Giải pháp nâng cao chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp phục vụ cho hoạt động tín dụng tại sở giao dịch nhđt & ptvn

  • 53 trang
  • file .docx
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong nửa thế kỷ qua, đặc biệt là
từ những thập niên 70 trở lại đây có nhiều thay đổi. Cùng với sự phát triển
như vũ bão của khoa học và công nghệ, kinh doanh ngân hàng đã có những
bước phát triển mới. Với phương pháp công nghệ hiện đại ngân hàng đã tiếp
cận các khoa học của mình với chi phí giao dịch thấp và cung cấp được nhiều
loại sản phẩm và dịch vụ tài chính hơn so với trước. Tuy nhiên, sự mở rộng
hoạt động luôn tiềm ẩn những rủi ro, vì vậy cần phải có các biện pháp để hạn
chế và kiểm soát rủi ro. Một trong những biện pháp kiểm soát rủi ro tín dụng
là việc thiết lập một quy trình tín dụng chặt chẽ để hướng dẫn nhân viên tín
dụng và các bộ phận có liên quan thực hiện việc cho vay nhằm đạt được hiệu
quả cao nhất. Trong đó hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp là một
khâu hết sức quan trọng ảnh hưởng lớn đến chất lượng tín dụng của các ngân
hàng. Do đó, nâng cao chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp đang trở
thành nhu cầu tất yếu và mang tính thời sự cho các ngân hàng thương mại.
Đối với NHĐT & PTVN, hoạt động tín dụng cũng là hoạt động quan
trọng bậc nhất. Trong thời gian qua ngân hàng đã không ngừng nâng cao chất
lượng của hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động phân tích tài chính nói
riêng. Mặc dù ngân hàng đã xây dựng được quy trình tài chính doanh nghiệp
cụ thể nhưng công tác phân tích tài chính doanh nghiệp trong đó vẫn còn hạn
chế , chưa hoàn thiện, làm cho chất lượng tín dụng chưa cao. Vì vậy nâng cao
chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp là yêu cầu tất yếu, là nhiệm vụ
cấp thiết đối với ngân hàng.
Qua quá trình thực tập tại NHĐT & PTVN và dưới sự hướng dẫn, chỉ
bảo tận tình của Thạc sỹ Hoàng Đình Chiến, cùng với sự giúp đỡ ân cần của
các cô chú, anh chị tại SGD NHĐT & PTVN số 191 Bà Triệu em quyết định
chọn đề tài :
“Giải pháp nâng cao chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp
phục vụ cho hoạt động tín dụng tại Sở Giao Dịch NHĐT & PTVN”
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu chuyên đề như sau:
Chương 1:Những vấn đề chung về tín dụng ngân hàng và phân tích tài
chính doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng ngân hàng.
Chương 2: Thực trạng phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt
động tín dụng tại Sở giao dịch Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phân tích tài
chính doanh nghiệp phục vụ cho hoạt động tín dụng của Sở giao dịch Ngân
hàng ĐT & PT Việt Nam.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1.Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.
1.1.1.Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ latinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm)
trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau. Trong quan hệ tài chính , tín dụng có thể hiểu theo các nghĩa sau:
Xét theo góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm
sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển
dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay.
Trong một quan hệ tài chính cụ thể , tín dụng là một giao dịch về tài
sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể.
Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính
cung cấp cho khách hàng.
Trong một số ngữ cảnh cụ thể, thuật ngữ tín dụng đồng nghĩa với thuật
ngữ cho vay.
Nếu xem xét tín dụng như một chức năng hoạt động của ngân hàng thì
tín dụng được hiểu như sau:
Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho
vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh
nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho
bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay
có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến
hạn thanh toán.
1.1.2. Các hình thức tín dụng.
Trong nền kinh tế thị trường hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong
phú. Trong quản lý tín dụng các nhà quản lý kinh tế thường dùng các chỉ tiêu
sau để phân loại.
- Căn cứ vào mục đích thì tín dụng gồm các loại : Cho vay bất động
sản, cho vay công nghiệp và thương mại, cho vay nông nghiệp, cho vay các
định chế tài chính, cho vay cá nhân và cho thuê.
