Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh thẻ thanh toán tại ngân hàng tmcp kỹ thương việt nam techcombank

  • 85 trang
  • file .docx
1
LỜI MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, thuật ngữ thẻ thanh toán không còn xa lạ đối với
người dân Việt Nam như trước đây.Thẻ thanh toán đã được đưa vào giao dịch
ở nước ta từ những năm đầu thập kỷ 90. Thẻ Ngân hàng là một trong những
phương thức thanh toán hiện đại dựa trên nền tảng của hệ thống thông tin, xử
lý của mỗi Ngân hàng, nên dễ được thị trường chấp nhận nhất và nhanh chóng
được phổ dụng ở Việt nam.
Thực tế những năm qua cho thấy dịch vụ thanh toán thẻ đã đem lại
nhiều thành tựu đáng kể cho Việt Nam nói chung và các NH tham gia thanh
toán thẻ nói riêng. Thông qua phát hành và thanh toán thẻ, các Ngân hàng đã
đem lại cho nền kinh tế một lượng vốn đầu tư khá lớn, một lượng ngoại tệ
đáng kể... góp phần vào phát triển kinh tế đất nước. Chúng ta có thể khẳng
định rằng thẻ thanh toán ra đời là một tất yếu của một nền kinh tế phát triển.
Tuy nhiên dịch vụ này trong thời gian tới sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn,
vì vậy quan tâm phát triển thẻ thanh toán là việc rất cần thiết.
NHTM Cổ phần Kỹ thương Việt Nam-Techcombank, một Ngân hàng
đưa vào dịch vụ thanh toán thẻ ngay từ những năm đầu tiên mới thành lập.
Mặc dù hoạt động thanh toán thẻ của Techcombank đã đạt được những kết
quả nhất định, tuy nhiên cũng đã phải đối mặt với không ít những khó khăn.
Hơn nữa, trong thời gian tới Techcombank không những phải lo khắc phục
những bất cập chung mà còn phải cạnh tranh với những Ngân hàng trong và
ngoài nước cùng tham gia phát hành và thanh toán thẻ.
Để góp phần tìm ra giải pháp phát triển thẻ thanh toán cho các Ngân
hàng thương mại Việt Nam nói chung và Ngân hàng TMCP kỹ thương nói
riêng, qua quá trình thực tập tại Techcombank, em mạnh dạn chọn đề tài:
“Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh thẻ thanh toán tại Ngân hàng
TMCP Kỹ thương Việt Nam-Techcombank” để làm khoá luận tốt nghiệp.
2
Mục đích nghiên cứu của đề tài : Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lí
luận, tình hình thực tế phát hành và thanh toán thẻ tại Techcombank, các văn
bản pháp quy liên quan...để thấy được những tồn tại trong phát hành và thanh
toán thẻ , từ đó đưa ra một số ý kiến để mở rộng dịch vụ thẻ hiện nay và trong
thời gian tới.
Kết cấu khoá luận của em được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh thẻ của NHTM.
Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ của NHTM Cổ phần Kỹ
thương Việt Nam-Techcombank.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động kinh doanh thẻ
tại NHTM Cổ phần Kỹ thương Việt Nam.
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế nên trong khoá luận
của em khó tránh khỏi những sai sót, kính mong thầy cô nhận xét và góp ý để
cho đề tài của em hoàn thiện hơn.
Em xin gửi lời cám ơn chân thành tới thầyTS. Lê Văn Luyện, người đã
giúp đỡ em trong suốt quá trình làm khoá luận tốt nghiệp, cùng các thầy cô
trong khoa, ban lãnh đạo và các anh chị tại phòng thẻ NHTM Cổ phần Kỹ
thương Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ và tận tình chỉ bảo cho em trong suốt
thời gian qua, giúp em hoàn thành tốt bài khoá luận này.
3
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Ngân hàng thương mại và hoạt động của ngân hàng thương mại.
1.1.1. Bản chất của ngân hàng thương mại.
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, Ngân hàng thương mại
ra đời là một tất yếu khách quan do đòi hỏi của sản xuất và lưu thông hàng
hoá. Qua quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức
tạp, NHTM đang dần dần hoàn thiện và phát triển các nghiệp vụ cơ bản của
mình.
Ở Việt Nam, theo Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín
dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của này và các quy định
khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng
với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các
dịch vụ thanh toán khác”.
Qua những khái niệm trên có thể thấy ngân hàng thương mại là một
doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, có hai hoạt động cơ bản:
- Nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức, cơ quan
nhà nước và các tổ chức tín dụng tài chính khác kể cả trong nước và ngoài
nước.
- Sử dụng các nguồn vốn nói trên để cho vay hoặc chiết khấu và cung
ứng các sản phẩm dịch vụ khác cho nền kinh tế.
Cho đến ngày nay, một ngân hàng thương mại hiện đại có thể có tới
hơn 300 sản phẩm dịch vụ các loại để phục vụ cho các yêu cầu ngày càng
phong phú, đa dạng của mọi đối tượng khách hàng. Tiếp theo chúng ta sẽ tìm
4
hiểu một số chức năng chủ yếu của ngân hàng thương mại trong cơ chế thị
trường.
1.1.2. Chức năng của NHTM.
1.1.2.1. Chức năng thủ quỹ và trung gian thanh toán.
Chức năng thủ quỹ là chức năng đầu tiên của NHTM, gắn liền với sự ra
đời của NHTM và làm cơ sở cho Ngân hàng thực hiện các chức năng tín
dụng, thanh toán và các dịch vụ khác.
