Giải pháp nâng cao chất lượng thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ

  • 125 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU :
Nền kinh tế của Việt Nam trong năm nay nói riêng và trong thời gian
gần đây nói chung đã có những bước phát triển vượt bậc . Thành tựu kinh tế
lớn nhất của nước ta trong năm 2007 là các dòng vốn đầu tư nước ngoài
(FDI) của các dự án (kể cả các dự án bổ sung vốn) đạt 20,3 tỉ USD, vượt kế
hoạch 7 tỷ và là mức cao nhất từ trước đến nay ,có 4 quốc gia và vùng lãnh
thổ đạt trên 1 tỉ USD vốn đầu tư mới là: Hàn Quốc 3.686,9 triệu USD; Quần
đảo Virgin thuộc Anh 3.501 triệu USD; Xin-ga-po 1.551,5 triệu USD; Đài
Loan 1.141,9 triệu USD.
Dẫu rằng có nhiều khó khăn về thiên tai lớn, dịch bệnh diễn biến phức
tạp và sự biến động thị trường bất lợi như giá cả tăng song GDP nước ta vẫn
tăng cao 8,44% , cao hơn năm 2006 và cao nhất trong 11 năm trở lại đây ,
đạt chỉ tiêu đề ra của nă m (8,0 – 8,5 % ), đứng thứ 3 châu Á (sau Trung
Quốc 11,3 % và Ấn Độ 9 %) và đứng đầu khu vực Đông Nam Á , duy trì
được tốc độ tăng trưởng ổn định bình quân 7,5% trong 5 năm 2001 – 2005
và năm 2006 là 8,17% . Cơ cấu kinh tế theo gía thực tế chuyển dịch theo
hướng tích cực : GDP khu vực nông lâm ngư nghiệp và thủy sản giảm xuống
còn 20% so với 20,81 % năm 2006, công nghiệp và xây dựng tăng dần
chiếm trên 41,7 % so với 41,56 % và khu vực dịch vụ tăng nhẹ , chiếm
38,30% so với 38,08% trong hai năm tương ứng .Do kinh tế tăng trưởng cao
nên tình hình tài chính lành mạnh, thu chi ngân sách nhà nước cân đối, bội
chi ngân sách trong phạm vi Quốc hội cho phép. Theo Bộ Tài chính, tổng
thu ngân sách nhà nước cả năm 2007 ước đạt 287.900 tỉ đồng, vượt dự toán
cả năm (dự toán 281.900 tỉ đồng) và tăng 11,6% so với năm 2006 . Sản xuất
công nghiệp tăng trưởng khá cao, du lịch khởi sắc ,xuất khẩu đạt mức cao
1
nhất từ trước đến nay và tăng trưởng với tốc độ cao . Nhờ những thành tựu
trên mà Việt Nam được World Bank đánh giá là tăng trưởng tốt .
Bên cạnh những thành tựu , chúng ta cũng cần phải đề cập đến một số
hạn chế chưa được khắc phục trong năm qua và rất cần phải khắc phục trong
năm tới : Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao khoảng 12,4% , nhất là hàng ăn và
dịch vụ ăn uống . Ngoài ra còn phải kể đến tình trạng nhập siêu lớn , đầu tư
xây dựng cơ bản không đạt kế hoạch giải ngân vốn ngân sách nhà nước ,
một số lĩnh vực trong sản xuất nông nghiệp và thủy sản bị giảm về sản lượng
, chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa cao , chưa đều và bền vững .
Sau một năm gia nhập WTO , nhìn lại chúng ta có thể thấy việc gia
nhập WTO đem lại cho chúng ta cả cơ hội và thách thức , cả thuận lợi và
khó khăn . Về mặt thuận lợi , việc gia nhập WTO giúp cho thị trường xuất
khẩu của chúng ta được mở rộng , các rào cản thương mại Việt Nam ở các
nước thành viên WTO được hạn chế , việc nhập khẩu từ các nước thành viên
WTO cũng có nhiều thuận lợi về thuế quan , thủ tục , việc gia nhập WTO
cũng giúp Việt Nam có điều kiện thu hút và sử dụng vốn đầu tư tốt hơn , có
cơ hôi tiếp thu kinh nghiệm và công nghệ của các nước tiến bộ … Nhưng
việc gia nhập WTO cũng đồng thời đặt hệ thống kinh tế của chúng ta , đặc
biệt là các ngành dịch vụ như ngân hàng tài chính , sản xuất hàng tiêu dùng
vào thế phải cạnh tranh với các doanh nghiệp của nước ngoài đang muốn
chiếm lĩnh thị trường của Việt Nam …Bởi vậy chúng ta cần tận dụng tốt cơ
hội và chuẩn bị đương đầu với thử thách mà WTO đem lại .
