Giải pháp tăng cường hiệu quả công tác huy động vốn tại nhno & ptnt huyện bình liêu

  • 62 trang
  • file .docx
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề về vốn đang là một đòi hỏi rất lớn, chủ trương của Đảng và Nhà
nước ta hiện nay về vốn Ngân sách chỉ chi cho việc đầu tư các cơ sở hạ tầng không
có khả năng thu hồi vốn, còn toàn bộ nhu cầu vốn để sản xuất kinh doanh kể cả
đầu tư xây dựng, vốn cố định và vốn lưu động đều phải đi vay. Như vậy đòi hỏi về
vốn không chỉ ngắn hạn mà còn cả vốn trung, dài hạn. Nếu không có vốn thì không
thể thay đổi được cơ cấu kinh tế, không thể xây dựng được các cơ sở công nghiệp,
các trung tâm dịch vụ lớn. Tuy đã có những thay đổi về nhiều phương diện, hệ
thống Ngân hàng đã có những bước tiến dài nhưng hệ thống Ngân hàng vẫn chưa
đáp ứng được nhu cầu về vốn của nền kinh tế.
Từ năm 1994 trở đi bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá vấn đề
về vốn nổi lên là một yêu cầu hết sức cấp bách trong điều kiện chưa có thị trường
vốn. Giải quyết nhu cầu vốn là đòi hỏi lớn đối với hệ thống ngân hàng. Các ngân
hàng kinh tế đang đòi hỏi ở ngân hàng là phải huy động đủ vốn tạo điều kiện cho
nền kinh tế phát triển không bị tụt hậu, đó chính là vấn đề về vốn.
Trong thực tiễn hoạt động của NHNo&PTNT huyện Bình Liêu hoạt động
huy động vốn đã được coi trọng đúng mức và đã đạt được một số kết quả nhất định
nhưng bên cạnh đó vẫn còn bộc lộ một số tồn tại do đó cần phải nghiên cứu cả về
lý luận và thực tiễn để nâng cao hiệu quả kinh doanh nhằm phục vụ công tác công
nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
2. Đối tượng nghiên cứu
Dựa vào cơ sở phân tích thực trạng công tác huy động vốn tại chi nhánh
NHNo&PTNT huyện Bình Liêu để tìm ra nguyên nhân của những tồn tại từ đó đưa
1
ra các giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của chi
nhánh NHNo&PTNT huyện Bình Liêu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác huy động vốn tại chi nhánh
NHNo&PTNT huyện Bình Liêu
- Phạm vi nghiên cứu: Các số liệu trong bảng tổng kết tài sản và báo cáo kết
quả kinh doanh của NHNo&PTNT huyện Bình Liêu từ năm 2005 đến năm 2005.
4. Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng phương pháp: So sánh, phân tích, luận giải...
5. Bố cục
Ngoài phần mở đầu và kết luận chuyên đề được chia làm 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận và hiệu quả huy động vốn trong hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng
Chương 2 : Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Bình
Liêu.
Chương 3 : Giải pháp tăng cường hiệu quả công tác huy động vốn tại NHNo &
PTNT huyện Bình Liêu.
2
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG
1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ VAI TRÒ NGUỒN VỐN
1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
NHTM là một định chế tài chính mà hoạt động thường xuyên và chủ yếu là
nhận tiền gửi và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và
làm phương tiện thanh toán.
1.1.1.2. Những hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Các Ngân hàng thương mại với tư cách là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài
chính trung gian, nhận tiền của các khách hàng có tiền nhàn rỗi gửi vào Ngân hàng
hoặc phát hành các công cụ tài chính như các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu ..v.v..
để thu hút vốn.
Các tổ chức, cá nhân mở tài khoản tại Ngân hàng đáp ứng cho nhu cầu thanh
toán, thông qua việc làm trung gian thanh toán và chuyển hoá các phương tiện
thanh toán, Ngân hàng thu hút được lượng vốn lớn trong thanh toán. Đây là nguồn
vốn có chi phí thấp nên các Ngân hàng thương mại thường xuyên cải tiến các
phương tiện, nâng cao công nghệ thanh toán để thắng thế trong việc hấp dẫn khách
hàng gửi tiền và bán thêm các dịch vụ. Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá
nhân thường mở tài khoản tiền gửi giao dịch tại một hoặc một số Ngân hàng
thương mại nhất định, khi cần thiết yêu cầu rút ra hoặc chuyển trả tiền cho bên thụ
hưởng một cách nhanh chóng vì tính chất của tài khoản này là thanh toán theo yêu
cầu. Qua đó Ngân hàng vừa là thủ quỹ, vừa cung cấp dịch vụ thanh toán theo yêu
cầu của khách hàng.
3
Ở Việt Nam, một trong các yêu cầu bắt buộc khi một doanh nghiệp hoạt
động sản xuất kinh doanh phải mở tài khoản tiền gửi giao dịch tại một Ngân hàng
thương mại, tài khoản này một mặt là nơi thu nhận tiền từ những người mua hàng
hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp này cung ứng, một mặt là nơi bảo quản tài sản tài
chính an toàn, khi cần có thể chi trả bất cứ lúc nào và trong nhiều trường hợp, số
dư của nó được dùng để bảo lãnh hay đặt cọc cho các hợp đồng hoặc các thoả ước
khác.