- Căn cứ vào thời hạn cho vay, tín dụng được chia ra làm ba loại: Cho
vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn.
- Căn cứ vào bảo đảm tín dụng, tín dụng được chia thành hai loại: tín
dụng không có bảo đảm và tín dụng có bảo đảm.
1.1.3. Đặc trưng của hoạt động tín dụng.
Bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và
có các đặc trưng sau.
- Tài sản giao dịch quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức
là cho vay (bằng tiền) và cho thuê tài chính. Trong những năm 1960 trở về
trước hoạt động tín dụng của ngân hàng chỉ có cho vay bằng tiền. Xuất phát
từ tính đặc thù đó mà nhiều lúc thuật ngữ tín dụng và cho vay được coi là
đồng nghĩa với nhau. Từ những năm 1970 trở lại đây, dịch vụ cho thuê vận
hành và cho thuê tài chính đã được các ngân hàng hoặc các định chế tài chính
khác cung cấp cho khách hàng. Đây là một sản phẩm kinh doanh của ngân
hàng, một hình thức tín dụng bằng tài sản thực (nhà ở, văn phòng làm việc,
máy móc thiết bị…).
- Hoạt động tín dụng dựa trên cơ sở lòng tin, vì vậy người cho vay khi
chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người
đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tố cơ bản trong quản trị tài chính. Trên
thực tế một số nhân viên tín dụng khi xem xét duyệt cho vay không dựa trên
cơ sở đánh giá mức độ tín nhiệm về khách hàng mà lại chú trọng đến các bảo
đảm, chính quan điểm này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
- Hoạt động tín dụng mang tính hoàn trả: Giá trị hoàn trả thông thường
phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả
thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Để thực hiện được nguyên tắc này phải xác định
lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát, hay nói cách khác phải xác định lãi
suất thực dương (lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát).Tuy
nhiên vì lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, nên trong một số
trường hợp cụ thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp hơn lạm phát, ngoại lệ này
chỉ tồn tại trong một giai đoạn ngắn.
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam
kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan
hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước…thực chất là lệnh phiếu, trong
đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn
thanh toán.
1.2. Phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng ngân
hàng.
1.2.1. Khái niệm và mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc
tổ chức huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh
doanh.
Phân tích tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh
số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ. Thông qua phân tích tình hình tài
chính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, kết quả kinh doanh
cũng như rủi ro hay triển vọng của doanh nghiệp.
Khi phân tích tài chính doanh nghiệp, mối quan tâm của các ngân hàng
thương mại chủ yếu thường hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì
vậy một mặt họ chú ý đến số lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi
nhanh thành tiền để so sánh với số nợ ngắn hạn để biết khả năng thanh toán
của doanh nghiệp. Mặt khác, các nhà ngân hàng còn chú ý khả năng sinh lời
từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đảm bảo hoàn trả các khoản cho
vay dài hạn, chú ý đến việc đảm bảo cơ cấu tài chính an toàn trong doanh
nghiệp để đề phòng rủi ro.
1.2.2. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.2.2.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp.
Căn cứ vào các cân bằng tài chính trên bảng CĐKT, ta có các chỉ tiêu:
a) Vốn lưu động thường xuyên.
Vốn lưu động thường xuyên là phần chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn
(hay nguồn vốn thường xuyên) với tài sản dài hạn. Nói cách khác, nó là một
phần nguồn vốn ổn định dùng vào việc tài trợ cho tài sản ngắn hạn.
Vốn lưu động thường xuyên có thể được xác định theo hai cách sau:
Cách 1: Vốn LĐTX = NV dài hạn - TS dài hạn
Cách 2: Vốn LĐTX = TS ngắn hạn - NV ngắn hạn
Ý nghĩa:
- Nếu Vốn lưu động thường xuyên > 0 chứng tỏ doanh nghiệp có một
phần NV dài hạn đầu tư cho TS ngắn hạn. Điều này mang lại cho doanh
nghiệp một nguồn vốn tài trợ ổn định, một dấu hiệu an toàn, một quyền độc
lập nhất định.
