Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại ngân hàng công thương đống đa

  • 127 trang
  • file .pdf
LUẬN VĂN:
Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định
tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng Công
thương Đống Đa
Lời nói đầu
Nền kinh tế Việt Nam đang trên con đường bước vào thiên niên kỷ mới, con đường
đổi mới và hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Sự hội nhập đó đã khép lại một thời kỳ kinh tế
tự cung tự cấp, phát triển chạm chạp và lạc hậu. Nhìn lại những năm qua, tốc độ đầu tư
trong nền kinh tế nước ta có sự tăng trưởng mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển cũng như
cải thiện đời sống xã hội. Trong đó, không thể không kể đến vai trò của các NHTM với tư
cách là nhà tài trợ lớn cho các dự án đầu tư, đặc biệt là dự án trung và dài hạn. Phải khẳng
định rằng,để đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước nhằm tránh nguy
cơ tụt hậu ngày càng xa so với các nước khác, trong khi xuất phát điểm của chúng ta lại thấp
hơn họ nhiều, đòi hỏi chúng ta phải có sự ưu tiên về đầu tư chiều sâu, đặc biệt cần bổ sung
một lượng vốn đáng kể bao gồm vốn ngắn hạn và vốn trung dài hạn để đầu tư vào các dự án
có khả năng tranh thủ “đi tắt, đón đầu”công nghệ.
Trong khi đó, khả năng về vốn tự có của các doanh nghiệp rất hạn chế, việc huy động
vốn của các doanh nghiệp qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu cũng rất khó khăn do thị
trường chứng khoán của nước ta còn đang ở giai đoạn sơ khai, người dân còn chưa quen
thuộc và tin tưởng vào loại hình đầu tư này. Do vậy để có thể đáp ứng nhu cầu về vốn trung
dài hạn,các doanh nghiệp chủ yếu đi vay các tổ chức tài chính trung gian trong đó hệ thống
NHTM là nguồn huy động và cung cấp vốn trung dài hạn chủ yếu cho nền kinh tế.
Với tư cách là trung tâm tiền tệ tín dụng của nền kinh tế, để phù hợp với xu hướng đa
dạng hoá các hoạt động của Ngân hàng nhằm phục vụ bổ sung vốn lưu động và vốn cố định
cho doanh nghiệp, hệ thống NHTM Việt Nam cũng đã chủ trương đẩy mạnh hoạt động tín
dụng trung dài hạn đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế bên cạnh hoạt
động ngắn hạn truyền thống.
Tuy nhiên, cũng như mọi hoạt động kinh doanh khác, hoạt động tín dụng cũng chứa
đầy rẫy những rủi ro. Do đặc thù kinh doanh tín dụng Ngân hàng là kinh doanh chủ yếu dựa
vào tiền của người khác, kinh doanh qua tay người khác nên rủi ro trong hoạt động tín dụng
cao hơn nhiều so với các doanh nghiệp vì nó vừa phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của
chính bản thân Ngân hàng và vừa phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hậu
quả của nó rất dễ lan truyền trong cả hệ thống Ngân hàng gây ra những vụ hoảng loạn và
sụp đổ của hàng loạt Ngân hàng cùng một loạt hậu quả nghiêm trọng khác về mọi mặt kinh
tế, xã hội đặc biệt là lòng tin của người dân vào sự lãnh đạo của chính phủ bị suy giảm.
Trong thời gian qua, những mất mát to lớn về tiền của tập trung qua công tác tín dụng đã là
những hậu quả đáng quan tâm. Nhất là trong vài năm gần đây, số lượng dự án đầu tư trung –
dài hạn trong nước và nước ngoài ngày càng gia tăng, mang lại một tỷ lệ lợi nhuận đáng kể
trong tổng lợi nhuận của các Ngân hàng. Nhưng bên cạnh đó cũng không tránh khỏi một số
vướng mắc sai sót trong quá trình thực hiện cho vay các dự án đặc biệt là các dự án đầu tư
trung – dài hạn.
Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao hạn chế được rủi ro cho hoạt động tín dụng của Ngân
hàng trong điều kiện để tiến tới công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước thì việc gia tăng số
lượng các dự án đầu tư là điều tất yếu. Muốn vậy thì những dự án này phải đảm bảo chất
lượng, tức là phải làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư, trong đó có việc lập, thẩm định và phê
duyệt dự án. Chính vì vậy, vai trò to lớn của công tác thẩm định tín dụng dự án đầu tư, đặc
biệt là thẩm định tài chính dự án đầu tư là không thể phủ nhận được.
Hơn nữa, một yêu cầu có tính nguyên tắc đối với Ngân hàng trong hoạt động đầu tư tín
dụng là phải xem xét, lựa chọn những dự án đầu tư thực sự có hiệu quả vừa mang lại lợi ích
cho nền kinh tế, vừa phải đảm bảo lợi nhuận Ngân hàng, đồng thời hạn chế thấp nhất rủi ro
và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Công tác thẩm định dự án đầu tư là công cụ đắc
lực giúp các Ngân hàng thực hiện yêu cầu này.
Với ý nghĩa đó việc thẩm định dự án đầu tư góp phần cực kỳ quan trọng đối với sự
thành bại trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Vì tính cấp bách, tầm quan trọng của
công tác này đã tạo cho em một niềm say mê hứng thú đi sâu vào tìm tòi nghiên cứu đề tài
“Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng Công
thương Đống Đa”.
Đề tài được nghiên cứu và hoàn thiện ngoài lời mở đầu, phần kết luận và danh mục tài
liệu tham khảo gồm những nội dung sau:
Chương I:Thẩm định tài chính dự án đầu tư của NHTM.