Một trong những ngành chịu ảnh hưởng to lớn của việc gia nhập
WTO chính là ngành ngân hàng , đặc biệt là lĩnh vực thanh toán quốc tế .
Việc gia nhập WTO đã thu hút cả những nguồn vốn đầu tư trực tiếp , gián
tiếp , kiều hối từ nước ngoài gửi về , thúc đẩy xuất nhập khẩu phát triển
mạnh mẽ , thu hút những lao động có trình độ cao , những công nghệ hiện
2
đại , những ngân hàng hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực này vào Việt
Nam , bởi vậy hoạt động thanh toán quốc tế của Việt Nam đã có một năm
khởi sắc , đạt nhiều thành công nhưng cũng đang đứng trước những thách
thức lớn hơn bao giờ hết . Bởi vậy , em đã quyết định chọn đề tài “ Giải
pháp nâng cao chất lượng thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng
từ ” bởi tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán quốc tế ưu việt
được sử dụng phổ biến ở các nước tiên tiến nhưng vẫn còn tương đối mới
mẻ ở Việt Nam . Hy vọng những nghiên cứu của em sẽ góp phần nào đó
trong việc đưa chúng ta tiếp cận với thanh toán bằng tín dụng chứng từ , từ
đó tiến tới trình độ thanh toán quốc tế hiện đại , tiên tiến .
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng bản chuyên đề của em không
tránh khỏi những thiếu sót , những hạn chế cả về lí thuyết và thực tiễn , vì
vậy em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy giáo , cô giáo để chuyên
đề của em sâu sắc hơn , hoàn thiện hơn .
Em xin chân thành cảm ơn PGS .TS thầy giáo Lê Đức Lữ đã tận tình
giúp đỡ ,chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề này .
Hà Nội ngày 30 tháng 4 năm 2008
3
CHƯƠNG MỘT : LÝ LUẬN VỀ THANH
TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI.
1.1 Vai trò thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại.
1.1.1 Khái niệm về thanh toán quốc tế :
Thanh toán quốc tế là việc thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh từ
các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa các chủ thể
của các nước có liên quan. Khác với thanh toán trong nước, thanh toán quốc
tế có các đặc điểm riêng:
- Chủ thể tham gia vào hoạt động thanh toán quốc tế ở các quốc gia
khác nhau. Mỗi giao dịch thanh toán quốc tế liên quan tới tối thiểu hai quốc
gia, thông thường là ba quốc gia.
- Hoạt động thanh toán liên quan đến hệ thống pháp luật của các quốc
gia khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Do tính phức tạp đó các bên tham
gia thường lựa chọn các quy phạm pháp luật mang tính thống nhất và theo
thông lệ quốc tế…
- Đồng tiền dùng trong thanh toán quốc tế thông thường tồn tại dưới
hình thức các phương tiện thanh toán (Hối phiếu, séc, thẻ, chuyển khoản…),
có thể là đồng tiền của nước người mua hoặc người bán, hoặc có thể là đồng
tiền của nước thứ ba, nhưng thường là loại ngoại tệ được tự do chuyển đổi.
- Ngôn ngữ sử dụng trong thanh toán quốc tế phổ biến là tiếng Anh.
4
- Thanh toán quốc tế đòi hỏi trình độ chuyên môn, trình độ công nghệ
tương xứng với trình độ quốc tế.
Dưới giác độ kinh tế, các quan hệ quốc tế được chia thành hai loại:
quan hệ mậu dịch và quan hệ phi mậu dịch. Do đó, thanh toán quốc tế cũng
bao gồm thanh toán mậu dịch và thanh toán phi mậu dịch.
