trì và thu hút
thêm nguồn vốn Ngân hàng cần ấn định mức lãi suất cạnh tranh thực hiện
những ưu đãi về giá cho những khách hàng lớn, gửi tiền thường xuyên.
Hơn nữa, hệ thống lãi suất cần linh hoạt, phù hợp với quy mô và cơ cấu
nguồn vốn. Quy mô và cơ cấu nguồn vốn còn bị chi phối bởi giá cả của các
dịch vụ khác như phí chuyển tiền, phí dịch vụ thanh toán, ngân quỹ .Các
chính sách về tổ chức- kỹ thuật: Đây là các chính sách và biện pháp nhằm
làm thuận lợi, nhanh chóng, đơn giản trong quan hệ với khách hàng. Bao
gồm việc bố trí mạng lưới thu hút vốn, hoàn thiện công nghệ Ngân hàng,
cơ chế tài chính đồng thời tổ chức thông suốt hệ thống thanh toán sao cho
nhanh chóng, an toàn, chính xác.
Các chính sách trong phục vụ và giao tiếp: Các chính sách này được
các NHTM rất quan tâm nhằm tạo , củng cố uy tín của mình trên thị
trường, gắn bó với khách hàng truyền thống và hấp dẫn khách hàng
mới.Trong điều kiện khó có thể duy trì sự khác biệt về sản phẩm và giá cả
như hiện nay, chất lượng dịch vụ khách hàng trở thành công cụ cạnh tranh
vô cùng quan trọng để thu hút nguồn vốn. Thái độ phục vụ thân thiện, chu
đáo, bố trí hệ thống thanh toán khoa học là những điều hết sức cần thiết để
giữ vững khách hàng hiện có và thút thêm khách hàng.
1.4.3-Mạng lưới và các hình thức huy động
Mạng lưới hoạt động càng rộng , linh hoạt đến các tụ điểm sẽ tạo
điều kiện lớn ,chi phí rẻ, và các hình thức huy động vốn càng đa dạng
phong phú thì đáp ứng nhu cầu đa dạng người có tiền ,do vậy tạo khả năng
cho người có tiền, kết quả huy động vốn càng nhiều về số lượng do việc
__________________________________________________________
16
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
thực hiện được dịch vụ trọn gói và mở rộng dịch vụ Ngân hàng. Ngược lại
nếu mạng lưới huy động vốn đơn điệu, nghèo nàn thì chỉ huy động trong
phạm vi hẹp với một số đơn vị, khách hàng. . .
1.4.4- Cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất của Ngân hàng càng khang trang hiện đại, công nghệ
tiên tiến mang lợi ích thiết thực cho kinh doanh, luôn tạo điều kiện thuận
lợi và phục vụ khách hàng tốt hơn , tạo lòng tin cho người gửi tiền từ đó
mở rộng quy mô huy động vốn.
1.4.5- Các nhân tố khác
Hiệu quả công tác huy động vốn còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố
khác thuộc vấn đề nội bộ Ngân hàng:
Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng: Ngân hàng cần xác định vị
trí hiện tại của mình trong hệ thống , thấy được điểm mạnh, điểm yếu, cơ
hội và thách thức. Song Ngân hàng cũng phải dự đoán thay đổi của môi
trường để xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp mà trong đó chiến lược
phát triển quy mô và điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn là một bộ phận.
Quy mô vốn tự có: Vốn tự có là nguồn vốn có thể đóng vai trò cái đệm
chống đỡ sự sụt giảm giá trị tài sản của NHTM, nó đảm bảo lòng tin của
khách hàng đối với Ngân hàng cũng là yếu tố quyết định giới hạn tối đa của
quy mô nguồn vốn.
__________________________________________________________
17
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
Cơ sở vật chất kỹ thuật: Đây là một trong các nguồn lực để Ngân
hàng hoạt động có hiệu quả. Đó là mạng lưới chi nhánh, các điểm giao dịch
với đặc thù vị trí, hệ thống thông tin và thiết bị khác.
Tài sản vô hình: Tài sản vô hình quan trọng nhất của Ngân hàng là
uy tín của nó trong hệ thống, của các thành viên trong hội đồng quản trị,
ban giám đốc. Sự nổi tiếng của Ngân hàng là tài sản quý giá trong huy
động vốn. Thuộc nhóm này phải kể đến các quan hệ mà Ngân hàng đã tạo
lập được với các khách hàng hiện có, khách hàng tiềm năng, các trung gian
tài chính và các cơ quan nhà nước.
