Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh nhnno & ptnt đông hà nội

  • 75 trang
  • file .pdf
LUẬN VĂN:
Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối
với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh
NHNNo & PTNT Đông Hà Nội
Lời mở đầu
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một loại hình Doanh nghiệp không những thích hợp đối với
nền kinh tế của những nước công nghiệp phát triển mà nó còn đặc biệt thích hợp với nền
kinh tế của những nước đang phát triển. ở nước ta trước đây, việc phát triển các DNVVN
cũng đã được quan tâm, song chỉ từ khi có đường lối đổi mới kinh tế do Đảng cộng sản
Việt Nam khởi xướng thì các Doanh nghiệp này mới thực sự phát triển nhanh về cả số và
chất lượng.
Trong điều kiện của những bước đi ban đầu thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hoá
đất nước, có thể khẳng định việc đẩy mạnh phát triển DNVVN là bước đi hợp quy luật đối
với ta. DNVVN là công cụ góp phần khai thác toàn diện mọi nguồn lực kinh tế đặc biệt là
những nguồn lực tiềm tàng sẵn có ở mỗi người, mỗi miền của đất nước. Loại hình DN này
phát triển chắc chắn sẽ có tác dụng to lớn trong việc giải quyết các mối quan hệ mà quốc
gia nào cũng phải quan tâm chú ý đến : tăng trưởng kinh tế – giải quyết việc làm – kiềm
chế lạm phát.
Song DNVVN cũng gặp không ít khó khăn trong quá trình hoạt động kinh doanh của
mình, đặc biệt là thiếu vốn để mở rộng đầu tư chiều sâu. Xuất phát từ đường lối chủ trương
đa dạng hoá các thành phần kinh tế, nhu cầu vốn cấp bách của các Doanh nghiệp, cạnh
tranh chiếm lĩnh thị trường và thị phần Chi nhánh NHNNo & PTNT Đông Hà Nội đã tập
trung ưu tiên cấp tín dụng cho khách hàng vừa và nhỏ. Nhưng với một Chi nhánh mới
thành lập từ 7/2003, hoạt động tín dụng của Chi nhánh nói chung và hoạt động tín dụng
đối với DNVVN nói riêng cũng còn nhiều mặt hạn chế. Như chưa đáp ứng đủ nhu cầu vốn
vay, mới giải quyết được nhu cầu vốn trong ngắn hạn là chủ yếu, hình thức tín dụng nghèo
nàn.
Vì vậy, trong quá trình thực tập tại Chi nhánh em đã chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao
chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh NHNNo & PTNT
Đông Hà Nội “ để làm luận văn. Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3
chương:
Chương 1: Chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng
Thương Mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Chi nhánh NHNNo & PTNT Đông Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại Chi nhánh NHNNo & PTNT Đông Hà Nội.
.
Chương 1
Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân Hàng Thương Mại
1.1 Tín dụng ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sự phát triển của nền kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế có tư cách
pháp nhân được tổ chức ra để hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vực nhất định với mục
đích công ích hoặc thu lợi nhuận. Thông thường cần có 3 điều kiện sau để được công nhận
là một Doanh nghiệp :
- Có tư cách pháp nhân đầy đủ ( doanh nghiệp được Nhà nước thành lập, công nhận hay
cho phép hoạt động ) .
- Có vốn pháp định để kinh doanh.
- Có tên gọi và hoạt động với danh nghĩa riêng, chịu trách nhiệm độc lập về mọi hoạt
động kinh doanh của mình.
Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú, có thể
phân loại các doanh nghiệp theo các tiêu chí sau :
Thứ nhất: dựa vào quan hệ sở hữa về vốn và tài sản, các doanh nghiệp được chia thành
Doanh nghiệp Nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp.
- Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản
lý nó với tư cách là chủ sở hữu.
- Doanh nghiệp tư nhân là những doanh nghiệp do cá nhân đầu tư vốn và tự chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp là các doanh nghiệp có sự đan xen của các hình thức sở
hữu khác nhau trong cùng một doanh nghiệp.
Cách phân loại này chỉ rõ quan hệ sở hữu về vốn và tài sản trong các doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế khác nhau. Đồng thời là một trong các căn cứ để Nhà nước có chính
sách kinh tế và định hướng phát triển phù hợp đối với từng loại doanh nghiệp.
Thứ hai: dựa vào mục đích kinh doanh người ta chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp
hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích.
- Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh là tổ chức kinh tế do Nhà nước thành lập hoặc
thừa nhận, hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường. Mục tiêu số một là thu lợi nhuận
tối đa.
- Doanh nghiệp hoạt động công ích ( thường là doanh nghiệp Nhà nước ) là tổ chức kinh
tế thực hiện các hoạt động về sản xuất, lưu thông hay cung cấp các dịch vụ công cộng, trực
tiếp thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước hoặc thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc
phòng. Mục tiêu chính của các doanh nghiệp này là hiệu quả kinh tế và xã hội.
Phân loại theo hình thức này là cơ sở để chọn tiêu thức đánh giá lợi ích xã hội của doanh
nghiệp cho hợp lý và là một trong những căn cứ quan trọng để xác định chính sách tài trợ
của Nhà nước.
Thứ ba: dựa vào lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp có thể chia làm hai loại là doanh
nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính.
- Doanh nghiệp tài chính là các tổ chức tài chính trung gian như các ngân hàng thương
mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm...Những doanh nghiệp này có khả năng cung ứng
cho nền kinh tế các loại dịch vụ về tài chính, tiền tệ, tín dụng, bảo hiểm...
- Doanh nghiệp phi tài chính là các doanh nghiệp lấy sản xuất kinh doanh sản phẩm làm
hoạt động chính.