Chương II:Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng
Công thương Đống Đa.
Chương III:Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại
Ngân hàng Công thương Đống Đa.
Chương I
Thẩm định tài chính dự án đầu tư của Ngân hàng thương mại
1.1.Hoạt động cho vay theo dự án của ngân hàng thương mại
1.1.1.Tổng quan về Ngân Hàng Thương Mại.
Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các NHTM được coi như là một tất yếu khách
quan, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hàng hoá. Đồng thời, nó có ý nghiã như một bước
ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển và tiến bộ của loài người, được ví như “sự phát
minh ra lửa”hay “sự phát minh ra bánh xe ”…
Trong nền kinh tế hàng hoá, tại những thời điểm nhất định luôn tồn tại một mâu
thuẫn là: có những người thiếu vốn và có những người thừa vốn, những người có cơ hội
đầu tư sinh lời nhưng không có tiền và những người có tiền nhưng không có cơ hội sử
dụng sinh lời hoặc sinh lời thấp hơn. Mâu thuẫn này càng lớn hơn khi nền kinh tế càng
phát triển, khi mà cung cầu về sản phẩm cũng như tốc độ chu chuyển hàng hoá, tiền tệ
tăng lên mạnh mẽ. Các NHTM ra đời đã kết nối được sự khác biệt về không gian và thời
gian khắc phục đựoc sự thiếu hụt về thông tin (là những trở ngại ngăn cản gặp gỡ giữa
những người tiết kiệm và người đầu tư), đưa đồng vốn tư nơi thừa đến nơi thiếu, đồng
thời giảm được chi phí giao dịch do sự chuyên môn hoá. Làm như vậy các NHTM đã góp
phần nâng cao được năng suất và hiệu quả của toàn nền kinh tế, cải thiện đời sống của
mọi người trong xã hội.
Trên thực tế, sự dẫn vốn từ tiết kiệm đến đầu tư thông qua hai con đường: tài chính
trực tiếp và tài chính gián tiếp (tức là thông qua các trung gian tài chính).Và NHTM cũng
không phải là trung gian tài chính duy nhất.
Chúng ta có thể thấy vị trí của các NHTM trong thị trường tài chính qua sơ đồ sau:
Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội
dung chủ yếu, thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng dịch vụ thanh toán.
NHTM thể hiện được vai trò của mình thông qua các hoạt động cơ bản sau đây:
Huy động và sử dụng vốn.
Trung gian thanh toán.
Cung cấp các dịch vụ khác.
*Huy động và sử dụng vốn.
Trong hoạt động Ngân hàng, vốn tự có thường chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng nguồn
vốn. Vốn tự có của Ngân hàng được hình thành từ vốn ngân sách nhà nước cấp, vốn cổ
phần, liên doanh liên kết, tự tích luỹ … tuỳ thuộc từng loại hình Ngân hàng. Để thực hiện
mở rộng hoạt động kinh doanh của mình, các Ngân hàng phải huy động các nguồn vốn
trong nền kinh tế như nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, tiền gửi tiết kiệm của dân cư.
Đồng thời trong những trường hợp cần thiết, để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, đầu tư hay
cho vay Ngân hàng trung ương, các Ngân hàng tổ chức tín dụng khác.
Khi sử dụng vốn huy động, vốn vay, Ngân hàng phải bỏ ra những chi phí nhất định.
Những chi phí này sẽ được bù đắp đồng thời Ngân hàng thu lợi nhuận thông qua hoạt
động sử dụng vốn thể hiện tập trung ở các hình thức:
 *Hoạt động ngân quỹ: là việc Ngân hàng nắm giữ tiền mặt tại két, các khoản tiền
thanh toán Ngân hàng trung ương, và NHTM khác, tiền đang trong quá trình thu. Với
hoạt động này, một mặt theo quy định về dự trữ bắt buộc của Ngân hàng trung ương, một
mặt ý thức của chính bản thân Ngân hàng bảo đảm khả năng thanh toán, tránh rủi ro mất
khả năng thanh toán mà có thể dẫn đến sự sụp đổ của Ngân hàng. Hoạt động này thường
không sinh lời.
 *Hoạt động tín dụng: có thể nói là hoạt động quan trọng nhất mang lại nguồn thu
nhập chủ yếu và quyết định về sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.
*Hoạt động đầu tư: Ngân hàng kiếm lời từ khoản chênh lệch giũa giá mua và giá
bán các chứng khoán trên thị trường tài chính. Đồng thời, Ngân hàng nắm giữ các trái
phiếu chính phủ, cổ phiếu công ty hoặc tham gia góp vốn liên doanh với các doanh
nghiệp để hưởng lãi suất hoặc chia lợi nhuận.
*Hoạt động trung gian thanh toán: Trên cơ sở các mối quan hệ thiết lập với các
khách hàng, các Ngân hàng trong cũng như ngoài nước, NHTM thực hiện thanh toán qua:
hệ thống thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng, phát hành các loại séc, thẻ ngân hàng,
thực hiện trích tài khoản, chuyển khoản thanh toán trực tiếp cho cá nhân, qua đó Ngân
hàng thu phí, tỉ trọng hoạt động này ngày càng tăng.
*Cung cấp các dịch vụ khác: Một trong những hoạt động không kém phần quan
trọng hỗ trợ cho nghiệp vụ chính của mình như: tư vấn đầu tư bảo lãnh (dự thầu, thanh
toán, phát hành chứng khoán …) đại lí, giữ két, …để có thể tận dụng được lợi thế về uy
tín và các mối quan hệ rộng khắp trong lòng thị trường.