Tính chất sở hữu của Ngân hàng: Yếu tố này có ảnh hưởng trực
tiếp, sâu sắc đến mô hình, cơ cấu tổ chức và cơ chế tài chính, chiến lược
kinh doanh từ đó ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn và quản lý, sử
dụng vốn.
Trên đây là hệ thống lý luận liên quan đến hoạt động của Ngân hàng
và nguồn vốn, chúng ta đã nghiên cứu các thành phần, cơ cấu nguồn vốn
đối với hoạt động kinh doanh của NHTM và các nhân tố ảnh hưởng đến
quy mô cơ cấu nguồn vốn.
__________________________________________________________
18
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH PHÚ THỌ
2.1- Khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông
thôn Tỉnh Phú Thọ
2.1.1 Tình hình kinh tế xã hội địa phương
Phú Thọ là tỉnh mới được tái lập tháng 01 năm 1997, tách ra từ tỉnh
Vĩnh Phú. Toàn tỉnh có 12 huyện thị, trung tâm là thành phố Việt Trì với
274 xã phường, thị trấn, diện tích tự nhiên 3.506km2, dân số 1.261 ngàn
người mật độ bình quân: 360 người/1km2.
Về vị trí địa lý, Phú Thọ nằm tiếp giáp giữa vùng Đông bắc, đồng
bằng sông Hồng và Tây bắc bộ, là “ngã ba sông”, cửa ngõ phía Tây nối Thủ
đô Hà Nội với các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang qua
quốc lộ số 2 chạy từ Hà Nội qua Việt Trì.
Với vị trí này, Phú Thọ được coi là cầu nối giao lưu kinh tế, văn hoá
và khoa học kỹ thuật giữa các tỉnh đồng bằng Bắc bộ với các tỉnh miền núi,
__________________________________________________________
19
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện
Luận văn tốt nghiệp
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________________
có thể nói Phú Thọ là tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế xã hội nếu
các lợi thế này được khai thác.
Về địa hình, có thể chia thành hai tiểu vùng chủ yếu:
Tiểu vùng núi cao phía Tây nam thuộc các huyện Thanh Sơn, Yên
Lập và một phần huyện Sông Thao. Đây là vùng gặp nhiều khó khăn trong
giao lưu với các nơi khác. Tuy nhiên, tiểu vùng này có nhiều tiềm năng
phát triển lâm nghiệp và khai thác khoáng sản.
Tiểu vùng gò đồi chia cắt bởi đồng ruộng xen kẽ và dải trung du triền
các sông Hồng, sông Lô, sông Đáy. Vùng này có thuận lợi cho việc trồng
cây công nghiệp, cây lương thực, cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản.
Phú Thọ là một tỉnh miền núi cũng có những lợi thế nhất định, song
địa bàn bị chia cắt gây cản trở không nhỏ cho giao lưu kinh tế, văn hoá,
phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân. Tuy mới được tái lập song
Phú Thọ có tình hình kinh tế xã hội tương đối ổn định, nền kinh tế có mức
tăng trưởng khá, GDP tăng bình quân giai đoạn 1991 - 1996 đạt 8,3% năm,
giai đoạn 1997 - 1999 đạt: 9,3% năm ,riêng năm 2000 tốc độ tăng trưởng
GDP đạt 8,4 % cao hơn mức tăng trưởng của cả nước 6,75% , cơ cấu kinh
tế đang chuyển dịch đúng hướng tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát
triển thực hiện quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Biểu 1:
Kết quả tăng trưởng kinh tế của tỉnh qua các năm
Đơn vị tính: Triệu VNĐ
Chỉ tiêu Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000
1. Tổng sản phẩm trong tỉnh 3.132.093 3.360.736 3.405.000
2. Tốc độ tăng GDP 10,6% 7,3% 8,4,%
3. Thu nhập bình quân 2,427 2,543 2,823
4. Mức tăng thu nhập 10,4% 10,4% 11%
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ 2000
__________________________________________________________
20
Sinh viên: Vi Thị Bích Thiện