Ngay từ khi các NHTM chưa ra đời, các thương gia buôn bán lớn có
một lượng của cải dư thừa thường gửi vào các tiệm kim hoàn hoặc gửi những
người nhận giữ hộ tiền với mục đích cất trữ an toàn nguồn vốn dư thừa đó. Về
sau các cá nhân và các doanh nghiệp cũng tiến hành việc gửi tiền và ngoài
mục đích an toàn ra họ còn có mong muốn được hưởng các dịch vụ khác như
thanh toán, bảo lãnh, chi trả hộ và khi đó NHTM chính thức ra đời.
Như vậy NHTM ra đời với chức năng đầu tiên là làm thủ quỹ cho các
cá nhân và doanh nghiệp gửi tiền, sau đó thực hiện việc thanh toán hộ cho
khách hàng dựa trên tài khoản mà khách hàng mở tại Ngân hàng thông qua
việc khách hàng uỷ nhiệm cho Ngân hàng thu hộ, chi hộ.
Với chức năng thủ quỹ và trung gian thanh toán, NHTM đã thực hiện
việc luân chuyển, thanh toán những khối lượng vốn lớn và trên phạm vi rộng.
Việc thanh toán qua Ngân hàng đã giảm bớt được khối lượng tiền mặt lưu
thông, giảm chi phí giao dịch, chi phí thanh toán và hạn chế rủi ro trong quá
trình thanh toán, góp phần tăng nhanh vòng quay của vốn, tăng tốc độ lưu
thông tiền tệ trong nền kinh tế.
1.1.2.2. Chức năng trung gian tín dụng.
5
Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của NHTM, nó có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thực hiện chức
năng này, một mặt, NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm
thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho
vay. Mặt khác, trên cơ sở vốn đã huy động được Ngân hàng tiến hành việc
cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của các chủ
thể cần vốn trong nền kinh tế, điều đó đảm bảo sự vận động liên tục của
guồng máy sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Như vậy,
NHTM vừa là người đi vay, vừa là người cho vay, hay nói cách khác nghiệp
vụ tín dụng của NHTM là đi vay và cho vay.
Hơn nữa, tín dụng Ngân hàng còn là một trong những nguồn hình thành
vốn lưu động và vốn cố định của doanh nghiệp. Vì vậy tín dụng Ngân hàng
đã góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế đảm bảo cho quá trình sản xuất
kinh doanh được liên tục, là cầu nối giữa tiết kiệm, tích luỹ và đầu tư, động
viên vật tư hành hoá đưa vào hoạt động sản xuất lưu thông, mở rộng nguồn
vốn thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất. Đối với
NHTM hoạt động tín dụng là hoat động chủ yếu mang lại nguồn thu lớn nhất
cho Ngân hàng, bên cạnh đó nó cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro.Vì
vậy Ngân hàng nghiên cứu, áp dụng biện pháp quản lý nhằm mở rộng hoạt
động và đảm bảo an toàn tín dụng.
1.1.2.3. Chức năng tạo tiền.
Qúa trình tạo tiền của NHTM được thực hiện thông qua hoạt động tín
dụng và thanh toán trong hệ thống Ngân hàng, trong mối liên hệ chặt chẽ với
hệ thống Ngân hàng trung ương của mỗi nước. Khả năng tạo tiền là khả năng
biến mức tiền gửi ban đầu tại một Ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một
khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụ tín dụng thanh
toán qua nhiều Ngân hàng. Một Ngân hàng này cho vay xong là hết vốn, thì
6
số vốn đó lại chuyển sang Ngân hàng khác trở thành vốn tiền gửi và làm tăng
thêm vốn tiền gửi của các Ngân hàng khác.
Chức năng tạo tiền của hệ thống NHTM liên quan chặt chẽ với chính
sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương. Thông qua đó Ngân hàng Trung ương
có thể tăng hay giảm lượng tiền cung ứng bằng việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt
buộc nhằm điều tiết vĩ mô, ổn định nền kinh tế.
1.1.3. Các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại
Theo Từ điển thuật ngữ tài chính tín dụng: “ Nghiệp vụ ngân hàng là
những sản phẩm mà ngân hàng thực hiện trong việc huy động các nguồn vốn
tiền tệ và đầu tư số vốn huy động được, cấp tín dụng, phục vụ thanh toán cho
khách hàng và làm các dịch vụ khác theo sự uỷ thác của khách hàng”.
Các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại được thể hiện ở nội
dung các khoản mục thuộc bảng tổng kết tài sản hay bảng cân đối kế toán của
ngân hàng và có thể phân chúng thành ba nhóm: Các nghiệp vụ Tài sản Nợ,
các nghiệp vụ Tài sản Có và các nghiệp vụ trung gian.
1.1.3.1 Tiền gửi
Với nghiệp vụ nhận gửi, ngân hàng sẽ huy động vốn của các doanh
nghiệp, cá nhân, các tổ chức kinh tế qua tài khoản séc, tài khoản vãng lai; tài
khoản tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi của khách hàng thường chia làm hai loại:
tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn.
- Tài khoản séc: Là loại tiền gửi được áp dụng phổ biến ở hầu hết các
nước trên thế giới. Theo Công ước Giơ-ne-vơ năm 1931 thì “Séc là một tờ
lệnh trả tiền vô điều kiện do một khách hàng ký phát cho ngân hàng, yêu cầu
ngân hàng trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định để trả cho người
cầm séc hoặc cho người được chỉ định trên séc”.