Rõ ràng các hoạt động của Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn
nhau. Ngân hàng chỉ có thể tăng cường cho vay đầu tư khi huy động được nguồn vốn dồi
dào và rẻ. Đồng thời, những khách hàng và đối tác trong huy động vốn cho vay, đầu tư
của Ngân hàng thường sử dụng các dịch vụ khác ở chính Ngân hàng này như thanh toán
chuyển tiền. Ngược lại, chất lượng dịch vụ cao, phí phải chăng sẽ thu hút khách hàng đến
đông hơn, tăng nguồn vốn huy động cho Ngân hàng, mở rộng thị trường cho vay, đầu tư

Nhận thức rõ điều đó, các NHTM ngày nay có xu hướng hoạt động đa năng, tỉ lệ
doanh số cũng như lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ ngày càng tăng. Tuy nhiên, không
phải vì thế mà hoạt động cho vay – vốn là hoạt động cơ bản truyền thống lại bị suy giảm
về trầm quan trọng. Có người nói huy động vốn và cho vay là lẽ sống của NHTM, thật
vậy, nếu thiếu nó thì NHTM không còn là nó nữa, nhất là trong xu hướng hiện nay, các
Ngân hàng tăng cường tài trợ cho nhu cầu đầu tư trung và dài hạn dưới hình thức cho vay
theo dự án.
1.1.2.Vai trò của tín dụng và cho vay theo dự án của Ngân hàng thương mại
Đối với mỗi doanh nghiệp, để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh thì điều đầu tiên
là cần đủ vốn.Vốn để thuê công nhân, vốn để mua máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, xây
dựng nhà xưởng … Xét rộng ra cả nền kinh tế, các ngành sản xuất muốn hoạt động đều
đặn và phát triển thì cần được đáp ứng đầy đủ vốn, bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu
động. Để đạt được một tốc độ phát triển kinh tế qua các năm thì các quốc gia không
những phải duy trì mà còn phải thường xuyên bổ sung vốn cho nền kinh tế. Nói cách khác
cùng với tốc độ phát triển kinh tế không ngừng, số lượng vốn đầu tư cũng cần phải được
tăng lên gấp bội.
Khái niệm về vốn cần phải được hiểu không chỉ là vốn tiền tệ mà còn biểu là linh
hoạt nhất.
Xét theo quy mô vốn thể hiện dưới nhiều hình thức khác như: vật tư kĩ thuật, đất đai,
lao động, tài nguyên …trong đó vốn tiền tệ đầu tư được mở rộng, cơ cấu vốn cũng có sự
thay đổi theo từng nghành kinh tế, từng khu vực, từng đối tượng đầu tư. Xét theo đối
tượng đầu tư, nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế hàng năm bao gồm: vốn để hình thành
nên tài sản cố định và vốn để hình thành nên tài sản lưu động (gọi là vốn lưu động). Bất
cứ một quốc gia nào để đảm bảo sự tăng trưởng đều phải đầu tư cơ bản theo chiều rộng
thông qua các hình thức xây dựng mới. Các nước phát triển chủ yếu đầu tư theo chiều sâu,
hướng hiện đại hoá cở sở hoạt động. Còn đối với các nước đang phát triển đầu tư phát
triển vừa theo chiều rộng, vừa theo chiều sâu. Các nước đang phát triển do cơ sở vật chất
kĩ thuật còn ở trình độ thấp, chưa hoàn thiện nên hàng năm một bộ phận vốn khá lớn được
sử dụng vaò các mục đích đầu tư đổi mới các tài sản cố định. Là một nước đang phát
triển,Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Điều này có nghiã là bộ phận vốn mà
Việt Nam cần để sử dụng cho đầu tư vào tài sản cố định là rất lớn và là nhân tố vô cùng
quan trọng cho sự phát triển kinh tế Việt Nam.
Trong những năm qua, công nghiệp hoá hiện đại đất nước nhằm xây dựng cơ sở vật
chất kĩ thuật cho chủ nghiã xã hội được Đảng và Nhà nước ta đặt lên nhiệm vụ hàng đầu.
Đó là con đường tất yếu để chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế hiện
đại với cơ cấu công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp hợp lí. Điều này càng có ý nghiã đối
với Việt Nam, một nước đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hâụ với hơn 80% dân số
sống bằng nghề nông, từ kinh nghiệm của những quốc gia đã tiến hành công nghiệp hoá -
hiện đại hoá là phải tạo ra cho được những yếu tố thuận lợi cho quá trình này. Đó là xây
dựng một nền công nghiệp tiên tiến, huy động vốn lớn cho quá trình công nghiệp hoá hiện
đại hoá. Điều này khẳng định vốn là điều kiện không thể thiếu được để tiến hành công
nghiệp hoá hiện đaị hoá.
Vốn cho phát triển kinh tế xã hội luôn là vấn đề quan trọng và cấp bách cho quá
trình công nghiệp hoá với mọi quốc gia. Đặc biệt đối với Việt Nam, để duy trì những
thành quả đạt được trong nhữnh năm qua nhờ quá trình đổi mới giữ vững nhịp độ tăng
trưởng kinh tế cao và tránh cho đất nước rơi vào tình trạng tụt hậu so với các nước trong
khu vực thì một trong những vấn đề đang được quan tâm là nguồn vốn đầu tư phát triển
kinh tế xã hội.
