Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần liên hợp thực phẩm

  • 47 trang
  • file .doc
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
MỞ ĐẦU
Vốn là một yếu tố cần thiết và quan trọng để tiến hành sản xuất kinh doanh
đồng thời nó cũng là tiền đề để các doanh nghiệp tồn tại, phát triển, đứng vững trong
cơ chế thị trường. Đối với các doanh nghiệp, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung chế
độ cấp phát và giao nộp sản phẩm đã không chú trọng đến vai trò của vốn cũng như
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Trong tình hình mới, cùng với sự chuyển đổi cơ chế
kinh tế là quá trình mở rộng quyền tự chủ, giao vốn cho các doanh nghiệp tự quản lý
và sử dụng, đòi hỏi các doanh nghiệp bảo toàn và phát triển vốn. Điều này đã tạo nên
những cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Bên cạnh những doanh nghiệp kinh doanh năng động thích nghi với cơ chế thị
trường đã sử dụng vốn có hiệu quả còn không ít những doanh nghiệp gặp khó khăn
bởi việc sử dụng vốn kém hiệu quả. Vì vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đối với các
doanh nghiệp là vấn đề cấp bách hiện nay. Công ty cổ phần Liên Hợp Thực Phẩm là
một doanh nghiệp đã tự khẳng định mình bằng các kết quả sản xuất kinh doanh mà
Công ty đạt được trong thời gian qua. Công ty đã đạt được những thành tựu nhất định
trong quá trình đổi mới.Việc tăng cường nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề
đang được Công ty quan tâm.
Với những ý nghĩ trên, qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phần Liên Hợp
Thực Phẩm em đã chọn chuyên đề tốt nghiệp là : "Giải pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của Công ty cổ phần Liên Hợp Thực Phẩm".
Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1 : Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đối với các doanh
nghiệp.
Chương 2 : Thực trạng sử dụng vốn của Công ty cổ phần Liên Hợp Thực
Phẩm thời gian qua.
Chương 3 : Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty
cổ phần Liên Hợp Thực Phẩm.
1
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
Do trình độ lý luận và thực tiễn có hạn nên chuyên đề không tránh khỏi những
thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo, các cô chú, anh chị trong
Công ty cổ phần Liên Hợp Thực Phẩm cùng toàn thể các bạn.
2
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
CHƯƠNG 1
PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
I - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SỬ DỤNG VỐN:
1. Khái niệm về vốn sản xuất:
Trong nền kinh tế quốc dân, các doanh nghiệp như là các tế bào của nền kinh
tế. Doanh nghiệp là một tổ chức được thành lập nhằm thực hiện mục đích chủ yếu là
hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp có thể thực hiện một, một số hoặc tất cả
các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, lao vụ dịch vụ
trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế hàng hoá tiền tệ,
đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tiền vốn nhất định. Vốn là tiền nhưng tiền
chưa hẳn là vốn. Tiền chỉ có thể trở thành vốn khi được dùng cho việc sản xuất - kinh
doanh để mua sắm tư liệu lao động, đối tượng lao động cho việc sản xuất kinh doanh.
Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp tư liệu lao động, đối tượng lao
động và sức lao động để tạo ra sản phẩm, lao vụ dịch vụ.
Như vậy có thể thấy tư liệu lao động và đối tượng lao động doanh nghiệp dùng
cho sản xuất kinh doanh là hình thái vật chất của vốn. Vốn được biểu hiện dưới dạng
vật chất và giá trị. Vốn luôn vận động và chuyển hoá hình thái vật chất, cũng như
chuyển hoá từ hình thái vật chất sang hình thái tiền tệ. Ngoài sự tồn tại dưới dạng vật
chất, còn có loại vốn tồn tại dưới dạng tài sản vô hình có giá trị như bằng phát minh,
sáng chế, kinh nghiệm tay nghề, bí quyết.
Vốn sản xuất trong doanh nghiệp là hình thái giá trị của toàn bộ tư liệu sản xuất
được doanh nghiệp sử dụng một cách hợp lý và có kế hoạch vào việc thực hiện nhiệm
vụ sản xuất kinh doanh.
Xét về hình thái vật chất vốn sản xuất bao gồm ba yếu tố cơ bản: tư liệu lao
động, đối tượng lao động và lao động. Đối tượng lao động và lao động tạo nên thực tế
3
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
sản phẩm, còn tư liệu lao động là phương tiện chuyển hoá đối tượng lao động thành
thực tế sản phẩm.
Quá trình tái sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện liên tục, do
vậy vốn của doanh nghiệp được vận động không ngừng tạo ra sự tuần hoàn và chu
chuyển vốn. Sự vận động của vốn sản xuất kinh doanh theo sơ đồ :
TLLĐ
T H SX H' T'
ĐTLĐ
(T' > T)
Bắt đầu là hình thái vốn tiền tệ sang hình thái vốn sản xuất (TLLĐ, ĐTLĐ).
