Giải pháp ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tính dụng tại ngân hàng công thương thanh hoá

  • 63 trang
  • file .docx
LỜI NÓI ĐẦU
Thị trường tài chính tín dụng Việt Nam hiện nay đang chứng kiến cuộc
đua tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại (NHTM) quốc doanh,
NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại
Việt Nam. Mức độ cạnh tranh này sẽ ngày càng khốc liệt hơn trong thời gian
tới khi nhà nước thực hiện mở rộng hội nhập hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
ngân hàng. Với những khó khăn thách thức và bài học kinh nghiệm đúc rút từ
17 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển, ngân hàng công thương Việt
Nam (NHCT) đã xây dựng định hướng đến năm 2010 là “xây dựng NHCT là
một NHTM chủ lực và hiện đại của nhà nước, hoạt động kinh doanh có hiệu
quả, tài chính lành mạnh, có kỹ thuật cao, chiếm thị phần lớn ở Việt Nam”.
Trong hàng loạt biện pháp chỉ đạo thực hiện định hướng chiến lược trên
việc tập trung nâng cao chất lượng tín dụng, mở rộng quy mô tín dụng là một
trong những vấn đề quan trọng hàng đầu. Trên thực tế hoạt động kinh doanh
tín dụng hiện nay đang có nhiều vấn đề bức xúc, nổi cộm cần được xem xét
đánh giá đúng mức như : cho vay không thu hồi đựơc nợ, nợ khó đòi, nợ quá
hạn… vẫn đang tiếp tục xảy ra. Đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến rủi ro tín
dụng của các ngân hàng thương mại, làm cho chất lượng tín dụng giảm, gây
ảnh hưởng xấu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên rủi ro
tín dụng là không thể tránh khỏi, người ta chẳng có cách gì để loại trừ hoàn
toàn rủi ro tín dụng mà chỉ sử dụng những phương pháp nhằm giảm thiểu rủi
ro tín dụng xuống mức có thể chấp nhận được.
Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, việc giảm thiểu rủi ro
tín dụng là hết sức cần thiết, nó giúp cho hoạt động tín dụng nói riêng và hoạt
động của ngân hàng nói chung đạt hiệu quả cao hơn. Điều này góp phần đẩy
nhanh tốc độ chu chuyển vốn cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Chính vì vậy em chọn đề tài: “Giải pháp ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tính
dụng tại ngân hàng công thương Thanh Hoá” làm chuyên đề tốt nghiệp.
Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng công thương Thanh Hoá.
Chương 3: Các giải pháp nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại
ngân hàng công thương Thanh Hoá.
Tuy nhiên với thời gian và trình độ có hạn kinh nghiệm thực tiễn chưa
nhiều nên bản chuyên đề tốt nghiệp này không tránh khỏi thiếu sót. Mong có
đựơc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn đọc.
Hoàn thành chuyên đề này em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của
các cán bộ ngân hàng công thương Thanh Hóa đặc biệt là các cán bộ trong
phòng kinh doanh. Em xin được bày tỏ sự biết ơn với thầy giáo PGS.TS Lê
Đức Lữ là người trực tiếp hướng dẫn em trong việc nghiên cứu và hoàn thành
đề tài này.
CHƯƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. Các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại.
1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại.
NHTM xuất hiện trước khi có chủ nghĩa tư bản, nghề ngân hàng bắt
đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng. Người làm nghề
đổi tiền thường là người giàu, trước đó có thể đã làm nghề cho vay nặng lãi.
Họ thường có két tốt để cất giữ để đảm bảo an toàn. Do yêu cầu cất trữ tiền
của các lãnh chúa, các nhà buôn… nhiều người làm nghề đổi tiền thực hiện
luôn cả nghiệp vụ cất trữ hộ. Trong điều kiện lưu thông tiền kim loại (bạc
hoặc vàng) các chủ cửa hàng vàng, bạc vừa đổi tiền, thanh toán hộ, vừa đúc
tiền và cho vay nặng lãi. Họ là những người làm nghề kinh doanh tiền tệ hay
còn gọi là nhà buôn tiền. Do tính chất vô danh của tiền nhà buôn tiền có thể
sử dụng tạm thời một phần tiền gửi của khách hàng để cho vay. Hoạt động
này làm thay đổi cơ bản hoạt động của nhà buôn tiền – kẻ cho vay nặng lãi –
thành nhà buôn tiền – ngân hàng. Hoạt động cho vay dựa trên tiền gửi của
khách, tạo nên lợi nhuận lớn nên các ngân hàng đều tìm cách mở rộng thu hút
tiền gửi để cho vay bằng cách trả lãi cho người gửi tiền. Bằng cách cung cấp
các tiện ích khác nhau mà ngân hàng huy động được ngày càng nhiều tiền gửi
là điều kiện để mở rộng cho vay và hạ lãi xuất cho vay.
Vậy ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ,
thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ
chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Qua khái niện trên về ngân hàng ta thấy ngân hàng có ba chức năng chính:
- Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu
là chuyển tiết kiệm của các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu thành
đầu tư của các cá nhân và tổ chức tạm thời thậm hụt chi tiêu.