7
Việc phát hành séc tiến hành đồng thời với dịch vụ mở tài khoản tiền
gửi (tài khoản séc), các chủ tài khoản séc sẽ dùng séc để mua sắm hàng hoá,
dịch vụ, nộp thuế, trả nợ cho nhau, vay mượn...; đồng thời nhập vào tài khoản
này mọi khoản thu nhập thường xuyên hay bất thường như tiền lương, tiền
bán hàng, bán dịch vụ, thu nợ... Tài khoản séc bao giờ cũng có số dư nên ngân
hàng có thể tạm thời sử dụng được số tiền này vào mục đích kinh doanh của
ngân hàng, tài khoản séc thật sự là công cụ quan trọng trong sự nghiệp phát
triển kinh doanh của hệ thống ngân hàng.
- Tài khoản vãng lai: Tài khoản vãng lai là tài khoản phát sinh hàng
ngày các khoản gửi tiền, rút và chuyển tiền của khách hàng. Trong tài khoản
séc, chủ tài khoản luôn luôn phải có số dư, nhưng trong tài khoản vãng lai,
khách hàng có thể có số dư, có thể thiếu (dư nợ), nếu dư có ngân hàng phải trả
lãi, nếu dư nợ khách hàng phải trả lãi cho ngân hàng nhưng không được vượt
hạn mức dư nợ ngân hàng cho phép. Tài khoản vãng lai là một thủ tục vừa gửi
tiền, vừa vay tiền có lợi cho cả hai bên: người mở tài khoản và ngân hàng.
Người gửi tiền chắc chắn được vay tiền với mức dư nợ cao nhất, còn ngân
hàng càng thu hút được nhiều tài khoản vãng lai càng có thêm nhiều vốn tiền
gửi để kinh doanh.
- Tài khoản gửi tiết kiệm: Phần lớn là tiền gửi tiết kiệm của các cá
nhân, tuy số tiền gửi của mỗi người không nhiều, nhưng số người gửi đông
nên tiền gửi tiết kiệm của nhiều triệu người trong nước thực sự là một nguồn
vốn kinh doanh quan trọng của ngân hàng, đồng thời việc thu hút nhiều nguồn
vốn này còn có tác dụng kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả thị trường. Số lượng
tiền gửi tiết kiệm thu hút được nhiều hay ít, trước hết phụ thuộc vào lãi suất danh
nghĩa của nó có cao hơn lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát hay không.
1.1.3.2 Cho vay
8
* Thứ nhất: Cho vay tiền
Là loại cho vay mang hình thức một hợp đồng vay tiền. Trong hợp
đồng nêu rõ: ngân hàng cam kết giao cho người vay một khoản tiền trong một
thời gian nhất định và người vay cam kết trả cho ngân hàng khoản tiền tương
ứng với số tiền đã vay cùng với số tiền lãi tỷ lệ với số tiền gốc và thời hạn
vay.
* Thứ hai: tín dụng dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền
Tín dụng dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền có các hình thức chủ
yếu: chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá, bao thanh toán Factoring...
- Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá: Chiết khấu thương phiếu
là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn trong đó khách hàng chuyển nhượng quyền sở
hữu thương phiếu chưa đến hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng
mệnh giá của thương phiếu trừ đi lợi tức và hoa hồng chiết khấu.
- Bao thanh toán (Factoring): Bao thanh toán là một hợp đồng mà trong
đó một tổ chức tín dụng chuyên nghiệp được gọi là “Factor” mua đứt các trái
quyền của người cung cấp (người bán) đối với khách hàng của họ (người
mua).
Thứ ba: cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là hình thức tài trợ vốn bằng cách ngân hàng giao
động sản, bất động sản, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, dây chuyển sản
xuất, khách sạn, kho tàng... cho khách hàng (người thuê) sử dụng. Nói cách
khác, cho thuê tài chính là hình thức tín dụng trung, dài hạn thông qua vịêc
cho thuê máy móc, thiết bị bất động sản và động sản.
Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ sinh lời quan trọng, chủ yếu của ngân
hàng thương mại, không có nghiệp vụ tín dụng thì cũng không còn ngân hàng
thương mại, nên nghiệp vụ tín dụng luôn luôn tồn tại và phát triển cùng ngân
hàng thương mại. Kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu vốn cho sản xuất,
9
kinh doanh, cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày càng nhiều, vì thế vai trò
của tín dụng ngân hàng cũng ngày càng quan trọng và cần thiết hơn. Nhưng
tín dụng là lĩnh vực kinh doanh có nhiều rủi ro, đã có rất nhiều ngân hàng
phải phá sản vì cho vay mà không thu được nợ hoặc có tỷ lệ nợ quá hạn lớn.
Vì vậy, bên cạnh việc phát triển nghiệp vụ tín dụng, các ngân hàng thương
mại đều thực hiện đa dạng hoá nghiệp vụ, đa dạng hoá các khoản mục tài sản
có để phân tán bớt rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
1.1.3.3 Bảo lãnh
Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng là sự cam kết của ngân hàng nhận bảo
lãnh, chịu trách nhiệm trả tiền thay cho người xin bản lãnh nếu người đó
không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ đã thoả thuận với người đã thụ
hưởng bảo lãnh đã được qui định cụ thể trong thư bảo lãnh.