Sau quá trình sản xuất vốn chuyển hoá thành hình thái vốn hàng hoá. Cuối cùng trở
lại hình thái vốn tiền tệ.
Do sự luân chuyển không ngừng của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
nên cùng một lúc vốn của doanh nghiệp tồn tại dưới các hình thái khác nhau trong quá
trình sản xuất kinh doanh.
2. Phân loại vốn sản xuất:
Căn cứ vào phương thức chu chuyển khác nhau về mặt giá trị của vốn sản xuất,
có thể chia nó thành 2 loại : vốn cố định và vốn lưu động.
2.1. Vốn cố định:
2.1.1. Khái niệm và đặc điểm:
Vốn cố định là một bộ phận của vốn sản xuất, là hình thái giá trị của những tư
liệu lao động đang phát huy tác dụng trong sản xuất.
Vốn cố định là biểu hiện thành giá trị của những máy móc, thiết bị, nhà
xưởng... tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng về mặt giá trị của nó lại
không chuyển hết một lần vào sản phẩm mà chuyển dần từng phần trong nhiều chu
kỳ sản xuất.
4
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
Vốn cố định là một bộ phận quan trọng và không thể thiếu của vốn sản xuất, nó
quyết định trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, quyết định việc ứng dụng những
thành tựu khoa học kỹ thuật. Quy mô của vốn cố định và trình độ quản lý, sử dụng nó
là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến trình độ trang trí kỹ thuật - "hệ thống xương và
bắp thịt" của sản xuất kinh doanh.
Tài sản cố định là tư liệu lao động, là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình
sản xuất. Song, không phải tất cả các tư liệu lao động trong doanh nghiệp đều là tài
sản cố định mà tài sản cố định chỉ gồm những tư liệu chủ yếu có đủ tiêu chuẩn về mặt
giá trị và thời gian sử dụng quy định trong chế độ quản lý tài chính hiện hành của Nhà
nước.
Theo quy định hiện hành, nếu thỏa mãn đồng thời cả bốn tiêu chuẩn dưới đây
thì được coi là tài sản cố định:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản
đó;
- Nguyên giá tài sản phải xác định một cách đáng tin cậy;
- Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên;
- Có giá trị từ 10.000.000đ (mười triệu đồng) trở lên.
Như vậy tài sản cố định là những tư liệu lao động có giá trị lớn thời gian sử
dụng dài và có đặc điểm là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất. Khi tham gia vào quá
trình sản xuất – kinh doanh tài sản cố định bị hao mòn dần và giá trị của nó được
chuyển dịch từng phần vào chi phí sản xuất – linh doanh và giữ nguyên được hình
thái vật chất ban đầu cho đến lúc hư hỏng.
Tài sản cố định ở doanh nghiệp có nhiều loại, có những loại có hình thái vật chất cụ
thể như nhà cửa, máy móc thiết bị… có những loại không có hình thái vật chất thể
hiện một lượng giá trị đã được đầu tư chi trả, mỗi loại đều có đặc điểm và yêu cầu
quản lý khác nhau nhưng chúng đều giống nhau ở giá trị ban đầu (lớn) và thời gian
thu hồi vốn (trên 1 năm).
2.1.2 - Cơ cấu vốn cố định:
Tài sản cố định có nhiều loại, nhiều thứ, có đặc điểm và yêu cầu quản lý rất
khác nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý và hạch toán tài sản cố định, cần thiết
5
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
phải phân loại tài sản cố định. Phân loại tài sản cố định là sắp xếp tài sản cố định
thành từng loại, từng nhóm theo những đặc trưng nhất định như theo hình thái biểu
hiện, theo nguồn hình thành, theo công dụng và tình hình sử dụng…
Vốn cố định của doanh nghiệp được biểu hiện bằng hình thái giá trị của các loại
tài sản cố định sau đang dùng trong sản xuất kinh doanh:
a. Tài sản cố định vô hình :
Là các TSCĐ không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do
doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất kinh doanh. Thuộc về TSCĐ vô hình
gồm có: Quyền sử dụng đất; Quyền phát hành; Bản quyền, bằng sáng chế; Nhãn hiệu
hàng hóa; Phần mềm máy vi tính; Giấy phép và giấy nhượng quyền; TSCĐ vô hình
khác.
b. Tài sản cố định hữu hình:
Là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể. Thuộc về loại này gồm có: Nhà
cửa vật kiến trúc; Máy móc thiết bị; Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn; Thiết bị,
dụng cụ dùng cho quản lý; Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm; Tài
sản cố định hữu hình khác.