Phân loại theo tiêu thức này chỉ ra chức năng của từng loại doanh nghiệp. Chức năng chủ
yếu của các doanh nghiệp tài chính là làm môi giới thu hút và chuyển giao vốn từ nơi thừa
vốn đến nơi thiếu để đầu tư phát triển kinh tế. Đối với các doanh nghiệp phi tài chính, chức
năng chủ yếu là cung cấp các sản phẩm, hàng hoá hay dịch vụ phi tài chính đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng của nền kinh tế. Qua tiêu thức phân loại này Nhà nước có thêm căn cứ để
hoạch định các chính sách quản lý phù hợp với mỗi loại hình doanh nghiệp trong từng
ngành nghề,
Thứ tư: dựa vào quy mô kinh doanh người ta chia doanh nghiệp thành các loại doanh
nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ.
Việc quy định thế nào là doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ là tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế
xã hội cụ thể của từng nước và nó cũng thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn phát
triển kinh tế. Tại nước ta, tiêu chí phân loại DNVVN đã được quy định tạm thời tại công
văn số 681/CP – KTN ngày 20/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ. Theo quy định tại công
văn này, tiêu chí xác định DNVVN là vốn và số lao động. Cụ thể là DNVVN là doanh
nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người.
Để khuyến khích và tạo thuận lợi cho việc phát triển các DNVVN, ngày 23/11/2001 Chính
phủ đã ra nghị định 90/2001/NĐ - CP. Trong đó quy định DNVVN là cơ sở sản xuất kinh
doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá
10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình
hình kinh tế xã hội cụ thể của ngành, địa phương trong quá trình thực hiện các biện pháp,
chương trình trợ giúp có thể áp dụng linh hoạt đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động
hoặc một trong hai chỉ tiêu trên.
Tiêu chí xác định DNVVN ở một số quốc gia
Tổng số vốn hoặc
Tên nước Số lao động
giá trị tài sản
< 50 trong bán lẻ < 10 triệu yên
Nhật <100 trong bán buôn < 30 triệu yên
< 300 ngành khác < 100 triệu yên
Mỹ < 500
Thái Lan < 100 < 20 triệu bạt
Xin ga po < 100 < 499 triệu SD
Phi líp pin < 200 < 100 triệu pê-sô
In đo nê xia < 100 < 0,6 tỉ ru-pi
Nguồn: Phát triển SME trong quá trình công nghiệp hoá ở Việt Nam và Kinh nghiệm phát
triển DNVVN ở Mỹ – Tạp chí NCKT.
Một số đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ :
Doanh nghiệp vừa và nhỏ tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế. ở nước ta,
DNVVN chiếm 33,6% trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; 65,9% trong các
hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã; 94,6% công ty trách nhiệm hữu hạn; 99,4% doanh
nghiệp tư nhân; 65,9% doanh nghiệp Nhà nước và gần 100% doanh nghiệp hoạt động ở
lĩnh vực nông thôn là các DNVVN.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có tính năng động và linh hoạt cao trước những thay đổi của thị
trường, có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh vì vốn
đầu tư ít và thu hồi vốn nhanh. Các DNVVN dễ phát huy bản chất hợp tác, có thể duy trì tự
do cạnh tranh và phát huy tiềm lực ở trong nước.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ, có hiệu quả. Các quyết
định quản lý được đưa ra và thực hiện nhanh chóng, không ách tắc và tránh phiền hà nên
có thể tiết kiệm tối đa chi phí quản lý DN.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vốn ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh, hiệu quả cao, tạo ra
nhiều khả năng đầu tư của các cá nhân và mọi thành phần kinh tế.
Bên cạnh một số đặc điểm thể hiện những ưu diểm trên, DNVVN cũng còn những đặc
điểm bộc lộ mặt hạn chế như trang thiết bị công nghệ không bắt kịp thời đại, trình độ quản
lý sản xuất kinh doanh còn thấp, khó khăn thâm nhập vào thị trường thế giới, khu vực và
mở rộng thị phần. Đặc biệt, một mặt hạn chế rất đáng quan tâm của các DNVVN là khó
khăn khi tiếp xúc với các kênh huy động vốn. Với đặc trưng quy mô kinh doanh là vừa và
nhỏ, vốn điều lệ ban đầu thấp ( dưới 10 tỷ VNĐ ) nên không đáp ứng được nhu cầu vốn
cho đầu tư. Nguồn tài chính hạn hẹp, quy mô lợi nhuận nhỏ bé dẫn đến tỷ lệ vốn từ lợi
nhuận đạt được không cao, tích tụ tập trung để tái sản xuất diễn ra chậm chạp. Với
DNVVN, giá trị tài sản thuần thấp ( tổng giá trị tài sản của DN sau khi trừ đi nợ phải trả ),
uy tín trên thương trường không cao, trình độ về lĩnh vực sản xuất kinh doanh cũng như
nhiều lĩnh vực có liên quan khác còn hạn chế, đa số là DNNQD không được hưởng nhiều
các ưu đãi, chính sách hỗ trợ của Chính phủ và Nhà nước... nên các nhà đầu tư coi đây là
khu vực rủi ro cao, mang tâm lý e ngại dè dặt. Chính vì vậy, DNVVN gặp nhiều trở ngại
khi tiếp cận các kênh huy động vốn trong nền kinh tế.