1.1.3.4 Nghiệp vụ thanh toán trong nước và quốc tế
a. Thanh toán chuyển tiền trong nước
Thanh toán chuyển tiền là một dịch vụ, mà ngân hàng thực hiện lệnh
của khách hàng thanh toán chuyển tiền từ ngân hàng đó đi nơi khác cho một
người nhất định, hay ngân hàng trích một khoản tiền từ tài khoản của khách
hàng theo lệnh của nó, để ghi có cho tài khoản của người khác và ngân hàng
thu được một khoản phí nhất định.
Các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt gồm có: Ngân phiếu thanh
toán, Séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, Thẻ thanh toán...
b. Thanh toán - chuyển tiền quốc tế
Thanh toán quốc tế là việc chi trả các nghĩa vụ và yêu cầu về tiền tệ
phát sinh từ các quan hệ kinh tế, tài chính giữa các tổ chức kinh tế quốc tế,
giữa các hãng, giữa các cá nhân của các nước khác nhau để kết thúc một chu
10
trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, bằng các hình thức chuyển
tiền hay bù trừ trên các tài khoản tại các ngân hàng.
Các công cụ thanh toán quốc tế chủ yếu gồm có: Hối phiếu, Lệnh
phiếu, Séc
c. Thu hộ tiền thuế, tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại
Trên cơ sở các uỷ nhiệm chi, hoá đơn, hợp đồng nhờ thu hộ của các cơ
quan thuế điện lực, bưu điện, nước... ngân hàng sẽ thực hiện ghi nợ tài khoản
của khách và ghi có tài khoản tiền gửi cho các cơ quan trên.
d. Cung ứng các phương tiện thanh toán hiện đại như: Phát hành và
thanh toán các loại thẻ, thực hiện rút tiền tự động qua máy ATM, Thẻ séc...
Khách hàng cá nhân có tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản vãng lai ở
ngân hàng đảm bảo có số dư khi thanh toán, nếu muốn sử dụng thẻ ngân hàng
sẽ cấp cho khách hàng một thẻ séc. Tấm thẻ ghi rõ số tiền tối đa của thẻ, tên
của ngân hàng phát hành thẻ, mã số của chi nhánh phát hành, tên của khách
hàng sử dụng, số thẻ và ngày hết hạn của thẻ. Thẻ được sử dụng theo hai nội
dung: rút tiền mặt tại các ngân hàng và “đảm bảo” cho việc thanh toán hàng
hoá và dịch vụ.
Do khách hàng không phải ký quỹ hoặc không nhất thiết phải có đủ số
dư trên tài khoản so với số tiền ghi trên thẻ, nên trong trường hợp số tiền ghi
trên séc lớn hơn số dư trên tài khoản của khách, ngân hàng vẫn phải đảm bảo
thanh toán cho người thụ hưởng, phần vượt quá số dư ngân hàng sẽ làm vịêc
và xử lý với chủ tài khoản sau. Vì vậy, khi cấp phát thẻ séc, ngân hàng phải
chọn lọc đối tượng để được cấp thẻ séc.
Thẻ séc thường được kết hợp với thẻ rút tiền tự động (ATM) và thẻ
thanh toán thành một thẻ đa năng.
11
- Thẻ thanh toán (Debit Card): Thẻ thanh toán hay còn gọi là “thẻ nợ”
là một loại thẻ do ngân hàng phát hành. Thẻ dùng để thanh toán hàng hoá và
dịch vụ.
- Thẻ tín dụng (Credit Card): Thẻ tín dụng hay gọi là “thẻ có” cũng là
một loại thẻ do ngân hàng phát hành. Khi phát hành thẻ khách hàng không
cần có số dư trên tài khoản tiền gửi mà được cấp một hạn mức tín dụng theo
tài khoản thẻ tín dụng của họ. Thẻ tín dụng dùng để mua hàng hoá và các dịch
vụ trả tiền sau. Việc thanh toán hàng hoá, dịch vụ được thực hiện tại những
nơi có máy đọc thẻ và tại các điểm bán lẻ có các ký hiệu của loại thẻ tín dụng
mà chúng chấp nhận.
- Máy rút tiền tự động ATM: Các ngân hàng, các chi nhánh, các điểm
bán hàng được đặt những máy rút tiền tự động, những máy này đã được nối
mạng với trung tâm thanh toán. Khách hàng có thể dùng thẻ rút tiền (Thẻ từ
hoặc thẻ thông minh) do ngân hàng phát hành để rút tiền mặt ở các máy trên,
mà không phải trực tiếp đến ngân hàng hoặc chi nhánh.
Ngoài các nghiệp vụ cơ bản truyền thống nêu trên, các Ngân hàng
thương mại hiện đạ còn cung cấp doanh mục rất đa dạng các sản phẩm khác
như: Nghiệp vụ đầu tư tài chính; Nghiệp vụ ngân quỹ; Dịch vụ ngân hàng qua
điện thoại (Telephone Banking); Dịch vụ ngân hàng sử dụng máy tính cá
nhân (PC-Based Banking);Dịch vụ ngân hàng qua mạng Internet (Internet
Banking); Nghiệp vụ quản lý và tín thác; Dịch vụ tư vấn….
