Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh nhnno & ptnt đông hà nội

  • 86 trang
  • file .docx
Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một loại hình Doanh nghiệp không những thích
hợp đối với nền kinh tế của những nước công nghiệp phát triển mà nó còn đặc
biệt thích hợp với nền kinh tế của những nước đang phát triển. Ở nước ta
trước đây, việc phát triển các DNVVN cũng đã được quan tâm, song chỉ từ
khi có đường lối đổi mới kinh tế do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng thì
các Doanh nghiệp này mới thực sự phát triển nhanh về cả số và chất lượng.
Trong điều kiện của những bước đi ban đầu thực hiện công nghiệp hóa và
hiện đại hoá đất nước, có thể khẳng định việc đẩy mạnh phát triển DNVVN là
bước đi hợp quy luật đối với ta. DNVVN là công cụ góp phần khai thác toàn
diện mọi nguồn lực kinh tế đặc biệt là những nguồn lực tiềm tàng sẵn có ở
mỗi người, mỗi miền của đất nước. Loại hình DN này phát triển chắc chắn sẽ
có tác dụng to lớn trong việc giải quyết các mối quan hệ mà quốc gia nào
cũng phải quan tâm chú ý đến : tăng trưởng kinh tế – giải quyết việc làm –
kiềm chế lạm phát.
Song DNVVN cũng gặp không ít khó khăn trong quá trình hoạt động kinh
doanh của mình, đặc biệt là thiếu vốn để mở rộng đầu tư chiều sâu. Xuất phát
từ đường lối chủ trương đa dạng hoá các thành phần kinh tế, nhu cầu vốn cấp
bách của các Doanh nghiệp, cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường và thị phần Chi
nhánh NHNNo & PTNT Đông Hà Nội đã tập trung ưu tiên cấp tín dụng cho
khách hàng vừa và nhỏ. Nhưng với một Chi nhánh mới thành lập từ 7/2003,
hoạt động tín dụng của Chi nhánh nói chung và hoạt động tín dụng đối với
DNVVN nói riêng cũng còn nhiều mặt hạn chế. Như chưa đáp ứng đủ nhu
cầu vốn vay, mới giải quyết được nhu cầu vốn trong ngắn hạn là chủ yếu,
hình thức tín dụng nghèo nàn.
Vì vậy, trong quá trình thực tập tại Chi nhánh em đã chọn đề tài “Giải pháp
nâng cao chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh
1
Luận văn tốt nghiệp
NHNNo & PTNT Đông Hà Nội “ để làm luận văn. Ngoài phần mở đầu và kết
luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ của
Ngân hàng Thương Mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại Chi nhánh NHNNo & PTNT Đông Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với
Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh NHNNo & PTNT Đông Hà Nội.
Do kiến thức còn hạn chế, trình độ hiểu biết chưa rộng, thời gian nghiên cứu
còn hạn hẹp nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
thầy cô và bạn đọc thông cảm.
Xin cám ơn Tiến sĩ Đàm Văn Huệ và các cô chú tại Chi nhánh NHNNo &
PTNT Đông Hà Nội đã giúp em hoàn thành luận văn này.
2
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA
VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tín dụng ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sự phát triển của
nền kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế
có tư cách pháp nhân được tổ chức ra để hoạt động kinh doanh trong một lĩnh
vực nhất định với mục đích công ích hoặc thu lợi nhuận. Thông thường cần
có 3 điều kiện sau để được công nhận là một Doanh nghiệp :
- Có tư cách pháp nhân đầy đủ ( doanh nghiệp được Nhà nước thành lập,
công nhận hay cho phép hoạt động ) .
- Có vốn pháp định để kinh doanh.
- Có tên gọi và hoạt động với danh nghĩa riêng, chịu trách nhiệm độc lập về
mọi hoạt động kinh doanh của mình.
Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong
phú, có thể phân loại các doanh nghiệp theo các tiêu chí sau :
Thứ nhất: dựa vào quan hệ sở hữa về vốn và tài sản, các doanh nghiệp được
chia thành Doanh nghiệp Nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp sở
hữu hỗn hợp.
- Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước thành lập, đầu tư
vốn và quản lý nó với tư cách là chủ sở hữu.
- Doanh nghiệp tư nhân là những doanh nghiệp do cá nhân đầu tư vốn và tự
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
nghiệp.
3
Luận văn tốt nghiệp
- Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp là các doanh nghiệp có sự đan xen của các
hình thức sở hữu khác nhau trong cùng một doanh nghiệp.
Cách phân loại này chỉ rõ quan hệ sở hữu về vốn và tài sản trong các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Đồng thời là một trong các
căn cứ để Nhà nước có chính sách kinh tế và định hướng phát triển phù hợp
đối với từng loại doanh nghiệp.
Thứ hai: dựa vào mục đích kinh doanh người ta chia doanh nghiệp thành
doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích.
- Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh là tổ chức kinh tế do Nhà nước thành
lập hoặc thừa nhận, hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường. Mục tiêu số
một là thu lợi nhuận tối đa.
- Doanh nghiệp hoạt động công ích ( thường là doanh nghiệp Nhà nước ) là
tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động về sản xuất, lưu thông hay cung cấp
các dịch vụ công cộng, trực tiếp thực hiện các chính sách xã hội của Nhà
nước hoặc thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc phòng. Mục tiêu chính của các
doanh nghiệp này là hiệu quả kinh tế và xã hội.
Phân loại theo hình thức này là cơ sở để chọn tiêu thức đánh giá lợi ích xã hội
của doanh nghiệp cho hợp lý và là một trong những căn cứ quan trọng để xác
định chính sách tài trợ của Nhà nước.