- Nếu Vốn lưu động thường xuyên < 0 chứng tỏ NV dài hạn nhỏ hơn
TS dài hạn, chứng tỏ TS dài hạn được tài trợ bằng NV ngắn hạn, doanh
nghiệp kinh doanh vốn với cơ cấu vốn rất mạo hiểm.
b) Nhu cầu vốn lưu động.
Nhu cầu VLĐ là nhu cầu vốn phát sinh trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp nhưng chưa được tài trợ bởi người thứ ba trong quá
trình kinh doanh đó.
Cách tính: Nhu cầu VLĐ = (TS kinh doanh & ngoài kinh doanh) - (Nợ
kinh doanh & ngoài kinh doanh)
Trong đó: Tài sản kinh doanh & ngoài kinh doanh bao gồm: các khoản
phải thu, hàng tồn kho, TS ngắn hạn khác. Nợ kinh doanh & ngoài kinh doanh
bao gồm: Phải trả người bán, người mua ứng trước, thuế và các khoản phải
nộp.
Ý nghĩa:
- Khi TS kinh doanh & ngoài kinh doanh lớn hơn Nợ kinh doanh &
ngoài kinh doanh, thể hiện nhu cầu vốn đầu tư cho TS ngắn hạn dương, doanh
nghiệp có một phần TS ngắn hạn chưa được tài trợ từ bên thứ ba.
- Khi TS kinh doanh & ngoài kinh doanh nhỏ hơn Nợ kinh doanh &
ngoài kinh doanh, thể hiện phần vốn chiếm dụng được từ bên thứ ba của
doanh nghiệp nhiều hơn toàn bộ nhu cầu vốn phát sinh trong quá trình kinh
doanh của doanh nghiệp.
c) Vốn bằng tiền.
Để xác định vốn bằng tiền, có thể sử dụng một trong hai cách sau:
Cách 1: Vốn bằng tiền = ngân quỹ có - ngân quỹ nợ
Cách 2: Vốn bằng tiền = Vốn LĐTX - Nhu cầu VLĐ
Ý nghĩa:
-Vốn bằng tiền >0 (nếu nhu cầu VLĐ >0) chứng tỏ vốn LĐTX thoả
mãn nhu cầu vốn lưu động. Ngược lại, doanh nghiệp quá nhiều tiền do chiếm
dụng được vốn của bên thứ ba (nếu nhu cầu vốn lưu động <0).
- Vốn bằng tiền <0 chứng tỏ vốn lưu động thường xuyên chỉ tài trợ
được một phần nhu cầuvốn lưu động, phần còn lại dựa vào tín dụng ngắn hạn
ngân hàng. Phần này càng nhiều chứng tỏ DN càng phụ thuộc ngân hàng.
1.2.2.2. Phân tích cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư.
a) Hệ số nợ: được đo bằng tỷ số giữa tổng số nợ phải trả với tổng tài
sản hay tổng nguồn vốn của doanh nghiệp.
Cách tính:
Tổng số nợ phải trả
Hệ số nợ =
Tổng nguồn vốn của DN
Ý nghĩa: Hệ số nợ nói lên trong tổng nguồn vốn của DN, nguồn vốn từ
bên ngoài ( từ các chủ nợ) là bao nhiêu phần hay trong tổng số tài sản hiện có
của doanh nghiệp có bao nhiêu phần do vay nợ mà có.
b)Tỷ suất tự tài trợ:
Cách tính:
Vốn chủ sở hữu
Tỷ suất tự tài trợ = = 1- Hệ số nợ
Tổng nguồn vốn của DN
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này để đo lường sự góp vốn của chủ sở hữu trong
tổng nguồn vốn của DN.