1.2. Nghiệp vụ kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mại.
1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ thanh toán
Thẻ đã được đưa vào sử dụng rộng rãi trên thế giới. Trong phạm vi
rộng, thẻ nói chung bao gồm tất cả các loại: thẻ séc, thẻ rút tiền mặt, thẻ ghi
nợ, thẻ tín dụng… Thẻ thanh toán là một trong những thành tựu của ngành
12
công nghiệp ngân hàng. Đó là cuộc cách mạng trong lĩnh vực tài chính cá
nhân và sẽ không có sự bùng nổ trong bán lẻ vào những năm 1970 và 1980
nếu không có sự ra đời của thẻ. Sự phát triển của thẻ là thành quả của sự đổi
mới và khả năng marketing của các chuyên gia ngân hàng thế giới.
Tuy nhiên, ngân hàng không phải là người đầu tiên phát hành thẻ. Tại
Mỹ, các thẻ bách hoá, thẻ du lịch và giải trí được phát hành trước khi bước
vào ngành công nghiệp ngân hàng. Các ngân hàng tham gia vào lĩnh vực thẻ,
nó cho phép các ngân hàng đưa ra được các dịch vụ mới cho các khách hàng
hiện có và là một phương tiện tối ưu để hấp dẫn các khách hàng mới- các cá
nhân cũng như những doanh nghiệp bán lẻ. Mặc dù không phải là một yếu tố
quyết định, có lẽ nhiều ngân hàng đã tham gia vào lĩnh vực này nhằm đuổi
kịp những phát triển mà sự cạnh tranh đòi hỏi. Dĩ nhiên là các ngân hàng
cũng được khuyến khích áp dụng các dịch vụ thẻ do khả năng gia tăng lợi
nhuận của chính ngân hàng.
Thẻ xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1914 khi tổng công ty xăng dầu
California (ngày nay là công ty Mobie) cấp thẻ cho nhân viên và một số
khách hàng của mình. Thẻ chỉ nhằm khuyến khích bán sản phẩm của công ty
chứ không kèm theo việc gia hạn tín dụng. Sau đó, các hệ thống cửa hàng bán
lẻ tiếp tục phát triển hình thức tài trợ khách hàng thông qua việc phát hành
thẻ, theo hình thức tiêu trước trả tiền sau, cho các khách hàng phù hợp với
những tiêu chuẩn thẩm định của họ để khuyến khích tiêu dùng, tăng doanh
thu. Thực tế thì hình thức này đã đem lại những hiệu quả nhất định.
Tuy nhiên, việc phát hành thẻ (hay các phiếu bán hàng) có nhiều hạn
chế với các cửa hàng: khả năng tài trợ có hạn, chi phí quản lý cao ảnh hưởng
đến lợi nhuận, thẻ của mỗi hệ thống chỉ sử dụng được trong hệ thống đó nên
tính tiện lợi của thẻ không cao, nhiều đại lý nhỏ không đủ điều kiện và khả
năng cung cấp tín dụng cho các khách hàng của họ. Nhu cầu có một loại thẻ
13
chung để có thể sử dụng thanh toán tại các điểm bán hàng trở nên cấp thiết và
chính nó đã tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính vào cuộc.
Năm 1946, dạng thẻ đầu tiên của thẻ ngân hàng là Charge-It của ngân
hàng John Biggins xuất hiện tại Mỹ, cho phép các khách hàng thực hiện các
giao dịch nội địa bằng các phiếu có giá trị do ngân hàng phát hành. Các đại lý
nộp các phiếu giao dịch cho ngân hàng Biggins, ngân hàng sẽ thanh toán các
giao dịch đó cho các đại lý và thu lại tiền từ các khách hàng.
Những năm sau đó, ngày càng có nhiều tổ chức tài chính tham gia vào
thị trường thẻ. Thẻ Charge-It đã mở đường cho sự ra đời của thẻ vào năm
1951 do ngân hàng Franklin National, New York phát hành. Tại đây, khách
hàng xin cấp hạn mức tín dụng và được thẩm định khả năng thanh toán, tình
hình tài chính thông qua hoạt động tín dụng trước đó của họ với ngân hàng.
Những khách hàng đủ tiêu chuẩn sẽ được cấp thẻ để thực hiện giao dịch tại
các đại lý chấp nhận thẻ. Các cơ sở này khi nhận được giao dịch sẽ liên hệ với
ngân hàng, nếu được phép chuẩn chi họ sẽ thực hiện giao dịch và đòi tiền sau
đối với ngân hàng. Các chủ thẻ phải trả toàn bộ dư nợ vào cuối tháng.
Năm 1955, hàng loạt thẻ mới như Trip Charge, Golden Key, Dinner
Club, Gourmet Club rồi đến Carte Blanche và American Express (1958), JCB
(1961) ra đời. Năm 1960, ngân hàng Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ
ngân hàng của riêng mình, the Bank Americard, và đã đạt được nhiều thành
công. Với những lợi ích của hệ thống thanh toán này, ngày càng có nhiều tổ
chức tín dụng tham gia thanh toán. Nhiều tổ chức phát hành thẻ khác bắt đầu
liên kết để cạnh tranh với Bank of America. Năm 1966, 14 ngân hàng Mỹ liên
kết thành tổ chức Interbank (Interbank Card Association-ICA), một tổ chức
mới có khả năng trao đổi thông tin các giao dịch thẻ tín dụng. Năm 1967, việc
hợp tác của bốn ngân hàng ở California đổi tên từ California Bankcard
Association thành Western States Bank Card Association (WSBA) và mở
14
rộng mạng lưới thành viên với các tổ chức tài chính khác ở phía tây nước Mỹ.