Cơ cấu vốn cố định chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố trong đó chủ yếu là các
nhân tố: Đặc điểm về kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp, sự tiến bộ kỹ thuật, trình độ
tổ chức sản xuất, điều kiện địa lý tự nhiên, sự phân bố sản xuất. Khi xây dựng và cải
tiến cơ cấu vốn cố định cần chú ý xem xét tác động ảnh hưởng của các nhân tố này.
2.1.3 - Quản lý vốn cố định:
a. Hao mòn và khấu hao tài sản cố định:
Trong quá trình sử dụng tài sản cố định vào sản xuất kinh doanh hoặc không sử
dụng, tài sản cố định đều bị hao mòn dần, đó là sự giảm dần về giá trị của tài sản cố
định. Có hai loại hao mòn tài sản cố định là:
* Hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình:
- Hao mòn hữu hình:
6
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
Là sự hao mòn vật lý trong quá trình sử dụng do bị cọ sát, bị ăn mòn bị hư
hỏng từng bộ phận. Hao mòn hữu hình của TSCĐ hữu hình có thể diễn ra 2 dạng dưới
đây:
+ Hao mòn dưới dạng kỹ thuật xảy ra trong quá trình sử dụng.
+ Hao mòn do tác động của thiên nhiên (độ ẩm, hơi nước, không khí…) không
phụ thuộc vào việc sử dụng.
Do có sự hao mòn hữu hình nên TSCĐ mất dần giá trị và giá trị sử dụng lúc
ban đầu, cuối cùng phải thay thế bằng một tài sản khác.
- Hao mòn vô hình:
Là sự giảm giá trị của TSCĐ hữu hình do tiến bộ khoa học kỹ thuật. Hao mòn
vô hình xảy ra do TSCĐ hữu hình bị lỗi thời về kỹ thuật, còn gọi là hao mòn về kinh
tế của mỗi TSCĐ, người sử dụng TSCĐ phải dự tính được tính chất và quá trình xảy
ra sự hao mòn vô hình TSCĐ để có những quy định khấu hao thích hợp nhằm thu hồi
đủ vốn đầu tư trước khi TSCĐ bị thanh lý.
-> Trong quá trình sử dụng tài sản cố định các doanh nghiệp cần nghiên cứu để
tìm ra những biện pháp nhằm giảm tối đa tổn thất do hao mòn hữu hình và hao mòn
vô hình gây ra như nâng cao trình độ sử dụng tài sản cố định, đẩy nhanh việc cải tiến
và hiện đại hoá máy móc thiết bị, tổ chức tốt công tác bảo quản và sửa chữa máy móc
thiết bị, nâng cao trình độ người lao động...
* Khấu hao tài sản cố định:
Như vậy trong quá trình sử dụng và bảo quản tài sản cố định bị hao mòn (hữu
hình và vô hình). Một bộ phận giá trị của tài sản cố định tương ứng với mức hao mòn
đó được chuyển dịch dần vào giá thành sản phẩm gọi là khấu hao tài sản cố định. Bộ
phận giá trị này là một yếu tố của chi phí sản xuất và cấu thành trong giá thành sản
phẩm được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ gọi là tiền khấu hao tài sản cố định. Sau
khi sản phẩm hàng hoá được tiêu thụ, số tiền khấu hao được trích lại và tích luỹ thành
quĩ khấu hao tài sản cố định.
Khấu hao có ý nghĩa quan trọng đối với bảo toàn, phát triển vốn và kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh. Thực hiện khấu hao đúng, đủ hao mòn thực tế giá trị tài
7
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
sản cố định không những phản ánh đúng thực chất kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh mà còn đảm bảo quĩ khấu hao, duy trì được số vốn bỏ ra.
b. Kế hoạch khấu hao tài sản cố định:
Kế hoạch khấu hao tài sản cố định hàng năm là một nội dung của công tác kế
hoạch tài chính. Nó là biện pháp quan trọng để quản lý vốn cố định trên phương diện
bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định. Đồng thời nó là căn cứ để xây
dựng các quyết định tài chính về đầu tư.
Khi lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định trước hết cần xác định tổng giá trị tài
sản cố định hiện có vào đầu năm kế hoạch, cơ cấu theo nguồn hình thành của giá trị
đó và phạm vi tài sản cần tính khấu hao. Tiếp theo căn cứ vào kế hoạch đầu tư dài hạn
và tình hình thực hiện kế hoạch để dự kiến điều chỉnh tăng giảm tài sản cố định năm
kế hoạch. Sau đó xác định tổng giá trị bình quân tài sản cố định cần trích khấu hao
trong năm kế hoạch. Từ đó tính được số tiền trích khấu hao năm kế hoạch.