Một mục tiêu quan trọng của Việt Nam trong chiến lược ổn định và phát triển kinh
tế đến năm 2005 là tăng gấp đôi GDP/người vào năm 2005, tức là đạt trên
450USD/người.
Qua tính toán và dự tính của các nhà kinh tế thế giới và trong nước thì để đạt được
mục tiêu trên, nước ta phảỉ huy động được từ 45-50 tỷ USD cho đầu tư trong đó vốn trong
nước phải đảm bảo từ 20 - 25 tỷ USD.
Rõ ràng là nhu cầu vốn đầu tư cho qúa trình công nghiệp hoá –hiện đaị hoá ở nước
ta là một vấn đề nan giải. Nguồn vốn này có thể huy động từ hai kênh chính: vốn trong
nước và vốn nước ngoài.
Với chính sách mở cửa và phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại
hoá, không thể không nói tới vai trò của Ngân hàng, nhất là tín dụng Ngân hàng. Để vực
dậy và đem laị sự phát triển cho một đất nước có nền kinh tế kém phát triển, chúng ta cần
có một lượng vốn lớn đặc biệt là nguồn vốn trung và daì hạn. Như trên đã nói chúng ta có
thể đầu tư bằng nhiều nguồn vốn: Vốn ngân sách nhà nước, vốn đầu tư từ hệ thống tín
dụng Ngân hàng, vốn liên doanh, liên kết từ các tổ chức doanh nghiệp, cá nhân trong,
ngoài nước và vốn đầu tư từ các tổ chức quốc tế. Mỗi nguồn vốn đều rất quan trọng, cần
thiết và cấu thành nên một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia. Tuy nhiên nguồn vốn
từ hệ thống tín dụng Ngân hàng đối với các doanh nghiệp đã trở nên phổ biến hơn và
ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong kết cấu tài sản nợ của các doanh nghiệp.
Trong những năm qua, ngành Ngân hàng đã cố gắng đáp ứng một khối lượng vốn
lớn cho nền kinh tế. Khối lượng tín dụng tăng nhanh hàng năm phù hợp với mức tăng
trưởng kinh tế theo sự chỉ đạo của Chính phủ. Các hình thức tín dụng Ngân hàng ngày
càng phong phú và đa dạng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Tín dụng đối với các
thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tăng nhanh, phù hợp với chủ trương phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần và bảo đảm sự bình đẳng về môi trường và điều kiện hoạt động
giữa các thành phần kinh tế. Tín dụng Ngân hàng đã tập trung có chọn lọc các dự án lớn,
vào các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có điều kiện tiếp cận thị trường, giúp các doanh
nghiệp đổi mới máy móc thiết bị hiện đại, sản xuất ra nhiều loại hàng hoá đáp ứng nhu
cầu cho xã hội. Tuy nhiên, một điều đáng nói ở đây là tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn
trong cơ cấu tín dụng nói chung còn nhỏ bé, chưa đáp ứng được đòi hỏi công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước. Vốn huy động của Ngân hàng chủ yếu là vốn ngắn hạn do đó Ngân
hàng chỉ có thể sử dụng một tỷ lệ nhỏ để đầu tư vào sản xuất kinh doanh trung và dài hạn.
Trong một nền kinh tế nhu cầu tín dụng chung dài hạn thường xuyên phát sinh do
các doanh nghiệp luôn tìm cách phát trển mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ đổi mới
các phương tiện vận chuyển, kỹ thuật tin học…Nên có thể nói rằng tín dụng trung, dài
hạn là người trợ thủ đắc lực của các doanh nghiệp trong việc thoả mãn các cơ hội kinh
doanh. Khi có cơ hội kinh doanh các doanh nghiệp sẽ tận dụng triệt để số vốn này còn
nếu không thì có thể hoàn trả lại số vốn này cho Ngân hàng. Đó là ưu thế của vốn trung
và dài hạn, nó linh hoạt hơn các hình thức huy động khác. Hơn nữa, việc vay vốn này sẽ
tránh được các chi phí như phát hành, lệ phí bảo hiểm, đăng ký chứng khoán…
Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay nhu cầu vốn trung dài hạn cho đầu tư xây
dựng các công trình, sản xuất kinh doanh mới,…đòi hỏi có một lượng vốn rất lớn. Nhu
cầu này được thoả mãn một phần bằng vốn ngân sách cấp, huy động từ dân cư, vay nước
ngoài. Nhưng cho dù là nguồn vốn xuất phát từ đâu, thì việc cung cấp tín dụng thông qua
hệ thống các NHTM dưới hình thức cho vay trung, dài hạn là rất quan trọng và khả thi,
bởi vì hệ thống NHTM là một hệ thống kinh doanh tiền tệ có kinh nghiệm trong việc nắm
bắt thị trường có kinh nghiệm thẩm định các dự án các chương trình đầu tư, do vậy các
NHTM tài trợ vốn trung, dài hạn cho các doanh nghiệp sẽ đảm bảo lợi ích của doanh
nghiệp, vì Ngân hàng có thể tư vấn cho các nhà doanh nghiệp về đầu tư và giúp đỡ các
doanh nghiệp trong quan hệ thanh toán với khách hàng, đồng thời cung cấp các thông tin
cần thiết.
Tín dụng trung và dài hạn của các NHTM có một vai trò như trên đã đề cập. Vậy
chúng ta cùng xem xét nó có lợi ích như thế nào?
Những lợi ích mà tín dụng trung và dài hạn của các NHTM đem lại
 Đối với các doanh nghiệp.
Tín dụng trung dài hạn có tác động hiệu qủa đến nhịp độ phát triển sôi động của các
doanh nghiệp và thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.
Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường có nghĩa là cạnh tranh quyết liệt – cạnh
tranh là môi trường và cũng là đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và phát triển được thì không còn cách nào khác là phải
thắng lợi trong cạnh tranh.
Để cạnh tranh và giành được thắng lợi, doanh nghiệp phải chuẩn bị cho mình một
chiến lược kinh doanh hoàn hảo, bao gồm các kế hoặch xây dựng nhà xưởng, mua sắm
các thiết bị máy móc đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng lực
sản xuất, tăng lợi nhuận. Muốn vậy phải có đủ vốn. Nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn tự
tích luỹ thì phải mất một thời gian doanh nghiệp mới đổi mới được tài sản cố định và sẽ
lại tụt xa so với các doanh nghiệp trường vốn đã trang bị hiện đại và sản phẩm họ tung ra
thị trường cũng trở nên lạc hậu. Vì thế lối thoát cho các doanh nghiẹp là huy động vốn
bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán hoặc vay vốn Ngân
hàng. Phát hành cổ phiếu trái phiếu trên thị trường chứng khoán là một biện phát hỗ trợ
vốn tích cực cho các doanh nghiệp nhưng hình thức này chỉ phát huy hiệu quả ở những
nước có thị trường vốn và thị trường chứng khoán phát triển. Thậm chí ở những nước
này, trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp vẫn có xu hướng vay từ Ngân hàng, sở dĩ
như vậy là vì lí do:
 Với các khoản vay từ Ngân hàng,doanh nghiệp có thể giảm bớt các chi phí mà lẽ ra
họ phải trả khi tổ chức phát hành chứng khoán, chi phí làm thủ tục gọi vốn, chi phí đăng
kí. bảo hiểm.
 Kì hạn của các khoản vay từ ngân hàng dễ điều chỉnh hơn so với việc phát hành cổ
phiếu, trái phiếu. Do vậy khi thu nhập của donah nghiệp có biến động, hoặc một số sự
kiện diễn biến không như dự kiến ban đầu, doanh nghiệp có thể thương lượng lại với
Ngân hàng để thay đổi cách thức trả nợ (trả lãi, trả gốc) sao cho thuận lợi cho doanh
nghiệp. Doanh nghiệp cũng được hưởng một khoảng thời gian ân hạn, trong thời gian này
doanh nghiệp chưa phải trả nợ gốc ngay mà chỉ phải trả lãi. Những thuận lợi này không
có ở trái phiếu, cổ phiếu.
Khi vay vốn ở Ngân hàng doanh nghiệp vẫn có thể thu lợi tức mà không mất sự
kiểm soát đối với hãng đó hoặc phải đối phó với trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi khi vốn
không còn cần nữa.
Mặc dù, có nhiều thuận lợi như vậy nhưng lãi suất tín dụng của Ngân hàng là chi phí
khá cao đối với doanh nghiệp. Nó buộc doanh nghiệp phải nghĩ đến hiệu quả đầu tư,
không chỉ đủ để trả vốn và lãi vay Ngân hàng mà phải đem lại lợi tức cho chính mình. Do
vậy lãi suất tín dụng trung – dài hạn của Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy doanh
nghiệp triệt để khai thác có hiệu quả đồng vốn, kinh doanh có lãi và thắng trong canh
tranh.
Thêm vào đó, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì những vốn vay từ Ngân hàng
không những là quan trọng mà còn gần như là duy nhất để tài trợ cho nhu cầu đầu tư của
doanh nghiệp. Bởi vì thường những doanh nghiệp lớn, có uy tín mới có thể huy động vốn
trên thị trường chứng khoán bằng cách phát hành trái phiếu hay cổ phiếu. Còn những
doanh nghiệp vừa và nhỏ ít có khả năng gom vốn trên thị trường bằng cách bán các chứng
khoán của mình. Thay vào đó, họ thường kiếm tìm sự tài trợ từ phía Ngân hàng. Chính
những nguyên nhân trên làm cho các doanh nghiệp vẫn rất ưa thích hình thức vay vốn
trung và dài hạn từ Ngân hàng bên cạnh các nguồn vốn khác. ở Việt Nam, nguồn vốn vay
Ngân hàng lại càng có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vì hệ thống thị trường của ta
chưa hoàn chỉnh, thị trường chứng khoán còn đang trong giai đoạn sơ khai. Ngân hàng
luôn là nguồn vốn có định quan trọng nhất cho doanh nghiệp. Tuy vậy vốn cố định của
Ngân hàng không rải đều cho mọi đơn vị mà tập trung chủ yếu vào các đơn vị kinh doanh
có hiệu quả, có xu hướng phát triển với các điều kiện tín dụng ưu đãi hơn. Còn đối với
một số doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, Ngân hàng sẽ thắt chặt điều kiện vay vốn,
thậm chí từ chối cấp tín dụng. Do vậy để có vốn đầu tư phát triển, để vươn lên và đứng
vưng trong cơ chế thị trường, bản thân doanh nghiệp phải đổi mới, tổ chức lại sản suất
kinh doanh sao cho có hiệu quả.
 Đối với Ngân hàng.
Các khoản cho vay trung - dài hạn sẽ là tài sản sinh lợi có nhiều triển vọng khi nó
được thực hiện và giám sát đúng đắn. Nếu Ngân hàng có một nguồn vốn ổn định trong
thời gian dài, dùng nguồn vốn đó để đầu tư dài hạn sẽ tạo ra lợi nhuận cao hơn nhiều so
với việc dùng nguồn vốn này cho vay ngắn hạn. Bên cạnh khoản lợi nhuận hấp dẫn, tín
dụng trung – dài hạn còn là vũ khí cạnh tranh rất lợi hại giữa các Ngân hàng với nhau.