Trong khi thực hiện là trung gian thanh toán các Ngân hàng thương mại còn
nhận được tiền gửi các tổ chức tín dụng là một loại tiền gửi giao dịch.
Để thu hút được tiền gửi phi giao dịch của các tổ chức, cá nhân, Ngân hàng
sử dụng các tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn các tổ chức kinh tế xã
hội hoặc phát hành các loại giấy tờ có giá: kỳ phiếu, trái phiếu, giấy chứng nhận
tiền gửi.
a) Nhận tiền gửi
Các tổ chức kinh tế, xã hội, các tổ chức tín dụng khác, cá nhân mở tài khoản
giao dịch tại các NHTM, thông qua tài khoản này, người sở hữu chúng có quyền
phát hành séc hoặc lệnh chi trả cho người khác. Trước đây, tài khoản tiền gửi có
thể phát séc không được hưởng lãi nhưng để huy động được nguồn vốn này ngoài
việc cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ thanh toán, các NHTM đã thực hiện trả lãi
cho loại tiền gửi này. Loại tiền gửi này là nguồn vốn Ngân hàng phải chi phí huy
động thấp nhất do người gửi tiền quan tâm nhiều hơn đến tính lỏng trong tài sản
của họ.
b) Huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi tiết kiệm của dân cư
Bao gồm hai loại chính là tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi kỳ hạn hoặc các giấy
chứng nhận tiền gửi. Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất của các NHTM đặc
tính chung của loại này là người sở hữu được hưởng lãi và không được phát séc.
Mức lãi suất thường cao hơn tiền gửi giao dịch vì người gửi tiền không được
4
hưởng nhiều dịch vụ của Ngân hàng và họ đánh đổi tính lỏng lấy thu nhập từ tài
sản của họ.
Tiền gửi trên tài khoản tiết kiệm là loại tiền gửi phi giao dịch phổ biến nhất,
tiền gửi tiết kiệm có thể có hoặc không có kỳ hạn.Tiền gửi không kỳ hạn có thể
được gửi thêm hoặc rút ra bất kỳ khi nào.Tiền gửi có kỳ hạn : về nguyên tắc không
được rút trước hạn tuy nhiên do cạnh tranh về huy động vốn, các NHTM đã cho
phép khách hàng rút theo yêu cầu sau khi họ phải chịu mức phạt tiền lãi. Đây là
nguồn vốn có thời hạn dài nên chi phí cao và khá ổn định.Tiền gửi kỳ hạn của các
tổ chức kinh tế xã hội: là những khoản tiền gửi có thời gian đến hạn xác định từ
một vài tháng đến vài năm. Lãi suất phải trả cho loại tiền gửi này khá cao và tương
quan với kỳ hạn, có thể với cả quy mô tiền gửi tuỳ theo sự vận dụng của mỗi Ngân
hàng.
c) Huy động vốn bằng cách đi vay
* Vay chiết khấu hay tái cấp vốn của Ngân hàng Trung ương
Việc vay vốn từ Ngân hàng Trung ương nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời của
nguồn vốn do sự giảm sút số vốn hiện có so với tài sản của Ngân hàng thương mại.
Tuy nhiên nhu cầu khoản vay này phải phù hợp với mục tiêu của Ngân hàng Trung
ương, ở nhiều nước khoản vay này phải ký quĩ bằng thương phiếu hoặc các giấy tờ
có giá khác, chẳng hạn: hối phiếu chấp nhận thanh toán. Đặc điểm nguồn vốn này
là thời hạn ngắn do đó các Ngân hàng thương mại phải tăng cường huy động các
nguồn vốn khác để trả nợ ngay khi đến hạn. Là nguồn vốn quan trọng khi gặp khó
khăn trong cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn. Chi phí vốn cho tiền vay thường
cao hơn so với các nguồn khác.
* Vay các tổ chức tín dụng khác
Các Ngân hàng thương mại có thể vay vốn của các tổ chức tín dụng khác
trên thị trường liên Ngân hàng trong nước hoặc quốc tế. Tiền vay có thời hạn từ
một ngày (Over night) đến một vài tháng để bù đắp thiếu hụt trong cân đối nguồn
5
vốn và sử dụng vốn tuy nhiên đây là nguồn vốn thường có thời hạn ngắn và chi phí
cao nên việc vay mượn có tính tạm thời, về lâu dài các Ngân hàng thương mại tìm
cách khai thác nguồn vốn tiền gửi để trả khoản nợ này.
d) Huy động vốn bằng các hình thức khác khác
*Phát hành các giấy tờ có giá
Các NHTM phát hành kỳ phiếu và trái phiếu với đặc điểm là có kỳ hạn và
khoản lãi được hưởng ghi trên bề mặt của nó. Hình thức huy động vốn này được
thực hiện với mục đích sử dụng vốn rõ ràng, số lượng và thời gian phát hành nhất
định khi cần thiết. Đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam kỳ phiếu Ngân hàng thường chiếm khoảng 50% nguồn vốn huy động có kỳ
hạn. Trường hợp khách hàng rút vốn trước hạn Ngân hàng thanh toán tiền lãi theo
lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn xuất phát từ lý do cạnh tranh và yêu cầu
bảo vệ quyền lợi của khách hàng.