Thứ ba: dựa vào lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp có thể chia làm hai
loại là doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính.
- Doanh nghiệp tài chính là các tổ chức tài chính trung gian như các ngân
hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm...Những doanh nghiệp
này có khả năng cung ứng cho nền kinh tế các loại dịch vụ về tài chính, tiền
tệ, tín dụng, bảo hiểm...
- Doanh nghiệp phi tài chính là các doanh nghiệp lấy sản xuất kinh doanh
sản phẩm làm hoạt động chính.
Phân loại theo tiêu thức này chỉ ra chức năng của từng loại doanh nghiệp.
Chức năng chủ yếu của các doanh nghiệp tài chính là làm môi giới thu hút và
4
Luận văn tốt nghiệp
chuyển giao vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu để đầu tư phát triển kinh tế.
Đối với các doanh nghiệp phi tài chính, chức năng chủ yếu là cung cấp các
sản phẩm, hàng hoá hay dịch vụ phi tài chính đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của
nền kinh tế. Qua tiêu thức phân loại này Nhà nước có thêm căn cứ để hoạch
định các chính sách quản lý phù hợp với mỗi loại hình doanh nghiệp trong
từng ngành nghề,
Thứ tư: dựa vào quy mô kinh doanh người ta chia doanh nghiệp thành các
loại doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ.
Việc quy định thế nào là doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ là tuỳ thuộc vào điều
kiện kinh tế xã hội cụ thể của từng nước và nó cũng thay đổi theo từng thời
kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế. Tại nước ta, tiêu chí phân loại DNVVN
đã được quy định tạm thời tại công văn số 681/CP – KTN ngày 20/6/1998 của
Thủ tướng Chính phủ. Theo quy định tại công văn này, tiêu chí xác định
DNVVN là vốn và số lao động. Cụ thể là DNVVN là doanh nghiệp có vốn
điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người.
Để khuyến khích và tạo thuận lợi cho việc phát triển các DNVVN, ngày
23/11/2001 Chính phủ đã ra nghị định 90/2001/NĐ - CP. Trong đó quy định
DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo
pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động
trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế xã
hội cụ thể của ngành, địa phương trong quá trình thực hiện các biện pháp,
chương trình trợ giúp có thể áp dụng linh hoạt đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và
lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu trên.
5
Luận văn tốt nghiệp
TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH DNVVN Ở MỘT SỐ QUỐC GIA
Tổng số vốn hoặc
Tên nước Số lao động
giá trị tài sản
< 50 trong bán lẻ < 10 triệu yên
Nhật <100 trong bán buôn < 30 triệu yên
< 300 ngành khác < 100 triệu yên
Mỹ < 500
Thái Lan < 100 < 20 triệu bạt
Xin ga po < 100 < 499 triệu SD
Phi líp pin < 200 < 100 triệu pê-sô
In đo nê xia < 100 < 0,6 tỉ ru-pi
Nguồn: Phát triển SME trong quá trình công nghiệp hoá ở Việt Nam và Kinh nghiệm phát
triển DNVVN ở Mỹ – Tạp chí NCKT.
Một số đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ :
Doanh nghiệp vừa và nhỏ tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế. Ở
nước ta, DNVVN chiếm 33,6% trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài; 65,9% trong các hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã; 94,6% công ty
trách nhiệm hữu hạn; 99,4% doanh nghiệp tư nhân; 65,9% doanh nghiệp Nhà
nước và gần 100% doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vực nông thôn là các
DNVVN.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có tính năng động và linh hoạt cao trước những
thay đổi của thị trường, có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển
hướng mặt hàng nhanh vì vốn đầu tư ít và thu hồi vốn nhanh. Các DNVVN dễ
phát huy bản chất hợp tác, có thể duy trì tự do cạnh tranh và phát huy tiềm lực
ở trong nước.
6
Luận văn tốt nghiệp
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ, có hiệu
quả. Các quyết định quản lý được đưa ra và thực hiện nhanh chóng, không
ách tắc và tránh phiền hà nên có thể tiết kiệm tối đa chi phí quản lý DN.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vốn ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh, hiệu quả
cao, tạo ra nhiều khả năng đầu tư của các cá nhân và mọi thành phần kinh tế.
Bên cạnh một số đặc điểm thể hiện những ưu diểm trên, DNVVN cũng còn
những đặc điểm bộc lộ mặt hạn chế như trang thiết bị công nghệ không bắt
kịp thời đại, trình độ quản lý sản xuất kinh doanh còn thấp, khó khăn thâm
nhập vào thị trường thế giới, khu vực và mở rộng thị phần. Đặc biệt, một mặt
hạn chế rất đáng quan tâm của các DNVVN là khó khăn khi tiếp xúc với các
kênh huy động vốn. Với đặc trưng quy mô kinh doanh là vừa và nhỏ, vốn
điều lệ ban đầu thấp ( dưới 10 tỷ VNĐ ) nên không đáp ứng được nhu cầu vốn
cho đầu tư. Nguồn tài chính hạn hẹp, quy mô lợi nhuận nhỏ bé dẫn đến tỷ lệ
vốn từ lợi nhuận đạt được không cao, tích tụ tập trung để tái sản xuất diễn ra
chậm chạp. Với DNVVN, giá trị tài sản thuần thấp ( tổng giá trị tài sản của
DN sau khi trừ đi nợ phải trả ), uy tín trên thương trường không cao, trình độ
về lĩnh vực sản xuất kinh doanh cũng như nhiều lĩnh vực có liên quan khác
còn hạn chế, đa số là DNNQD không được hưởng nhiều các ưu đãi, chính
sách hỗ trợ của Chính phủ và Nhà nước... nên các nhà đầu tư coi đây là khu
vực rủi ro cao, mang tâm lý e ngại dè dặt. Chính vì vậy, DNVVN gặp nhiều
trở ngại khi tiếp cận các kênh huy động vốn trong nền kinh tế.