- Ngân hàng tạo ra phương tiện thanh toán: Khi ngân hàng cho vay số
dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có
thể dùng để mua hàng hoá, dịch vụ. Do đó bằng việc cho vay, các ngân hàng
đã tạo ra phương tiện thanh toán. Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo ra
phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng
này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay.
- Ngân hàng là trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các Quốc
gia. Thay mặt khách hàng ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch
vụ.
1.1.2. Các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại.
Một là: Huy động tiền gửi của các tổ chức kinh tế và cá nhân.
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng dã tìm
mọi cách để huy động được tiền. Một trong những nguồn quan trọng là các
khoản tiền gửi thanh toán và tiết kiệm của khách hàng. Ngân hàng mở dịch vụ
nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn.
Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành được các khoản tiền gửi, các ngân
hàng đã trả lãi cho tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn
sàng hi sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm
thời để kinh doanh.
NHTM hoạt động bằng cách ”đi vay để cho vay” khoản chênh lệch lãi
xuất, sau khi đã trừ đi những chi phí khác là lợi nhuận của ngân hàng. NHTM
có thể huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội bằng cách nhận tiền gửi của các
doanh nghiệp và cá nhân với các lãi xuất khác nhau như tiền gửi có kỳ hạn,
tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm.
Ngoài ra, khi cần thêm vốn ngân hàng có thể huy động bằng cách phát
hành các chứng chỉ tiền gửi hay vay vốn của ngân hàng trung ương hoặc các
tổ chức tín dụng khác.
Hai là: Nghiệp vụ đầu tư tín dụng.
Nghiệp vụ đầu tư tín dụng cho khách hàng là nghiệp vụ kinh doanh
mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Vốn mà NHTM sử dụng để cho
vay xuất phát từ nguồn vốn mà ngân hàng huy động được từ các khoản tiền
nhàn rỗi trong nền kinh tế. Trong việc tạo ra khả năng tín dụng, các NHTM đã
và đang thực hiện các chức năng xã hội của mình làm cho sản phẩm xã hội
tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng và từ đó dẫn đến lợi nhuận nhiều hơn, đời
sống kinh tế của nhân dân được nâng cao. Rõ ràng tín dụng ngân hàng có ý
nghĩa quan trọng đối với toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Nó tạo ra khả
năng tài trợ cho hoạt động công nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp của đất
nước.
Ba là: Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản
mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng. Thanh toán qua ngân hàng
đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không
cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách,
khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền. Các tiện ích của
thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm
chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho
khách hàng. Khi ngân hàng mở chi nhánh, phạm vi thanh toán qua ngân hàng
được mở rộng, càng tạo nhiều tiện ích hơn. Điều này đã khuyến khích khách
hàng gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Cùng với sự
phát triển của công nghệ thông tin, bên cạnh các thể thức thanh toán như: séc,
uỷ nhiệm chi, nhờ thu, đã phát triển các hình thức thanh toán mới bằng điện,
thẻ.
Bốn là: Mua, bán ngoại tệ.
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi
(mua, bán) ngoại tệ: Tức là mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác
và hưởng phí dịch vụ.
Năm là: Bảo quản tài sản hộ và bảo lãnh.
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, các giấy tờ có giá và các tài
sản khác cho khách hàng trong két. Ngân hàng thường giữ hộ những tài sản
tài chính, giấy tờ cầm cố hoặc ngững giấy tờ quan trọng khác của khách với
nguyên tắc an toàn, bí mật thuận tiện.
Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho khách hàng rất lớn và do ngân
hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng nên ngân hàng có uy tín trong bão
lãnh cho khách hàng.
Sáu là: Quản lý ngân quỹ.
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp
và cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với các khách
hàng. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu
ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách dịch vụ quản lý ngân quỹ,
trong đó ngân hàng đồng ý quản lýviệc thu và chi cho một công ty kinh doanh
và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh
lời và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
Bảy là: Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn.
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều
chuyên gia về quản lý tài chính. Vì vậy nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ
ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ uỷ thác
phát triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ
thác đầu tư… Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư
vấn tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về
thành lập, mua bán, sát nhập doanh nghiệp.
Tám là: Cung cấp các dịch vụ đại lý.
Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi
nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng (thường ngân hàng
lớn) cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh
toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong
đồng tài trợ.
Ngoài các nghiệp vụ chủ yếu ở trên các ngân hàng thương mại còn thực
hiện các nghiệp vụ: Tài trợ các hoạt động của chính phủ, cho thuê thiết bị
chung và dài hạn, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm và môi giới đầu tư chứng
khoán.
1.2. Tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.
1.2.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng.
Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ
người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với
một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Theo quan niệm này phạm trù
tín dụng có ba nội dung chủ yếu đó là: tính chuyển nhượng tạm thời một
lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả.
Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người
đi vay thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới
hình thức tiền tệ hoặc hàng hoá. Qúa trình đó được thể hiện qua ba giai đoạn
sau:
- Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay ở giai đoạn này, giá trị vốn
tín dụng được chuyển sang người đi vay, ở đây chỉ có một bên nhận được giá
trị và cũng chỉ một bên nhượng đi giá trị.
- Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất. Người đi vay sau khi
nhận được giá trị vốn tín dụng họ được quyền sử dụng giá trị đó để thoả mãn
nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của mình. Tuy nhiên, người đi vay chỉ được
quyền sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định mà không được quyền
sở hữu về giá trị đó.
Đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng. Sau khi vốn
tín dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì vốn
tín dụng được người đi vay hoàn lại cho người cho vay.
Những hành vi tín dụng có thể được diễn ra trực tiếp giữa người thừa vốn
cần đầu tư và người cần vốn để sử dụng. Nhưng thực tế hai người này khó có
thể phù hợp được với nhau về quy mô, về thời gian hoặc cũng có thể phù hợp
được thì phải tốn kém chi phí tìm kiếm, nên để thoả mãn được nhu cầu của cả
hai người thì cần thiết phải có người thứ ba đứng ra tập trung được tất cả số
vốn của những người tạm thời thừa, cần đầu tư kiếm lãi. Trên cơ sở số vốn
tập trung được phân phối cho những người cần vốn để sử dụng dưới hình thức
cho vay. Người đó không ai khác chính là các tổ chức tín dụng, trong đó chủ
yếu là các NHTM – người môi giới tài chính trên thị trường tài chính. Việc
các NHTM tập trung vốn dưới hình thức huy động và phân phối vốn dưới
hình thức cho vay dược gọi là tín dụng ngân hàng.
Qua khái niệm về tín dụng ngân hàng trên ta thấy vai trò quan trọng của
tín dụng ngân hàng:
- Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của NHTM.
- Tín dụng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế quốc dân. Hoạt
động tín dụng ngân hàng làm nhiệm vụ thông dòng để vốn chảy từ nơi thừa
vốn sang nơi thiếu vốn.
- Tín dụng đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, góp phần đầu tư phát triển kinh
tế.
- Tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, điều hoà
lưu thông tiền tệ, thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất.
- Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển kinh tế ngoại thương.
1.2.2. Các hình thức tín dụng của ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong
phú với nhiều hình thức khác nhau. Để sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu
quả thì phải tiến hành phân loại tín dụng. Mặt khác để đảm bảo an toàn vốn
trong kinh doanh thì việc cấp tín dụng phải gắn liền với đối tượng vay, để tạo
điều kiện cho sự vận động của vốn phù hợp với sự vận động của vật tư hàng
hoá thì phải tiến hành phân loại tín dụng.
a. Căn cứ vào thời hạn tín dụng.
Theo tiêu thức này, người ta chia tín dụng thành ba loại:
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm. Tín
dụng ngắn hạn được dùng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động
của các doanh nghiệp và phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ một năm đến năm
năm. Loại tín dụng này được cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi
mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ.
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử
dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới,
các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô
lớn.
b. Căn cứ vào đối tượng tín dụng.
- Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được sử dụng để hình thành
vốn lưu động của các tổ chức kinh tế, có nghĩa là cho vay bù đắp vốn lưu
động thiếu hụt tạm thời. Tín dụng vốn lưu động bao gồm: cho vay dự trữ hàng
hoá, cho vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình
thức chiết khấu kỳ phiếu.
- Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài
sản cố định, có nghĩa là đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới
kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới.
c. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn.
- Tín dụng sản xuất lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng cấp cho các
nhà doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông
hàng hoá.
- Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng như: Mua sắm nhà cửa, xe cộ, các loại hàng hoá bền chắc
như tủ lạnh điều hoà.
d. Căn cứ vào mức độ đảm bảo
- Tín dụng có đảm bảo: là hình thức cấp tín dụng có tài sản hoặc người
bảo lãnh đứng ra làm đảm bảo cho khoản nợ vay.
- Tín dụng không có đảm bảo: là hình thức tín dụng không có tài sản
hoặc người bảo lãnh đảm bảo cho khoản nợ vay.
e. Xuất xứ của tín dụng.
- Tín dụng gián tiếp: là hình thức cấp tín dụng thông qua một trung
gian tài chính như NHTM hoặc tổ chức tín dụng khác.
- Tín dụng trực tiếp: là hình thức cấp tín dụng giữa người có tiền (hoặc
hàng hoá) với người sử dụng tiền (hoặc hàng hoá) đó, không cần phải thông
qua một trung gian tài chính nào cả.
1.2.3. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của ngân hàng nó mang những
đặc trưng sau đây:
- Tín dụng là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin. ở
đây người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả sau
một thời gian nhất định và do đó có khả năng trả được nợ.
- Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn. Để đảm
bảo thu hồi nợ đúng hạn người cho vay thường xác định rõ thời hạn cho vay.