Nếu hệ số nợ càng thấp (hay tỷ suất tự tài trợ càng cao) thì sự phụ
thuộc của DN vào nguồn cho vay càng ít, món nợ của người cho vay càng an
toàn và ngược lại sẽ kém an toàn.
c)Hệ số nợ dài hạn:
Cách tính:
Nợ dài hạn
Hệ số nợ dài hạn =
Nguồn vốn chủ sở hữu
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp
đối với chủ nợ. Chỉ tiêu này càng cao thì rủi ro của doanh nghiệp càng tăng.
chỉ tiêu này cao hay thấp tuỳ theo từng ngành hoạt động. Chẳng hạn: ngành
có tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn hơn thường có hệ số này cao hơn. Tuy
nhiên theo kinh nghiệm ở một số nước để hạn chế một số rủi ro tài chính
người cho vay chỉ chấp nhận chỉ tiêu này ở mức nhỏ hơn 1 hay nợ dài hạn
không vượt quá nguồn vốn chủ sở hữu. Khi chỉ tiêu này càng gần 1, doanh
nghiệp càng ít có khả năng được vay thêm các khoản vay dài hạn.
d) Hệ số khả năng thanh toán lãi vay:
Cách tính:
Hệ số khả năng thanh Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
=
toán lãi vay Lãi vay phải trả
Ý nghĩa Hệ số này dùng để đo lường mức độ lợi nhuận có được do sử
dụng vốn để đảm bảo trả lãi cho chủ nợ. Nói cách khác, hệ số thanh toán lãi
vay cho chúng ta biết được số vốn vay đã sử dụng tốt tới mức độ nào và đem
lại một khoản lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả không.
Hệ số thanh toán lãi vay năm nay lớn hơn hệ số thanh toán lãi vay năm
trước chứng tỏ việc sử dụng vốn vay có hiệu quả hơn và khả năng an toàn
trong việc sử dụng vốn vay càng cao.
e) Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn:
Cách tính:
Tỷ suất đầu tư vào tài TSCĐ và đầu tư dài hạn
=
sản dài hạn Tổng tài sản
Ý nghĩa: Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn càng lớn càng thể hiện mức
độ quan trọng của TSCĐ trong tổng tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng
vào kinh doanh; phản ánh tình trạng bị cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản
xuất và xu hướng phát triển lâu dài cũng như khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Tuy nhiên để kết luận tỷ suất này là tốt hay xấu còn tuỳ thuộc vào
ngành nghề kinh doanh của từng doanh nghiệp trong từng thời gian cụ thể.
f) Tỷ suất tự tài trợ TS cố định:
Cách tính:
Tỷ suất tự tài trợ Vốn chủ sở hữu
=
TSCĐ TSCĐ và đầu tư dài hạn
Ý nghĩa: Tỷ suát này sẽ cung cấp thông tin cho biết số vốn chủ sở hữu
của doanh nghiệp dùng để trang bị TSCĐ là bao nhiêu.Tỷ suất này nếu lớn
hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng tài chính lành mạnh. Khi tỷ suất
này nhỏ hơn 1 thì một bộ phận của TSCĐ được tài trợ bằng vốn vay, và đặc
biệt mạo hiểm khi đấy là vốn vay ngắn hạn.
1.2.2.3. Phân tích khả năng thanh toán:
Hệ số khả năng thanh Tài sản ngắn hạn
=
toán ngắn hạn Nợ ngắn hạn

Ý nghĩa: Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn đo lường khả năng
mà các tài sản ngắn hạn có thể chuyển đổi thành tiền để hoàn trả các khoản nợ
ngắn hạn. Nếu hệ số này cao, có thể đem lại an toàn về khả năng bù đắp cho
sự giảm giá trị của tài sản ngắn hạn. Điều đó thể hiện tiềm năng thanh toán
cao so với nghĩa vụ phải hanh toán. Tuy nhiên, một doanh nghiệp có hệ số
khả năng thanh toán nợ ngắn hạn quá cao cũng có thể doanh nghiệp đó đã đầu
tư quá đáng vào tài sản ngắn hạn, một sự đầu tư không mang lại hiệu quả. Mặt
khác, trong toàn bộ tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, khả năng chuyển hóa
thành tiền của các bộ phận là khác nhau. Khả năng chuyển hóa thành tiền của
bộ phận hàng tồn kho thường được coi là kém nhất. Do vậy, để đánh giá khả
năng thanh toán một cách khắt khe hơn có thể sử dụng hệ số khả năng thanh
toán nhanh.