1.1.1.2 Vai trò của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Xét về mặt lịch sử, sự ra đời và phát triển của các nước tư bản có nền đại
công nghiệp phát triển gắn với những công ty, tập đoàn kinh tế lớn như ngày
nay thì sự khởi đầu của họ cũng là những xí nghiệp, công trường thủ công sản
xuất nhỏ. Trong quá trình phát triển, sự tích tụ và tập trung vốn cùng với quá
trình cạnh tranh gay gắt giữa những xí nghiệp trong nước và ngoài nước đã
tạo ra những tập đoàn kinh tế lớn như ngày nay. Tuy vậy, ngay cả ở các nước
tư bản phát triển, các DNVVN vẫn giữ một vị trí quan trọng và ngày càng
7
Luận văn tốt nghiệp
được khẳng định. Bởi vì nhiều lĩnh vực kinh tế chỉ có thể sản xuất kinh doanh
có hiệu quả bởi các DNVVN. Sau thời kỳ suy thoái kinh tế những năm đầu
thập niên 30, người ta luận ra rằng khu vực DNVVN là nhân tố cực kỳ quan
trọng thúc đẩy và mở rộng cạnh tranh, bảo đảm và ổn định kinh tế, phòng
chống nguy cơ khủng hoảng. Thật vậy, khu vực DNVVN là xương sống trong
nền kinh tế của nhiều quốc gia hiện tại và cả tương lai. Đặc biệt khi cuộc
Cách mạng khoa học và công nghệ ngày càng phát triển đã tạo điều kiện cho
các DNVVN nhiều cơ hội tập trung kỹ thuật, có khả năng sản xuất các sản
phẩm không thua kém các doanh nghiệp lớn. Mặt khác xét trên phạm vi toàn
cầu hiện nay về tính chất cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đang chuyển từ
cạnh tranh giá cả sang cạnh tranh về chất lượng và công nghệ. Trong điều
kiện này, lợi thế của các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ bị giảm sút. Sự phát
triển của chuyên môn hoá và hợp tác hoá đã không cho phép một doanh
nghiệp tự khép kín chu trình sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả. Mà
với mô hình sản xuất kiểu vệ tinh, trong đó các DNVVN là vệ tinh của doanh
nghiệp lớn tỏ ra rất thích hợp.
Như vậy, một nền kinh tế hiện đại thì DNVVN ngày càng không thể tan biến
trong các tập đoàn kinh tế lớn mà khả năng hợp tác để mở rộng lại ngày càng
tăng.
Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển, đang tiến tới một nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì DNVVN càng có ý nghĩa quan trọng.
Thể hiện cụ thể trên các mặt sau :
- DNVVN chiếm tỷ trọng cao về số lượng, thu hút nhiều lao động và đóng
góp phần lớn thu nhập quốc dân cho đất nước. Theo số liệu thống kê của các
nhà kinh tế, hiện nay DNVVN của nước ta chiếm trên 80% tổng số doanh
nghiệp, tạo công ăn việc làm cho khoảng 95% lao động xã hội. Như vậy, phát
triển DNVVN là chủ trương đúng đắn của Đảng, nó được gắn liền với đường
lối phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng theo định hướng kinh tế thị
8
Luận văn tốt nghiệp
trường nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, góp phần vào ổn định tình
hình kinh tế xã hội.
- Các DNVVN đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hoá và cung
cấp dịch vụ, có vai trò bổ sung cho các doanh nghiệp lớn, là xí nghiệp gia
công vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn cùng hệ thống và là màng lưới tiêu thụ
hàng hoá cho các doanh nghiệp lớn. Hiện DNVVN chiếm khoảng 31% tổng
sản lượng công nghiệp hàng năm, 78% doanh số bán lẻ trong thương nghiệp,
64% khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hoá.
- Các DNVVN đáp ứng tích cực, kịp thời nhu cầu tiên dùng ngày càng
phong phú và đa dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được, chế biến
hàng hoá xuất khẩu và tăng kim ngạch xuất khẩu. Hệ thống siêu thị cũng
không thể thay thế được các cửa hàng bán lẻ, những nhà máy quy mô lớn hiện
đại không sản xuất được những sản phẩm đơn chiếc. Bằng sự đa dạng ngành
nghề, tính nhạy cảm thị trường các DNVVN sẽ có nhiều thuận lợi trong sản
xuất và cung cấp dịch vụ, đáp ứng mọi sản phẩm và nhu cầu tiêu dùng của xã
hội. Với lợi thế so sánh về các nguyên liệu nông lâm thuỷ hải sản để sản xuất
hàng hoá xuất khẩu, lợi thế về ngành nghề thủ công truyền thống đã tạo ra
khả năng vô cùng to lớn cho khu vực DNVVN tham gia sản xuất, gia công
chế biến, đại lý khai thác cho xuất khẩu. Do DN lớn hạn chế về khu vực địa
lý, phương pháp tổ chức sản xuất và nếu muốn kinh doanh thường phải sử
dụng các DNVVN làm vệ tinh thu mua nguyên liệu, chế biến, đóng gói...