- Thanh toán mậu dịch
Thanh toán mậu dịch phát sinh trên cơ sở trao đổi hàng hoá và dịch vụ
thương mại theo giá cả quốc tế. Thông thường, trong thanh toán mậu dịch
phải có chứng từ hàng hoá kèm theo. Các bên mua bán bị ràng buộc với
nhau bởi hợp đồng thương mại hoặc một hình thức cam kết khác ( thư, điện
giao dịch… ). Mỗi hợp đồng chỉ ra một mối quan hệ nhất định, nội dung hợp
đồng phải quy định rõ cách thức thanh toán dịch vụ thương mại, hàng hoá
nhất định.
- Thanh toán phi mậu dịch
Là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan đến hàng hoá cũng
như lao vụ, nó mang tính chất thương mại. Đó là chi phí của các cơ quan
ngoại giao, ngoại thương ở nước sở tại, chi phí về đi lại của các đoàn khách,
các tổ chức hay cá nhân…
Thanh toán phi mậu dịch ngày càng chiếm một tỷ trọng lớn trong hoạt
động thanh toán quốc tế đặc biệt là trong hoạt động thanh toán chuyển kiều
hối khi lượng kiều bào của mỗi quốc gia ngày càng gia tăng.
Ngoài hai loại thanh toán nêu trên, trong thương mại quốc tế còn có
thanh toán vay nợ, viện trợ. Thực chất loại thanh toán này cũng là thanh toán
mậu dịch nhưng chỉ khác ở nguồn vốn, thanh toán mậu dịch được thực hiện
bằng vốn tự có, còn thanh toán vay nợ hay viện trợ do nước ngoài cấp vốn.
5
Ngày nay, hình thức thanh toán này chiếm một tỷ trọng khá lớn, nhất là ở
các nước bắt đầu phát triển hay các nước đang phát triển để thanh toán các
khoản nợ, khoản viện trợ tới kỳ hạn hoàn trả của quốc gia.
Về cơ bản thanh toán quốc tế phát sinh trên cơ sở hoạt động thương
mại quốc tế. Khi đề cập đến hoạt động thương mại quốc tế là đề cập đến
quan hệ mua bán, trao đổi hàng hoá giữa các nước. Thanh toán quốc tế là
khâu cuối cùng của một quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, do vậy
nếu công tác thanh toán quốc tế được tổ chức tốt thì giá trị hang xuất khẩu
mới được thực hiện, góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển. Thanh
toán quốc tế trở thành một yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động
đối ngoại.
Thanh toán quốc tế thực sự phức tạp, nhất là trong điều kiện hiện nay,
khi nền kinh tế thế giới có nhiều bất ổn, tỷ giá hối đoái biến động liên tục, vì
vậy yêu cầu đặt ra cho công tác thanh toán quốc tế là đảm bảo an toàn cho
các hợp đồng nhập khẩu, các khoản doanh thu hàng xuất khẩu thu về một
cách kịp thời, chính xác, an toàn.
1.1.2 Vai trò của thanh toán quốc tế
1.1.2.1 Vai trò của thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế
Hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng có vị trí quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi chúng
ta đang tiến hành sự nghiệp xây dựng đất nước. Thông qua hoạt động thanh
toán quốc tế, chúng ta có thể tận dụng được vốn, công nghệ nước ngoài để
thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, rút ngắn khoảng cách tụt
6
hậu và đưa nền kinh tế đất nước hoà nhập với nền kinh tế khu vực và trên
thế giới.
Hoạt động thanh toán quốc tế là khâu quan trọng trong quá trình mua
bán, trao đổi hàng hoá dịch vụ giữa các tổ chức cá nhân thuộc các quốc gia
khác nhau. Hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng ngày càng có vị
trí và vai trò quan trọng, nó là công cụ, là cầu nối trong quan hệ kinh tế đối
ngoại, quan hệ kinh tế và thương mại giữa các nước trên thế giới.
Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho doanh nghiệp hạn chế rủi ro
trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu. Do vị trí địa lý của các
bạn hàng thường cách xa nhau làm hạn chế việc tìm hiểu khả năng tài chính,
khả năng của người mua, của bên nợ, đồng thời trong điều kiện thị trường
thường xuyên biến động, khả năng thanh toán của bên nợ bấp bênh, hơn nữa
trong nền kinh tế thị trường tình trạng lừa đảo ngày càng tăng nên rủi ro
trong việc thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu ngày càng nhiều. Tổ chức tốt
hoạt động thanh toán quốc tế sẽ giúp các nhà xuất khẩu hạn chế được rủi ro
trong quá trình kinh doanh, nhờ đó sẽ thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu
phát triển.
1.1.2.2 Vai trò của thanh toán quốc tế đối với ngân hàng thương mại
a, Thanh toán quốc tế tạo điều kiện thu hút khách hàng, mở rộng thị phần
kinh doanh của NHTM
Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính, thực hiện chức năng
kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và cung ứng dịch vụ ngân hàng.
Thông qua hoạt động kinh doanh đa năng, ngân hàng thương mại đã thiết lập
7
nên mối quan hệ không chỉ với các tổ chức, khách hàng trong nước, mà còn
thiết lập quan hệ với các tổ chức kinh tế quốc tế khác và đã trở thành một
chủ thể tham gia vào hoạt động thanh toán quốc tế. Thanh toán quốc tế là
chức năng ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương mại.
Trong thanh toán quốc tế, ngân hàng không chỉ đóng vai trò trung gian
thanh toán, mà còn tư vấn cho khách hàng về điều kiện thanh toán, hướng
dẫn về kỹ thuật thanh toán quốc tế nhằm giảm rủi ro, bảo vệ quyền lợi cho
khách hàng, tạo sự an tâm, tin tưởng cho khách hàng trong giao dịch ngoại
thương.
Trong điều kiện cạnh tranh giữa các ngân hàng, đặc biệt là với các ngân
hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài ngày càng gay gắt và xu
hướng phát triển ngoại thương, đầu tư tài chính mang tính quốc tế như hiện
nay, thanh toán quốc tế là nghiệp vụ không thể thiếu để ngân hàng thương
mại có thể ít nhất là giữ được khách hàng như hiện có, đồng thời tạo cơ hội
thu hút thêm khách hàng mới.
b, Thanh toán quốc tế góp phần tăng thu nhập cho NHTM
Ngoài việc vốn huy động được tăng, tạo điều kiện mở rộng hoạt động
tín dụng, nhờ có hoạt động thanh toán quốc tế, ngân hàng còn tạo ra nguồn
thu đáng kể từ thu phí dịch vụ thanh toán, tài trợ xuất khẩu, mua bán ngoại
tệ…
c, Thanh toán quốc tế làm giảm rủi ro trong kinh doanh
Thông qua hoạt động thanh toán quốc tế, ngân hàng có thể quản lý việc
sử dụng vốn vay và giám sát được tình hình kinh doanh của khách hàng, tạo
điều kiện quản lý và nâng cao hiệu quả đầu tư. Mặt khác, việc kinh doanh đa
8
năng là phương sách hiệu quả để phân tán rủi ro trong kinh doanh của ngân
hàng.
d, Thanh toán quốc tế làm tăng tính thanh khoản của NHTM
Nghiệp vụ thanh toán quốc tế không chỉ tạo điều kiện thu hút khách
hàng, làm tăng số dư tiền gửi thanh toán, mà trong quá trình thực hiện các
phương thức thanh toán quốc tế cho khách hàng, đặc biệt là phương thức tín
dụng chứng từ, những khoản tiền ký quỹ mở thư tín dụng của khách hàng
tạo ra nguồn vốn rẻ và tương đối ổn định. Ngoài ra các khoản khách hàng
nộp để giải quyết tranh chấp lô hàng nhập khẩu do ngân hàng quản lý khi
chưa đến hạn thanh toán cũng là một nguồn tạo thanh khoản cho ngân hàng
dưới hình thức tiền tập trung chờ thanh toán.
e, Thanh toán quốc tế làm tăng cường quan hệ đối ngoại.