Hệ số khả năng Tiền và tương đương tiền + ĐTTC ngắn hạn +
= Các khoản phải thu
thanh toán nhanh Nợ ngắn hạn
Ý nghĩa: Hệ số khả năng thanh toán nhanh đo lường khả năng thanh
toán các khoản nợ ngắn hạn của DN bằng việc chuyển đổi các tài sản NH,
không kể hàng tồn kho.
Nhiều trường hợp, tuy doanh nghiệp có hệ số khả năng thanh toán nợ
ngắn hạn và hệ số khả năng thanh toán nhanh cao nhưng vẫn không có khả
năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn thanh toán do các khoản phảI
thu chưa thu hồi được hoặc hàng tồn kho chưa chuyển hóa được thành tiền.
Bởi vậy, muốn biết khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp tại thời điểm
xem xét, nhà phân tích còn phải sử dụng chỉ tiêu.
Hệ số khả năng Tiền và tương đương tiền + ĐTTC ngắn hạn
=
thanh toán tức thì Nợ ngắn hạn
Nhìn chung hệ số này quá nhỏ thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong
việc thanh toán công nợ, vì vào lúc cần doanh nghiệp có thể buộc phải sử
dụng các biện pháp bất lợi như bán các tài sản với giá thấp để trả nợ. Tuy
nhiên cũng như hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, độ lớn của hệ số này
cũng phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ hạn thanh toán của món nợ
phải thu, phải trả trong kỳ.
1.2.2.4. Phân tích năng lực hoạt động của tài sản:
- Vòng quay các khoản phải thu và kì thu tiền trung bình
Vòng quay các khoản DT thuần về bán hàng và cung cấp DV
=
phải thu Các khoản phải thu bình quân
(Các khoản phải thu BQ) x (số ngày trong
Kỳ thu tiền trung bình = kỳ)
DT thuần về bán hàng và cung cấp DV
Ý nghĩa: So với kì trước, hệ số vòng quay các khoản phải thu giảm
hoặc thời gian bán chịu cho khách hàng dài hơn, chứng tỏ tốc độ thu hồi các
khoản nợ của DN chậm hơn từ đó làm tăng vốn ứ đọng trong khâu thanh toán,
giảm hiệu quả sử dụng vốn.
- Vòng quay hàng tồn kho và số ngày của một vòng quay:
Giá vốn hàng bán
Vòng quay hàng tồn kho =
Hàng tồn kho BQ
(Hàng tồn kho BQ)x ( Số ngày trong kì
Số ngày của một vòng
= PT)
quay
Giá vốn hàng bán
Ý nghĩa: So với kì trước, Vòng quay hàng tồn kho giảm thì thời gian của một
vòng quay sẽ tăng lên chứng tỏ hàng tồn kho luân chuyển chậm. Vốn ứ đọng
nhiều hơn kéo theo nhu cầu vốn của DN tăng.
DT thuần
Vòng quay VLĐ =
Tài sản lưu động bình quân
- Vòng quay VLĐ càng lớn càng tốt
Ý nghĩa: Chỉ số này cần được áp dụng với từng ngành nghề sản suất
kinh doanh, phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành. Chỉ số này được tính để
biết được số lần tất cả số vốn đầu tư được chuyển thành thanh toán thương
mại, chỉ số này thấp thì vốn đầu tư không được sử dụng có hiệu quả, và có
khả năng khách hàng dự trữ hàng hoá quá nhiều hay tài sản không được sử
dụng hoặc đang vay mượn quá mức.
Hiệu suất sử dụng tài DT thuần về bán hàng và cung cấp DV
=
sản cố định TSCĐ bình quân
Ý nghĩa: Hiệu suất sử dụng tài sản cố định nói lên cứ một đồng tài sản
đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kì thì tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu thuần so với kì trước, hệ số giảm phản ánh sức sản xuất của TSCĐ
giảm.