Việc xác định thời hạn đó dựa vào: Qúa trình luân chuyển vốn của đối tượng
vay. Có nghĩa là thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn
của đối tượng vay thì lúc đó người vay mới có điều kiện để trả nợ. Ngoài ra
thời hạn cho vay còn phụ thuộc vào tính chất vốn của người cho vay (nếu vốn
của người cho vay ổn định thì thời hạn cho vay có thể dài hơn và ngược lại thì
thời hạn cho vay phải ngắn hơn) để đảm bảo khả năng thanh toán của ngân
hàng.
- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên
tắc phải hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là thuộc tính riêng có của tín dụng. Vì vốn
cho vay của ngân hàng là vốn huy động của những người tạm thời thừa nên
sau một thời gian nhất định ngân hàng phải trả lại cho người ký thác. Mặt
khác, ngân hàng cần phải có nguồn để bù đắp chi phí hoạt động như: Khấu
hao tài sản cố định, trả lương cán bộ công nhân viên, chi phí văn phòng
phẩm… nên người vay vốn ngoài việc trả nợ gốc còn phải trả cho ngân hàng
một khoản lãi.
2. Rủi do tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
2.1. Khái quát về rủi ro trong các hoạt động ngân hàng.
2.1.1. Khái niệm về rủi ro.
Trong cuộc sống hàng ngày, trong lao động sản xuất kinh doanh có
những sự cố, những tai hoạ, tai nạn bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra gây thiệt hại về
người và tài sản không thể dự báo trước, những tình huống bất ngờ như vậy
gọi là rủi ro. Khi nói đến rủi ro người ta thường nghĩ đến điều không tốt lành,
hoặc một thiệt hại, tổn thất nào đó về vật chất hữu hình hoặc vô hình bất ngờ
mang đến do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan gây ra.
Trong kinh tế, rủi ro được coi là những tổn thất mà các doanh nghiệp phải
chấp nhận khi kinh doanh. Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ của các ngân
hàng cũng phải chấp nhận điều đó. Nhưng thực tế đã chứng minh không một
ngành kinh doanh nào mà khả năng dẫn đến rủi ro nhiều như kinh doanh tiền
tệ.
2.1.2. Phân loại rủi ro trong các hoạt động ngân hàng.
Chúng ta đều biết rằng hoạt động của ngân hàng là một loại hình hoạt
động rất cần sự thận trọng song vẫn thường gặp phải những rủi ro. Một ngân
hàng thành công trong hoạt động của nó không chỉ cần những cán bộ chuyên
môn giỏi mà còn phải am hiểu nhiều lĩnh vực và đặc biệt phải có phẩm chất
đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm với công việc. Tuy nhiên vẫn phải khẳng
định rằng kinh doanh ngân hàng là lĩmh vực gặp nhiều rủi ro nhất. Những rủi
ro mà một ngân hàng hiện đại phải đối mặt bao gồm:
 Rủi ro lãi xuất.
Qúa trình chuyển hoá tài sản bao gồm việc mua các chứng từ sơ cấp, tức
là sử dụng vốn, và phát hành các chứng khoán sơ cấp, tức là huy động vốn.
Kỳ hạn và độ thanh khoản của các chứng khoán sơ cấp trong danh mục đầu tư
thuộc tài sản có thường không cân xứng với các chứng khoán thứ cấp thuộc
tài sản nợ. Sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ làm cho
ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi xuất.
Ngoài ra, khi lãi xuất thị trường thay đổi ngân hàng còn có thể gặp phải
rủi ro giảm giá trị tài sản. Như chúng ta đã biết, giá trị thị trường của tài sản
có hay tài sản nợ là dựa trên giá trị hiện tại của tiền tệ. Do đó, nếu lãi xuất thị
trường thay đổi thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng thay đổi và do đó giá trị
hiện tại của tài sản có và tài sản nợ cũng thay đổi, vì thế ngân hàng phải đối
mặt với rủi ro giảm giá trị tài sản do lãi xuất thay đổi.
 Rủi ro ngoại hối.
Hiện nay các NHTM có xu hướng hoạt động đa năng, thực hiện cả
nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ do đó khi có sự biến động về tỷ giá hối đoái
hoặc sự thay đổi lãi xuất ngoại tệ thì thường phải chịu ảnh hưởng ở mức độ
nào đó (nếu sự biến động đó nằm ngoài dự kiến của ngân hàng) nhất là với
các NHTM Việt Nam, hiện nay mới đang trong thời kỳ sơ khai, còn nhiều bỡ
ngỡ, kinh nghiệm còn hạn chế do đó vấn đề rủi ro hối đoái đang được các
NHTM quan tâm một cách thích đáng.
 Rủi ro tín dụng.
Là tình trạng người đi vay không hoàn trả lãi hoặc gốc hoặc cả lãi và gốc
một cách đầy đủ, đúng hạn. Đây là loại rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy
ra. Bởi vậy việc đánh giá rủi ro này là trách nhiệm của chính các ngân hàng,
hơn 2/3 số tài sản có của ngân hàng là các món nợ cho vay và đầu tư chứng
khoán, đem lại thu nhập chủ yếu cho các ngân hàng. Thêm vào đó các hoạt
động ngoại bảng tổng kết tài sản như: các giao dịch trên thị trường hối đoái,
các hợp đồng trao đổi, bảo lãnh tín dụng, tín dụng tài trợ đều rất dễ bị rủi ro.