1.1.1.2 Vai trò của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Xét về mặt lịch sử, sự ra đời và phát triển của các nước tư bản có nền đại công nghiệp phát
triển gắn với những công ty, tập đoàn kinh tế lớn như ngày nay thì sự khởi đầu của họ
cũng là những xí nghiệp, công trường thủ công sản xuất nhỏ. Trong quá trình phát triển, sự
tích tụ và tập trung vốn cùng với quá trình cạnh tranh gay gắt giữa những xí nghiệp trong
nước và ngoài nước đã tạo ra những tập đoàn kinh tế lớn như ngày nay. Tuy vậy, ngay cả ở
các nước tư bản phát triển, các DNVVN vẫn giữ một vị trí quan trọng và ngày càng được
khẳng định. Bởi vì nhiều lĩnh vực kinh tế chỉ có thể sản xuất kinh doanh có hiệu quả bởi
các DNVVN. Sau thời kỳ suy thoái kinh tế những năm đầu thập niên 30, người ta luận ra
rằng khu vực DNVVN là nhân tố cực kỳ quan trọng thúc đẩy và mở rộng cạnh tranh, bảo
đảm và ổn định kinh tế, phòng chống nguy cơ khủng hoảng. Thật vậy, khu vực DNVVN là
xương sống trong nền kinh tế của nhiều quốc gia hiện tại và cả tương lai. Đặc biệt khi cuộc
Cách mạng khoa học và công nghệ ngày càng phát triển đã tạo điều kiện cho các DNVVN
nhiều cơ hội tập trung kỹ thuật, có khả năng sản xuất các sản phẩm không thua kém các
doanh nghiệp lớn. Mặt khác xét trên phạm vi toàn cầu hiện nay về tính chất cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp đang chuyển từ cạnh tranh giá cả sang cạnh tranh về chất lượng và
công nghệ. Trong điều kiện này, lợi thế của các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ bị giảm
sút. Sự phát triển của chuyên môn hoá và hợp tác hoá đã không cho phép một doanh
nghiệp tự khép kín chu trình sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả. Mà với mô hình
sản xuất kiểu vệ tinh, trong đó các DNVVN là vệ tinh của doanh nghiệp lớn tỏ ra rất thích
hợp.
Như vậy, một nền kinh tế hiện đại thì DNVVN ngày càng không thể tan biến trong các tập
đoàn kinh tế lớn mà khả năng hợp tác để mở rộng lại ngày càng tăng.
Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển, đang tiến tới một nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa thì DNVVN càng có ý nghĩa quan trọng. Thể hiện cụ thể trên các
mặt sau :
- DNVVN chiếm tỷ trọng cao về số lượng, thu hút nhiều lao động và đóng góp phần lớn
thu nhập quốc dân cho đất nước. Theo số liệu thống kê của các nhà kinh tế, hiện nay
DNVVN của nước ta chiếm trên 80% tổng số doanh nghiệp, tạo công ăn việc làm cho
khoảng 95% lao động xã hội. Như vậy, phát triển DNVVN là chủ trương đúng đắn của
Đảng, nó được gắn liền với đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng theo
định hướng kinh tế thị trường nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, góp phần vào ổn
định tình hình kinh tế xã hội.
- Các DNVVN đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hoá và cung cấp dịch vụ, có
vai trò bổ sung cho các doanh nghiệp lớn, là xí nghiệp gia công vệ tinh cho các doanh
nghiệp lớn cùng hệ thống và là màng lưới tiêu thụ hàng hoá cho các doanh nghiệp lớn.
Hiện DNVVN chiếm khoảng 31% tổng sản lượng công nghiệp hàng năm, 78% doanh số
bán lẻ trong thương nghiệp, 64% khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hoá.
- Các DNVVN đáp ứng tích cực, kịp thời nhu cầu tiên dùng ngày càng phong phú và đa
dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được, chế biến hàng hoá xuất khẩu và tăng
kim ngạch xuất khẩu. Hệ thống siêu thị cũng không thể thay thế được các cửa hàng bán lẻ,
những nhà máy quy mô lớn hiện đại không sản xuất được những sản phẩm đơn chiếc.
Bằng sự đa dạng ngành nghề, tính nhạy cảm thị trường các DNVVN sẽ có nhiều thuận lợi
trong sản xuất và cung cấp dịch vụ, đáp ứng mọi sản phẩm và nhu cầu tiêu dùng của xã
hội. Với lợi thế so sánh về các nguyên liệu nông lâm thuỷ hải sản để sản xuất hàng hoá
xuất khẩu, lợi thế về ngành nghề thủ công truyền thống đã tạo ra khả năng vô cùng to lớn
cho khu vực DNVVN tham gia sản xuất, gia công chế biến, đại lý khai thác cho xuất khẩu.
Do DN lớn hạn chế về khu vực địa lý, phương pháp tổ chức sản xuất và nếu muốn kinh
doanh thường phải sử dụng các DNVVN làm vệ tinh thu mua nguyên liệu, chế biến, đóng
gói...
- Các DNVVN có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương, khai thác
tiềm năng thế mạnh của từng vùng sản xuất. Phát triển DNVVN sẽ giúp các địa phương
khai thác thế mạnh về đất đai, tài nguyên, lao động trong mọi lĩnh vực phục vụ phát triển
kinh tế địa phương. Từng địa phương cũng bị giới hạn bởi ngân sách, khả năng tích tụ và
tập trung vốn của DN tư nhân không nhiều nên việc phát triển doanh nghiệp lớn là hạn
chế. Chính vì vậy, Đảng và Chính phủ ta đưa ra các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế
trang trại ở vùng núi phía Bắc, vùng cao nguyên Nam trung bộ và phát huy các làng nghề
truyền thống.