Hiệu suất sử dụng Tổng DT và thu nhập khác của DN trong kỳ
=
tổng tài sản Tổng tài sản bình quân
Ý nghĩa: Hiệu suất sử dụng tổng tài sản nói lên cứ một đồng tài sản
đưa vào hoạt động SXKD trong một kì thì tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập. So
với kì trước, hệ số giảm phản ánh sức sản xuất của tổng tài sản giảm.
1.2.2.5. Phân tích khả năng sinh lời:
Tỷ suất lợi nhuận trên Lợi nhuận x100
=
doanh thu Doanh thu
Ý nghĩa: Tỷ suất lợi nhuận trên DT thể hiện trong một trăm đồng DT
mà DN thực hiện được trong kỳ có bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất này
càng cao càng tốt.
Lợi nhuận được xác định trong công thức trên có thể là lợi nhuận thuần
từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận gộp, lợi nhuận trước thuế hay lợi nhuận
sau thuế.
Tương ứng với chỉ tiêu lợi nhuận, doanh thu được xác định trong công
thức trên cũng có thể là doanh thu và thu nhập khác (doanh thu thuần + doanh
thu hoạt động tài chính + thu nhập khác).
Tỷ suất lợi nhuận tổng Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế x 100
=
tài sản Tổng tài sản của DN
Ý nghĩa: Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản phản ánh cứ một trăm đồng
tài sản đưa vào SXKD đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Trong điều kiện
bình thường, chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lời của tài sản càng
tốt. Tùy theo mục đích của nhà phân tích, lợi nhuận trước thuế có thể chỉ là
phần lợi nhuận dành cho chủ sở hữu, cũng có thể là tổng lợi nhuận trước thuế
mà tài sản tạo ra trong một kỳ kinh doanh ( bao gồm cả phần lợi nhuận tạo ra
cho người cho vay).
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận/ tổng tài sản còn có thể xác định như sau:
Tổng lợi nhuận kế Doanh thu và thu nhập
Tỷ suất lợi nhuận toán trước thuế khác
= x
trên tổng tài sản Doanh thu và thu Tổng tài sản bình quân
nhập khác
Hay :
Tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận Hiệu suất sử
trước thuế trên = x
trước thuế doanh thu dụng tổng tài sản
tổng tài sản
Công thức này được dùng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ
suất lợi nhuận tổng tài sản.
Tỷ suất lợi nhuận sau Tổng lợi nhuận sau thuế x 100
=
thuế trên VCSH Vốn chủ sở hữu bình quân
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này nói lên một trăm đồng vốn chủ sở hữu đem đầu
tư mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. So với kỳ trước, tỷ suất lợi
nhuận vốn chủ sở hữu tăng chứng tỏ khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu lớn
hơn trước và ngược lại.
Để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến tỷ suất lợi nhuận VCSH có
thể sử dụng công thức sau đây.
DT và TN Tổng TS bình
Tỷ suất LN LN sau thuế
khác quân
sau thuế trên = x x
DT và TN Tổng TS bình VCSH bình
VCSH
khác quân quân
Hay
DT và TN
Tỷ suất LN LN sau thuế 1
khác
sau thuế trên = x x
DT và TN Tổng TS bình
VCSH 1 – Hệ số nợ
khác quân
1.2.2.6. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc sử dụng
lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.
Cấu trúc của một báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần:
Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh: phản ánh toàn bộ dòng
tiền thu vào hoặc chi ra liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư: phản ánh toàn bộ dòng tiền thu
vào hoặc chi ra liên quan đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính: phản ánh toàn bộ dòng tiền
thu vào hoặc chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động tài chính của doanh
nghiệp.
Đối với ngân hàng khi phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ cần làm rõ:
Xác định lượng tiền do các hoạt động kinh doanh mang lại trong kỳ và
dự đoán các dòng tiền trong tương lai.
Đánh giá khả năng thanh toán nợ vay và khả năng trả lãi cổ phần bằng
tiền.
Chỉ ra mối liên hệ giữa lãi, lỗ ròng và việc thay đổi tiền của doanh
nghiệp.