Tuy mang lại phần lớn thu nhập cho ngân hàng nhưng hoạt động tín
dụng cũng chứa đầy rủi ro. Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp nhất, nó
đem đến cho ngân hàng những thiệt hại nặng nề, có khi dẫn đến phá sản. Rủi
ro tín dụng có thể xảy ra với bất kỳ món cho vay nào, bất kỳ khách hàng nào
và bất kỳ lúc nào. Nó nằm ngoài dự đoán của cán bộ tín dụng. Chính vì vậy,
nó đòi hỏi bất kỳ ngân hàng nào cũng phải có những giải pháp hữu hiệu, đồng
bộ cả về môi trường kinh tế, cơ chế nghiệp vụ, công tác tổ chức cán bộ… mới
có thể hạn chế, ngăn ngừa bớt rủi ro tín dụng có thể xảy ra và giảm thiệt hại
tới mức thấp nhất.
 Rủi ro thanh khoản .
Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời có nhu
cầu rút tiền gửi ở ngân hàng ngay lập tức. Trong cơ cấu tài sản có thì tiền mặt
có độ thanh khoản cao nhất, do đó trước hết ngân hàng sử dụng tiền mặt để
đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng. Bởi vì tiền mặt tại quỹ không mang
lại thu nhập lãi xuất, cho nên trong những trường hợp bình thường, ngân hàng
chỉ duy trì một lượng tiền mặt ở mức tối ưu đủ để đáp ứng các nhu cầu rút
tiền thường xuyên của người gửi tiền mà không gây ảnh hưởng đến độ thanh
khoản của ngân hàng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, ngân hàng
có thể phải đối mặt với rủi ro thanh khoản, ví dụ như trong tình huống dân
chúng mất lòng tin vào ngân hàng hoặc nhu cầu rút tiền có tính chất thời vụ
mà ngân hàng không dự tính trước được đòi hỏi ngân hàng phải chi trả tức
thời một khoản tiền lớn hơn bình thường. Trong bối cảnh đó, hầu hết các ngân
hàng đều đang phải đối phó với tình huống tương tự, thì chi phí để huy động
vốn bổ xung tăng lên một cách đáng kể do lượng vốn cung ứng trên thị trường
giảm. Hậu quả là, ngân hàng phải bán bớt một số tài sản có độ thanh khoản
thấp để đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi. Điều này làm ngân hàng gặp
phải rủi ro thanh khoản nghiêm trọng.
 Rủi ro hoạt động ngoại bảng.
Một xu hướng đang phát triển mạnh mẽ trong hoạt động của các ngân
hàng hiện đại là việc mở rộng các hoạt động ngoại bảng. Theo định nghĩa,
hoạt động ngoại bảng là các hoạt động không thuộc bản cân đối tài sản, bởi vì
các hoạt động này không liên quan đến việc nắm giữ các chứng khoán hay
giấy nhận nợ thứ cấp. Xuất phát từ tính chất của các hoạt động ngoại bảng là
ngân hàng thu được phí trong khi không phải sử dụng đến vốn kinh doanh cho
nên đã khuyến khích phát triển các hoạt động ngoại bảng ngày càng phát
triển. Tuy nhiên các hoạt động này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Chẳng hạn,
trong trường hợp công ty phát hành trái phiếu phá sản thì ngân hàng phải
đứng ra thanh toán toàn bộ gốc và lãi chứng khoán do công ty phát hành.
 Rủi ro công nghệ.
Rủi ro công nghệ phát sinh khi những khoản đầu tư cho phát triển công
nghệ không tạo ra được khoản tiết kiệm trong chi phí như đã dự tính khi mở
rộng quy mô hoạt động. Tính không hiệu quả khi đầu tư công nghệ cuả ngân
hàng phát sinh trong trường hợp: Ví dụ: dung lượng đầu tư quá lớn dẫn đến
công nghệ không sử dụng đến và hậu quả là tổ chức bộ máy trở nên quan liêu
kém hiệu quả; hoặc là quy mô hoạt động không được mở rộng mặc dù đã đầu
tư công nghệ mới. Rủi ro về công nghệ có thể gây nên hậu quả là khả năng
cạnh tranh của ngân hàng giảm xuống đáng kể và nguyên nhân tiềm ẩn của sự
phá sản ngân hàng trong tương lai.
 Rủi ro Quốc Gia và rủi ro khác.
Ngoài sáu rủi ro cơ bản nêu trên, ngân hàng hiện đại còn phải đối
mặt với một số rủi ro khác như:
Rủi ro Quốc Gia: Ngân hàng đầu tư cho các công ty nước ngoài có
trụ sở ở nước ngoài cũng có thể chịu rủi ro đầu tư nước ngoài, đó là rủi ro
Quốc Gia. Trong trường hợp ngân hàng đầu tư cho các công ty nước
ngoài, thì ngay cả trong trường hợp công ty có khả năng và sẵn sàng hoàn
trả vốn vay nhưng cũng có thể không thực hiện được, bởi vì chính phủ
nước này cấm hoặc hạn chế việc thanh toán cho nước ngoài do dự trữ
ngoại hối hạn hẹp hoặc vì lý do chính trị.