Việc tính khấu hao TSCĐ có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhau,
theo quy định hiện hành (QĐ số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài
chính) có ba phương pháp khấu hao:
- Phương pháp khấu hao đường thẳng.
- Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh.
- Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm.
Căn cứ vào khả năng đáp ứng các điều kiện áp dụng quy định cho từng phương
pháp trích khấu hao TSCĐ, doanh nghiệp được lựa chọn các phương pháp trích khấu
hao phù hợp với từng TSCĐ của doanh nghiệp. Trong các phương pháp khấu hao trên
phương pháp khấu hao áp dụng phổ biến là phương pháp khấu hao đường thẳng (khấu
hao đều theo thời gian)
c. Bảo toàn và phát triển vốn cố định:
Bảo toàn vốn sản xuất nói chung, vốn cố định nói riêng là điều kiện tồn tại và
phát triển của mỗi doanh nghiệp. Kinh doanh ít nhất phải đảm bảo hoà vốn, bù đắp
được số vốn đã bỏ ra để tái sản xuất giản đơn. Đồng thời doanh nghiệp phải kinh
doanh có lãi để tự tích luỹ bổ sung vốn, tạo vốn cho tái sản xuất mở rộng.
8
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
Vốn cố định được bảo toàn có nghĩa là trong quá trình vận động, dẫu nó được
biểu hiện dưới hình thái nào, nhưng khi kết thúc một chu trình tuần hoàn thì vốn được
tái lập ít nhất cũng bằng qui mô cũ để có thể trang bị lại tài sản giá trị bằng hoặc hơn
cũ ở thời gian hiện tại. Về mặt hiện vật, tài sản cố định không được mất mát, hư hỏng
trước thời hạn, không sử dụng sai mục đích, duy trì và nâng cao năng lực hoạt động
của tài sản cố định. Về mặt giá trị, người sử dụng vốn phải duy trì giá trị đồng vốn của
mình, không bị ăn chia vào vốn, không tạo lãi giả làm giảm vốn.
2.2 - Vốn lưu động:
2.2.1 - Khái niệm và đặc điểm:
Các doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài tư liệu lao động
phải có đối tượng lao động. Đối tượng lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất
không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, bộ phận chủ yếu của đối tượng lao động
sẽ thông qua quá trình chế biến hợp thành thực thể sản phẩm, bộ phận khác hao phí
trong quá trình sản xuất. Đối tượng lao động chỉ tham gia một chu kỳ sản xuất, đến
chu kỳ sản xuất sau lại phải dùng loạt đối tượng lao động khác. Toàn bộ giá trị của
đối tượng lao động được chuyển dịch toàn bộ một lần vào sản phẩm và được bù đắp
khi giá trị sản phẩm được thực hiện.
Đối tượng lao động được biểu hiện thành hai bộ phận, một bộ phận là những
vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục (nguyên, nhiên, vật
liệu...), một bộ phận khác là những vật tư đang trong quá trình chế biến (sản phẩm
đang chế tạo, bán thành phẩm). Hai bộ phận này biểu hiện dưới hình thái vật chất gọi
là tài sản lưu động trong sản xuất.
Mặt khác, quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu
thông. Do đó hình thành một số khoản hàng hoá và tiền tệ, các khoản phải thu... trong
khâu lưu thông được gọi là tài sản lưu động trong lưu thông.
Như vậy vốn lưu động là một bộ phận của vốn sản xuất, là biểu hiện bằng tiền
của toàn bộ giá trị tài sản lưu động trong sản xuất và tài sản lưu động trong lưu thông
nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp thường xuyên, liên tục.
Vốn lưu động được chuyển hoá qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu từ hình
thái tiền tệ sang hình thái vật tư, hàng hoá và cuối cùng trở lại hình thái tiền tệ ban
9
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
đầu. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục cho nên vốn lưu
động cũng tuần hoàn không ngừng có tính chất chu kỳ thành chu chuyển của tiền vốn.
Vốn lưu động thường xuyên có các bộ phận tồn tại cùng một lúc dưới các hình thái
khác nhau trong các lĩnh vực sản xuất và lưu thông. Thông qua tình hình luân chuyển
vốn lưu động có thể đánh giá một cách kịp thời đối với các mặt mua sắm dự trữ, sản
xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp. Việc tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn lưu động
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao hiêụ quả sử dụng vốn.
2.2.2 - Cơ cấu vốn lưu động:
Cơ cấu vốn lưu động là số lượng các bộ phận cấu thành vốn lưu động và mối
quan hệ tỉ lệ giữa các bộ phận đó.