Như vậy, có thể khẳng định vị trí và vai trò của các DNVVN, đồng thời việc chú trọng
phát triển các DNVVN là một trong những hướng chiến lược quan trọng trong quá trình
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Đánh giá vai trò DNVVN ở Việt Nam
TT Vai trò Tỷ lệ ( % )
1 Góp phần tăng trưởng kinh tế 51,7
2 Tạo việc làm, tăng thu nhập 88,5
3 Tăng tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế 83,2
4 Tham gia đào tạo đội ngũ các nhà kinh doanh Việt Nam 63,2
Nguồn: Chính sách hỗ trợ phát triển DNVVN ở Việt Nam
1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về tín dụng Ngân hàng
1.1.2.1 Khái niệm về tín dụng Ngân hàng
Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng – Ngân
hàng thợ vàng. Họ tiến hành mua bán, trao đổi ngoại tệ, bản tệ và thu lợi nhuận từ chênh
lệch giá. Những nhà buôn tiền này cất trữ hộ nhiều người khác là điều kiện thực hiện thanh
toán hộ cho các thương gia, lãnh chúa, địa chủ...Do tính chất vô danh của tiền cùng với sự
phân biệt giữa sản xuất và tiêu thụ, tính thời vụ trong sản xuất, mua bán sản phẩm thì tín
dụng thương mại đã xuất hiện. Đó là quan hệ tín dụng được hình thành trên cơ sở mua bán
chịu hàng hoá. Nhờ có tín dụng thương mại mà các doanh nghiệp không chỉ được đáp ứng
nhu cầu vốn mà còn tiêu thụ được hàng hoá của mình. Song tín dụng thương mại chỉ có thể
thực hiện giữa những người có quan hệ giao dịch thường xuyên trong phạm vi mua bán
chịu hàng hoá đã thực hiện, vốn cho vay là một bộ phận nằm trong chu kỳ của người cho
vay nên không thể kéo dài thời hạn. Nghĩa là tín dụng thương mại bị hạn chế về phạm vi
qui mô, về thời hạn và chiều hướng của quan hệ tín dụng.
Từ đó, tín dụng Ngân hàng đã ra đời nhằm khắc phục mặt hạn chế trên của tín dụng
thương mại. Tín dụng Ngân hàng là hoạt động tài trợ của Ngân hàng cho khách hàng, là
loại hình dịch vụ chủ yếu của Ngân hàng – tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ
một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Tín dụng Ngân hàng là hình thức phát triển
cao của tín dụng nói chung, về bản chất vẫn là quá trình chuyển dịch vốn dưới hình thái
tiền tệ hay hiện vật của một tổ chức hay cá nhân này cho một tổ chức hay cá nhân khác sử
dụng trong một thời gian nhất định trên nguyên tắc hoàn trả. Song điểm khác biệt của tín
dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng ở đây là bằng tiền tệ giữa một bên là Ngân hàng, một
tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, đóng cả vai trò đi vay và cho vay với
một bên là tất cả các thành phần kinh tế trong xã hội. Tín dụng Ngân hàng được hình thành
trên cơ sở các nghiệp vụ tín dụng. Tín dụng ngân hàng ngày càng phát triển mạnh, phạm vi
hoạt động ngày càng rộng và trở thành hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thay
thế tín dụng thương mại. Nó luôn phát huy được vai trò đáp ứng nhu cầu về vốn để duy trì
và mở rộng quá trình tái sản xuất đồng thời được sử dụng như một công cụ tài trợ cho
những ngành kinh tế khác phát triển theo yêu cầu phát triển kinh tế của Nhà nước.
1.1.2.2 Phân loại tín dụng Ngân hàng
 Phân loại theo hình thức cấp tín dụng :
Chiết khấu thương phiếu : đây là nghiệp vụ đơn giản, khách hàng gửi thương phiếu tới
Ngân hàng xin chiết khấu, Ngân hàng kiểm tra chất lượng của thương phiếu và tiến hành
chiết khấu nghĩa là đưa tiền cho khách hàng và nắm giữ thương phiếu. Số tiền này căn cứ
vào lãi suất, thời hạn và lệ phí chiết khấu. Các NHTM thường tái chiết khấu thương phiếu
tại NHNN để đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
Cho vay : bao gồm thấu chi, cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển,
cho vay trả góp. Có thể hiểu chung nhất cho vay là việc Ngân hàng đưa tiền cho khách
hàng với cam kết sẽ trả nợ gốc và lãi trong một thời gian xác định. Thấu chi là nghiệp vụ
mà Ngân hàng cho phép người vay chi vượt số dư trong tài khoản tiền gửi thanh toán của
mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Cho vay trực tiếp
từng lần thường áp dụng với khách hàng có nhu cầu thời vụ, mỗi lần vay khách hàng phải
làm đơn và trình phương án dùng vốn vay. Ngân hàng xem xét và đưa ra qui mô cho vay,
thời hạn trả nợ, lãi suất...Cho vay theo hạn mức là Ngân hàng thoả thuận cấp cho khách
hàng hạn mức tín dụng - số dư tối đa tại thời điểm tính. Hạn mức được xác định dựa vào
kế hoạch SXKD của khách hàng, nhu cầu vốn và nhu cầu vay của họ. Cho vay luân chuyển
là dựa vào sự luân chuyển của hàng hoá, DN khi không đủ vốn mua hàng, Ngân hàng sẽ
cho vay và thu nợ khi DN bán được hàng. Cho vay trả góp thường áp dụng với món vay
trung dài hạn, khách hàng được phép trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng.
Cho thuê: là việc Ngân hàng mua tài sản để cho khách hàng thuê theo thỏa thuận cụ thể.
Tài sản cho thuê thuộc sở hữu của Ngân hàng, Ngân hàng có thể bán hay cho người khác
thuê khi người thuê không trả nợ được. Cho thuê có hai hình thức là cho thuê nghiệp vụ và
cho thuê tài chính. Hoạt động cho thuê của Ngân hàng chủ yếu là cho thuê tài chính, nó
đáp ứng nhu cầu thuê trong thời gian dài và người đi thuê có quyền mua lại tài sản khi hết
hợp đồng thuê.
 Phân loại theo tài sản đảm bảo:
Về nguyên tắc mọi khoản tín dụng đều có đảm bảo nhưng với các khách hàng uy tín, tài
chính mạnh... hay các món vay theo chỉ thị của Chính phủ thì không cần tài sản đảm bảo.
Có 2 nghiệp vụ đảm bảo là cầm cố và thế chấp. Cầm cố là hình thức mà người vay phải
chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho Ngân hàng trong thời gian xác định,
thường là bằng thời gian nhận tài trợ. Thế chấp là hình thức mà người vay phải chuyển các
giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu hay quyền sử dụng tài sản đảm bảo sang Ngân hàng nắm
giữ trong thời gian cam kết.