Đặc điểm của khoản nợ này là có tính ổn định cao, quyền đòi tiền thường xếp
sau các khoản tiền gửi. Hiện nay ở Việt Nam có một số loại giấy tờ có giá có thể
được mua bán trên thị trường trong khi với các nước có thị trường tài chính phát
triển, hoạt động mua bán các công cụ nợ diễn ra khá phổ biến và sôi động.
* Nhận vốn uỷ thác đầu tư
Đối với một số Ngân hàng thương mại, ngoài nguồn vốn huy động, vay tái
cấp vốn của Ngân hàng trung ương còn có thể nhận được nguồn vốn ủy thác đầu tư
của nhà nước và các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế theo các chương trình,
dự án có mục tiêu cụ thể. Để được nhận nguồn vốn này, các Ngân hàng phải lập dự
án cho từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay.
Hiện nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đang nhận
vốn uỷ thác của các dự án: Phục hồi và Phát triển Nông thôn, dự án tín dụng Nông
thôn .v..v..
* Sử dụng các nguồn vốn khác
6
Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, các Ngân hàng thương mại có thể
sử dụng kết dư trên các tài khoản thanh toán vãng lai như chênh lệch thu hộ lớn
hơn chi hộ các Ngân hàng khác trong thanh toán liên hàng. Ngoài ra còn có thể có
số dư trên các tài khoản ký quĩ hoặc các khoản quản lý, giữ hộ nhưng số vốn này
không nhiều và Ngân hàng không chủ động trong việc tập trung nguồn vốn này.
Như vậy, các Ngân hàng thương mại tạo lập nguồn vốn chủ yếu bằng
phương thức huy động vốn để khai thác nguồn vốn nhàn rỗi, vốn trong thanh toán
của khách hàng, trường hợp mất cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn có thể vay
vốn các tổ chức tín dụng hoặc dưới hình thức chiết khấu của Ngân hàng Trung
ương và có thể nhận vốn ủy thác đầu tư cùng với số vốn của chủ sở hữu để có
nguồn vốn với qui mô nhất định đủ tài trợ cho danh mục tài sản. Phương thức huy
động vốn nhàn rỗi trong xã hội giữ vai trò quan trọng nhất do nó cho phép khai
thác, phát huy nội lực để phát triển kinh tế đồng thời thường có chi phí thấp hơn so
với các nguồn vốn khác.
1.1.1.3. Chức năng của NHTM
a) Chức năng trung gian tài chính
Đây là chức năng quan trọng nhất của NHTM. NHTM nhận tiền gửi và cho
vay chính là đẫ thực hiện việc chuyển tiền tiết kiệm thành tiền đầu tư.
Những chủ thể dư thừa vốn cũng có thể trực tiếp đầu tư bằng cách mua các
công cụ tài chính sơ cấp như: cổ phiếu, trái phiếu của doanh nghiệp hoặc chính phủ
thông qua thị trường tài chính. Nhưng thị trường tài chính trực tiếp đôi khi không
đem lại hiệu quả cao nhất cho người đầu tư vì: khó tìm kiếm thông tin, chi phí tìm
kiếm thông tin lớn, chất lượng thông tin không cao, chi phí giao dịch lớn và phải
có sự trùng khớp về nhu cầu giữa người thừa vốn và người thiếu vốn về số lượng,
thời hạn... chính vì thế NHTM với tư cách là một trung gian tài chính đứng ra nhận
tiền gửi tiết kiệm và cung cấp vốn cho nền kinh tế với số lượng và thời hạn phong
phú và đa dạng đáp ứng mọi nhu cầu về vốn của khách hàng có đủ điều kiện vay
vốn. Với mạng lưới giao dịch rộng khắp, các dịch vụ đa dạng, cung cấp thông tin
7
nhiều chiều, hoạt động ngày càng phong phú chuyên môn hoá vào từng lĩnh vực
NHTM đã thực sự giải quyết được những hạn chế của thị trường tài chính trực tiếp,
góp phần nâng cao hiệu quả luân chuyển vốn trong nền kinh tế thị trường.
b) Chức năng trung gian thanh toán
Thông qua chức năng làm trung gian tài chính NHTM làm tăng lượng tiền
trong lưu thông và cung cấp cho những người đầu tư những chứng khoán có tính
lỏng cao hơn và có rủi ro thấp hơn do đó sẽ an toàn hơn khi nhà đầu tư nắm giữ
những chứng khoán sơ cấp do doanh nghiệp, công ty phát hành.
Các NHTM còn cung cấp một danh mục phương tiện thanh toán rất đa dạng
và phong phú: sec chuyển tiền, sec chuyển khoản, thẻ tín dụng... sự xuất hiện của
các phương tiện thanh toán này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dễ dàng giao
dịch thương mại, mua bán hàng hoá an toàn nhanh chóng, chi phí thấp.
c) Chức năng tạo tiền
Chức năng tạo tiền là chức năng cực kỳ quan trọng của NHTM. Chức năng
này được thể hiện trong quá trình NHTM cấp tín dụng cho nền kinh tế và hoạt
động đầu tư của NHTM, trong mối quan hệ với NHTƯ đặc biệt trong quá trình
thực hiện chính sách tiền tệ mà mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị
đồng tiền. Từ một lượng tiền cơ sở do NHTƯ phát hành qua hệ thốngNHTM sẽ
được tăng lên gấp bội khi NHTM cấp tín dụng cho nền kinh tế. Khối lượng tiền
qua hệ thống ngân hàng được tính theo công thức :
D = m.MB
D: khối lượng tiền qua hệ thống ngân hàng
MB: khối lượng tiền cơ sở
M=1/rd: hệ số nhân tiền
rd : tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Ngân hàng Trung ương có thể điều tiết khối lượng tiền cung ứng bằng cách
thay đổi lượng tiền tỷ lệ dự trữ bắt buộc để tăng hoặc giảm khả năng tạo tiền của
8
NHTM từ đó ảnh hưởng đến khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế do đó đạt được
hiệu quả mà mục tiêu chính sách tiền tệ đặt ra .