Ngoài ra ngân hàng còn phải đối mặt với các rủi ro như: thay đổi thuế
đột ngột, sự sụp đổ đột ngột của thị trường chứng khoán, rủi ro trộm cắp
lừa đảo, rủi ro bắt nguồn từ các yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát gia tăng,
thất nghiệp.
2.2. Rủi ro tín dụng.
2.2.1. Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng.
a. Khái niệm và bản chất của rủi ro tín dụng.
Trong cơ chế thị trường, sự ra đời và phát triển các loại hình ngân hàng,
các tổ chức tín dụng cùng với tính đa dạng của các hoạt động và hình thức tín
dụng đã tạo nên một thị trường tín dụng sôi động. Nhưng điều này cũng chứa
đựng nhiều yếu tố rủi ro có thể xảy ra với các ngân hàng hoặc tổ chức tín
dụng mà khả năng ngăn ngừa và chống đỡ rủi ro kém.
Rủi ro tín dụng là đặc trưng tiêu biểu nhất, dễ xảy ra nhất trong mọi hoạt
động ngân hàng. Rủi ro trong hoạt động tín dụng là tình trạng người đi vay
không có khả năng hoàn trả được, không trả đúng hạn hoặc không trả đầy đủ
gốc và lãi cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng
nhất, có quy mô lớn nhất của NHTM - hoạt động tín dụng. Chúng ta biết
rằng, tín dụng là quan hệ vay mượn dưới dạng tiền tệ có hoàn trả gốc và lãi
giữa người có vốn và người thiếu vốn. Tín dụng hoàn toàn khác các hoạt động
tài trợ, dạng cấp vốn của nhà nước cho doanh nghiệp. Hoạt động tín dụng là
hoạt động đa dạng, là một loại kinh doanh tiền tệ phức tạp. Tính phức tạp của
nó chính là đối tượng kinh doanh, tức là tiền tệ, và ở đây tiền tệ cũng bị tách
rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng khi cho vay. Quan hệ tín dụng là
quan hệ kinh tế bình đẳng giữa người cho vay và người đi vay, là sự cam kết
thoả thuận bằng các điều khoản thi hành, được thể hiện trong các hợp đồng tín
dụng. Thế nhưng, trên thực tế mặc dù các khoản tín dụng giữa ngân hàng và
người vay đều được xác lập theo các điều khoản của hợp đồng tín dụng nhưng
tình trạng vi phạm cam kết đó xảy ra khá phổ biến kể cả trong trường hợp
người vay có năng lực tài chính để thực hiện các điều khoản cam kết đó. Điều
đó có nghĩa là một khi còn có hoạt động ngân hàng thì còn có rủi ro trong
hoạt động tín dụng.
Rủi ro tớn
dụng
Người vay Người vay Người vay Người vay Người vay
khụng trả lói khụng trả gốc không trả không trả không trả được
đỳng hạn. đỳng hạn. được lãi. được gốc. cả lãi và gốc.
b. Nợ có vấn đề.
Nợ có vấn đề là các khoản tín dụng cấp cho khách hàng không thu hồi
được hoặc có dấu hiệu không thu hồi được theo đúng cam kết trong hợp đồng
tín dụng. Nợ có vấn đề bao gồm những khoản vay trong hạn, nợ gia hạn
nhưng có dấu hiệu không an toàn có thể dẫn tới rủi ro, nợ thanh toán không
đúng kỳ hạn, đã quá hạn thanh toán (nợ quá hạn thông thường, nợ khó đòi, nợ
chờ xử lý, nợ khoanh, nợ tồn đọng)
Việc phân loại khoản vay là một phương pháp quan trọng phải thực
hiện để quản lý nợ có vấn đề. NHCT VN duy trì hệ thống xếp hạng các khoản
vay như sau:
Hạng I (nợ bình thường): Là toàn bộ nợ của những khách hàng có
nợ tại tất cả các tổ chức tín dụng (TCTD) còn trong hạn và không có nợ quá
hạn, khó đòi, tồn đọng, chờ xử lý, nợ khoanh, và tình hình hoạt động kinh
doanh của khách hàng tốt.
Hạng II (nợ cần chú ý): Nếu khách hàng tại tất cả các tổ chức tín
dụng có những tiêu thức sau thì toàn bộ nợ của khách hàng phân vào loại nợ
cần chú ý:
Tình hình hoạt động kinh doanh: Hoà vốn; hệ số nợ vay trung, dài hạn /
vốn chủ sở hữu lớn hơn 3.
Tình hình công nợ taị tất cả các TCTD: Có bất kỳ khoản nợ nào được
gia hạn nợ theo đúng qui định tại quyết định 1627 của thống đốc NHNN VN.