 Phân loại theo thời gian:
Do thời gian liên quan đến tính sinh lời và an toàn của tín dụng nên phân chia theo thời
gian là cần thiết. Tín dụng ngắn hạn là từ 12 tháng trở xuống và thường tài trợ cho tài sản
lưu động. Tín dụng trung hạn là từ 1 đến 5 năm, thường tài trợ cho tài sản cố định. Tín
dụng dài hạn là trên 5 năm, tài trợ cho các công trình xây dựng như cầu, đường, máy móc
thiết bị sử dụng lâu dài.
 Phân loại theo rủi ro :
Rủi ro nói chung là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến. Còn rủi ro tín dụng được hiểu
là khả năng xảy ra những tổn thất mà Ngân hàng phải chịu do khách hàng không trả, trả
không đúng hạn hay không trả đủ vốn và lãi. Tín dụng gồm các khoản có độ an toàn cao,
khá, trung bình và thấp. Cách phân loại này giúp Ngân hàng đánh giá được kịp thời các
khoản tín dụng, giúp cho việc đánh giá chất lượng tín dụng.
Ngoài ra, còn có thể xem xét nghiệp vụ tín dụng theo ngành kinh tế công nghiệp, nông
nghiệp và dịch vụ; theo mục đích sử dụng khoản tài trợ là sản xuất, tiêu dùng hay thương
mại...Quan hệ tín dụng được thiết lập giữa hai bên là Ngân hàng và khách hàng, khách
hàng là đối tác hết sức quan trọng trong hoạt động tín dụng với Ngân hàng. Vì vậy, người
ta cũng phân chia khách hàng thành DN lớn, DN vừa và nhỏ, cá nhân hộ gia đình.
1.1.3 Tầm quan trọng của tín dụng tới doanh nghiệp vừa và nhỏ
Vốn kinh doanh là yếu tố tiền đề của mọi quá trình đầu tư. Trong nền kinh tế bao cấp với
cơ chế kế hoạch hoá tập trung đã không quan niệm vốn là hàng hoá đặc biệt vì vốn được
rót từ ngân sách và Ngân hàng. Vốn đã không được sử dụng hiệu quả do không có nơi giao
dịch trên thị trường, điều đó đã làm mất đi vai trò khách quan của nó trong sản xuất và đầu
tư.
Có thể khái quát, vốn kinh doanh ( bao gồm vốn sử dụng cho sản xuất kinh doanh và vốn
đầu tư tài chính của doanh nghiệp ) là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản được đầu tư
vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
Đối với bất kỳ một DN nào, vốn cũng là yếu tố cơ bản không thể thiếu của mọi quy trình
SXKD. Nó là điều kiện để đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất, nâng cao chất
lượng sản phẩm, tăng việc làm và thu nhập cho người lao động...từ đó tạo điều kiện để
doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh trên thị trường, mở rộng xuất khẩu, nâng cao hiệu quả
SXKD. Tạo vốn được hiểu theo nghĩa rộng là làm cho đồng tiền từ khâu dự trữ đi vào
khâu lưu thông trên cơ sơ đảm bảo nguyên tắc sinh lời. Khi thành lập cũng như trong quá
trình phát triển, các DN phải xác định được nhu cầu vốn, cần xem xét có thể tạo vốn từ
những nguồn nào, dưới hình thức nào với chi phí vốn thấp nhất, từ đó để có thể bảo đảm
đầy đủ vốn, sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn. Đây là vấn đề hết sức
quan trọng và khó khăn đặc biệt với các DNVVN.
Căn cứ vào phạm vi huy động nguồn vốn mà DNVVN có khả năng huy động thì có thể
chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài DN. Nguồn vốn bên trong thể
hiện khả năng tự tài trợ của DN. Nguồn vốn bên trong bao gồm vốn chủ sở hữu bỏ ra đầu
tư ban đầu và một phần nguồn vốn từ chính hoạt động của bản thân DN. Tuy nhiên
DNVVN với đặc điểm vốn đầu tư ban đầu thường ít, quá trình tích tụ tập trung để tái sản
xuất diễn ra chậm chạp nên nguồn vốn bên trong này không đủ đáp ứng nhu cầu vốn cho
đầu tư, vượt quá khả năng vốn liếng của chủ DN. Điều đó đòi hỏi các DNVVN phải huy
động tìm kiếm nguồn vốn từ bên ngoài DN. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm
nảy sinh nhiều hình thức và phương pháp huy động vốn mới cho DN. Đó có thể là vay vốn
Ngân hàng, thuê tài chính, vay của bạn bè người thân hay đối tác, gọi vốn liên doanh liên
kết, phát hành chứng khoán hoặc thu hút vốn thông qua sáp nhập DN, cổ phần hoá DN.
Thị trường chứng khoán nước ta mới được thành lập còn non trẻ và rất nhiều tồn tại cần
khắc phục, nên DNVVN phát hành chứng khoán khó đáp ứng các yêu cầu, thủ tục rườm rà
và khả năng hiệu quả là thấp. Liên doanh liên kết hay sáp nhập cần xem xét cân nhắc kỹ
lưỡng, làm mất tính chủ động của chủ DN cũng như hoạt động kinh doanh bị rằng buộc
chặt chẽ. Trong các DNVVN đặc biệt các DN tư nhân thường tạo nguồn vốn bằng cách đi
vay của bạn bè hay người thân, thị trường vốn “ chìm “. Tuy nhiên hình thức này nhiều
khả năng nảy sinh phức tạp mối quan hệ kinh doanh, quan hệ gia đình xã hội, không ổn
định cũng như chịu chi phí vốn cao.