Sản phẩm thẻ của tổ chức này là Master Charge. Tổ chức này cũng cấp phép
cho Interbank sử dụng tên và thương hiệu Master Charge. Vào cuối thập niên
1960, nhiều tổ chức tài chính đã trở thành thành viên của Master Charge và đủ
sức cạnh tranh với Bank Americard.
Tuy nhiên, để hình thức thanh toán thẻ có thể thu hút được khách hàng
cần phải có một mạng lưới thanh toán lớn, không chỉ trong phạm vi một địa
phương, một quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu. Đứng trước đòi hỏi đó,
InterBank (Master Charge) và Bank of American (Bank Americard) đã xây
dựng một hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn trong xử lý thanh toán thẻ toàn
cầu. Năm 1977, Bank Americard trở thành Visa USA và sau đó trở thành tổ
chức thẻ quốc tế Visa. Năm 1979, Master Charge cũng trở thành một tổ chức
thẻ quốc tế lớn khác là Master Card. Bốn tổ chức thẻ quốc tế lớn nhất hiện
nay là Visa, Master Card, Amex, JCB.
-> Do thẻ ngày càng được sử dụng rộng rãi, các công ty và các ngân hàng liên
kết với nhau để khai thác lĩnh vực thu lợi nhuận này. Thẻ dần dần được xem
như một công cụ văn minh, thuận lợi trong các cuộc giao dịch mua bán. Các
loại thẻ Master Card, Visa, Amex, JCB được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và
cùng phân chia những thị trường rộng lớn.
Chính sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại và những ứng
dụng của cuộc cách mạng thông tin trong lĩnh vực ngân hàng đã góp phần
thúc đẩy sự ra đời của thẻ với nhiều tên gọi khác nhau mà hiện nay đang được
sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Với lợi thế về vốn, chuyên
môn trong nghiệp vụ thẩm định, cơ sở hạ tầng sẵn có phục vụ cho hoạt động
phát hành và thanh toán, thẻ do ngân hàng phát hành thực sự được đông đảo
công chúng quan tâm và ưa thích. Trong khoảng thời gian 25 năm trở lại đây,
15
ngành công nghiệp thẻ thanh toán, đặc biệt là thẻ ngân hàng mới thực sự được
phát triển.
1.2.2. Khái niệm và đặc điểm của thẻ thanh toán.
1.2.2.1. Khái niệm
Thẻ là một tấm nhựa chứa băng từ hoặc chip điện tử để lưu giữ các
thông tin, số liệu cần thiết đã được mã hoá. Nói một cách ngắn gọn, thẻ là một
phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng hoặc tổ chức tài
chính phát hành cấp cho khách hàng và được sử dụng để rút tiền mặt tại các
ngân hàng đại lí, các máy rút tiền tự động hoặc thanh toán tiền hàng hoá, dịch
vụ tại những cơ sở chấp nhận thẻ trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi hoặc
hạn mức tín dụng được ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ.
Đối với ngân hàng, việc phát hành và thanh toán thẻ là hoạt động bao
gồm các nghiệp vụ cho vay, huy động vốn (đặt cọc hoặc có tiền trong tài
khoản), thanh toán trong nước và ngoài nước.
1.2.2.2. Đặc điểm cơ bản của thẻ thanh toán
Hầu hết các loại thẻ thanh toán quốc tế làm bằng nhựa cấu tạo với 3 lớp
được ép với kĩ thuật cao. Thẻ có kích thước: 84mm x 54mm x 0,76mm có góc
tròn gồm 2 mặt có in đầy đủ các yếu tố như: nhãn hiệu thương mại của thẻ,
tên và logo của nhà phát hành thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ và ngày hiệu lực… và
một số yếu tố khác tuỳ theo quy định của các tổ chức thẻ quốc tế hoặc hiệp
hội phát hành thẻ.
a. Mặt trước của thẻ gồm:
- Tên và biểu tượng của ngân hàng phát hành thẻ, của tổ chức thẻ: Mỗi loại
thẻ có một biểu tượng riêng, mang tính đặc trưng của tổ chức phát hành thẻ.
Đây được xem như một yếu tố an ninh, chống lại sự giả mạo.
16
- Số thẻ (được in nổi): số này dành riêng cho mỗi chủ thẻ, được dập nổi
trên thẻ và được in lại trên hoá đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ. Tuỳ theo
từng loại thẻ mà có chữ số, cách cấu trúc theo nhóm khác nhau.
- Họ tên chủ thẻ: in chữ nổi, là tên của cá nhân nếu là thẻ cá nhân, tên của
người được uỷ quyền nếu là thẻ công ty.
Ngày hiệu lực của thẻ (được in nổi): là thời hạn mà thẻ được phép lưu
hành. Tuỳ theo từng loại thẻ mà có thể ghi ngày hiệu lực cuối cùng của thẻ
hoặc ngày đầu tiên và ngày cuối cùng được sử dụng thẻ.
- Ký tự an ninh trên thẻ, số mật mã của đợt phát hành: mỗi loại thẻ luôn có
ký hiệu an ninh kèm theo, in phía sau của ngày hiệu lực nhằm tăng tính an
toàn của thẻ, đề phòng giả mạo.