Hạng III (nợ dưới tiêu chuẩn): Nếu khách hàng tại tất cả các TCTD có
một trong những tiêu thức sau đây thì toàn bộ nợ của khách hàng được phân
loại vào nhóm nợ dưới tiêu chuẩn.
Tình hình hoạt động kinh doanh: bị lỗ.
Tình hình công nợ tại tất cả các TCTD: có bất kỳ khoản nợ nào quá hạn
đến 6 tháng; hoặc có lãi cho vay chưa thu; hoặc có bất kỳ khoản nợ nào được
gia hạn không đúng qui định tại quyết định số 1627 của thống đốc NHNN
VN.
Hạng IV (nợ khó đòi): Khách hàng tại tất cả các tổ chức tín dụng có
một trong những tiêu thức sau đây thì toàn bộ nợ của khách hàng được phân
vào nhóm nợ khó đòi.
Tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng xấu đi nghiêm trọng:
vốn chủ sở hữu bị âm hoặc bị khởi tố, khởi kiện…
Tình hình công nợ tại tất cả các tổ chức tín dụng: có bất kỳ khoản nợ nào
đã quá hạn trên 6 tháng hoặc nợ khoanh, nợ chờ xử ký, nợ tồn đọng, nợ khó
đòi, nợ cho vay thanh toán công nợ.
Hạng V(nợ mất vốn):
- Có đầy đủ thông tin của hạng IV và có thêm các thông tin khác như:
Không được chính phủ bảo lãnh; Không có tài sản bảo đảm (TSBĐ)
hoặc có TSBĐ nhưng TSBĐ không đúng qui định tại các văn bản qui
phạm pháp luật về bảo đảm tiền vay
Nợ được phân vào các hạng III, IV, V là nợ xấu
c. Các dấu hiệu nhận biết nợ có vấn đề.
 Các dấu hiệu từ phía khách hàng.
- Dấu hiệu từ báo cáo tài chính.
+ Ngân hàng không nhận được các báo cáo tài chính từ khách hàng kịp
thời.
+ Giá trị tuyệt đối và tương đối của các khoản phải thu tăng đột biến.
+ Hệ số tài sản ngắn hạn tính trên tổng tài sản giảm sút.
+ Gia tăng sự mất cân đối của các khoản nợ ngắn hạn, các khoản nợ
trung, dài hạn tăng đáng kể.
+ Hàng tồn kho tăng lên đột biến, doanh số bán hàng giảm.
+ Xuất hiện lỗ từ hoạt động kinh doanh.
+ Lưu chuyển tiền ròng từ hoạt động kinh doanh âm…
- Dấu hiệu từ giao dịch ngân hàng.
+ Số dư tài khoản tiền gửi tại ngân hàng giảm.
+ Thời hạn của đơn vị vay vốn theo mùa vụ thay đổi đáng kể.
+ Đề nghị vay vốn của khách hàng thể hiện nhiều nguồn trả nợ khác
nhau nhưng trên thực tế khó có thể nhận thấy được.
+ Xuất hiện những chủ nợ khác, đặc biệt những chủ nợ nhận tài sản bảo
đảm.
+ Thanh toán không kịp thời các khoản nợ đến hạn.
 Các dấu hiệu liên quan đến công tác quản lý tín dụng.
- Quy trình cho vay không tuân thủ đúng quy định của ngân hàng.
- Cán bộ tín dụng có quan hệ đặc biệt với khách hàng.
- Các cấp quản lý trong ngân hàng thiếu sát sao trong giám sát khoản
vay.
- Không thể kiểm tra tài khoản kinh doanh của người vay.
- Cho vay dựa trên giá trị sổ sách của doanh nghiệp không kiểm toán và
xác minh báo cáo tài chính của người vay.
- Giải ngân trước khi hoàn thiện hồ sơ.
- Cho vay thêm nhưng không có thêm TSBĐ thích đáng.
- Vốn vay không được sử dụng đúng mục đích.
- Không phân tích chính xác khả năng trả nợ của người vay…
 Dấu hiệu từ khoản vay.
- Hồ sơ cho vay thiếu sự chặt chẽ.
- Gía trị thực tế của tài sản bảo đảm thấp.
- Kế hoạch trả nợ và nguồn hoàn trả không hợp lý.
- Nguồn trả nợ không đúng với kế hoạch vay vốn.
 Các dấu hiệu khác.
- Cơ chế chính sách thay đổi làm ảnh hưởng không tốt tới hoạt động kinh
doanh.
- Gía cả thị trường thay đổi làm ảnh hưởng trực tiếp tới đầu ra của sản
phẩm.
- Tỷ giá ngoại hối tăng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay ngoại tệ của khách
hàng.