Xác định cơ cấu vốn lưu động hợp lý sẽ góp phần sử dụng tiết kiệm vốn lưu
động, đảm bảo kịp thời vốn lưu động cho từng khâu. Từ đó đảm bảo duy trì quá trình
sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
* Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn lưu động chia làm 3 loại:
- Vốn dự trữ: Là bộ phận vốn dùng để mua nguyên, nhiên, vật liệu, phụ tùng
thay thế... để dự trữ và chuẩn bị đưa vào sản xuất.
- Vốn trong sản xuất: Là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai đoạn sản xuất
như bán thành phẩm, sản phẩm dở dang.
- Vốn lưu thông: Là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai đoạn lưu thông như
thành phẩm, tiền mặt...
Theo cách phân loại này có thể thấy vốn dự trữ và vốn lưu thông không tham
gia trực tiếp vào sản xuất. Vì vậy phải hết sức hạn chế khối lượng vật liệu cũng như
thành phẩm tồn kho. Đối với vốn trong sản xuất phải chú ý tăng khối lượng sản phẩm
đang chế tạo với mức hợp lý.
* Dựa theo hình thái biểu hiện và theo chức năng của các thành phần vốn lưu
động có thể chia thành 2 loại:
- Vốn vật tư hàng hoá: Là biểu hiện bằng tiền của giá trị các loại vật tư, hàng
hoá như nguyên, nhiên, vật liệu, phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở
dang, thành phẩm...
10
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
- Vốn tiền tệ: Là bộ phận vốn lưu động biểu hiện dưới hình thái tiền tệ như tiền
mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản phải thu, tạm ứng...
Các phân loại này giúp các doanh nghiệp có cơ sở để tính toán và kiểm tra kết
cấu tối ưu của vốn lưu động để dự thảo những quyết định tối ưu về mức tận dụng số
vốn lưu động đã bỏ ra.
2.2.3- Quản lý vốn lưu động:
a. Xác định vốn lưu động định mức kỳ kế hoạch:
Vốn lưu động định mức là số vốn lưu động tối thiểu cần thiết thường xuyên cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn lưu động định mức quá thấp sẽ gây khó khăn cho tính liên tục của quá
trình sản xuất. Doanh nghiệp thiếu vốn sẽ gây ra những tổn thất như sản xuất bị đình
trệ, không đáp ứng được nhu cầu khách hàng, không đủ tiền thanh toán kịp thời nên
trong quan hệ mua bán bị mất tín nhiệm. Ngược lại, vốn lưu động định mức quá cao
gây nên tình trạng ứ đọng vật tư hàng hoá, lãng phí vốn, vốn lưu động chậm luân
chuyển và phát sinh chi phí là tăng giá thành. Do đó doanh nghiệp phải xác định
lượng vốn lưu động định mức một cách đúng đắn, hợp lý để đảm bảo cho quá trình
sản xuất được tiến hành một cách liên tục, nhưng đồng thời phải tiết kiệm một cách
hợp lý.
-> Muốn xác định vốn lưu động định mức kỳ kế hoạch doanh nghiệp phải lần
lượt tính toán vốn lưu động định mức ở từng khâu (dự trữ, sản xuất, lưu thông), sau
đó tổng hợp lại thành vốn lưu động định mức kế hoạch.
* Vốn lưu động định mức ở khâu dự trữ:
Vốn lưu động định mức ở khâu dự trữ được tính toán căn cứ vào mức luân
chuyển bình quân hàng ngày và định mức số ngày dự trữ.
Mức luân chuyển bình quân hàng ngày là giá trị bình quân của nguyên vật liệu,
nhiên liệu... bỏ vào sản xuất trong một ngày đêm, được tính bằng mức luân chuyển cả
năm (theo dự toán chi phí sản xuất) chia cho 360 ngày. Định mức số ngày dự trữ được
xác định như sau:
- Đối với nguyên vật liệu nhập khẩu ( Nhà nước độc quyền quản lý) định mức
số ngày dự trữ được cơ qua quản lý cấp trên qui định cho doanh nghiệp.
11
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
- Đối với nguyên vật liệu mua trong nước có thể sử dụng công thức sau:
Định mức Số ngày Hệ số Số ngày Số ngày Số ngày
= cách nhau
số ngày x thu mua + vận + chỉnh lý + bảo
giữa 2 lần
dự trữ xen kẽ chuyển chuẩn bị hiểm
mua
* Vốn lưu động định mức ở khâu sản xuất:
Vốn lưu động định mức ở khâu sản xuất được xác định riêng cho sản phẩm dở
dang, nửa thành phẩm tự chế và chi phí chờ phân bổ.