Ngoài ra còn có thể có các yếu tố khác như: chữ kí, hình của chủ thẻ,
hình nổi không gian 3 chiều (hoặc chip đối với thẻ điện tử).
b. Mặt sau của thẻ gồm:
- Dải băng từ chứa các thông tin như: số thẻ, ngày hết hạn, tên chủ thẻ,
ngân hàng phát hành, các yếu tố kiểm tra an toàn khác.
- Dải băng chữ kí của chủ thẻ: cơ sở chấp nhận thẻ đối chiếu chữ ký này
với chữ ký khi thực hiện thanh toán thẻ.
1.2.3. Phân loại thẻ.
1.2.3.1. Theo công nghệ sản xuất:
a. Thẻ khắc chữ nổi: Các thông tin cần thiết được khắc nổi lên bề mặt
của thẻ. Tấm thẻ đầu tiên đã được sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay
người ta không sử dụng thẻ loại này nữa vì kỹ thuật sản xuất quá thô sơ, dễ bị
làm giả.
17
b. Thẻ băng từ: Được sản xuất dựa trên kĩ thuật từ tính với một băng
từ chứa hai rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Thẻ này được sử dụng phổ biến
trong vòng 20 năm nay. Tuy nhiên, do thẻ mang tính thông tin cố định, khu
vực chứa thông tin hẹp không áp dụng được các kĩ thuật mã bảo đảm an toàn,
thông tin trong thẻ không tự mã hoá được, người ta có thể đọc thẻ dễ dàng
bằng thiết bị đọc gắn với máy vi tính nên có thể bị lợi dụng để lấy cắp tiền.
c. Thẻ điện tử có bộ vi xử lí chip (thẻ thông minh): Đây là thế hệ mới
nhất của thẻ, dựa trên kĩ thuật vi xử lí tin học. Thẻ được gắn một chip điện tử
có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo. Thẻ thông minh có nhiều nhóm
với dung lượng nhớ của chip điện tử khác nhau, có tính an toàn và bảo mật rất
cao. Nhưng do giá thành cao, hệ thống máy móc chấp nhận thẻ đắt nên việc
sử dụng thẻ này còn chưa phổ biến như thẻ từ. Việc phát hành và chấp nhận
thẻ thông minh mới chỉ phổ biến ở các nước phát triển dù các tổ chức thẻ vẫn
đang khuyến khích các ngân hàng thành viên đầu tư để phát hành và chấp
nhận loại thẻ này nhằm giảm tỷ lệ rủi ro do giả mạo thẻ.
1.2.3.2. Theo chủ thể phát hành:
a. Thẻ do ngân hàng phát hành: Là thẻ thanh toán do các NHTM
phát hành để giúp khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân
hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng. Loại thẻ này được
sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Nó không chỉ lưu hành trong một quốc gia
mà còn có thể lưu hành trên toàn cầu như thẻ Visa, Master,..
b. Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: Là các loại thẻ du
lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành như Diners Club,
Amex,.. và cũng lưu hành trên toàn cầu.
1.2.3.3. Theo tính chất thanh toán của thẻ:
a. Thẻ tín dụng: Là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó
người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng tuần hoàn để mua
sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận loại thẻ này. Thẻ tín dụng
18
thường do ngân hàng phát hành và thường được quy định một hạn mức tín
dụng nhất định trên cơ sở khả năng tài chính, tài sản thế chấp của chủ thẻ.
Chủ thẻ chỉ được phép chi tiêu trong phạm vi hạn mức đã cho và phải thanh
toán cho ngân hàng phát hành thẻ theo kỳ hàng tháng, lãi suất tín dụng tuỳ
thuộc vào quy định của mỗi ngân hàng phát hành. Thẻ tín dụng được coi là
một công cụ tín dụng trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng.
b. Thẻ ghi nợ: Có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi
của chủ thẻ. Chủ thẻ cũng có thể được ngân hàng cấp cho một mức thấu chi
theo sự thoả thuận giữa hai bên. Những giao dịch thực hiện bằng thẻ này sẽ
được khấu trừ vào tài khoản của chủ thẻ và ghi có vào tài khoản của cơ sở
chấp nhận thẻ (CSCNT). Thẻ ghi nợ có hai loại cơ bản là thẻ on-line và thẻ
off-line. Thẻ on-line là thẻ ghi nợ mà những thông tin về giao dịch được kết
nối trực tiếp từ thiết bị điện tử đặt tại CSCNT hoặc điểm rút tiền mặt tới ngân
hàng phát hành. Giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài
khoản chủ thẻ. Thẻ off-line là thẻ mà thông tin giao dịch được lưu tại máy
điện tử của CSCNT và được chuyển đến ngân hàng phát hành muộn hơn
(không có kết nối trực tiếp với điểm thanh toán). Giá trị những giao dịch sẽ
được khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó vài ngày.
c. Thẻ rút tiền mặt: Về bản chất, đây cũng là một loại của thẻ ghi nợ
nhưng thẻ này chỉ được dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng, các máy rút
tiền tự động (ATM) và sử dụng các dịch vụ khác do máy ATM cung cấp như
kiểm tra số dư, chuyển khoản, chi trả các khoản vay,... Với chức năng chuyên
biệt chỉ dùng để rút tiền, số tiền rút ra mỗi lần sẽ được trừ dần vào số tiền kí
quĩ. Thẻ rút tiền mặt có hai loại. Một loại chỉ được dùng để rút tiền mặt tại
những máy rút tiền tự động của ngân hàng phát hành, còn loại kia ngoài địa
điểm trên còn được sử dụng để rút tiền ở các ngân hàng cùng tham gia tổ hợp
thanh toán với ngân hàng phát hành thẻ.