Đa phần DNVVN ở nước ta thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, đất nước ta lại trải
qua nhiều năm chiến tranh khốc liệt nên không có được quá trình tích tụ và tập trung vốn
do đó vốn rất nghèo nàn. Điều này đã gây khó khăn cho các DNVVN trong việc mở rộng
sản xuất kinh doanh, giảm sức cạnh tranh và hiệu quả trong SXKD. Từ thời điểm thành lập
đến trong quá trình đầu tư mở rộng, DNVVN luôn ở trong tình trạng thiếu vốn. Nhưng
cũng vì cơ sở vật chất nhỏ bé, công nghệ chắp vá, thiết bị thấp kém... nên DNVVN không
tạo được sự tin cậy từ các nhà đầu tư, khó khăn trong huy động vốn. Trước khi đổi mới,
hoạt động tín dụng của Ngân hàng tập trung 90% vào DN Nhà nước mà chủ yếu là các DN
lớn. Ưu thế của DNVVN bị hạn chế, tốc độ phát triển chậm chạp. Nhưng những đổi mới
trong đường lối chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam đã khơi nguồn cho sự ra đời và
phát triển của DN ngoài quốc doanh nói chung và DNVVN nói riêng. Đại hội lần thứ 6 của
Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định “ Chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa
chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, và
thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế bảo đảm mọi người được làm ăn theo pháp luật “.
Nhiều đạo luật mới như luật DN tư nhân, luật công ty có hiệu lực thi hành...đã giúp
DNVVN có hành lang pháp lý đầy đủ hơn, hoạt động bài bản hơn, nâng cao hiệu quả
SXKD và cũng chịu sự giám sát chặt chẽ hơn. Trong khi các DN lớn mà hầu hết là các
DNNN với bộ máy cồng kềnh đang trì trệ trong nền kinh tế thị trường sôi động thì ngược
lại, DNVVN mà chủ yếu nằm trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đang nổi lên với sự
năng động linh hoạt cao, nhanh chóng nắm bắt thời cơ kinh doanh. Bộ máy quản lý điều
hành gọn nhẹ, cùng sự nhạy bén và táo bạo đã kịp thời đề ra các phương án, dự án khả thi.
Do đó, trong các kênh huy động vốn thì vốn tín dụng từ các NHTM là dễ dàng tiếp cận đối
với DNVVN hơn cả. Trong nền kinh tế thị trường, Ngân hàng đóng vai trò là các trung
gian tài chính, mục tiêu hoạt động là tích tụ tập trung vốn để cung cấp cho mọi thành phần
kinh tế, cho mọi DN với quy mô lớn và thời gian dài ổn định. Tín dụng Ngân hàng có đặc
trưng cơ bản là tính hoàn trả và sinh lời. Tháng 3/1996 là cột mốc quan trọng trong hoạt
động của các NHTM với sự chuyển hẳn sang lãi suất dương của Ngân hàng, xoá bỏ phân
biệt lãi suất cho vay theo thành phần kinh tế. Những thay đổi đó đã tạo ra sự bình đẳng đối
với các DNNQD trong quan hệ tín dụng Ngân hàng. Vì vậy, cùng với sự nhìn nhận đúng
đắn của NHTM về các DNVVN, những ưu đãi nới lỏng phù hợp với tình hình các
DNVVN tạo điều kiện cho DN tiếp cận vốn của Ngân hàng thì các DNVVN cũng phải nỗ
lực đảm bảo các điều kiện từ phía Ngân hàng. Đó cũng chính là “ người đánh giá” quan
trọng phương hướng và tình hình kinh doanh của DN. Vì thế, càng buộc các DNVVN cố
gắng làm ăn có lãi, tiết kiệm chi phí, hoàn trả vốn và trả lãi đúng hạn, nâng cao trách
nhiệm hơn với đồng vốn từ Ngân hàng tài trợ. Thông qua tín dụng Ngân hàng, tăng cường
sử dụng vốn đúng mục đích, hạn chế kinh doanh bất hợp pháp của các doanh nghiệp và có
thể tham gia định hướng các ngành SX, lĩnh vực kinh doanh mà Nhà nước mong muốn.
Để đáp ứng những yêu cầu của chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, cũng như
chia sẻ rủi ro trong hoạt động tín dụng các NHTM Việt Nam đã tích cực tăng trưởng khối
lượng tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói chung và DNVVN nói riêng.
Năm 1995, không kể DNNN, DN có vốn đầu tư nước ngoài, dư nợ cho vay trung và dài
hạn đối với DNNQD là 654 tỷ đồng, chiếm 45,8% tổng dư nợ trung và dài hạn. Đến năm
1999 con số này lên tới 2862,3 tỷ đồng, chiếm 32,9%. Tuy tốc độ tăng chậm hơn DNNN
nhưng dư nợ trung dài hạn của DNVVN vẫn tăng gấp 4,44 lần. Mặt khác, số lượng
DNVVN chiếm trên 80% DNNN nên xét về tỷ lệ dư nợ cho vay theo quy mô DN thì tỷ
trọng cho vay đối với DNVVN sẽ lớn hơn chứ không phải là 32,9%. Các NHTM cũng đã
và đang thực hiện nhiều chương trình tín dụng dành cho DNVVN như chương trình tín
dụng Đài Loan, Việt Đức, SMDEF...Bằng nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng mà DNVVN
có điều kiện mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ tiên tiến. DNVVN đã sản xuất
ra sản phẩm có mẫu mã đẹp và chất lượng cao, góp phần cải thiện vị trí của sản phẩm nội
địa, làm giảm tâm lý chuộng hàng ngoại. Nhờ công nghệ và thiết bị mới DN có khả năng
tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trong nước và
quốc tế. Đồng thời DNVVN cũng có điều kiện trau dồi thêm kinh nghiệm và trưởng thành
hơn trong nền kinh tế thị trường, làm quen với các lĩnh vực luật pháp có liên quan. Ngược
lại, bên cạnh nhiều DNNN quy mô lớn làm ăn không hiệu quả thì các công ty cổ phần,
công ty TNHH, công ty tư nhân...đầy linh hoạt, sáng tạo đang không ngừng vươn lên. Đó
chính là các khách hàng giàu tiềm năng, hiệu quả và quan trọng với các NHTM. Bởi
NHTM cũng thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh độc lập, với phương châm “đi vay để
cho vay” đòi hỏi các Ngân hàng phải thực sự năng động trong kinh doanh, phải quan tâm
đến cả đầu vào và đầu ra, bảo đảm tự trang trải mọi chi phí hoạt động và có lãi. Mở rộng
cho vay với các DNVVN không chỉ là mở rộng thị trường tín dụng cho Ngân hàng mà còn
giúp Ngân hàng có điều kiện đa dạng hoá khách hàng, mở rộng địa bàn hoạt động và huy
động vốn, mở rộng mạng lưới như thêm phòng giao dịch, chi nhánh...Tín dụng Ngân hàng
có vai trò quan trọng trong việc thu hút mọi nguồn vốn trong nước và quốc tế đầu tư cho
các DNVVN thông qua các chương trình, dự án, góp phần hỗ trợ vốn, trong đó chủ yếu
vốn trung dài hạn cho các DNVVN được thành lập, tồn tại và phát triển, giải quyết một
lượng lớn việc làm cho xã hội.