- Đối với vốn lưu động cho sản phẩm dở dang:
Định mức Tổng mức luân Hệ số Chu kỳ
= chuyển cả năm của
vốn lưu động thành phẩm (tính theo x sản phẩm x sản xuất
cho SPDD giá thành công xưởng) dở dang sản phẩm
360
- Vốn lưu động định mức cho nửa thành phẩm tự chế được tính theo công
thức:
Định mức Tổng mức luân chuyển Số ngày Hệ số
vốn lưu động = cả năm của thành x định mức x nửa thành
nửa thành phẩm (theo giá thành dự trữ phẩm
12
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
công xưởng)
phẩm tự chế tự chế
360
- Vốn lưu động cho phi chí chờ phân bổ:
Định mức Mức dư đầu năm Số phát sinh Số phải
vốn lưu động = chi phí
+ chi phí + chi phí
cho chi phí chờ phân bổ
chờ phân bổ chờ phân bổ
chờ phân bổ
* Vốn lưu động định mức ở khâu lưu thông:
Vốn lưu động định mức ở khâu lưu thông gồm vốnlưu động định mức cho
thành phẩm và hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản phẩm.
- Vốn lưu động định mức cho thành phẩm được xác định theo công thức:
Vốn lưu động Tổng giá thành công xưởng sản Số ngày dự trữ
định mức cho = lượng hàng hoá x định mức
thành phẩm ---------------------------- thành phẩm
360
Số ngày dự trữ định mức thành phẩm bao gồm: Số ngày dự trữ ở kho, số ngày
vận chuyển từ kho đến nơi tiêu thụ.
- Vốn lưu động của hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ được tính theo công
thức:
Vốn lưu động; định mức hàng; hoá mua ngoài; cho tiêu thụ = Error! x Error!
b. Kế hoạch nguồn vốn lưu động định mức:
Vốn lưu động định mức của doanh nghiệp công nghiệp được hình thành từ 2
nguồn chính là:
13
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
- Vốn tự có và coi như tự có của doanh nghiệp.
- Vốn đi vay.
Vốn lưu động định mức năm kế hoạch được xác định căn cứ vào tình hình thực
tế vốn lưu động năm trước và nhu cầu vốn lưu động định mức năm kế hoạch. Nếu
năm trước doanh nghiệp đã sản xuất kinh doanh và đã có một lượng vốn lưu động
nhất định thì năm kế hoạch chỉ cần lập kế hoạch nguồn vốn lưu động nhằm tính ra
mức thừa, thiếu so với nhu cầu vốn lưu động định mức năm kế hoạch. Số vốn lưu
động tự có cần thiết cho năm kế hoạch trước hết bù đắp bằng số vốn lưu động tự có và
coi như tự có năm trước chuyển sang.
c. Bảo toàn và phát triển vốn lưu động:
Để duy trì và phát triển sản xuất, các doanh nghiệp phải thực hiện bảo toàn và
phát triển vốn lưu động.
Sự luân chuyển và chuyển hoá của vốn lưu động thường chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố tác động khách quan và chủ quan làm cho vốn lưu động của doanh
nghiệp giảm sút dần. Đó là các yếu tố như hàng hoá kém phẩm chất không tiêu thụ
được, những rủi ro bất thường trong sản xuất kinh doanh, nền kinh tế có lạm phát, vốn
lưu động bị chiếm dụng... Do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động bảo toàn và phát
triển vốn lưu động nhằm đảm bảo duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh, thực chất
là đảm bảo cho số vốn cuối kỳ đủ mua ít nhất một lượng vật tư hàng hoá tương đương
với đầu kỳ khi giá cả tăng lên.
Để thực hiện tốt chế độ bảo toàn và phát triển vốn lưu động đòi hỏi các doanh
nghiệp phải tự bảo toàn và phát triển vốn ngay trong quá trình sản xuất kinh doanh
trên cơ sở mức giảm, tăng giá tài sản lưu động, thực tế tồn kho của các doanh nghiệp
ở các thời điểm có thay đổi về giá hàng tháng, quí, năm. Định kỳ tháng, quý, năm các
doanh nghiệp phải xác định khoản chênh lệch giá trị tài sản lưu động thực tế tồn kho ở
các khâu: Vật tư dự trữ, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, chênh lệch tỉ giá số dư
ngoại tệ... để bổ sung vốn lưu động. Số vốn lưu động sau khi thực hiện điều chỉnh giá
tài sản lưu động ở thời điểm cuối năm là số vốn lưu động doanh nghiệp phải bảo toàn.
Số vốn lưu động Số vốn đã được Hệ số trượt giá vốn
14
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
= giao hoặc phải
phải bảo toàn bảo toàn đầu năm x lưu động của
đến cuối năm DN trong năm
3. Nguồn hình thành vốn sản xuất:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể huy động vốn từ các
nguồn chủ yếu sau:
a. Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp:
Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp được hình thành từ hai nguồn chủ yếu sau:
- Vốn góp ban đầu khi thành lập của chủ doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp
Nhà nước vốn tự có ban đầu chính là vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước.