- Các DNVVN có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương,
khai thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng sản xuất. Phát triển DNVVN sẽ
giúp các địa phương khai thác thế mạnh về đất đai, tài nguyên, lao động trong
mọi lĩnh vực phục vụ phát triển kinh tế địa phương. Từng địa phương cũng bị
giới hạn bởi ngân sách, khả năng tích tụ và tập trung vốn của DN tư nhân
không nhiều nên việc phát triển doanh nghiệp lớn là hạn chế. Chính vì vậy,
Đảng và Chính phủ ta đưa ra các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại
9
Luận văn tốt nghiệp
ở vùng núi phía Bắc, vùng cao nguyên Nam trung bộ và phát huy các làng
nghề truyền thống.
Như vậy, có thể khẳng định vị trí và vai trò của các DNVVN, đồng thời việc
chú trọng phát triển các DNVVN là một trong những hướng chiến lược quan
trọng trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
10
Luận văn tốt nghiệp
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ DNVVN Ở VIỆT NAM
TT Vai trò Tỷ lệ ( % )
1 Góp phần tăng trưởng kinh tế 51,7
2 Tạo việc làm, tăng thu nhập 88,5
3 Tăng tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế 83,2
4 Tham gia đào tạo đội ngũ các nhà kinh doanh Việt Nam 63,2
Nguồn: Chính sách hỗ trợ phát triển DNVVN ở Việt Nam
1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về tín dụng Ngân hàng
1.1.2.1 Khái niệm về tín dụng Ngân hàng
Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng
– Ngân hàng thợ vàng. Họ tiến hành mua bán, trao đổi ngoại tệ, bản tệ và thu
lợi nhuận từ chênh lệch giá. Những nhà buôn tiền này cất trữ hộ nhiều người
khác là điều kiện thực hiện thanh toán hộ cho các thương gia, lãnh chúa, địa
chủ...Do tính chất vô danh của tiền cùng với sự phân biệt giữa sản xuất và tiêu
thụ, tính thời vụ trong sản xuất, mua bán sản phẩm thì tín dụng thương mại đã
xuất hiện. Đó là quan hệ tín dụng được hình thành trên cơ sở mua bán chịu
hàng hoá. Nhờ có tín dụng thương mại mà các doanh nghiệp không chỉ được
đáp ứng nhu cầu vốn mà còn tiêu thụ được hàng hoá của mình. Song tín dụng
thương mại chỉ có thể thực hiện giữa những người có quan hệ giao dịch
thường xuyên trong phạm vi mua bán chịu hàng hoá đã thực hiện, vốn cho
vay là một bộ phận nằm trong chu kỳ của người cho vay nên không thể kéo
dài thời hạn. Nghĩa là tín dụng thương mại bị hạn chế về phạm vi qui mô, về
thời hạn và chiều hướng của quan hệ tín dụng.
Từ đó, tín dụng Ngân hàng đã ra đời nhằm khắc phục mặt hạn chế trên của tín
dụng thương mại. Tín dụng Ngân hàng là hoạt động tài trợ của Ngân hàng cho
khách hàng, là loại hình dịch vụ chủ yếu của Ngân hàng – tổ chức tài chính
cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất và thực hiện nhiều
chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền
kinh tế. Tín dụng Ngân hàng là hình thức phát triển cao của tín dụng nói
11
Luận văn tốt nghiệp
chung, về bản chất vẫn là quá trình chuyển dịch vốn dưới hình thái tiền tệ hay
hiện vật của một tổ chức hay cá nhân này cho một tổ chức hay cá nhân khác
sử dụng trong một thời gian nhất định trên nguyên tắc hoàn trả. Song điểm
khác biệt của tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng ở đây là bằng tiền tệ
giữa một bên là Ngân hàng, một tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh vực
tiền tệ, đóng cả vai trò đi vay và cho vay với một bên là tất cả các thành phần
kinh tế trong xã hội. Tín dụng Ngân hàng được hình thành trên cơ sở các
nghiệp vụ tín dụng. Tín dụng ngân hàng ngày càng phát triển mạnh, phạm vi
hoạt động ngày càng rộng và trở thành hình thức tín dụng chủ yếu trong nền
kinh tế thay thế tín dụng thương mại. Nó luôn phát huy được vai trò đáp ứng
nhu cầu về vốn để duy trì và mở rộng quá trình tái sản xuất đồng thời được sử
dụng như một công cụ tài trợ cho những ngành kinh tế khác phát triển theo
yêu cầu phát triển kinh tế của Nhà nước.
1.1.2.2 Phân loại tín dụng Ngân hàng
Phân loại theo hình thức cấp tín dụng :
Chiết khấu thương phiếu : đây là nghiệp vụ đơn giản, khách hàng gửi thương
phiếu tới Ngân hàng xin chiết khấu, Ngân hàng kiểm tra chất lượng của
thương phiếu và tiến hành chiết khấu nghĩa là đưa tiền cho khách hàng và
nắm giữ thương phiếu. Số tiền này căn cứ vào lãi suất, thời hạn và lệ phí chiết
khấu. Các NHTM thường tái chiết khấu thương phiếu tại NHNN để đáp ứng
nhu cầu thanh khoản.
Cho vay : bao gồm thấu chi, cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay
luân chuyển, cho vay trả góp. Có thể hiểu chung nhất cho vay là việc Ngân
hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết sẽ trả nợ gốc và lãi trong một thời
gian xác định. Thấu chi là nghiệp vụ mà Ngân hàng cho phép người vay chi
vượt số dư trong tài khoản tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất
định và trong khoảng thời gian xác định. Cho vay trực tiếp từng lần thường áp
dụng với khách hàng có nhu cầu thời vụ, mỗi lần vay khách hàng phải làm
đơn và trình phương án dùng vốn vay. Ngân hàng xem xét và đưa ra qui mô
cho vay, thời hạn trả nợ, lãi suất...Cho vay theo hạn mức là Ngân hàng thoả
thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng - số dư tối đa tại thời điểm tính.