Thanh toán quốc tế giúp cho quy mô hoạt động của ngân hàng vượt ra
khỏi phạm vi quốc gia, hoà nhập với các ngân hàng trên thế giới, góp phần
nâng cao uy tín trên trường quốc tế. Trên cơ sở đó, ngân hàng có điều kiện
phát triển quan hệ đại lý, khai thác nguồn tài trợ trên thị trường tài chính
quốc tế, nguồn tài trợ từ ngân hàng nước ngoài để đáp ứng nhu cầu vốn phát
triển kinh tế - xã hội…
f, Thanh toán quốc tế góp phần nâng cao vị thế của ngân hàng thương mại
:
Hoạt động thanh toán còn cho thấy trình độ nhân lực , công nghệ
quản lý , uy tín quốc tế của mỗi ngân hàng . Những ngân hàng có hoạt động
thanh toán quốc tế phát triển , chất lượng cao , thị phần lớn thường là những
ngân hàng lớn , hiện đại và có uy tín .
9
1.2 Các phương thức thanh toán quốc tế :
1.2.1 Phương thức ứng trước tiền hàng :
Phương thức này được áp dụng khi người mua chấp nhận giá hàng
của người bán và chuyển tiền thanh toán cùng với đơn đặt hàng không hủy
ngang .
Để thực hiện phương thức này , người bán phải giao cho người mua
một giấy báo gia trên cơ sở đơn đặt hàng của người mua . Dựa trên cơ sở
giấy báo giá đó người mua lập howp đồng thanh toán . Việc thanh tóan sẽ
chuyển qua ngân hàng dưới hình thức chuyển tiền .
Phương thức này có ưu điểm là : đối với nhà nhập khẩu sẽ chắn chắn
nhận dược hàng kể cả trong trường hợp người xuất khẩu vì mộtlí do nào đó
không muốn giao hàng , do trả trước nên được chiết khấu , người nhập khẩu
có thể thương lượng để giảm giá . Đối với người xuất khẩu : do được trả
trước , người xuất khẩu tránh được rủi ro nếu người mua mất khả năng thanh
toán , tiết kiệm được chi phí quản lý , do thanh toán trước nên trạng thái hối
đoái tiền tệ luôn ở tình trạng được tăng cường .
Về mặt nhược điểm : đối với người nhập khẩu : khả năng nhận được
hàng tủy thuộc vào uy tín và khả năng giao hàng của người bán , nếu hàng
hóa không đúng như thỏa thuận thì việc đòi tiền sẽ rất khó khăn , do đó phải
mua bảo hiểm hàng hóa , sẽ phát sinh thêm chi phí , hơn nữa việc phải trả
trước tiền hàng khiến cho khả năng thanh toán của người nhập khẩu bị giảm
. Đối với người xuất khẩu : nếu đã kí hợp đổng mà người nhập khẩu lại
không chịu chuyển tiền , trong khi người xuất khẩu đã mua nguyên vật liệu
để sản xuất thì người bán sẽ phải chịu chi phí lưu kho hoặc khi tìm được
khách hàng khác thì sẽ phải bán giảm giá .
10
1.2.2 Phương thức thanh toán mở tài khỏan
1.2.2.1 Khái niệm :
Người bán xin mở một tài khoản (hoặc sổ ) để ghi nợ người mua sau
khi người bán đã hoàn thành giao hàng hay dịch vụ , định kỳ sau khi kiểm
tra , đối chiếu theo thỏa thuận giữa hai bên , người mua trả tiền cho người
bán .
Đặc điểm của phương thức mở tài khỏan :
- Đây là một phương thức thanh toán không có sự tham gia của các
ngân hàng với chức năng là ngưòi mở tài khỏan và thực thi thanh toán
- Chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên .
- Nếu chỉ người mua mở tài khoản để ghi thì tài khoản này chỉ là tai
khoản theo dõi , không có giá trị thanh quyết toán .
- Chỉ có hai bên tham gia thanh toán là người mua và người bán .
Khi áp dụng phương thức thanh tóan này cần lưu ý một số điểm như
sau :
- Đồng tiền ghi nợ là đồng tiền nào
- Căn cứ nhận nợ của người mua là gì .