- Vốn bổ sung thêm từ lợi nhuận để lại.
Đây là nguồn vốn rất chủ động của doanh nghiệp, tạo sự chủ động cho doanh
nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn tự có tạo ra hình ảnh tài chính lành
mạnh, tăng uy thế của doanh nghiệp trên thị trường vốn. Tuy nhiên vốn tự có thường
dẫn đến tâm lý ổn định trong kinh doanh, doanh nghiệp thiếu những bước nhảy trong
việc đầu tư vào những lĩnh vực mới.
b. Nguồn vốn đi vay:
Đây là nguồn vốn quan trọng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể vay vốn
của ngân hàng, của các tổ chức tín dụng, của các đơn vị tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước. Việc phát hành trái phiếu cho phép doanh nghiệp có thể vay số tiền nhàn
rỗi trong các tầng lớp dân cư để mở rộng hoạt động kinh doanh.
Thông qua đi vay, doanh nghiệp có thể huy động được một lượng vốn lớn, kịp
thời cho kinh doanh. Nếu doanh nghiệp đạt được một tỉ suất lợi nhuận cao thì việc
huy động vốn bằng đi vay có lợi nhất. Tuy nhiên, nếu tỉ suất lợi nhuận thấp thì đây là
gánh nặng cho giá thành sản phẩm.
c. Nguồn vốn huy động thông qua phát hành cổ phiếu:
15
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
Đối với loại hình Công ty cổ phần, để tăng thêm vốn sản xuất Công ty có thể
phát hành thêm cổ phiếu mới. Đây cũng là một nguồn vốn thường xuyên để bổ sung
cho doanh nghiệp nên nó cũng được coi là vốn tự có.
Doanh nghiệp có uy tín sẽ thu hút nhiều cổ đông tham gia mua cổ phiếu. Tuy
nhiên, khi doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả các cổ đông rút vốn dễ dẫn đến phá
sản nhanh.
d. Nguồn vốn liên doanh liên kết:
Để huy động vốn mở rộng sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp có thể thực
hiện việc liên doanh liên kết với các doanh nghiệp khác. Nó góp phần huy động một
lượng vốn trên cơ sở sự góp vốn của các bên, cùng làm cùng hưởng và cùng chịu
trách nhiệm.
e. Nguồn vốn trong thanh toán:
Nguồn vốn trong thanh toán gồm:
- Các khoản phải nộp, phải trả trong doanh nghiệp: Các khoản này tuy không
lớn nhưng nó giúp doanh nghiệp giải quyết nhu cầu vốn mang tính tạm thời. Đó là các
khoản như thuế phải nộp chưa nộp, các khoản phải trả công nhân viên, người mua
ứng trước, các khoản phải trả cho các đơn vị nội bộ.
- Tín dụng nhà cung cấp: Nguồn vốn này được các doanh nghiệp khai thác
trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp. Đây là phương thức huy
động vốn tiện lợi và linh hoạt trong kinh doanh. Nó tạo ra khả năng mở rộng các quan
hệ hợp tác kinh doanh lâu bền. Tuy nhiên sẽ rủi ro nếu qui mô tài trợ vượt quá giới
hạn an toàn.
II. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN:
1. Khái niệm về hiệu quả:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử
dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh (lao động, tư liệu lao động, đối
tượng lao động) để đạt kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí
thấp nhất.
16
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
Cần hiểu phạm trù hiệu quả một cách toàn diện trên cả hai mặt định lượng và
định tính. Về mặt định lượng hiệu quả sản xuất kinh doanh biểu hiện ở mối tương
quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Nếu xét về tổng lượng chỉ đạt hiệu quả
khi kết quả lớn hơn chi phí, chênh lệch này càng lớn hiệu quả kinh tế càng cao và
ngược lại.
Về mặt định tính mức độ hiệu quả sản xuất kinh doanh cao phản ánh sự cố
gắng, nỗ lực, trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Để đánh giá chính xác, có cơ sở khoa học hiệu quả sản xuất kinh doanh cần
phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ
tiêu chi tiết.
2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn:
2.1 - Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn:
Giá trị tổng sản lượng (doanh thu)
* Hiệu quả sử dụng vốn = --------------------------------------------------
Lượng vốn sản xuất bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn sản xuất bỏ vào kinh doanh tạo ra bao
nhiêu đồng giá trị sản lượng, doanh thu trong kỳ.
Tổng lợi nhuận.
* Tỉ suất lợi nhuận vốn sản xuất = ---------------------------------------------------
Tổng số vốn sản xuất bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết số LN được tạo ra trên một đồng vốn sản xuất trong kỳ.