1.1.2. Vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM
1.1.2.1. Cơ cấu nguồn vốn của NHTM
a) Vốn tự có
Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được
thuộc về sở hữu của ngân hàng. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài
để hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Vốn này chiếm tỷ lệ nhỏ
trong tổng nguồn vốn của ngân hàng song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi
thành lập một ngân hàng.
Do tính chất ổn định của nó, Ngân hàng có thể sử dụng vào các mục đích
khác nhau như trang bị cơ sở vật chất, mua tài sản cố định, dùng để đầu tư hay góp
vốn liên doanh… vốn tự có là căn cứ quyết định khả năng thanh toán khi Ngân
hàng gặp rủi ro. Sự tăng trưởng của vốn tự có sẽ quyết định năng lực và sự phát
triển của NHTM. Vốn tự có của Ngân hàng được hình thành căn cứ vào hình thức
tổ chức của NHTM là: NHTM quốc doanh, NHTM cổ phần hay NHTM liên
doanh…
Vốn tự có gồm các thành phần: vốn tự có cơ bản, vốn tự có bổ sung.
b) Vốn huy động
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ
chức kinh tế và cá nhân trong xã hội, thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ tín
dụng, thanh toán, nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh.
Nguồn vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, Ngân hàng
chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng
thời hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút.Vốn huy động đóng
vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHTM.
9
Nguồn vốn huy động không ngừng tăng lên, tỷ lệ thuận với mọi thành phần
kinh tế trong xã hội. Do đó, các NHTM luôn quan tâm khai thác để mở rộng tín
dụng. Nhưng nguồn vốn này chỉ được sử dụng một phần để kinh doanh, còn phải
dự trữ một tỷ lệ hợp lí để đảm bảo khả năng thanh toán. Vốn huy động gồm có:
Vốn tiền gửi và phát hành những giấy tờ có giá.
c) Vốn đi vay
Vốn đi vay: là khoản tiền vay muợn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả
năng huy động vốn bị hạn chế. Đây là nguồn chủ yếu để chống rủi ro thanh khoản
của các ngân hàng.
- Vay từ NHTW là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả
của NHTM. Hình thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết khấu (tái cấp vốn).
Các thương phiếu đã được các NNTM chiết khấu (tái chiết khấu) trở thành tài sản
của họ. Khi cần tiền ngân hàng mang những thương phiếu này lên tái chiết khấu tại
NHNN. Thông thường NHNN chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chất
lượng như thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao và phù hợp với mục tiêu
của NHNN trong từng thời kỳ. Trong điều kiện chưa có thương phiếu NHNN cho
NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định. Nguồn
vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong ngân hàng, nó chủ yếu là vốn ngắn hạn, chi phí
cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của NHTW.
d) Vốn khác
Vốn khác là toàn bộ giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được thông qua
việc cung cấp các phương tiện thanh toán và cung cấp các dịch vụ ủy thác đầu tư.
Bao gồm nguồn ủy thác, nguồn thanh toán và các nguồn khác
1.1.2.2. Vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
a) Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức với mọi hoạt động kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường bất kỳ doanh nghiệp nào muốn sản xuất kinh
doanh cũng cần có vốn, vốn quyết định đến khả năng kinh doanh của doanh
10
nghiệp. Đối với NHTM vốn là đói tượng kinh doanh chủ yếu, vốn là cơ sở để ngân
hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Nếu thiếu vốn NHTM không thể thực
hiện các hoạt động kinh doanh. Vì thế những ngân hàng có vốn lớn sẽ có thế mạnh
trong kinh doanh. Vốn là điểm xuất phát đầu tiên trong hoạt động kinh doanh của
NHTM.
b) Nguồn vốn là nền tảng quyết định quy mô của hoạt dộng tín dụng và các
hoạt động khác của NHTM
Ngoài vai trò là cơ sở để ngân hàng tổ chức các hoạt động kinh doanh, vốn
còn quyết định đến việc mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tín dụng và các hoạt
động khác của NHTM.
Vốn tự có của ngân hàng ngoài viẹc sử dùng để mua sắm TSCĐ, trang thiết
bị, góp vốn liên doanh...Vốn tự có của ngân hàng là căn cứ để giới hạn các hoạt
động kinh doanh tiền tệ bao gồm cả hoạt động tín dụng. Việc quy định tỷ lệ cho
vay, tỷ lệ huy động vốn trên vốn tự có của NHTƯ thể hiện vai trò quản lý, điều tiết
thị trường của nhà nước, để đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng và đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.