- Phương thức chuyển trả tiền là phương thức gì : điện , thư hay séc ;
qui định định kỳ thanh toán như thế nào , mức phạt và chi phí phạt .
- Nếu có sự khác nhau giữa người mua và người bán trong ghi nợ thì
tranh chấp phát sinh sẽ giải quyết như thế nào .
1.1.2.2 Qui trình nghiệp vụ
11
Phương thức này luôn gắn với trả sau , thường áp dụng để thanh toán
cho những hàng hóa có giá trị nhỏ , giữa những đối tác có quan hệ tín nhiệm
lâu dài , thường xuyên , giá hàng hóa trong phương thức thanh toán này
thường cao hơn bình thường do bao gồm yếu tố lãi suất và rủi ro tín dụng .
Sơ đồ 1 : Qui trình thanh toán theo phương thức mở tài khoản
(1)_ Người bán giao hàng hóa và dịch vụ cùng với các chứng từ
(2)_ Báo nợ trực tiếp
(3)_ Người mua dùng hình thức chuyển tiền để trả tiền khi đến hạn
(1)
Người mua Người bán
(2)
(3)
NH bên mua NH bên bán
12
Phương thức thanh toán mở tài khỏan thường được áp dụng thanh toán
trong quan hệ bạn hàng tin cậy , tín nhiệm lẫn nhau với điều kiện của thương
vụ :
- Dùng trong mua bán hàng đổi hàng , thường xuyên , trao làm nhiều
lần trong năm .
- Dùng trong thanh toán tiền gửi hàng bán tại nước ngoài .
- Dùng trong thanh toán tiền phi mậu dịch như : tiền cước phí vận tải
, tiền phí bảo hiểm , tiền hoa hồng trong nghiệp vụ môi giới , ủy thác , tiền
lãi cho các khỏan vay và đầu tư .
1.2.2.3 Ý nghĩa kinh tế
Phương thức này có ưu điểm : đối với nhà nhập khẩu : được sử dụng
hàng khi chưa có tiền , giảm được áp lực về tài chính , đối với nhà nhập
khẩu : đơn giản , dễ thực hiện , chi phí thấp , giữ được thị trường , tiêu thụ
được hàng hóa nhiều hơn .
Tuy nhiên phương thức này cũng chứa đựng nhiều hạn chế : đối với nhà
xuất khẩu : lấy được tiền hàng hay không phụ thuộc hòan toàn vào thiện chí
và khả năng thanh toán của người mua , đọng vốn lớn , chịu chi phí vay vốn
để sản xuất , hiệu quả sử dụng vốn không cao …
1.2.3 Phương thức chuyển tiền
1.2.3.1 Khái niệm
Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó khách hàng (người
yêu cầu chuyển tiền) yêu cầu Ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất
13
định cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng
phương tiện chuyển tiền do khách hàng quy định.
Các bên tham gia:
- Người yêu cầu chuyển tiền
+ Người trả tiền: người nhập khẩu, người bị ký phát, người chi trả các
chi phí dịch vụ, người trả cổ tức, trái tức, lãi vay Ngân hàng, người trả tiền
phạt, bồi thường…
+ Người chuyển tiền: người đầu tư, kiều bào chuyển tiền về nước,
người chuyển kinh phí hoạt động cho các tổ chức chính phủ và phi chính
phủ ở nước ngoài, người chuyển tiền phát sinh từ các thu nhập yếu tố.
- Người hưởng lợi: là người nhận tiền do người yêu cầu chuyển tiền
chỉ định.
- Ngân hàng chuyển tiền: là Ngân hàng ở nước người yêu cầu chuyển tiền
chỉ định.
- Ngân hàng trung gian hay còn gọi là Ngân hàng trả tiền: là ngân
hàng đại lí của Ngân hàng chuyển tiền ở nước người hưởng lợi.
1.2.3.2 Phân loại
*Phân loại theo cách gửi lệnh thanh toán
- Chuyển tiền bằng Séc
Chuyển tiền bằng Séc là một dạng Séc đặc biệt, là một văn bản lệnh
thanh toán do một ngân hàng ký lập gửi cho một ngân hàng khác và yêu cầu
thanh toán ngay cho người thụ hưởng.