1.2 Chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại đối với các DN vừa và nhỏ
1.2.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ. Ngân hàng kinh doanh tiền tệ
dưới hình thức huy động vốn, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Trong các
hoạt động của Ngân hàng thì hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất. Hoạt động
tín dụng chiếm tỷ trọng từ 85-95% doanh thu, mang lại nhiều lợi nhuận nhất song cũng
đồng nghĩa chứa đựng mức độ rủi ro cao nhất. Trên thế giới cũng như tại nước ta hiện nay
Ngân hàng đang ngày càng đa dạng hoá khách hàng, đa dạng hoá các hình thức tín dụng,
mở rộng thị trường hoạt động... một mặt làm giảm bớt rủi ro tín dụng song mặt khác lại
làm tăng tính rủi ro do chịu sự tác động từ nhiều phía hơn. NHTM là doanh nghiệp đặc
biệt, cũng hạch toán kinh doanh độc lập, mục tiêu cuối cùng cũng là lợi nhuận. Chính vì
vậy, chất lượng tín dụng có tính quyết định đến hiệu quả kinh doanh của NHTM. Vậy để
có thể đánh giá và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng, nhằm bảo đảm
NHTM kinh doanh hiệu quả, tăng sức cạnh tranh trên thị trường thì chúng ta cần đưa ra
khái niệm chung về chất lượng tín dụng. Chất lượng tín dụng có thể được hiểu một cách
đơn giản là hiệu quả của việc cho vay mang lại, là khả năng thu hồi đầy đủ và đúng hạn
cả vốn gốc lẫn lãi theo dự định. Nghĩa là chất lượng tín dụng được biểu hiện thông qua
hiệu quả của khoản tài trợ và khả năng thu gốc và lãi. Đó là mối quan hệ tỷ lệ thuận, chất
lượng tín dụng càng cao khi hiệu quả và khả năng thu nợ càng cao và ngược lại.
Hoạt động tín dụng rất đa dạng, gắn với nó là chất lượng tín dụng của các khoản tín dụng
trung dài hạn hay ngắn hạn; chất lượng tín dụng xem xét theo đối tượng tín dụng là tài sản
cố định hay lưu động; chất lượng tín dụng xem xét theo mục đích tài trợ là thương mại, sản
xuất hay tiêu dùng...Trong chuyên đề này, chúng ta cần nghiên cứu chất lượng tín dụng đối
với Doanh nghiệp vừa và nhỏ – khách hàng của NHTM trong quan hệ tín dụng. Chất
lượng tín dụng đối với DNVVN là một khái niệm phản ánh khả năng mở rộng tài trợ ( cho
vay, thuê mua...) của Ngân hàng phù hợp với nhu cầu của các DNVVN, đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của Ngân hàng cũng như đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Khi các
khoản tài trợ được khách hàng sử dụng đúng mục đích, khách hàng trả được đầy đủ nợ gốc
và lãi đúng hạn cho Ngân hàng còn khách hàng bù đắp được chi phí và có lợi nhuận thì
khoản tín dụng đó được xem là có chất lượng tốt. Như vậy, Ngân hàng không những tạo
hiệu quả kinh tế cho các DN, cho mình mà còn đem lại hiệu quả xã hội. Đây chỉ là cách
hiểu chung, khái quát về chất lượng tín dụng mà thôi, vấn đề là chúng ta cần đánh giá chất
lượng tín dụng một cách cụ thể và chính xác dựa trên các chỉ tiêu sẽ được trình bày ở mục
sau.
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng đối với các DNVVN
Để đánh giá chất lượng tín dụng đối với DNVVN một cách chính xác, đầy đủ chúng ta
phải xem xét và phân tích kỹ lưỡng cả mặt lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội, cả các chỉ tiêu
định tính và chỉ tiêu định lượng trên giác độ của NHTM, DNVVN và nền kinh tế xã hội.
 Các chỉ tiêu định tính: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN thể hiển ở khả năng tăng
cường mở rộng tín dụng đáp ứng được nhu cầu của các DN đồng thời đảm bảo sự phát
triển của Ngân hàng và đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Nghĩa là chất
lượng tín dụng cần được xem xét gắn liền với 3 chủ thể là NHTM, DNVVN và nền kinh tế
xã hội.
 Mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng là biểu hiện của chất lượng lượng tín
dụng. Chất lượng tín dụng được đánh giá là tốt khi các DN quan hệ tín dụng với Ngân
hàng được đáp ứng tốt nhu cầu của họ. Khách hàng nói chung và DNVVN nói riêng luôn
mong muốn một quy trình thủ tục tín dụng đơn giản, gọn nhẹ, khoa học, thuận tiện và
thật sự khách quan trong thái độ làm việc của nhân viên Ngân hàng. Tất nhiên dù gọn nhẹ
tới mấy vẫn phải tuân theo nguyên tắc tín dụng, các nguyên tắc đảm bảo an toàn khác.