2.2.2. Đo lường rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng là những biến cố xảy ra ngoài mong đợi của các nhà
kinh doanh ngân hàng. Chúng ta không thể loại bỏ rủi ro ra khỏi hoạt động
kinh doanh nhưng chúng ta có thể nghiên cứu nó để có những giải pháp quản
lý và ngăn ngừa được rủi ro, chấp nhận nó ở một mức độ hợp lý. Bởi vì vốn
chủ sở hữu của ngân hàng so với tổng giá trị của tài sản là rất nhỏ nên chỉ cần
một tỷ lệ nhỏ danh mục cho vay có vấn đề sẽ có thể đẩy một ngân hàng tới
nguy cơ phá sản. Đo lường rủi ro là một trong những biện pháp để nghiên cứu
rủi ro mà NHTM nào cũng áp dụng. Việc đo lường rủi ro, đặc biệt là đo lường
rủi ro tín dụng có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý kinh doanh của ngân
hàng. Có 4 chỉ số sau được sử dụng rộng rãi nhất trong việc đo lường rủi ro
tín dụng của ngân hàng.
- Tỷ số giữa giá trị các khoản nợ quá hạn so với tổng dư nợ cho vay và cho
thuê.
- Tỷ số giữa các khoản xoá nợ ròng so với tổng cho vay và cho thuê.
- Tỷ số giữa phân bổ dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm so với tổng
cho vay và cho thuê hay với tổng vốn chủ sở hữu.
- Tỷ số giữa dự phòng tổn thất tín dụng so với tổng cho vay và cho thuê
hay với tổng vốn chủ sở hữu.
Trong đó các khoản nợ quá hạn là những khoản cho vay quá hạn thanh
toán từ 90 ngày trở lên. Các khoản cho vay được xoá nợ: Là những khoản cho
vay được ngân hàng tuyên bố là khồng còn giá trị và được xoá khỏi sổ sách.
Nếu một trong số những khoản cho vay này cuối cùng cũng tạo ra thu nhập
cho ngân hàng thì tổng số thu sẽ được khấu trừ khỏi tổng số các khoản xoá nợ
tạo thành các khoản xoá nợ ròng.
Khi hai chỉ tiêu đầu tăng, rủi ro tín dụng của ngân hàng cũng sẽ tăng,
ngân hàng có thể đứng bên bờ vực phá sản. Hai chỉ tiêu rủi ro tín dụng cuối
nói lên sự chuẩn bị của một ngân hàng cho các khoản tổn thất tín dụng thông
qua việc trích lập quỹ dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm từ thu nhập hiện
tại.
2.2.3.Các nguyên nhân chủ yếu gây ra rủi ro tín dụng.
Trong công tác của các cán bộ tín dụng và các ngân hàng, tìm hiểu
nguyên nhân của rủi ro được coi là bước đầu tiên trong quá trình tìm cách
phòng ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng bởi vì chúng ta không thể đưa ra các giải
pháp hữu hiệu nếu như chúng ta không biết rủi ro đó từ đâu mà có. Thông
thường, để thuận tiện cho việc làm cơ sở đưa ra các giải pháp và kiến nghị sau
này những người làm nghiên cứu thường phân các nguyên nhân rủi ro tín
dụng thành ba nhóm: nhóm các nguyên nhân từ bản thân ngân hàng, nhóm
các nguyên nhân từ phía khách hàng và nhóm các nguyên nhân khác.
2.2.3.1. Nguyên nhân từ bản thân ngân hàng.
Những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng trong trường hợp này có thể
do:
- Trình độ cán bộ xét duyệt cho vay yếu kém, thiếu các thông tin cần
thiết để thẩm định cho vay, không phát hiện được gian lận, lừa đảo hoặc vô
tình làm không đúng quy trình, quy định xử lý nghiệp vụ, dẫn đến tổn thất.
- Do cán bộ ngân hàng thiếu trách nhiệm và vi phạm đạo đức nghề
nghiệp, cố tình làm không đúng, làm sai qui định để trục lợi cá nhân hoặc vì
một lợi ích nào đó, và có trường hợp cán bộ ngân hàng tiếp tay tham gia cùng
khách hàng lừa đảo lấy tiền ngân hàng.
- Do mạo hiểm trong kinh doanh, biết được rủi ro nhưng coi thường
hậu quả có thể xảy ra, vẫn cho vay khi thu được lãi xuất tương đối hấp dẫn.
- Ngân hàng buông lỏng việc đôn đốc, kiểm tra, kiểm soát. Trong quá
trình sử dụng vốn vay và thu hồi vốn nên dẫn đến có nhiều khách hàng sử
dụng vốn không đúng mục đích, dây dưa không chịu trả nợ.
- Quá tin tưởng vào vật thế chấp. Bất kỳ đối tượng nào khi đi vay vốn
mà chưa có độ tin cậy cao bao giờ cũng phải có tài sản thế chấp và ngân hàng
chỉ cho vay theo tỷ lệ nào đó trên giá trị tài sản thế chấp. Tuy nhiên, có những
khách hàng tạo được uy tín nhất định cho những món vay trước nên ngân
hàng có thể tin cậy họ và cho họ vay không cần tài sản thế chấp hoặc giá trị
tài sản thế chấp thấp hơn giá trị món vay. Trong khi đó, vật thế chấp được coi
là vật bảo đảm an toàn khi xét duyệt cho vay và là sự rằng buộc giữa khách