Với sản phẩm này, Ngân hàng sẽ phục vụ tốt hơn cho các chủ doanh nghiệp và thu hút
ngày càng nhiều khách hàng đến với Ngân hàng. Khi xác định mở rộng cho vay trung –
dài hạn, các Ngân hàng không chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt mà còn mong đợi ở lợi ích
lâu dài hơn, đó là mở rộng tín dụng trung – dài hạn để thúc đẩy mạnh cho vay ngắn hạn.
Bởi lẽ, các doanh nghiệp sau khi được Ngân hàng cho vay vốn, trang bị máy móc thiết bị
mới hay xây dựng mở rộng, năng lực sản suất sẽ tăng lên. Khi đó, doanh nghiệp lại cần
nhiều vốn lưu động hơn để đáp ứng cho sản xuất. Người đầu tiên mà các doanh nghiệp
tìm đến chính là các Ngân hàng đã đầu tư cho họ, hỗ trợ những điều kiện cần thiết cho sự
phát triển của họ. Với những Ngân hàng này, doanh nghiệp dễ dàng tìm được sự thông
cảm do đã hiểu nhau và các dịch vụ rẻ, tiện lợi hơn. Về phía các Ngân hàng, họ cũng
muốn tạo quan hệ với các doanh nghiệp quen biết để tiện theo dõi tình hình tài chính và
các khoản thu chi của doanh nghiệp.
Trong hiện tại và tương lai, tín dụng trung – dài hạn của NHTM vẫn sẽ nắm vai trò
quan trọng trong đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm máy móc thiết bị hiện đại.
 Đối với nền kinh tế.
Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng có hiệu quả sẽ có tác động đến
mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Nó góp phần giải quyết nạn thất nghiệp, tạo thêm
công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và do vậy cũng giảm bớt tệ nạn xã
hội.
Phát triển cho vay trung và dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể gánh nặng cho ngân sách
nhà nước, giảm bớt khoản bao cấp từ ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản, góp phần
giảm bớt thâm hụt ngân sách. So với hình thức cấp phát từ ngân sách. Hình thức tín dụng
Ngân hàng rõ ràng là có hiệu quả hơn. Bởi lẽ đồng vốn lúc này gắn liền với quyền lợi của
Ngân hàng cũng nhue của doanh nghiệp. Đối với Ngân hàng để bảo toàn vốn, họ phải
theo dõi sát sao đồng vốn của mình và trong những trường hợp cần thiết phải tư vấn cho
doanh nghiệp, đưa ra những lời khuyên bổ ích cho doanh nghiệp để đảm bảo đồng vốn
sinh lời. Còn với doanh nghiệp lãi suất tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng là chi phí
khá cao đối với doanh nghiệp. Đặc biệt nếu không sử dụng có hiệu quả thì doanh nghiệp
sẽ phải chịu lãi suất phạt, tức là lãi suất nợ quá hạn. Do vậy tín dụng Ngân hàng là đòn
bẩy kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp khai thác triệt để hiệu quả của đồng vốn, đồng thời
cũng nâng cao tinh thần trách nhiệm của doanh nghiệp, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả
và chiến thắng trong cạnh tranh.
Với tư cách là trung gian tài chính đi vay để cho vay. Ngân hàng huy động các
khoản tiền nhỏ nhằm rải rác trong các doanh nghiệp và trong dân cư, biến thành nguồn
vốn lớn để đầu tư cho các dự án có tính khả thi cao. Do vậy, tín dụng Ngân hàng góp
phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn của nền kinh tế.
Thông qua huy động và cho vay theo dự án có định hướng, tín dụng Ngân hàng là
động lực mạnh mẽ đối với việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân cũng như cơ cấu
nền kinh tế trong từng ngành, từng vùng kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại
hoá. Đối chiếu thực tế hiện nay, vốn trong nước và nước ngoài được thu hút qua kênh tín
dụng Ngân hàng đã đầu tư các tổ chức kinh tế mua vật tư hàng hoá, trang thiết bị và đổi
mới công nghệ chiếm tỷ trọng lớn. Hầu hết các chương trình ứng dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật, đổi mới công nghệ, tạo việc làm. Xây dựng nhà xưởng …Đều có vốn Ngân hàng
tham gia
Với những vấn đề chung về lí thuyết tín dụng đã được nêu ra ở trên. Song quan
trọng hơn mà chúng ta cần quan tâm là hoạt động cho vay theo dự án của NHTM.
Hoạt động cho vay theo dự án của đầu tư thực chất là cho vay trung và dài hạn trước
đây. Thông thường có nhiều cách phân loại cho vay của Ngân hàng
Theo vật bảo đảm: Có hoặc không vật bảo đảm
Theo thời gian: cho vay ngắn trung dài hạn
Theo lãi suất: lãi suất thả nổi, lãi suất cố định.
Theo đối tượng khách hàng: khách hàng là doanh nghiệp, cá nhân, chính phủ.
Chi tiết hơn có thể phân doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Hoạt động cho vay đóng vai trò quan trọng với nền kinh tế cũng như đối với Ngân
hàng. Bởi hoạt động cho vay mang lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng nên nó cũng
chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Một khoản cho vay từ khi bắt đầu đến khi kết thúc thường
theo trình tự sau đây (đối với Ngân hàng).