12
Luận văn tốt nghiệp
Hạn mức được xác định dựa vào kế hoạch SXKD của khách hàng, nhu cầu
vốn và nhu cầu vay của họ. Cho vay luân chuyển là dựa vào sự luân chuyển
của hàng hoá, DN khi không đủ vốn mua hàng, Ngân hàng sẽ cho vay và thu
nợ khi DN bán được hàng. Cho vay trả góp thường áp dụng với món vay
trung dài hạn, khách hàng được phép trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín
dụng.
Cho thuê: là việc Ngân hàng mua tài sản để cho khách hàng thuê theo thỏa
thuận cụ thể. Tài sản cho thuê thuộc sở hữu của Ngân hàng, Ngân hàng có thể
bán hay cho người khác thuê khi người thuê không trả nợ được. Cho thuê có
hai hình thức là cho thuê nghiệp vụ và cho thuê tài chính. Hoạt động cho thuê
của Ngân hàng chủ yếu là cho thuê tài chính, nó đáp ứng nhu cầu thuê trong
thời gian dài và người đi thuê có quyền mua lại tài sản khi hết hợp đồng thuê.
 Phân loại theo tài sản đảm bảo:
Về nguyên tắc mọi khoản tín dụng đều có đảm bảo nhưng với các khách hàng
uy tín, tài chính mạnh... hay các món vay theo chỉ thị của Chính phủ thì
không cần tài sản đảm bảo. Có 2 nghiệp vụ đảm bảo là cầm cố và thế chấp.
Cầm cố là hình thức mà người vay phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm
bảo sang cho Ngân hàng trong thời gian xác định, thường là bằng thời gian
nhận tài trợ. Thế chấp là hình thức mà người vay phải chuyển các giấy tờ
chứng nhận quyền sở hữu hay quyền sử dụng tài sản đảm bảo sang Ngân hàng
nắm giữ trong thời gian cam kết.
 Phân loại theo thời gian:
Do thời gian liên quan đến tính sinh lời và an toàn của tín dụng nên phân chia
theo thời gian là cần thiết. Tín dụng ngắn hạn là từ 12 tháng trở xuống và
thường tài trợ cho tài sản lưu động. Tín dụng trung hạn là từ 1 đến 5 năm,
thường tài trợ cho tài sản cố định. Tín dụng dài hạn là trên 5 năm, tài trợ cho
các công trình xây dựng như cầu, đường, máy móc thiết bị sử dụng lâu dài.
 Phân loại theo rủi ro :
13
Luận văn tốt nghiệp
Rủi ro nói chung là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến. Còn rủi ro tín
dụng được hiểu là khả năng xảy ra những tổn thất mà Ngân hàng phải chịu do
khách hàng không trả, trả không đúng hạn hay không trả đủ vốn và lãi. Tín
dụng gồm các khoản có độ an toàn cao, khá, trung bình và thấp. Cách phân
loại này giúp Ngân hàng đánh giá được kịp thời các khoản tín dụng, giúp cho
việc đánh giá chất lượng tín dụng.
Ngoài ra, còn có thể xem xét nghiệp vụ tín dụng theo ngành kinh tế công
nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; theo mục đích sử dụng khoản tài trợ là sản
xuất, tiêu dùng hay thương mại...Quan hệ tín dụng được thiết lập giữa hai bên
là Ngân hàng và khách hàng, khách hàng là đối tác hết sức quan trọng trong
hoạt động tín dụng với Ngân hàng. Vì vậy, người ta cũng phân chia khách
hàng thành DN lớn, DN vừa và nhỏ, cá nhân hộ gia đình.
1.1.3 Tầm quan trọng của tín dụng tới doanh nghiệp vừa và nhỏ
Vốn kinh doanh là yếu tố tiền đề của mọi quá trình đầu tư. Trong nền kinh tế
bao cấp với cơ chế kế hoạch hoá tập trung đã không quan niệm vốn là hàng
hoá đặc biệt vì vốn được rót từ ngân sách và Ngân hàng. Vốn đã không được
sử dụng hiệu quả do không có nơi giao dịch trên thị trường, điều đó đã làm
mất đi vai trò khách quan của nó trong sản xuất và đầu tư.
Có thể khái quát, vốn kinh doanh ( bao gồm vốn sử dụng cho sản xuất kinh
doanh và vốn đầu tư tài chính của doanh nghiệp ) là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ tài sản được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
Đối với bất kỳ một DN nào, vốn cũng là yếu tố cơ bản không thể thiếu của
mọi quy trình SXKD. Nó là điều kiện để đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng
sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm và thu nhập cho người
lao động...từ đó tạo điều kiện để doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh trên thị
trường, mở rộng xuất khẩu, nâng cao hiệu quả SXKD. Tạo vốn được hiểu
theo nghĩa rộng là làm cho đồng tiền từ khâu dự trữ đi vào khâu lưu thông
trên cơ sơ đảm bảo nguyên tắc sinh lời. Khi thành lập cũng như trong quá
trình phát triển, các DN phải xác định được nhu cầu vốn, cần xem xét có thể
tạo vốn từ những nguồn nào, dưới hình thức nào với chi phí vốn thấp nhất, từ
14
Luận văn tốt nghiệp
đó để có thể bảo đảm đầy đủ vốn, sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh vòng
quay vốn. Đây là vấn đề hết sức quan trọng và khó khăn đặc biệt với các
DNVVN.