14
Ngân hàng chuyển tiền căn cứ vào chỉ thị của người chuyển tiền sẽ
phát hành Séc ngân hàng và yêu cầu ngân hàng đại lý thanh toán. Từ Séc
này sẽ được giao cho người thụ hưởng để xuất trình và yêu cầu thanh toán
tại ngân hàng được chỉ định.
- Chuyển tiền bằng thư
Lệnh chuyển tiền do ngân hàng chuyển tiền trực tiếp gửi bằng thư đến
ngân hàng đại lý, yêu cầu ngân hàng này thanh toán cho người thụ hưởng
theo chỉ định.
- Chuyển tiền bằng điện
Lệnh thanh toán do ngân hàng chuyển tiền gửi trực tiếp thông qua
mạng lưới liên lạc viễn thông đến ngân hàng đại lý, yêu cầu ngân hàng này
chi trả cho người thụ hưởng chỉ định.
Nếu cả ngân hàng chuyển tiền và ngân hàng thanh toán đều là thành
viên của hiệp hội viễn thông tài chính liên ngân hàng quốc tế hoặc có quan
hệ trao đổi dữ liệu điện tử với nhau, ngân hàng chuyển tiền sẽ gửi lệnh thanh
toán cho ngân hàng thanh toán qua mạng viễn thông đó. Các chỉ thị này đều
được chuẩn hoá và bảo mật hoàn toàn. Nội dung chính trong chỉ thị chuyển
tiền bằng điện cũng tương tự như hình thức chuyển tiền bằng thư.
* Phân loại theo thời điểm thanh toán
- Chuyển tiền ứng trước, đặt cọc:
Điều kiện thanh toán này là một sự cam kết của người nhập khẩu đối với
người xuất khâu trong hợp đồng ngoại thương về việc sẽ trả toàn bộ giá trị
15
tiền hàng, hoặc sẽ trả một phần trị giá tiền hàng vào một thời điểm trước khi
giao hàng.
- Chuyển tiền sau:
Trong điều kiện thanh toán này, bên bán giao hàng và chứng từ nhận
hàng cho bên mua, bên mua sẽ thanh toán tiền hàng cho bên bán vào thời
điểm theo thoả thuận.
1.2.3.3 Quy trình thanh toán nghiệp vụ theo phương thức trả tiền.
Sơ đồ 2 : Quy trình thanh toán nghiệp vụ theo phương
thức trả tiền
(4)
Ngân hàng chuyển tiền Ngân hàng đại lý
(3) (2) (5)
Người nhập khẩu (1) Người xuất khẩu
(1): Sau khi ký kết hợp đồng ngoại thương, người xuất khẩu thực hiện cung
ứng hàng hoá, dịch vụ và giao toàn bộ chứng từ hàng hoá cho bên nhập
khẩu.
16
(2): Người nhập khẩu sau khi kiểm tra chứng từ hoá đơn, lập lệnh chuyển
tiền, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển tiền cho người hưởng lợi.
(3): Ngân hàng chuyển tiền tiến hành kiểm tra nếu thấy hợp lệ và đủ khả
năng thanh toán sẽ trích tài khoản của người nhập khẩu để chuyển tiền và
gửi giấy báo nợ cho người nhập khẩu.
(4): Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng đại lý của mình ở nước
ngoài chuyển tiền cho người xuất khẩu.
(5): Ngân hàng đại lý ghi có và báo có cho người xuất khẩu.
1.2.3.4 Ý nghĩa kinh tế
Phương thức này có ưu điểm là đơn giản đối với cả hai bên , nhưng có
hạn chế là tương đối rủi ro trong thanh toán đối với người bán và trong nhận
hàng đối với người mua .Phương thức này chủ yếu áp dụng trong trường hợp
các bên tham gia tín nhiệm lẫn nhau và thường được sử dụng trong thanh
toán nợ cũ và thực hiện trong thanh toán phi mậu dịch .
1.2.4 Phương thức thanh toán nhờ thu
1.2.4.1 Khái niệm
Nhờ thu là nghiệp vụ xử lý của ngân hàng đối với các chứng từ theo
đúng chỉ thị nhận được, nhằm thu hộ tiền cho người uỷ nhiệm hoặc chuyển
giao chứng từ theo những điều kiện nhất định.