Kiểm tra thẩm Kiểm tra sử Kiểm tra xử
định xét dụng vốn vay lí, thu hồi
duyệt cho vay trong khi cho nợ
Sự thất bại của khoản cho vay sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng trầm
trọng hơn có thể đe doạ sự tồn tại của Ngân hàng khi mà những yêu cầu rút tiền của người
gửi không được đáp ứng. Với quan niệm về khoản cho vay gặp phải rủi ro không phải chỉ
là việc Ngân hàng mất vốn mà đúng hơn là người vay không hoàn trả gốc và lãi theo đúng
hạn đã cam kết (Nếu ngân hàng thường xuyên phải ra hạn nợ cho khách hàng thì tất nhiên
sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của Ngân hàng, không như dự kiến) rủi ro có thể phát sinh
trong tất cả các giai đoạn đòi hỏi Ngân hàng phải phân tích cân nhắc kĩ lưỡng để đưa ra
quyết định: cho ai vay, vay bao nhiêu, vay như thế nào …nhằm đảm bảo có khoản cho
vay an toàn hiệu quả. Tuy nhiên giai đoạn xem xét trước khi cho vay (còn gọi là phân tích
tín dụng) vẫn là quan trọng nhất. Như vậy vấn đề thẩm định dự án đầu tư (đặc biệt là thẩm
định tài chính) là khâu tối quan trọng mà Ngân hàng phải quan tâm trước một quết định
cho vay.
1.2. thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng thương Mại
1.2.1.Dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư.
1.2.1.1.Những vấn đề cơ bản về dự án đầu tư.
Lí thuyết phát triển đã chỉ ra rằng: khả năng phát triển của một quốc gia được hình
thành bởi các nguồn lực về vốn, công nghệ, lao động và tài nguyên thiên nhiên là hệ
thống có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ được biểu hiện bởi phương trình:
D =f(C,T,L,R)
D: khả năng phát triển của một quốc gia
C:khả năng về vốn
T: công nghệ
L:lao động
R: tài nguyên thiên nhiên
Rõ ràng để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh hay rộng là phát triển kinh tế xã
hội thì nhất thiết phải có hoạt động đầu tư.
Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành
các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai
lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt các kết quả đó. Các kết qủa ở đây chính là vốn, chất
xám, tài nguyên thiên nhiên, thời gian …và lợi ích dự kiến có thể lượng hoá được (tức là
đo được hiệu quả bằng tiền như sự tăng lên của sản lượng, lợi nhuận …) mà cũng có thể
không lượng hoá được (như sự phát triển trong các lĩnh vực giáo dục, quốc phòng, giải
quyết các vấn đề xã hội …). Đối với các doanh nghiệp hiểu đơn giản đâùu tư là việc bỏ
vốn kinh doanh để mong thu được lợi nhuận trong tương lai.Trên quan điểm xã hội thì
đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển từ đó thu được các hiệu qủa kinh tế xã hội vì mục
tiêu phát triển quốc gia. Song dù đứng trên góc độ nào đi chăng nữa, chúng ta đều nhìn
thấy tầm quan trọng của hoạt động đầu tư, đặc điểm và sự phức tạp về mặt kĩ thuật, hậu
quả và hiệu quả tài chính, kinh tế xã hội của hạot động đầu tư đòi hỏi để tiến hành một
công cuộc đầu tư phải có sự chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc. Sự chuẩn bị này được thể
hiện ở việc soạn thảo các dự án. Có nghĩa là mọi công cuộc đầu tư phải được thực hiện
theo dự án thì mới đạt hiệu qủa mong muốn. Vậy dự án đầu tư là gì? Dự án đầu tư là tập
hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với các mục tiêu phương pháp và phương tiện cụ thể để
đạt được trạng thái mong muốn. Dự án đầu tư được xem xét ở nhiều góc độ:
Về hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có
hệ thống các hoạt động về chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực
hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Và đây cũng là phương tiện mà các
chủ đầu tư sử dụng để thuyết phục nhằm nhận được sự ủng hộ cũng như tài trợ về mặt tài
chính, từ phía chính phủ, các tổ chức chính phủ,các tổ chức tài chính.
Trên góc độ quản lí, dự án đầu tư là một công cụ quản lí việc sử dụng, vốn vật tư,
lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế – xã hội trong một thời gian dài. Còn
đứng trên phương diện kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết
của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh,phát triển kinh tế xã hội làm tiền đề cho
quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một hoạt động riêng biệt nhỏ nhất trong công
tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung.
Như vậy dù đứng trên góc độ nào thì một dự án đầu tư cũng phải mang tính cụ thể
và có mục tiêu rõ ràng, tức là phải thể hiện được các nội dung chính sau:
*Mục tiêu của dự án: Thường ở hai cấp mục tiêu
Mục tiêu trực tiếp: Là mục tiêu cụ thể mà dự án phải đạt được trong khuân khổ nhất
định và khoảng thời gian nhất định.
Mục tiêu phát triển: Là mục tiêu mà dự án góp phần thực hiện, mục tiêu phát triển
được xác định trong kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của
vùng. Đạt được mục tiêu trực tiếp chính là tiền đề góp phần đạt được mục tiêu phát triển.
*Kết quả của dự án: Là những đầu ra cụ thể được tạo ra từ các hoạt động của dự án.
Kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp của dự án.
*Các hoạt động của dự án: Là những công việc do dự án tiến hành nhằm chuyển
hoá những nguồn lực thành các kết quả của dự án. Mỗi hoạt động của dự án đều mang lại
kết quả tương ứng.
*Nguồn lực cho dự án: Đầu vào cần thiết để tiến hành dự án.