Căn cứ vào phạm vi huy động nguồn vốn mà DNVVN có khả năng huy động
thì có thể chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài DN.
Nguồn vốn bên trong thể hiện khả năng tự tài trợ của DN. Nguồn vốn bên
trong bao gồm vốn chủ sở hữu bỏ ra đầu tư ban đầu và một phần nguồn vốn
từ chính hoạt động của bản thân DN. Tuy nhiên DNVVN với đặc điểm vốn
đầu tư ban đầu thường ít, quá trình tích tụ tập trung để tái sản xuất diễn ra
chậm chạp nên nguồn vốn bên trong này không đủ đáp ứng nhu cầu vốn cho
đầu tư, vượt quá khả năng vốn liếng của chủ DN. Điều đó đòi hỏi các
DNVVN phải huy động tìm kiếm nguồn vốn từ bên ngoài DN. Sự phát triển
của nền kinh tế thị trường đã làm nảy sinh nhiều hình thức và phương pháp
huy động vốn mới cho DN. Đó có thể là vay vốn Ngân hàng, thuê tài chính,
vay của bạn bè người thân hay đối tác, gọi vốn liên doanh liên kết, phát hành
chứng khoán hoặc thu hút vốn thông qua sáp nhập DN, cổ phần hoá DN. Thị
trường chứng khoán nước ta mới được thành lập còn non trẻ và rất nhiều tồn
tại cần khắc phục, nên DNVVN phát hành chứng khoán khó đáp ứng các yêu
cầu, thủ tục rườm rà và khả năng hiệu quả là thấp. Liên doanh liên kết hay sáp
nhập cần xem xét cân nhắc kỹ lưỡng, làm mất tính chủ động của chủ DN cũng
như hoạt động kinh doanh bị rằng buộc chặt chẽ. Trong các DNVVN đặc biệt
các DN tư nhân thường tạo nguồn vốn bằng cách đi vay của bạn bè hay người
thân, thị trường vốn “ chìm “. Tuy nhiên hình thức này nhiều khả năng nảy
sinh phức tạp mối quan hệ kinh doanh, quan hệ gia đình xã hội, không ổn
định cũng như chịu chi phí vốn cao.
Đa phần DNVVN ở nước ta thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, đất
nước ta lại trải qua nhiều năm chiến tranh khốc liệt nên không có được quá
trình tích tụ và tập trung vốn do đó vốn rất nghèo nàn. Điều này đã gây khó
khăn cho các DNVVN trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh, giảm sức
cạnh tranh và hiệu quả trong SXKD. Từ thời điểm thành lập đến trong quá
trình đầu tư mở rộng, DNVVN luôn ở trong tình trạng thiếu vốn. Nhưng cũng
15
Luận văn tốt nghiệp
vì cơ sở vật chất nhỏ bé, công nghệ chắp vá, thiết bị thấp kém... nên DNVVN
không tạo được sự tin cậy từ các nhà đầu tư, khó khăn trong huy động vốn.
Trước khi đổi mới, hoạt động tín dụng của Ngân hàng tập trung 90% vào DN
Nhà nước mà chủ yếu là các DN lớn. Ưu thế của DNVVN bị hạn chế, tốc độ
phát triển chậm chạp. Nhưng những đổi mới trong đường lối chủ trương của
Đảng cộng sản Việt Nam đã khơi nguồn cho sự ra đời và phát triển của DN
ngoài quốc doanh nói chung và DNVVN nói riêng. Đại hội lần thứ 6 của
Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định “ Chính sách kinh tế nhiều thành
phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản
xuất lớn xã hội chủ nghĩa, và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế bảo đảm
mọi người được làm ăn theo pháp luật “. Nhiều đạo luật mới như luật DN tư
nhân, luật công ty có hiệu lực thi hành...đã giúp DNVVN có hành lang pháp
lý đầy đủ hơn, hoạt động bài bản hơn, nâng cao hiệu quả SXKD và cũng chịu
sự giám sát chặt chẽ hơn. Trong khi các DN lớn mà hầu hết là các DNNN với
bộ máy cồng kềnh đang trì trệ trong nền kinh tế thị trường sôi động thì ngược
lại, DNVVN mà chủ yếu nằm trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đang
nổi lên với sự năng động linh hoạt cao, nhanh chóng nắm bắt thời cơ kinh
doanh. Bộ máy quản lý điều hành gọn nhẹ, cùng sự nhạy bén và táo bạo đã
kịp thời đề ra các phương án, dự án khả thi.
Do đó, trong các kênh huy động vốn thì vốn tín dụng từ các NHTM là dễ
dàng tiếp cận đối với DNVVN hơn cả. Trong nền kinh tế thị trường, Ngân
hàng đóng vai trò là các trung gian tài chính, mục tiêu hoạt động là tích tụ tập
trung vốn để cung cấp cho mọi thành phần kinh tế, cho mọi DN với quy mô
lớn và thời gian dài ổn định. Tín dụng Ngân hàng có đặc trưng cơ bản là tính
hoàn trả và sinh lời. Tháng 3/1996 là cột mốc quan trọng trong hoạt động của
các NHTM với sự chuyển hẳn sang lãi suất dương của Ngân hàng, xoá bỏ
phân biệt lãi suất cho vay theo thành phần kinh tế. Những thay đổi đó đã tạo
ra sự bình đẳng đối với các DNNQD trong quan hệ tín dụng Ngân hàng. Vì
vậy, cùng với sự nhìn nhận đúng đắn của NHTM về các DNVVN, những ưu
đãi nới lỏng phù hợp với tình hình các DNVVN tạo điều kiện cho DN tiếp cận
vốn của Ngân hàng thì các DNVVN cũng phải nỗ lực đảm bảo các điều kiện
16
Luận văn tốt nghiệp
từ phía Ngân hàng. Đó cũng chính là “ người đánh giá” quan trọng phương
hướng và tình hình kinh doanh của DN. Vì thế, càng buộc các DNVVN cố
gắng làm ăn có lãi, tiết kiệm chi phí, hoàn trả vốn và trả lãi đúng hạn, nâng
cao trách nhiệm hơn với đồng vốn từ Ngân hàng tài trợ. Thông qua tín dụng
Ngân hàng, tăng cường sử dụng vốn đúng mục đích, hạn chế kinh doanh bất
hợp pháp của các doanh nghiệp và có thể tham gia định hướng các ngành SX,
lĩnh vực kinh doanh mà Nhà nước mong muốn.