Những quy định về mức cho vay, mức huy động trên Vốn tự có như:
- Mức cho vay một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có
- Mức vốn huy động không được vượt quá 20 lần vốn tự có
- Mua cổ phần hoặc góp vốn liên doanh không được vượt quá 50% vốn tự có
Qua những quy định của NHTƯ đối với NHTM ta thấy vốn tự có quyết định đến
khả năng cấp tín dụng, huy động vốn của NHTM vì thế những NHTM có vốn tự có
lớn thì quy mô tín dụng càng lớn và ngược lại. Không những vốn tự có ảnh hưởng
đến hoạt động kinh doanh mà vốn huy động cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
tín dụng và hoạt động khác .Vốn tự có rất quan trọng nhưng chỉ chiếm một phần
rất nhỏ trong tổng nguồn vốn, vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất và là nguồn
vốn chủ yếu để ngân hàng tiến hành các hoạt động kinh doanh do đó ngân hàng
11
nào có nguồn vốn huy động càng lớn thì khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế và
các hoạt động khác càng được mở rộng.
c) Nguồn vốn quyết định khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân
hàng trên thị trường
Một NHTM có thể thu hút được đông đảo khách hàng đến gửi tiền và sử
dụng các dịch vụ của ngân hàng đó khi ngân hàng đó có uy tín trên thị trường. Uy
tín của ngân hàng trước hết thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán cho khách
hàng khi họ yêu cầu. Khả năng thanh toán của ngân hàng thông thường tỷ lệ thuận
với khối lượng vốn mà ngân hàng đó có. Nếu có lớn vốn năng lực thanh toán của
ngân hàng được nâng cao, do đó uy tín của ngân hàng được nâng cao từ đó sẽ thu
hút được nhiều khách hàng và nâng cao được vị thế của ngân hàng trên thị trường.
d) Vốn là một trong những yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của
ngân hàng.
Với mỗi ngân hàng quy mô, trình độ công nghệ hiện đại là tiền đề để thu
hút vốn. Đồng thời khả năng về vốn lớn là cơ sở để ngân hàng mở rộng khối lượng
tín dụng và có thể quyết định cả mức lãi suất cho vay. Do đó có tiềm lực về vốn
lớn ngân hàng có thể giảm mức lãi suất cho vay từ đó tạo cho ngân hàng ưu thế
trong cạnh tranh, và giúp ngân hàng có tiềm lực trong việc mở rộng các hình thức
liên doanh, liên kết, cho thuê, mua bán nợ, kinh doanh chứng khoán...
Vốn có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng. Do
đó ngân hàng phải luôn chú trọng đến việc phát triển nguồn vốn một cách ổn định
cả về vốn huy động và vốn tự có.
1.1.2.3. Các hình thức huy động vốn của NHTM
a) Nhận tiền gửi
- Tiền gửi không kỳ hạn: là khoản tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng
nhưng khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải luôn đảm bảo yêu
cầu này.
12
Mục đích của khách hàng khi gửi tiền vào ngân hàng là an toàn và hưởng
các dịch vụ ngân hàng, tạo mối quan hệ với ngân hàng. Tỷ trọng tiền gửi không kỳ
hạn của tổ chức kinh tế trong tổng nguồn vốn của ngân hàng cao và nguồn vốn
này có tính ổn định tương đối cao vì bao giờ các tổ chức kinh tế cũng duy trì ít
nhất ở một số dư nhất định. Đối với nguồn vốn này ngân hàng chỉ phải trả lãi thấp
nhưng chi phí phi lãi rất cao. Đó là chi phí mua và vận hành ATM, chi phí phục
vụ...
- Tiền gửi có kỳ hạn : là khoản tiền khách hàng gửi vào ngân hàng mà có sự
thoả thuận về thời hạn trong đó khách hàng không được rút trước hạn.
Đây là nguồn vốn mà khách hàng gửi vào ngân hàng với mục đích sinh lời là
chủ yếu và ngân hàng phải trả lãi cao hơn hơn tiền gửi không kỳ hạn. Đây là nguồn
vốn có tính ổn định rất cao nhưng thường có thời hạn ngắn vì đây là những khoản
tiền tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và
nguồn vốn này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng.
b) Nhận tiền gửi tiết kiệm
- Tiền gửi không kỳ hạn
Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với mục đích an toàn là chủ yếu và
hưởng các dịch vụ của ngân hàng. Đối với nguồn vốn này chi phí trả lãi ngân hàng
bỏ ra không đáng kể nhưng chi phí trả lãi rất cao. Ở các nước phát triển thì tỷ trọng
nguồn vốn này rất cao nhưng các nước đang phát triển thì tỷ trọng này lại rất thấp
do người dân chưa có thói quen sử dụng các dịch vụ của ngân hàng. Nguồn vốn từ
tiền gửi không kỳ hạn của cá nhân, hộ gia đình có tính ổn thấp do nhu cầu tiêu
dùng của cá nhân, hộ gia đình không ổn định, khi cần khách hàng có thể rút tiền ra
bất cứ lúc nào do đó ngân hàng phải chuẩn bị sẵn một khoản tiền để đáp ứng nhu
cầu của khách hàng.