DN được cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời sẽ giúp quá trình SXKD diễn ra ổn định,
nắm bắt được các cơ hội kinh doanh và giảm được một phần chi phí vốn vay. Cùng với
sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế trong nước cũng như thế giới thì sự
cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt. Sự cạnh tranh này buộc DN phải linh hoạt, sáng tạo
hơn trong hoạt động kinh doanh đầu tư, Ngân hàng cũng phải đổi mới tư duy, cung cách
làm việc, năng động hơn để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao từ các DN. NHTM không
chỉ là người đánh giá các dự án vay vốn, kế hoạch kinh doanh của DN mà còn đóng vai
trò nhà tư vấn. Tư vấn cho DN điều chỉnh những mặt chưa hợp lý trong dự án, trong hồ
sơ tín dụng... Cung cấp thêm cho DN các thông tin về các cải tiến trong khoa học công
nghệ, thông tin về tình hình thị trường, xu hướng đầu tư...Giúp đỡ và bám sát DN khi họ
rơi vào tình tạng khó khăn tài chính, kinh doanh kém hiệu quả so với dự tính. Khi ấy
đồng vốn của Ngân hàng không chỉ mang lại lợi nhuận cho DN mà còn hạn chế được rủi
ro tín dụng, đảm bảo Ngân hàng kinh doanh có hiệu quả.
 Chất lượng tín dụng của các NHTM đối với các DNVVNN còn được thể hiện qua
kết quả kinh doanh của Ngân hàng, uy tín của Ngân hàng. Nghĩa là một Ngân hàng được
đánh giá có chất lượng tín dụng tốt thì đồng nghĩa hoạt động tín dụng phải giúp Ngân
hàng bù đắp được chi phí và mang lại thu nhập. Hoạt động tín dụng là hoạt động đặc
trưng của tất cả các NHTM, hoạt động này đem lại nguồn thu lớn nhất cho họ song cũng
chứa đựng nhiều rủi ro hơn cả. Ngoài các yếu tố khách quan ra, rủi ro này có thể xuất
phát từ phía Ngân hàng như sai sót trong đánh giá dự án, nghiệp vụ non yếu... hoặc từ
phía chính khách hàng. Để có được chất lượng tín dụng tốt, Ngân hàng phải không ngừng
hoàn thiện quy trình tín dụng cho phù hợp từng đối tượng khách hàng, nâng cao chuyên
môn nghiệp vụ, nắm bắt kịp thời và đầy đủ thông tin...Về phía khách hàng, với mỗi
khoản cho vay, tính hiệu quả chỉ đạt được khi DN sử dụng vốn vay đúng mục đích đã ký,
trả gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn cho Ngân hàng nghĩa là tuân thủ theo nguyên tắc tín dụng.
Để trả gốc lãi đúng hạn và đầy đủ một trong những điều kiện trước tiên là khách hàng cần
sử dụng vốn vay đúng mục đích đã ký trong hợp đồng tín dụng. Mục đích vay này đã
được hai bên xem xét, phân tích cẩn thận cả yếu tố kinh tế và xã hội, đánh giá nhiều
mặt...và đi đến thống nhất nên có khả năng đưa lại hiệu quả là cao nhất. Tất nhiên không
có gì là không có rủi ro và SXKD lại là lĩnh vực nhạy cảm nhưng có sử dụng đúng vốn
vay theo mục đích vay ban đầu thì DN mới có thể đạt hiệu quả trong kinh doanh của
mình. Các nguyên tắc tín dụng được tuân thủ là cơ sở của chất lượng tín dụng tốt, đảm
bảo Ngân hàng tồn tại và phát triển.
 Sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đất nước cũng là một chỉ tiêu để đánh
giá chất lượng tín dụng của Ngân hàng. Ngân hàng cung cấp tín dụng giúp DN kinh
doanh thu được lợi nhuận thì ngược lại Ngân hàng cũng đạt được hiệu quả trong hoạt
động của chính mình. Hiệu quả trong mối quan hệ hai chiều này tất yếu đem lại lợi ích
cho tổng thể nền kinh tế đất nước : tăng năng suất lao động, tạo thêm công ăn việc làm,
tăng thu nhập cho người dân, thị trường tài chính ổn định, hệ thống Ngân hàng phát triển,
nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trong nước...Với nền kinh tế thị trường chưa phát
triển như ở nước ta hiện nay, những đóng góp vào sự tăng trưởng chung của đất nước là
hết sức quan trọng.
 Các chỉ tiêu định lượng: Trên đây chỉ là một số chỉ tiêu định tính để đánh giá chất lượng
tín dụng mà thôi. Các chỉ tiêu này nói chung là khá phức tạp, khó xác định chính xác
đồng thời cũng chỉ đem lại cái nhìn khái quát về chất lượng tín dụng. Để đánh giá chất
lượng tín dụng chính xác hơn, cụ thể hơn chúng ta sẽ xem xét tổng hợp các chỉ tiêu định
lượng trên góc độ Ngân hàng và DN sau.
 Chỉ tiêu về doanh số cho vay trong kỳ và tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay đối với
DNVVN:
Doanh số cho vay trong kỳ đối với DNVVN là tổng số tiền mà Ngân hàng đã cho các
DNVVN vay trong kỳ ấy. Nó thể hiện quy mô tuyệt đối của hoạt động tín dụng của Ngân
hàng với các DNVVN. Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay lại thể hiện khả năng
mở rộng quy mô cho vay tới DNVVN qua các thời kỳ. Đây là số tương đối ( % ), nếu
dương thể hiện quy mô cho vay tăng lên, âm thể hiện quy mô cho vay đã sụt giảm qua các
kỳ. Để đưa ra kết luận cuối cùng là chất lượng tín dụng của Ngân hàng ở mức độ nào cần