Để đáp ứng những yêu cầu của chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần,
cũng như chia sẻ rủi ro trong hoạt động tín dụng các NHTM Việt Nam đã tích
cực tăng trưởng khối lượng tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh nói chung và DNVVN nói riêng. Năm 1995, không kể DNNN, DN có
vốn đầu tư nước ngoài, dư nợ cho vay trung và dài hạn đối với DNNQD là
654 tỷ đồng, chiếm 45,8% tổng dư nợ trung và dài hạn. Đến năm 1999 con số
này lên tới 2862,3 tỷ đồng, chiếm 32,9%. Tuy tốc độ tăng chậm hơn DNNN
nhưng dư nợ trung dài hạn của DNVVN vẫn tăng gấp 4,44 lần. Mặt khác, số
lượng DNVVN chiếm trên 80% DNNN nên xét về tỷ lệ dư nợ cho vay theo
quy mô DN thì tỷ trọng cho vay đối với DNVVN sẽ lớn hơn chứ không phải
là 32,9%. Các NHTM cũng đã và đang thực hiện nhiều chương trình tín dụng
dành cho DNVVN như chương trình tín dụng Đài Loan, Việt Đức,
SMDEF...Bằng nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng mà DNVVN có điều kiện
mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ tiên tiến. DNVVN đã sản xuất
ra sản phẩm có mẫu mã đẹp và chất lượng cao, góp phần cải thiện vị trí của
sản phẩm nội địa, làm giảm tâm lý chuộng hàng ngoại. Nhờ công nghệ và
thiết bị mới DN có khả năng tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm,
tăng sức cạnh tranh trên thị trong nước và quốc tế. Đồng thời DNVVN cũng
có điều kiện trau dồi thêm kinh nghiệm và trưởng thành hơn trong nền kinh tế
thị trường, làm quen với các lĩnh vực luật pháp có liên quan. Ngược lại, bên
cạnh nhiều DNNN quy mô lớn làm ăn không hiệu quả thì các công ty cổ
phần, công ty TNHH, công ty tư nhân...đầy linh hoạt, sáng tạo đang không
ngừng vươn lên. Đó chính là các khách hàng giàu tiềm năng, hiệu quả và
quan trọng với các NHTM. Bởi NHTM cũng thực hiện chế độ hạch toán kinh
17
Luận văn tốt nghiệp
doanh độc lập, với phương châm “đi vay để cho vay” đòi hỏi các Ngân hàng
phải thực sự năng động trong kinh doanh, phải quan tâm đến cả đầu vào và
đầu ra, bảo đảm tự trang trải mọi chi phí hoạt động và có lãi. Mở rộng cho
vay với các DNVVN không chỉ là mở rộng thị trường tín dụng cho Ngân hàng
mà còn giúp Ngân hàng có điều kiện đa dạng hoá khách hàng, mở rộng địa
bàn hoạt động và huy động vốn, mở rộng mạng lưới như thêm phòng giao
dịch, chi nhánh...Tín dụng Ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc thu hút
mọi nguồn vốn trong nước và quốc tế đầu tư cho các DNVVN thông qua các
chương trình, dự án, góp phần hỗ trợ vốn, trong đó chủ yếu vốn trung dài hạn
cho các DNVVN được thành lập, tồn tại và phát triển, giải quyết một lượng
lớn việc làm cho xã hội.
1.2 Chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại đối với các
DN vừa và nhỏ
1.2.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ. Ngân hàng kinh
doanh tiền tệ dưới hình thức huy động vốn, cho vay, đầu tư và cung cấp các
dịch vụ khác. Trong các hoạt động của Ngân hàng thì hoạt động tín dụng là
hoạt động quan trọng nhất. Hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng từ 85-95%
doanh thu, mang lại nhiều lợi nhuận nhất song cũng đồng nghĩa chứa đựng
mức độ rủi ro cao nhất. Trên thế giới cũng như tại nước ta hiện nay Ngân
hàng đang ngày càng đa dạng hoá khách hàng, đa dạng hoá các hình thức tín
dụng, mở rộng thị trường hoạt động... một mặt làm giảm bớt rủi ro tín dụng
song mặt khác lại làm tăng tính rủi ro do chịu sự tác động từ nhiều phía hơn.
NHTM là doanh nghiệp đặc biệt, cũng hạch toán kinh doanh độc lập, mục
tiêu cuối cùng cũng là lợi nhuận. Chính vì vậy, chất lượng tín dụng có tính
quyết định đến hiệu quả kinh doanh của NHTM. Vậy để có thể đánh giá và
đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng, nhằm bảo đảm NHTM
kinh doanh hiệu quả, tăng sức cạnh tranh trên thị trường thì chúng ta cần đưa
ra khái niệm chung về chất lượng tín dụng. Chất lượng tín dụng có thể được
hiểu một cách đơn giản là hiệu quả của việc cho vay mang lại, là khả năng
thu hồi đầy đủ và đúng hạn cả vốn gốc lẫn lãi theo dự định. Nghĩa là chất
18
Luận văn tốt nghiệp
lượng tín dụng được biểu hiện thông qua hiệu quả của khoản tài trợ và khả
năng thu gốc và lãi. Đó là mối quan hệ tỷ lệ thuận, chất lượng tín dụng càng
cao khi hiệu quả và khả năng thu nợ càng cao và ngược lại.