- Tiền gửi có kỳ hạn
13
Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với mục đích sinh lời là chủ yếu. Tiền
gửi có kỳ hạn của cá nhân và hộ gia đình chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn
huy động và là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng cho vay. Nguồn vốn này có tính
ổn định cao nhất và ngân hàng phải trả lãi rất cao cho nguồn vốn này.
c) Phát hành GTCT
Ngày nay trong hoạt động kinh doanh của các NHTM cạnh tranh là yếu tố
không thể thiếu được. Các NHTM cạnh tranh nhau về lãi suất huy động đến lãi
suất cho vay. Trong lĩnh vực huy động vốn các NHTM phải luôn luôn tìm các biện
pháp để có thể huy động được đủ nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu sử dụng vốn của
mình. Các NHTM không chỉ sử dụng các công cụ truyền thống để huy động vốn
mà còn đưa ra các các công cụ mới có hiệu quả hơn để huy động vốn một cách dễ
dàng đáp ứng nhu cầu vốn của mình và kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng đã ra đời.
Kỳ phiếu và trái phiếu là giấy tờ có giá xác nhận khoản nợ của ngân hàng với
người nắm giữ. Kỳ phiếu được phát hành thường xuyên và có kỳ hạn ngắn: 3,
6 ...12 tháng. Trái phiếu thường có kỳ hạn lớn hơn 1 năm.
Việc phát hành kỳ phiếu , trái phiếu có ưu thế: giúp ngân hàng huy động được
đúng số lượng vốn cần thiết và có thời hạn đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của ngân
hàng. Tuy nhiên chi phí của nguồn vốn này tương đối cao do ngân hàng phải trả lãi
cao hơn các hình thức huy động truyền thống.
1.2. Hiệu quả huy động vốn và các chỉ tiêu đo lường hiệu quả huy động vốn
1.2.1. Khái niệm hiệu quả huy động vốn của NHTM
Ý nghĩa hiệu quả huy động vốn:
Nguồn vốn là yếu tố cần thiết đầu tiên cần thiết cho hoạt động kinh doanh
của ngân hàng thương mại, luật pháp của mỗi quốc gia đều quy định mức vốn tối
thiểu mà ngân hàng phải có ngay từ khi thành lập. Mặt khác trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh trên thị trường, các ngân hàng có thể huy động thêm vốn
từ nhiều nguồn khác nhau.
14
1.2.2. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả huy động vốn của NHTM
Khi tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường, mỗi một ngân hàng
thương mại đều có một cách thức tổ chức huy động vốn riêng, tuỳ thuộc vào tình
hình thực tế về điều kiện của mỗi ngân hàng, vào thực trạng của nền kinh tế, và
chính sách cũng như mục tiêu của từng ngân hàng. Chính vì thế mà khi tổ chức
công tác huy động vốn thì các ngân hàng phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau
như;
- Tình hình thực tế của kinh tế xã hội: Yếu tố về sự phát triển kinh tế vĩ mô
của toàn xã hội luôn có những tác động trực tiếp đến công tác huy động vốn của
các ngân hàng thương mại. Khi một nền kinh tế phát triển bền vững thì các thành
phần kinh tế mới gia tăng được thu nhập, doanh thu, đồng thời yên tâm gửi tiền
vào ngân hàng. Hoặc ngược lại, trong thời kỳ mà kinh tế có nhiều biến động, lam
phát cao, thì mọi người có xu hướng giữ tiền trong mình để đảm bảo an toàn.
- Chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của nhà nươc, cũng như các quy định cụ
thể trong lĩnh vực hoạt động của ngành ngân hàng. Do đặc trưng hoạt động của
ngân hàng thương mại trên thị trường tài chính, mà tầm ảnh hưởng của các ngân
hàng đến sự phát triển kinh tế là rất lớn. Chính vì vậy, mà Chính phủ các quốc gia
luôn kiểm soát rất chặt chẽ các hoạt động của ngân hàng thương mại. Các hoạt
động huy động vốn của ngân hàng thương mại sẽ được điều chỉnh kiểm soát chặt
chẽ theo các quy định của Ngân hàng Nhà nước.
- Và cuối cùng là tình hình thực tế của ngân hàng mà có thể đưa ra các cách
tổ chức huy động vốn thích hợp. Một ngân hàng lớn, với mạng lưới chi nhánh rộng
có nhiều khả năng huy đông được lượng vốn lớn.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của NHTM
1.3.2 Nhân tố chủ quan
a) Các hình thức huy động
15
Đây cũng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến hoạt động huy
động vốn của ngân hàng. Hình thức huy động vốn của ngân hàng càng đa dạng,
phong phú, linh hoạt bao nhiêu thì khả năng thu hút vốn từ nền kinh tế càng lớn
bấy nhiêu. Điều này xuất phát từ sự khác nhau về nhu cầu và tâm lý của các tầng
lớp dân cư. Mức độ đa dạng của các hình thức huy động càng cao thì càng dễ dàng
đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của dân cư và họ đều tìm thấy cho mình một
hình thức gưỉ tiền phù hợp mà lại an toàn. Do vậy các NHTM thường cân nhắc rất
kỹ trước khi đưa vào hình thức huy động mới.