1.2.4.2 Phân loại
17
- Nhờ thu trơn: là một phương thức thanh toán mà trong đó người có
các khoản tiền phải thu từ các công cụ thanh toán nhưng không thể tự mình
thu được, cho nên phải uỷ thác cho Ngân hàng thu hộ tiền ghi trên công cụ
thanh toán đó không kèm với điều kiện chuyển giao chứng từ.
Các bên tham gia nhờ thu gồm có:
+ Người uỷ thác thu tức là Người hưởng lợi
+ Ngân hàng ở nước người uỷ thác là Ngân hàng nhận sự uỷ thác
chuyển công cụ nhờ thu để nhờ Ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài thu
tiền.
+ Ngân hàng đại lý của Ngân hàng chuyển là Ngân hàng ở nước người
trả tiền, gọi là Ngân hàng nhờ thu hay còn gọi là Ngân hàng xuất trình công
cụ thanh toán để đòi tiền.
+ Người trả tiền hay còn gọi là người bị ký phát.
- Phương thức nhờ thu kèm chứng từ: là một phương thức thanh toán
mà trong đó người có các khoản tiền phải thu ghi trên các công cụ thanh
toán, nhưng không thể tự mình thu được từ người bị ký phát mà phải uỷ thác
cho Ngân hàng thu hộ tiền ghi trên công cụ thanh toán với điều kiện là sẽ
giao chứng từ nếu người bị ký phát thanh toán, hoặc chấp nhận thanh toán
hoặc thực hiện các điều kiện khác đã quy định.
Các bên tham gia nhờ thu gồm:
+ Người uỷ thác thu tức là Người hưởng lợi
+ Ngân hàng ở nước Người uỷ thác là Ngân hàng nhận sự uỷ thác
chuyển công cụ nhờ thu để nhờ Ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài thu
tiền.
18
+ Ngân hàng đại lý của Ngân hàng chuyển tiền là Ngân hàng ở nước
người trả tiền, gọi là Ngân hàng nhờ thu hay còn gọi là Ngân hàng xuất trình
công cụ thanh toán để đòi tiền.
+ Người trả tiền hay còn gọi là Người bị ký phát.
1.2.4.3 Qui trình nghiệp vụ
Sơ đồ 3.1 : Quy trình thanh toán theo phương thức nhờ thu
phiếu trơn
(6)
Ngân hàng thu hộ Ngân hàng đại lý
(3)
(2) (7) (5) (4)
Người xuất khẩu (1) Người nhập khẩu
(1): Người xuất khẩu giao hàng và bộ chứng từ hàng hoá cho người
nhập khẩu.
(2): Người xuất khẩu lập hối phiếu và uỷ thác cho ngân hàng thu hộ
tiền ở người nhập khẩu bằng nhờ thu.
(3): Ngân hàng thu hộ gửi thư uỷ thác nhờ thu kèm hối phiếu cho
ngân hang đại lý của mình ở nước nhập khẩu để yêu cầu thu tiền.
19
(4): Ngân hàng đại lý gửi hối phiếu cho người nhập khẩu để yêu cầu
thanh toán hay chấp nhận hối phiếu.
(5): Người nhập khẩu thông báo đồng ý chấp nhận thanh toán hoặc từ
chối.
(6): Ngân hàng đại lý chuyển tiền và gửi giấy báo có hoặc hối phiếu
đã chấp nhận thanh toán về ngân hàng thu nợ hoặc thông báo về sự từ chối
thanh toán của bên nhập khẩu.
(7): Ngân hàng thu hộ ghi có và báo có cho người xuất khẩu hoặc
thông báo về sự từ chối thanh toán của người nhập khẩu.
Sơ đồ 3.2 : Quy trình thanh toán theo phương thức nhờ thu
kèm chứng từ
(7)
Ngân hàng thu hộ Ngân hàng đại lý
(3)
(2) (8) (4) (5) (6)
(1)
Người xuất khẩu Người nhập khẩu
(1): Người xuất khẩu giao hàng sang nước nhập khẩu.
20