Hoạt động tín dụng rất đa dạng, gắn với nó là chất lượng tín dụng của các
khoản tín dụng trung dài hạn hay ngắn hạn; chất lượng tín dụng xem xét theo
đối tượng tín dụng là tài sản cố định hay lưu động; chất lượng tín dụng xem
xét theo mục đích tài trợ là thương mại, sản xuất hay tiêu dùng...Trong
chuyên đề này, chúng ta cần nghiên cứu chất lượng tín dụng đối với Doanh
nghiệp vừa và nhỏ – khách hàng của NHTM trong quan hệ tín dụng. Chất
lượng tín dụng đối với DNVVN là một khái niệm phản ánh khả năng mở rộng
tài trợ ( cho vay, thuê mua...) của Ngân hàng phù hợp với nhu cầu của các
DNVVN, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng cũng như đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Khi các khoản tài trợ được khách hàng sử
dụng đúng mục đích, khách hàng trả được đầy đủ nợ gốc và lãi đúng hạn cho
Ngân hàng còn khách hàng bù đắp được chi phí và có lợi nhuận thì khoản tín
dụng đó được xem là có chất lượng tốt. Như vậy, Ngân hàng không những tạo
hiệu quả kinh tế cho các DN, cho mình mà còn đem lại hiệu quả xã hội. Đây
chỉ là cách hiểu chung, khái quát về chất lượng tín dụng mà thôi, vấn đề là
chúng ta cần đánh giá chất lượng tín dụng một cách cụ thể và chính xác dựa
trên các chỉ tiêu sẽ được trình bày ở mục sau.
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng đối với các DNVVN
Để đánh giá chất lượng tín dụng đối với DNVVN một cách chính xác, đầy đủ
chúng ta phải xem xét và phân tích kỹ lưỡng cả mặt lợi ích kinh tế và lợi ích
xã hội, cả các chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng trên giác độ của
NHTM, DNVVN và nền kinh tế xã hội.
 Các chỉ tiêu định tính: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN thể hiển ở khả
năng tăng cường mở rộng tín dụng đáp ứng được nhu cầu của các DN đồng
thời đảm bảo sự phát triển của Ngân hàng và đóng góp vào sự phát triển
chung của đất nước. Nghĩa là chất lượng tín dụng cần được xem xét gắn liền
với 3 chủ thể là NHTM, DNVVN và nền kinh tế xã hội.
19
Luận văn tốt nghiệp
 Mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng là biểu hiện của chất lượng
lượng tín dụng. Chất lượng tín dụng được đánh giá là tốt khi các DN quan hệ
tín dụng với Ngân hàng được đáp ứng tốt nhu cầu của họ. Khách hàng nói
chung và DNVVN nói riêng luôn mong muốn một quy trình thủ tục tín dụng
đơn giản, gọn nhẹ, khoa học, thuận tiện và thật sự khách quan trong thái độ
làm việc của nhân viên Ngân hàng. Tất nhiên dù gọn nhẹ tới mấy vẫn phải
tuân theo nguyên tắc tín dụng, các nguyên tắc đảm bảo an toàn khác. DN
được cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời sẽ giúp quá trình SXKD diễn ra ổn
định, nắm bắt được các cơ hội kinh doanh và giảm được một phần chi phí
vốn vay. Cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế trong
nước cũng như thế giới thì sự cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt. Sự cạnh
tranh này buộc DN phải linh hoạt, sáng tạo hơn trong hoạt động kinh doanh
đầu tư, Ngân hàng cũng phải đổi mới tư duy, cung cách làm việc, năng động
hơn để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao từ các DN. NHTM không chỉ là
người đánh giá các dự án vay vốn, kế hoạch kinh doanh của DN mà còn
đóng vai trò nhà tư vấn. Tư vấn cho DN điều chỉnh những mặt chưa hợp lý
trong dự án, trong hồ sơ tín dụng... Cung cấp thêm cho DN các thông tin về
các cải tiến trong khoa học công nghệ, thông tin về tình hình thị trường, xu
hướng đầu tư...Giúp đỡ và bám sát DN khi họ rơi vào tình tạng khó khăn tài
chính, kinh doanh kém hiệu quả so với dự tính. Khi ấy đồng vốn của Ngân
hàng không chỉ mang lại lợi nhuận cho DN mà còn hạn chế được rủi ro tín
dụng, đảm bảo Ngân hàng kinh doanh có hiệu quả.
 Chất lượng tín dụng của các NHTM đối với các DNVVNN còn được thể
hiện qua kết quả kinh doanh của Ngân hàng, uy tín của Ngân hàng. Nghĩa là
một Ngân hàng được đánh giá có chất lượng tín dụng tốt thì đồng nghĩa hoạt
động tín dụng phải giúp Ngân hàng bù đắp được chi phí và mang lại thu
nhập. Hoạt động tín dụng là hoạt động đặc trưng của tất cả các NHTM, hoạt
động này đem lại nguồn thu lớn nhất cho họ song cũng chứa đựng nhiều rủi
ro hơn cả. Ngoài các yếu tố khách quan ra, rủi ro này có thể xuất phát từ
20