b) Mức lãi suất huy động
Chính sách lãi suất cạnh tranh bao gồm lãi suất cạnh tranh huy động và lãi
suất cạnh tranh cho vay là một chính sách quan trọng của ngân hàng. Việc duy trì
lãi suất cạnh tranh huy động là đặc biệt quan trọng khi lãi suất thị trường đang ở
mức tương đối cao. Các NHTM không chỉ cạnh tranh giành vốn với nhau mà còn
cạnh tranh với các tổ chức tiết kiệm và người phát hành các công cụ khác nhau trên
thị trường vốn. Đặc biệt trong thời kỳ khan hiếm tiền tệ, dù cho sự khác biệt tương
đối nhỏ về lãi suất cũng sẽ thúc đẩy những người tiết kiệm và đầu tư chuyển vốn từ
công cụ mà họ đang có sang tiết kiệm và đầu tư hoặc từ một tổ chức tiết kiệm này
sang tổ chức tiết kiệm khác.
c) Các dịch vụ kèm theo
Một ngân hàng có dịch vụ tốt hiển nhiên sẽ có nhiều lợi thế hơn các ngân
hàng khác. Trong đièu kiện kinh tế thị trường các ngân hàng phải phấn đấu nâng
cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hoá các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách
hàng và tăng thu nhập của ngân hàng. Khác với cạnh tranh về lãi suất, cạnh tranh
về dịch vụ ngân hàng không có giới hạn do vậy đây chính là điểm mạnh để các
ngân hàng vươn lên trong cạnh tranh.
d) Vị thế và uy tín của Ngân hàng
16
Trong công tác khách hàng, ngân hàng thường chia khách hàng ra làm nhiều
nhóm để có cách phục vụ phù hợp. Với những khách hàng lâu năm, giao dịch
thường xuyên, có số dư tiền gửi lớn, gây được tín nhiệm với ngân hàng thì ngân
hàng sẽ có chính sách phù hợp về thời hạn và lãi suất.....
e) Chính sách khuyếch trương
Trong điều kiện cạnh tranh mạnh mẽ như ngày nay khó có thể duy trì sự
khác biệt về sản phẩm và giá cả nên chiến lược phục vụ và quảng cáo trở thành yếu
tố vô cùng quan trọng để thu hút khách hàng . Thái độ phục vụ thân thiện, chu dáo
là điều kiện để thu hút khách hàng , chiến lược quảng cáo phù hợp sẽ giúp ngân
hàng có nhiều khách hàng mới. Do đó để có uy tín trên thị trường, giữ vững mối
quan hệ với khách hàng truyền thống và thu hút thêm nhiều khách hàng mới ngân
hàng phải không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ, có chiến lược quảng cáo hợp
lý để để nhiều người biết đến ngân hàng và sản phẩm dịch vụ do ngân hàng cung
ứng.
1.3.2. Nhân tố khách quan.
a) Môi trường kinh doanh
Ngân hàng phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp.
Trong chiến lược kinh doanh ngân hàng phải quyết định sẽ mở rộng hoặc thu hẹp
quy mô huy động vốn, thay đổi tỷ trọng các nguồn vốn trong tổng nguồn vốn, lãi
suất huy động. Nếu chiến lược kinh doanh đúng đắn ngân hàng sẽ khai thác được
nguồn vốn đáp ứng nhu cầu và đạt hiệu quả cao.
b) Sự phân bố lại, thu nhập của người dân
Môi trường dân số là yếu tố rất quan trọng bởi nó không chỉ tạo thành nhu
cầu và kết cấu nhu cầu của dân cư về sản phẩm dịch vụ ngân hàng mà còn là căn
cứ để hình thành hệ thống phân phối của ngân hàng. Đồng thời môi trường dân số
là cơ sở để xây dựng và điều chỉnh hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Môi
trường dân số ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động vốn của ngân hàng do đó ngân
hàng phải nghiên cứu kỹ lưỡng môi trường kinh tế trước khi đưa ra chiến lược huy
17
động vốn để có hể huy động được nguồn vốn phù hợp với nhu cầu của ngân hàng
về chất lượng, số lượng và thời hạn....
Môi trường địa lý được xác định bởi quy định của quốc tế để hình thành
quốc gia và quy định từng quốc gia trong việc hình thành các tỉnh, huyện, xã, thành
phố, nông thôn... tuỳ từng khu vực địa lý mà ngân hàng quyết định đặt nhiều hay ít
điểm huy động vốn và quyết định chiến lược huy động ở mỗi khu vực vì mỗi khu
vực có số dân và các điều kiện khác nhau.
c) Môi trường văn hoá xã hội
Mỗi quốc gia đều có một nền văn hoá riêng, văn hoá chính là yếu tố tạo nên
bản sắc của các dân tộc như: tập quán, thói quen, tâm lý... Đối với ngân hàng hoạt
động huy động vốn là hoạt động chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường văn hoá. Cụ
thể ở các nước phát triển người dân có thói quen gửi tiền vào ngân hàng để hưởng
những tiện ích trong thanh toán, hưởng lãi và trong tiềm thức họ ngân hàng là một
phần không thể thiếu được , là một phàn tất yếu của nền kinh tế. Do vậy ngân hàng
gặp không mấy khó khăn trong việc huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư và tổ chức
kinh tế. Ngược lại ở những nước đang phát triển như Việt Nam việc huy độn vốn
của ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn vì người dân Việt Nam hiện nay vẫn chưa
quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Mặt khác ngân hàng chưa thực sự tạo được
lòng tin đối với người dân sáu hàng loạt sự kiện đã xảy ra như: đổi tiền 1985-1986,
tỷ lệ lạm phát 600-700% làm nhiề người dân mất trắng, sự sụp đổ của 7500 quỹ tín
dụng nhân dân và hàng loạt sự kiên khác có liên quan đến ngân hàng : Dệt Quảng
Ninh, Minh phụng EPCO làm cho các ngân hàng bị thiệt hại lớn.Ngân hàng chưa
chú trọng đến công tác marketing, tiếp thị, quảng cáo ... người dân còn thiếu hiểu
biết về chủ trương chính sách của nhà nước, hoạt động của ngân hàng vì vậy cho
đến nay vẫn còn tình trạng có tiền nhưng không muốn gửi ngân hàng vì không biết
phải làm những thủ tục nào, người dân ngại mất thời gian do thủ tục rườm rà...