19
1.2.3.4. Theo hạn mức tín dụng
a. Thẻ vàng: Là loại thẻ được phát hành cho những đối tượng có thu
nhập cao, có uy tín, khả năng tài chính lành mạnh, nhu cầu chi tiêu lớn. Loại
thẻ này nhìn chung có hạn mức tín dụng cao hơn thẻ thường.
b. Thẻ thường (thẻ chuẩn): Là loại thẻ căn bản nhất, mang tính chất
phổ biến, đại chúng, được hơn 142 triệu người trên thế giới sử dụng mỗi
ngày. Thẻ có hạn mức tín dụng thấp hơn thẻ vàng.
1.2.3.5. Theo phạm vi sử dụng của thẻ
a. Thẻ nội địa: Chỉ được sử dụng trong phạm vi quốc gia mà nó được
phát hành, do đó đồng tiền được sử dụng và thanh toán là đồng bản tệ. Loại
thẻ này chỉ do một tổ chức hoặc một ngân hàng điều hành và có hai loại. Một
loại do tổ chức tài chính hoặc ngân hàng trong nước phát hành và chỉ được sử
dụng trong nội bộ hệ thống tổ chức đó. Loại thứ hai là thẻ mang thương hiệu
của tổ chức thẻ quốc tế nhưng được phát hành để sử dụng trong nước.
b. Thẻ quốc tế: Là loại thẻ được sử dụng trên phạm vi quốc tế, dùng
ngoại tệ mạnh làm đồng tiền thanh toán. Thẻ quốc tế được hỗ trợ và quản lý
trên toàn thế giới bởi những tổ chức tài chính lớn như Visa, Master hoặc công
ty điều hành hoạt động thống nhất và đồng bộ. Thẻ quốc tế được ưa chuộng
bởi tính an toàn, tiện lợi của nó.
1.2.4. Các chủ thể tham gia vào nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ.
* Tổ chức thẻ quốc tế là tổ chức đứng ra liên kết với các thành viên,
đặt ra các qui định bắt buộc đối với các thành viên phải áp dụng và tuân theo
thống nhất thành một hệ thống toàn cầu. Bất cứ ngân hàng nào hiện nay hoạt
động trong lĩnh vực thẻ thanh toán quốc tế đều phải gia nhập vào ít nhất là
một tổ chức thẻ quốc tế. Tổ chức thẻ được tổ chức dưới hai hình thức: hiệp
hội và ngân hàng (hay công ty).
20
Hình thức hiệp hội: do một nhóm ngân hàng liên kết với nhau thành lập
ra. Hiệp hội soạn thảo các quy định riêng về cách tổ chức, cấp phép, bù trừ,
thanh toán áp dụng cho tất cả các thành viên của hiệp hội, đồng thời tổ chức
về vấn đề cạnh tranh trên thị trường và vấn đề pháp lý. Hiệp hội không trực
tiếp phát hành thẻ mà giao việc này cho các ngân hàng thành viên và thu phí
thường niên. Điển hình của loại hình này là các tổ chức Visa và Master.
Hình thức ngân hàng (hay công ty): do một hoặc hai ngân hàng hay
công ty đứng ra tổ chức và độc quyền phát hành loại thẻ của họ. Họ trực tiếp
phát hành thẻ và đứng ra quản lý chủ thẻ. Việc mở rộng thị trường được thực
hiện bằng cách lập ra các chi nhánh hay văn phòng đại diện phát hành thẻ, do
vậy phạm vi hoạt động thường nhỏ hơn so với hình thức hiệp hội. JCB và
American Express là điển hình của hình thức tổ chức này.
* Ngân hàng phát hành thẻ: là thành viên chính thức của tổ chức thẻ
và được phép phát hành thẻ. Ngân hàng này có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý
hồ sơ xin cấp thẻ, thiết kế các tiêu chuẩn kĩ thuật, mật mã, kí hiệu,.. cho các
loại thẻ để bảo đảm an toàn trong quá trình sử dụng thẻ, sau đó phát hành thẻ
cho khách hàng, mở và quản lí tài khoản thẻ, chịu trách nhiệm việc thanh toán
số tiền mà khách hàng trả cho người bán bằng thẻ.
* Ngân hàng thanh toán thẻ (NHTTT): là thành viên chính thức hoặc
thành viên liên kết của tổ chức thẻ và/ hoặc các ngân hàng được ngân hàng
phát hành thẻ uỷ quyền thực hiện nghiệp vụ thanh toán thẻ.
* Ngân hàng đại lí thanh toán thẻ: là ngân hàng được NHTTT uỷ
quyền thực hiện một số dịch vụ thanh toán thẻ thông qua hợp đồng ngân hàng
đại lí. Ngân hàng đại lí có nhiệm vụ trả tiền cho cơ sở chấp nhận thẻ khi nhận
được biên lai thanh toán, trả tiền mặt theo yêu cầu của chủ sở hữu thẻ, nhận
chuyển tiếp số tiền thanh toán bằng thẻ đến bên bán. Ngân hàng đại lí là ngân
hàng trực tiếp kí hợp đồng với các cơ sở chấp nhận thẻ để tiếp nhận và xử lí