Tóm lại: Thông qua phân tích tài chính doanh nghiệp, NHTM có thể
biết được một phần tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính khả
quan hay không khả quan, xu hướng phát triển của doanh nghiệp như thế nào
để từ đó có quyết định cho vay đúng, đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn, đầy đủ
gốc và lãi.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI SỞ GIAO DICH NGÂN HÀNG
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.1. Tổng quan về ngân hàng ĐT&PT Việt Nam và SGD Ngân hàng
ĐT&PT Việt Nam.
2.1.1. Sơ lược hình thành và phát triển của Ngân hàng ĐT&PT Việt
Nam.
Tên đầy đủ: Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.
Tên giao dịch quốc tế: Bank for investment and development of Viet
Nam.
Tên gọi tắt: BIDV.
Địa chỉ: Tháp A tòa nhà Vincom, 191 Bà Triệu quạn Hai bà trưng, HN.
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam được thành lập theo QĐ
177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng chính phủ.Trong quá trình hoạt
động và trưởng thành ngân hàng được mang các tên gọi khác nhau phù hợp
với từng thời kỳ phát triển của đất nước.
Ngân hàng kiến thiết Việt Nam từ 26/04/1957.
Ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt Nam từ 24/06/1981.
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam từ 14/11/1990.
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam là một trong bốn ngân hàng
thương mại Nhà nước lớn nhất Việt Nam được hình thành sớm nhất và lâu đời
nhất la doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt được tổ chức hoạt động theo mô
hình tổng công ty Nhà nước.Tính đến 31/12/2006 tổng tài sản của ngân hàng
đạt 17.677 tỷ đồng. Hệ thống tổ chức được hình thành và hoàn thiện dần theo
mô hình của một tập đoàn trong tương lai. Hiện nay mô hình tổ chức của ngân
hàng đầu tư và phát triển Việt Nam gồm năm khối lớn: Khối ngân hàng
Thương mại quốc doanh, khối Công ty, khối các đơn vị sự nghiệp, khối liên
doanh, khối đầu tư. Tổng số cán bộ công nhân viên của toàn hệ thông đạt
8000 người vừa có kinh nghiệm vừa am hiểu công nghệ ngân hàng hiện đại.
Bên cạnh việc hoạt động đầy đủ các chức năng của một Ngân hàng
Thương mại được phép kinh doanh đa năng tổng hợp về tiền tệ, tín dụng, dịch
vụ ngân hàng và phi ngân hàng, làm ngân hàng đại lý phục vụ các dự án từ
các nguồn vốn các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước. Ngân hàng đầu tư và
phát triển Việt Nam luôn khẳng định là ngân hàng chủ lực phục vụ đầu tư
phát triển huy động vốn cho vay trung dài hạn cho các thành phần kinh tế là
ngân hàng có nhiều kinh nghiệm về đầu tư các dự án trọng điểm.
Giai đoạn hiện nay ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam xác định
mục tiêu hoạt động là: Hiệu quả, an toàn phát triển bền vững và hội nhập
quốc tế.
Trong quan hệ khoa học ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam luôn
nêu cao phương châm hoạt động “Hiệu quả kinh doanh của khách hàng là
mục tiêu hoạt động của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam”. Quan hệ
giữa ngân hàng với bạn hàng là mối quan hệ “hợp tác cùng phát triển” cùng
chia sẻ kinh nghiệm khó khăn cơ hội kinh doanh vói bạn hàng. Chính vì lẽ đó
mà ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam luôn lắng nghe tiếp thu ý kiến từ
khách hàng để không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ, luôn tìm hiểu để
thỏa mãn những nhu cầu ngày một đa dạng của khách hàng. Trong ba năm trở
lại đây Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam luôn được tổ chức BVQI và
QUACERT chứng nhận có hệ thống quản lý chất lượng đạt tiêu chuẩn chất
lượng ISO 9001/2000.
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của SGD
2.1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển.