2.2 - Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định:
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định, cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu bao
gồm các chỉ tiêu tổng hợp và phân tích:
* Các chỉ tiêu tổng hợp:
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định: Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng vốn cố định có
thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu hoặc giá trị tổng sản lượng.
17
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
Doanh thu (giá trị tổng sản lượng)
Hiệu suất sử dụng vốn cố định = --------------------------------------------
Số vốn cố định bình quân trong kỳ
Số vốn cố định Đ.kỳ + Số vốn cố định C.kỳ
Số vốn cố định BQ trong kỳ = -----------------------------------------------------
2
Số vốn cố định = Nguyên giá TSCĐ - Số tiền khấu hao luỹ kế
đầu kỳ (cuối kỳ) đầu kỳ (cuối kỳ) đầu kỳ (cuối kỳ)
Số vốn cố định bình quân trong kỳ
Hàm lượng vốn cố định = ----------------------------------------------
Doanh thu (giá trị tổng sản lượng)
Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra 1 đồng doanh thu hoặc giá trị tổng sản lượng
cần bao nhiêu đồng vốn cố định.
- Tỉ suất lợi nhuận vốn cố định: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định
trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
LN trước thuế (hoặc sau thuế thu nhập)
Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định = -------------------------------------------------
Số vốn cố định bình quân trong kỳ
* Các chỉ tiêu phân tích:
- Hệ số hao mòn tài sản cố định: Phản ánh mức độ hao mòn của tài sản cố định
trong doanh nghiệp so với thời điểm đầu tư ban đầu:
Số tiền khấu hao luỹ kế
18
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
Hệ số hao mòn TSCĐ = --------------------------------------------------
Nguyên giá TSCĐ ở thời điểm đánh giá
- Hiệu suất sử dụng TSCĐ: Phản ánh 1 đồng TSCĐ trong kỳ tạo ra được bao
nhiêu đồng doanh thu hoặc giá trị tổng sản lượng.
-
Doanh thu (giá trị tổng sản lượng)
Hiệu suất sử dụngTSCĐ = ------------------------------------------------
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
- Hệ số trang bị TSCĐ cho 1 công nhân sản xuất trực tiếp: Phản ánh giá trị
TSCĐ bình quân trang bị cho 1 công nhân trực tiếp sản xuất:
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
Hệ số trang bị TSCĐ = --------------------------------------------------
Số lượng công nhân trực tiếp sản xuất
- Hệ số sử dụng máy móc thiết bị về công suất: Hệ số này phản ánh năng lực
hoạt động của máy móc trong doanh nghiệp cao hay thấp bằng tỉ lệ giữa công suất mà
chúng đạt được thực tế và công suất thiết kế.
Công suất thực tế máy móc thiết bị
Hệ số sử dụng máy móc = --------------------------------------------------
(thiết bị về công suất) Công suất thiết kế của máy móc thiết bị
- Hệ số sử dụng máy móc thiết bị về thời gian: Chỉ tiêu này phản ánh tình hình
sử dụng thời gian làm việc của máy móc thiết bị sản xuất:
19
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688
Thời gian làm việc thực tế
Hệ số sử dụng máy móc = -----------------------------------------
thiết bị về thời gian Thời gian làm việc theo chế độ
- Kết cấu TSCĐ của doanh nghiệp : Phản ánh quan hệ tỉ lệ gữa giá trị từng
nhóm, loại TSCĐ trong tổng số giá trị TSCĐ của doanh nghiệp ở thời điểm đánh giá.
Chỉ tiêu này giúp cho doanh nghiệp đánh giá mức độ hợp lý trong cơ cấu TSCĐ được
trang bị ở doanh nghiệp.
2.3 - Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
- Sức sản xuất của vốn lưu động: Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động
đem lại bao nhiêu đồng giá trị sản lượng hay doanh thu trong kỳ.
Giá trị tổng sản lượng (doanh thu)
Sức sản xuất vốn lưu động = ---------------------------------------------
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
- Sức sinh lợi của vốn lưu động: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động
tạo ra mấy đồng lợi nhuận trong kỳ:
Lợi nhuận
Sức sinh lợi vốn lưu động = ---------------------------------------------
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
- Số vòng quay vốn lưu động: Chỉ tiêu này đánh giá tốc độ luân chuyển vốn lưu
động, nó cho biết vốn lưu động quay bao nhiêu vòng trong kỳ. Vòng quay vốn càng
nhanh thì kỳ luân chuyển vốn càng được rút ngắn, vốn lưu động càng được sử dụng
có hiệu quả.
Tổng doanh thu thuần
Số vòng quay vốn lưu động = -----------------------------------
Vốn lưu động bình quân
20