d) Tốc độ phân tích công nghệ
18
Sự thay đổi về công nghệ có tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế và xã hội.
Hoạt động ngân hàng là một trong những hoạt động chụi sự tác động mạnh mẽ của
công nghệ, hoạt động ngân hàng là hoạt động không thể tách rời khỏi sự phát triển
của công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin.
Công nghệ có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển của ngân hàng, nó
mang lại cho ngân hàng nhiều cơ hội nhưng cũng mang lại hàng loạt những thách
thức mới. Công nghệ mới cho phép ngân hàng đổi mới quy trình nghiệp vụ, cách
thức phân phối sản phẩm, phát triển các sản phẩm mới... nhờ có công nghệ mà hoạt
động huy động vốn được cải tiến, phất triển, rút ngắn thời gian giao dịch và thực
hiện nghiệp vụ chính xác... giúp ngân hàng có khả năng thu hút được nhiều vốn,
nhiều khách hàng và tăng thu nhập và uy tín của ngân hàng.
e) Yếu tố cạnh tranh
Môi trường cạnh tranh. Quá trình cạnh tranh trong hoạt động của các ngân
hàng thương mại được bắt đầu ngay từ khi ngân hàng được ra đời. Đặc biệt trong
giai đoạn hội nhập mạnh mẽ như ngày nay thì vấn đề cạnh tranh càng trở lên khốc
liệt hơn bao giờ hết. Sự cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các ngân hàng mà còn
bao gồm cả các tổ chức tín dụng, các công ty tài chính, các công ty cho thuê tài
chính, và các loại hình dịch vụ mà các tổ chức khác cung cấp. Các yếu tố này sẽ có
các tác động rất lớn tới hoạt động huy động vốn của ngân hàng, điều này đòi hỏi
các ngân hàng phải có các chính sách huy động vốn phù họp với tình hình thị
trường.
19
Chương 2
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN
TẠI NHNo & PTNT HUYỆN BÌNH LIÊU
2.1. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA NHNo&PTNT HUYỆN BÌNH LIÊU
2.1.1. Đặc điểm tình hình tự nhiên và kinh tế xã hội của địa phương
Bình Liêu là một huyện miền núi, vùng cao, biên giới, có cửa khẩu Hoành
Mô, điểm thông qua Đồng Văn và đường biên giới với Trung Quốc dài 48,6 Km.
Diện tích tự nhiên 471,38 Km2, trong đó diện tích đất canh tác chiếm 15,6%. Dân
số toàn huyện năm 2005 là: 27.288 người, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 96%.
Địa giới hành chính chia làm 7 xã và một thị trấn, gồm có 97 thôn, khe bản và khu
phố, trong đó có 06 xã biên giới, 05 xã được tỉnh phê duyệt là xã nghèo giai đoạn
2003-2005. Năm 2003 cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã còn thiếu nghiêm trọng
(toàn huyện mới chỉ có 18,4% số phòng học đạt chuẩn), 33% số hộ dân được sử
dụng điện lưới quốc gia, tỷ lệ số hộ dân được sử dụng nước sạch sinh hoạt hợp vệ
sinh mới đạt 31,31%, 2/7 xã chưa có chợ, 7/7 xã chưa đạt chuẩn về trạm y tế, trình
độ dân trí thấp, nền kinh tế phát triển còn manh mún, chưa vững chắc, tỷ lệ hộ đói
chiếm 7,4%; hộ nghèo chiếm 26,61% tổng số hộ trên địa bàn huyện; Trên 80% hộ
nghèo còn ở nhà tạm tranh tre, gạch đất. Tuy nhiên trong giai đoạn 2003-2005,
được sự quan tâm đầu tư về mọi mặt của TW, của Tỉnh, sự cố gắng nỗ lực của
huyện, kinh tế huyện Bình Liêu đã có bước phát triển và tăng trưởng, tổng sản
lượng lương thực quy thóc năm 2005 đạt 10.295,6 tấn, bằng 104% so với năm
2004. Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn bình quân mỗi năm đạt trên 50 tỷ
đồng, trồng rừng đạt trên 1.500 ha, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 22,82% năm 2003
xuống còn 9,23% năm 2005 (theo tiêu chí cũ). Đời sống vật chất tinh thần của
nhân dân được nâng lên, bộ mặt nông thôn vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa,
vùng dân tộc ít người ngày càng được đổi mới, tình hình an ninh chính trị - trật tự
20