 Phân loại dự án đầu tư
Để tiện cho việc theo dõi, quản lí dự án, người ta tiến hành phân loại dự án đầu tư.
Việc phân loại có thể dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau như:
 Theo quy mô: dự án lớn, vừa, nhỏ.
 Theo phạm vi: trong nước quốc tế.
 Theo thời gian: ngắn, trung, dài hạn, nhưng thường các dự án là trung dài hạn.
 Theo nội dung và theo tính chất loại trừ. Với dự án của doanh nghiệp thường quan
tâm đến hai cách phân loaị cuối.
Theo nội dung có:
Dự án đầu tư mới: thường là những dự án rất lớn, liên quan tới những khoản đầu tư
mới, nhằm tạo ra những sản phẩm mới, độc lập với quá trình sản xuất cũ
Dự án đầu tư mở rộng: nhằm tăng năng lực sản xuất để hình thành nhà máy, phân
xưởng mới, dây chuyền sản xuất mới với mục đích cung cấp thêm những sản phẩm cùng
loại cho thị trường.
Dự án đầu tư nâng cấp (chiều sâu) liên quan đến việc thay đổi công nghệ, tạo ra một
công nghệ mới cao hơn trong cùng một tổ chức cũ
Theo tính chất loại trừ:
Các dự án độc lập (không có tính loại trừ) thì việc thực hiện dự án này không liên
quan đến việc chấp nhận hay bác bỏ dự án kia. Các dự án được coi là phụ thuộc khi chấp
nhận dự án này có nghĩa là bác bỏ dự án kia bởi những giới hạn về nguồn lực hoặc sự liên
quan có tác động lẫn nhau về công nghệ, môi trường …Tuy nhiên tính độc lập hay phụ
thuộc của một dự án. Ví dụ một dự án đối với doanh nghiệp (nguồn lực giới hạn) là phụ
thuộc (nếu thực hiện thì sẽ loaị bỏ dự án khác). Nhưng đối với Ngân hàng thì vấn đề đó
không cần đặt ra bởi khả năng cho vay lớn, không vì cho vay một dự án này mà loại trừ
cho vay đối với dự án khác.
Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư dù thuộc loại nào cũng phải trải
qua các giai đoạn nhất định (còn gọi là chu kì của dự án đầu tư). Có nhiều góc độ tiếp cận
chu kì dự án. Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến
hành tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ xung cho nhau nhằm
nâng cao dần độ chính xác của các kết quả nghiên cứu ở các bước tiếp theo.
Nếu xét từ góc độ đầu tư để xem xét chu kì như là các giai đoạn đầu tư thì một dự án
phải trải qua ba giai đoạn:
Chuẩn bị đầu tư: Trong giai đoạn này người ta phải tiến hành các công việc cụ thể
như: nghiên cứu phát hiện các cơ hội đầu tư, nghiên cứu tiền khả thi sơ bộ chọn dự án,
nghiên cứu khả thi (lập dự án, luận chứng kinh tế kĩ thuật) đánh giá và quyết định (thẩm
định dự án)
Thực hiện đầu tư: Gồm các công việc sau: Hoàn tất các thủ tục để triển khai thực
hiện đầu tư, thiết kế và lập dự toán thi công xây lắp công trình, chạy thử và nghiệm thu sử
dụng.
Vận hành kết quả đầu tư: Sử dụng các mức công suất khác nhau qua các năm cuối
cùng thanh lí và đánh giá.
Trong ba giai đoạn trên đây, giai đoạn đầu tư tạo tiền đề và quyết định sự thành công
hay thất bại ở hai giai đoạn sau. Mà trong đó thẩm định dự án đầu tư là khâu không thể
thiếu được trong chu kì của một dự án đầu tư. Trước hết là đối với chủ đầu tư để có một
quyết định vững chắc cho việc ra quyết định đầu tư.
Do đặc điểm của dự án đầu tư có sự phức tạp về mặt kĩ thuật, thời gian đầu tư tương
đối dài nên khi tiến hành đầu tư thì Ngân hàng cần phải xem xét cẩn thận và nghiêm túc
để tránh những sai lầm không đáng có xảy ra.
1.2.1.2.Thẩm định dự án đầu tư
1.2.1.2.1.Thẩm định và sự cần thiết phải thẩm định dự án đầu tư
Khi tiến hành cho vay vốn, Ngân hàng thường phải đối mặt với vô số những rủi ro.
Vì một dự án thường kéo dài trong nhiều năm, đòi hỏi một lượng vốn lớn và bị chi phối
bởi nhiều yếu tố mà trong tương lai có thể sẽ biến động khó lường. Những con số tính
toán cũng như những nhận định đưa ra trong dự án (khi lập dự án) chỉ là những dự kiến,
bởi vậy chứa đựng ít nhiều tính chủ quan của người lập dự án. Người lập dự án ở đây có
thể là chủ đầu tư, hoặc các cơ quan tư vấn được thuê lập dự án, cơ sở các ý đồ kinh doanh
và mong muốn của dự án. Các nhà soạn thảo thường đứng trên gốc độ hẹp để nhìn nhặn
các vấn đề của dự án. Có thể không tính toán đến các vấn đề có liên quan và đôi khi bỏ
qua một số các yếu tố hoặc làm cho dự án trở nên khả thi hơn một cách cố ý nhằm đạt
được sự ủng hộ, tài trợ của các bên có liên quan. Rõ ràng chủ đầu tư thẩm định dự án
trước hết vì quyền lợi của mình song họ đứng trên quan điểm riêng.