SGD là đơn vị thành viên lớn nhất trong hệ thống NH ĐT&PT VN,
được thành lập theo thông báo số 572TCCB/ĐT ngay 26/12/1990 của Vụ Tổ
chức cán bộ Ngân hàng Nhà nước về tổ chức bộ máy của NH ĐT&PT VN và
Quyết định số 76/QĐ/TCCB ngày 28/03/1991 của Tổng giám đốc NH
ĐT&PT VN. Theo quyết định này, SGD là đơn vị trực thuộc, là đại diện pháp
nhân của NH ĐT&PT VN có tru sở dặt tại 191 Bà Triệu, là NHTM quốc
doanh hoạt động đa năng trong hoạt động kinh doanh tiền tệ trên phạm vi toàn
quốc, đặc biệt là trong đầu tư phát triển; là đơn vị xuất sắc trong hệ thống NH
ĐT&PT VN, liên tục đi đầu trong một số lĩnh vực như huy động tiền gửi và
cho vay phục vụ đầu tư phát triển... Năm 2002, đơn vị đã được cấp chứng chỉ
ISO-9001.
SGD là một NHTM trực thuộc NH ĐT&PT VN trực tiếp kinh doanh
với nhiệm vụ chủ yếu là huy động vốn và cho vay đầu tư đối với các dự án
thuộc các thành phần kinh tế có địa điểm xây dựng trải dài qua nhiều tỉnh,
thành phố.
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển trong từng giai đoạn, tuỳ
tình hình cụ thể mà các cấp quản lý giao cho NH ĐT&PT VN (hoạt động
thông qua SGD) những chức năng nhiệm vụ cụ thể. Do vậy mà chức năng
nhiệm vụ của SGD trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cũng thay đổi. Quá
trình phát triển của SGD có thể chia thành hai giai đoạn như sau:
- Giai đoạn I từ 1991 – 1995: Nhiệm vụ chính trong giai đoạn này là
cấp phát vốn Ngân sách cho đầu tư XDCB.
- Giai đoạn II từ năm 1995 đến nay: Thực hiện kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ
thanh toán, tự cân đối nguồn, tìm dự án cho vay.
2.1.2.2. Nội dung hoạt động của SGD.
SGD thực hiện các hoạt động Ngân hàng và các hoạt động khác có liên
quan theo quy định tại điều lệ về tổ chức và hoạt động của NH ĐT&PT VN,
cụ thể:
• Huy động vốn:
Huy động vốn dưới các hình thức: nhận tiền gửi của các tổ chức, cá
nhân và tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi
có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác bằng đồng VN và bằng ngoại tệ theo quy
định của NH ĐT&PT VN.
Thực hiện các hình thức huy động vốn khác theo quy định của pháp
luật và của NH ĐT&PT VN.
• Cho vay
Cho vay đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời
sống, các dự án đầu tư phát triển kinh tế xã hội và các nhu cầu hợp pháp khác
đối với các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình dưới các hình thức dài hạn, trung
hạn, ngắn hạn bằng đồng VN và bằng ngoại tệ phù hợp với quy định của pháp
luật, của Ngân hàng Nhà nước và uỷ quyền của NH ĐT&PT VN.
• Cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
• Chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
• Thực hiện đồng tài trợ, đầu mối đồng tài trợ cấp tín dụng theo quy
định.
• Thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ tài trợ
khác theo quy định của NH ĐT&PT VN.
• Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước, thanh toán Quốc tế và
các nghiệp vụ ngân quỹ.
• Thực hiện nghiệp vụ ngân hàng đại lý, quản lý vốn đầu tư cho các dự
án, tư vấn đầu tư theo yêu cầu của khách hàng và theo quy định của pháp luật.
• Thực hiện các nghiệp vụ mua bán, chuyển đổi ngoại tệ với các khách
hàng và tổ chức trong nước và các dịch vụ ngân hàng đối ngoại theo quy định
của Tổng giám đốc NH ĐT&PT VN.
Sở giao dịch được thực hiện các hoạt động dưới đây sau khi được sự
chấp thuận cuả Tổng giám đốc NH ĐT&PT VN, hoặc Tổng giám đốc NH
ĐT&PT VN giao, cụ thể: