Giải pháp chuyển đổi mô hỡnh kinh doanh chợ trờn địa bàn tỉnh vĩnh phúc

  • 107 trang
  • file .doc
GIỚI THIỆU CHUNG.
1.1. Lý do chọn nghiên cứu dự án.
- Vĩnh Phúc là một tỉnh mới tái lập từ năm 1997, dân số khoảng 950 ngàn người,
thu nhập bỡnh quõn đầu người thấp nhất cả nước, thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp
GDP tỉnh đạt 100 tỷ đồng (năm 1997). Tuy nhiên sau một thời gian, dưới sự lónh
đạo của tỉnh Vĩnh Phúc trở thành một điểm sáng của cả nước về phát triển kinh tế
xó hội nằm trong 10 tỉnh trong cả nước về thu hút đầu tư và là một trong 8 tỉnh nằm
trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. (Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Vĩnh Phúc).
- Với việc thu hút được nhiều dự án đầu tư nước ngoài đã đóng góp nhiều vào việc
phát triển kinh tế xã hội của tỉnh phát triển. Chính vì vậy, yêu cầu thực tế và tầm
nhìn chiến lược, định hướng phát triển của tỉnh được thông qua các đề án về quy
hoạch, kế hoạch tổng thể về phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch chiết tiết các
ngành, lĩnh vực trong cơ cấu kinh tế. Đặc biệt là những nhu cầu về đầu tư cơ sở hạ
tầng xã hội nói chung, cơ sở hạ tầng và xã hội hoá ngành thương mại nói riêng đã
tạo ra nhiều diện mạo mới trong việc thu hút quản lý, đầu tư khai thác quản lý kinh
doanh Chợ hiện nay.
- Mặt khác, do tình hình quản lý quá yếu kém của các Chợ hiện nay không thật sự
hiệu quả, có nhiều điểm nóng trong công tác quản lý, khai thác Chợ gây nên những
tình trạng lơi lỏng quản lý dẫn đến hiện tượng cháy chợ làm thiệt hại tài sản của
nhân dân.
- Do các chính sách về quản lý và khai thác Chợ hiện nay không phù hợp với quy
hoạch Ngành thương mại, quy hoạch mạng lưới Chợ trên địa bàn và vùng kinh tế
trọng điểm bắc bộ.
Vì vậy cần phải có những nghiên cứu về chuyển đổi mô hình kinh doanh và quản
lý chợ cho phù hợp với phát triển kinh tế của tỉnh và xu thế hội nhập kinh tế quốc
tế. Đề tài: “Giải pháp chuyển đổi mô hỡnh kinh doanh chợ trờn địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc” giúp giải quyết những vấn đề nêu trên.
1. 2. Vấn đề nghiên cứu.
Mô hình quản lý kinh doanh và khai thác chợ hợp lý trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc là
mô hình nào?
1. 3. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể.
Phải xác định được mô hình quản lý kinh doanh và khai thác chợ hợp lý trên địa bàn
tỉnh Vĩnh Phúc. Từ đó kiến nghị giải pháp chuyển đổi mô hình. Cụ thể phải làm
những việc như sau:
- Đánh giá những ưu nhược điểm về mô hỡnh quản lý kinh doanh Chợ truyền thống
hiện tại ở Vĩnh Phỳc và đưa ra các quan điểm, định hướng phát triển mô hỡnh kinh
doanh mới phự hợp hơn, hiệu quả hơn.
- Định hướng phát triển và đổi mới mô hỡnh quản lý Chợ truyền thống trờn địa bàn
tỉnh Vĩnh Phúc cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xó hội, xu thế hội
nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là khi Việt Nam là thành viờn chớnh thức của WTO.
- Kiến nghị một số mô hình tổ chức kinh doanh chợ và giải pháp chuyển đổi để phát
triển các mô hình tổ chức kinh doanh chợ thích ứng với điều kiện, hoàn cảnh của
địa bàn thị trường.
1. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
1.4.1. Đối tượng:
- Các mô hình quản lý kinh doanh chợ tại Vĩnh Phúc.
- Các giải pháp chuyển đổi mô hình kinh doanh Chợ.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian: Đánh giá thực trạng các mô hình tổ chức kinh doanh chợ hiện đang
có đến năm 2008 ở Vĩnh Phúc.
- Về không gian: Nghiên cứu các mô hình tổ chức kinh doanh chợ điển hình ở Vĩnh
Phúc.
1.5. Phương pháp nghiên cứu và thu thập, xử lý dữ liệu.
1.5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Sử dụng các nguồn dữ liệu:
+ Nguồn dữ liệu thứ cấp: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc; Báo cáo về quy hoạch
phát triển ngành công thương; Quy hoạch mạng lưới Chợ và Trung tâm Thương mại
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, báo cáo về phân loại Chợ Vĩnh Phúc, Bộ Thương mại

+ Nguồn Dữ liệu sơ cấp: (Đi điều tra, khảo sát thực tế Chợ trên địa bàn tỉnh, sử
dụng phương pháp chọn mẫu điều tra điển hình đối với các Ban quản lý Chợ ); xin ý
kiến chuyên gia
1.6. Hạn chế của việc nghiờn cứu: Dự án nghiên cứu chỉ tập tung trên địa bàn tỉnh
Vĩnh phúc nên điều kiện và các giải pháp sẽ có nhiều hạn chế khi áp dụng đối với
các tỉnh khác vỡ cú điều kiện kinh tế xó hội khụng giống với Vĩnh Phỳc khi ỏp
dụng dự ỏn này.
1.7. Kết luận: Từ việc nghiờn cứu về thực trạng mụ hỡnh quản lý Chợ truyền thống
trờn địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc sẽ đưa ra được những giải pháp chuyển đổi phù hợp với
điều kiện phát triển kinh tế - xó hội của tỉnh, phự hợp với xu thế xó hội hoỏ hoạt
động đầu tư, quản lý hoạt động thương mại; từ đó góp phần vào sự nghiệp phát triển
kinh tế -xó hội của tỉnh.
1.8. Nội dung đề tài: Đề tài nghiên cứu gồm 5 phần
Giới thiệu Chung
Phần 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiờn cứu về mụ hỡnh kinh doanh
chợ.
Phần 2: Thực trạng phát triển chợ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Phần 3: Các giải pháp và chính sách phát triển chợ,trung tâm thương mại
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
PHẦN I
CÁC CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU VỀ MÔ
HÌNH KINH DOANH CHỢ
1.1. Một số khái niệm
* Khái niệm về chợ
Có nhiều cách hiểu khác nhau về chợ, nhưng có thể khẳng định rằng chợ là một loại
hình thương nghiệp truyền thống. Theo cách hiểu thông thường thì chợ là nơi gặp
nhau giữa người mua và người bán để trao đổi, mua bán sản phẩm hàng hoá và
dịch vụ.
Theo Nghị định số 02/2003/NĐ - CP ngày 14/3/2003 của Chính Phủ về phát triển
và quản lý chợ thì khái niệm về chợ được điều chỉnh trong Nghị định này là “loại
chợ mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng
các nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư”.
Khái niệm này đã đề cập đến tính tổ chức của chợ và yêu cầu địa điểm chợ phải
được quy hoạch, mục tiêu của chợ là để đáp ứng nhu cầu hàng hoá và nhu cầu tiêu
dùng của dân cư.
Một cách khác, chợ có thể được hiểu là: một loại hình thương nghiệp mang tính
truyền thống, một bộ phận cấu thành của thị trường xã hội, là nơi diễn ra các hoạt
động trao đổi, mua bán hàng hóa và dịch vụ giữa những người sản xuất, người tiêu
dùng và người buôn bán, với nhịp độ tương đối thường xuyên, có tính tập trung từ
phạm vi làng xã đến vùng, miền rộng lớn và được tổ chức, quản lý theo quy định
của Nhà nước.
Chợ theo tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam được hiểu là một môi trường kiến trúc
công cộng của một khu vực dân cư được chính quyền quy định, cho phép hoạt động
mua bán hàng hoá và dịch vụ thương nghiệp.
Như vậy, dù ở góc độ nào thì khái niệm về chợ cũng bao gồm các nội dung chủ yếu
là: Không gian họp chợ, thời gian họp chợ, chủ thể tham gia trao đổi mua bán trong
chợ, đối tượng hàng hoá trao đổi mua bán trong chợ và các hoạt động trao đổi mua
bán trong chợ.
* Khái niệm về mô hình kinh doanh chợ
Mô hình kinh doanh chợ trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung nghiên cứu
về mô hình tổ chức kinh doanh chợ. Mô hình kinh doanh chợ được hiểu là cơ cấu tổ
chức xác lập các bộ phận chức năng hay các bộ phận cung ứng dịch vụ và mối quan
hệ tương tác giữa các bộ phận đó để thực hiện quản lý và kinh doanh chợ. Mô hình
kinh doanh chợ sẽ giúp trả lời câu hỏi: Tham gia quản lý và khai thác chợ là ai? Ai
sẽ thực hiện những nhiệm vụ gì? Những hoạt động chủ yếu trên chợ là gì? Có
những loại hình gì sẽ được cung cấp ở chợ, sự phối hợp giữa những bộ phận chức
năng trên chợ như thế nào.
Cấu trúc tổ chức của mô hình kinh doanh chợ sẽ phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố
như: chức năng và nhiệm vụ của doanh nghiệp chợ hay ban quản lý chợ, chiến lược
phát triển chợ, quy mô chợ, trình độ và cách thức tổ chức hoạt động kinh doanh
chợ, tập quán kinh doanh, mặt hàng kinh doanh, kết cấu hạ tầng chợ...
Mô hình kinh doanh chợ sẽ quyết định phương hướng kinh doanh và đầu tư phát
triển chợ, cũng như các loại hàng hoá và dịch vụ sẽ được cung cấp, các phương thức
trao đổi, kinh doanh, tuyển chọn nhân sự và bố trí cán bộ quản lý đảm bảo vận hành
và có hiệu quả các hoạt động kinh doanh trên chợ.
1. 2. Đặc điểm của chợ
* Về chủ thể kinh doanh
- Người bán
Người bán ở đây có thể bao gồm người sản xuất và các thương nhân. Người sản
xuất có thể trực tiếp đem sản phẩm của mình ra chợ để trao đổi mua bán với những
người sản xuất khác, với người tiêu dùng cuối cùng hoặc với các người mua khác.
Những người mua cũng có thể mang sản phẩm mua được để trao đổi với những
người sản xuất, người tiêu dùng cuối cùng hoặc với các nhà bán lẻ khác trên chợ.
Người tham gia bán hàng tại chợ không cần nhiều vốn (trừ trường hợp các chủ thể
tham gia vào hoạt động bán buôn ở chợ), tuỳ theo mục đích và điều kiện của chủ thể
kinh doanh mà lượng vốn được sử dụng nhiều hay ít và lượng vốn này được xem
như mức tối thiểu để chủ thể có thể tham gia vào hoạt động kinh doanh bán hàng tại
chợ.
Có hai loại chủ thể tham gia kinh doanh ở chợ bao gồm chủ thể tham gia kinh
doanh thường xuyên và không thường xuyên.
+ Chủ thể kinh doanh thường xuyên: là các chủ thể kinh doanh nhằm mục đích
kiếm lời và họ coi đây là nghề nghiệp chính của họ.
+ Chủ thể tham gia không thường xuyên là các chủ thể tham gia bán hàng tại chợ
nhằm tận dụng thời gian dư thừa, đây không phải là nghề nghiệp chính của họ.
- Người mua
Người mua hàng bao gồm người sản xuất, người tiêu dùng và các thương nhân.
Người sản xuất mua hàng để cung cấp các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản
xuất. Người tiêu dùng mua hàng để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân, hàng hoá họ
có nhu cầu ở chợ rất phong phú đa dạng về chủng loại, nhưng số lượng và quy mô
không lớn. Đội ngũ thương nhân cũng tham gia vào quá trình mua bán hàng hoá
trên chợ một mặt để đáp ứng nhu cầu của họ, mặt khác họ mua hàng với số lượng
lớn sau đó lại đem bán lại hàng hoá để kiếm lời.
* Về chủ thể quản lý
Chủ thể tham gia quản lý chợ cũng đa dạng về thành phần, có thể là ban quản lý, tổ
quản lý; hợp tác xã, doanh nghiệp hay liên doanh hộ gia đình. Các chủ thể quản lý
chợ hiện nay ở nước ta chủ yếu là các ban quản lý (đối với các chợ quy mô lớn và
vừa), tổ quản lý chợ (đối với các chợ quy mô nhỏ), và cũng có một số chợ do các
doanh nghiệp chợ quản lý, họ quản lý và điều hành hoạt động của chợ theo nội quy
chợ.
* Về không gian họp chợ.
- Chợ thường phân bố ở khắp các tỉnh thành trong cả nước, nhưng ở khu vực nông
thôn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa chợ chiếm tỷ trọng chủ yếu trong mạng lưới phân
phối hàng hoá.
- Chợ ở nước ta thường được hình thành ở những khu vực có vị trí địa lý thuận tiện
cho việc trao đổi, vận chuyển hàng hoá cũng như đi lại của dân cư.
- Trước đây chợ thường được hình thành tự phát, không theo một quy hoạch chung, ở
đâu có nhu cầu là ở đó hình thành nên chợ (chợ tạm, chợ cóc).
- Không gian họp chợ cũng không đồng đều, có chợ với diện tích rất lớn như các
chợ đầu mối, chợ bán buôn… nhưng cũng có những chợ chỉ cần một không gian rất
nhỏ, như các chợ làng, xã, chợ cóc, chợ tạm, chợ đường cái…
* Về thời gian họp chợ
Khác với các hình thức phân phối hiện đại như siêu thị, cửa hàng tự chọn, ở đó thời
gian hoạt động thường là tất cả các ngày trong tháng, tất cả các tháng trong năm,
thậm chí có những siêu thị mở cửa 24/24, thời gian họp chợ có thể thường xuyên
hoặc không thường xuyên, và thường theo một quy luật nhất định về thời gian, nhất
là ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Có nhiều chợ chỉ họp vào những giờ
nhất định trong ngày, những ngày nhất định trong tháng hoặc trong năm. Như chợ
phiên chỉ họp chợ vào một số ngày trong tháng, hoặc chợ cuối tuần chỉ họp vào
ngày cuối tuần, hay như chợ đêm chỉ họp vào ban đêm. Đặc biệt, ở các vùng đồng
bào dân tộc thiểu số thì chu kỳ họp chợ rất dài, thường là một tháng họp một phiên.
Cá biệt, có chợ chỉ họp một phiên một năm ( ví dụ: chợ Viềng tại tỉnh Nam Định).
* Về hàng hóa trao đổi, mua bán trong chợ
- Chủng loại hàng hoá
Chủng loại hàng hóa được trao đổi mua bán trong chợ rất đa dạng. Chợ là nơi trao
đổi các sản phẩm được sản xuất ra, nhất là đối với những người sản xuất nhỏ, không
tập trung. Người bán ở đây có thể là những người sản xuất, những thương nhân, họ
tạo ra sản phẩm, trao đổi sản phẩm và trực tiếp đưa sản phẩm của mình ra chợ để
trao đổi mua bán, với số lượng có thể nhiều hay ít, điều này hoàn toàn không có ở
các siêu thị hay các trung tâm thương mại. Chính những điều này đã tạo nên sự
phong phú đa dạng về chủng loại hàng hóa được lưu thông trong chợ, nhìn chung
hàng hoá lưu thông qua chợ chủ yếu là hàng tiêu dùng hàng ngày và giá trị không
lớn.
- Chất lượng hàng hoá
Hàng hóa được trao đổi mua bán ở chợ thường không đòi hỏi tiêu chuẩn cao về chất
lượng và mẫu mã sản phẩm. Ở nước ta, chợ thường tập trung và phân bố ở nông
thôn, vùng dân tộc thiểu số. Đây là những vùng đời sống của nhân dân còn gặp
nhiều khó khăn, mức sống của nhân dân còn thấp do đó nhu cầu tiêu dùng của họ
không quá cao, thường là những sản phẩm chất lượng không cao, có thể nói thị
trường nông thôn là một thị trường khá dễ tính.
- Giá cả hàng hoá
Giá cả hàng hóa lưu thông trên chợ thường có giá rẻ hơn so với giá cả của hàng hóa
trong các cửa hàng, siêu thị và giá cả này có thể trao đổi, mặc cả được. Nếu như giá
cả hàng hóa ở trong các cửa hàng cửa hiệu đã được ấn định, người tiêu dùng không
thể mặc cả để hạ thấp giá được, thì ngược lại ở chợ người mua và người bán trực
tiếp gặp nhau để thỏa thuận giá cả cho đến khi thuận mua vừa bán. Chính những
điều này đã làm cho chợ mang tính bình dân hơn so với hệ thống các siêu thị hay
các trung tâm thương mại.
* Về cơ sở vật chất của chợ
- Diện tích của chợ: bao gồm diện tích khu nhà dành cho giao dịch, trao đổi mua
bán hàng hoá;
- Diện tích dành cho hệ thống các kho bảo quản sơ chế, đặc biệt đối với các chợ
đầu mối;
- Diện tích khu vực sân bãi tập kết hàng hóa, kiểm tra hàng hóa;
- Diện tích khu đỗ xe, diện tích đường giao thông đi lại trong chợ…;
- Hệ thống thiết bị bảo quản hàng hóa, các thiết bị đo lường kiểm tra chất lượng
hàng hóa;
- Các trang thiết bị phòng chống cháy nổ và vệ sinh môi trường....
1.3. Phân loại chợ
* Căn cứ vào “nơi” hay không gian địa lý, có thể phân loại chợ theo các tiêu thức
sau:
- Theo địa giới hành chính hay phạm vi lưu thông của hàng hoá: chợ phường, xã,
chợ huyện, liên xã, liên huyện, thị tứ; thị trấn, thành phố, chợ biên giới, cửa khẩu,
chợ trong khu kinh tế cửa khẩu.
- Theo vùng lãnh thổ: Chợ miền núi, chợ đồng bằng, chợ ở các vùng kinh tế hay
trung tâm kinh tế, hải đảo, chợ trên sông...
* Căn cứ vào thời gian họp chợ:
- Theo thời gian trong ngày: có các loại chợ sáng, chợ chiều, chợ đêm, chợ họp cả
ngày và chợ họp cả ngày và đêm.
- Theo khoảng cách thời gian giữa các lần họp chợ: chợ hàng ngày, chợ phiên, chợ
mùa vụ.
* Căn cứ vào hoạt động mua bán hàng hoá:
- Theo loại hàng hoá chủ yếu được lưu thông qua chợ: Chợ nông sản, chợ chuyên
doanh, chợ kinh doanh tổng hợp (các loại hàng hoá).
- Theo tính chuyên môn hoá và phương thức được giao dịch: Chợ đầu mối (chuyên
ngành, đa ngành), chợ chuyên doanh, chợ bán buôn, bán lẻ, hay chợ tổng hợp bán
buôn và bán lẻ;
- Theo điều kiện cơ sở vật chất của chợ: Chợ kiên cố, chợ bán kiên cố, chợ tạm, chợ
cóc.
* Theo Nghị định 02/NĐ-CP, căn cứ vào qui mô số điểm kinh doanh cố định: chợ
hạng I có trên 400 số điểm kinh doanh cố định trên chợ, chợ hạng II có từ 200 - đến
dưới 400 điểm kinh doanh cố định, chợ hạng III có dưới 200 điểm kinh doanh cố
định.
* Căn cứ vào phương thức giao dịch: Chợ truyền thống (giao ngay), chợ mua
bán theo hợp đồng và chợ giao sau, sàn giao dịch.
1.4. Chức năng của chợ
1.4.1. Nơi thực hiện mua bán, trao đổi hàng hoá.
Chợ là nơi người mua và người bán gặp nhau để trao đổi sản phẩm hàng hóa và
dịch vụ. Thông qua chợ, hàng hóa từ nơi sản xuất đến được với tiêu dùng, do đó
chợ được xem như một hình thức của thị trường, ở đó diễn ra các hoạt động trao
đổi mua bán hàng hóa. Như vậy, chợ đã thực hiện chức năng làm thay đổi giá trị
của hàng hóa: thay đổi hình thái giá trị hàng hóa từ tiền sang hàng và ngược lại.
Nhờ có chức năng này của chợ, người bán đạt được mục đích là giá trị và người
mua có được các giá trị sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của họ.
Chợ chính là nơi thừa nhận và thực hiện giá trị của hàng hóa. Chợ cũng là một
dạng của thị trường, hàng hóa phải bán được trên thị trường mới được xã hội
thừa nhận. Chợ là nơi thực hiện giá trị của hàng hóa thông qua các hoạt động
mua bán giữa người mua và người bán, giá trị của hàng hóa và dịch vụ được
thực hiện thông qua giá cả thị trường trên cơ sở giá trị sử dụng của chúng được
thừa nhận.
1.4.2. Tạo giá trị gia tăng cho hàng hóa.
Ngoài chức năng là nơi thực hiện giá trị của hàng hóa, chợ còn có chức năng
góp phần tạo ra giá trị gia tăng của hàng hóa.
Hàng hóa được bày bán ở chợ là hàng hóa đã được vận chuyển từ nơi sản xuất
đến với người tiêu dùng, nó đã được giữ gìn bảo quản giá trị sử dụng của hàng
hóa và đã được phân loại, đóng gói, bao bì, chuẩn bị sản phẩm đáp ứng yêu cầu
của người sử dụng… Như vậy, thông qua các công đoạn này, giá trị hàng hoá
trao đổi được tăng thêm hay nói cách khác hàng hóa đã có thêm giá trị gia tăng
trước khi đến người tiêu dùng cuối cùng.
1.4.3. Tập trung hàng hóa.
Chợ là nơi tập trung các sản phẩm được sản xuất ra của các địa phương, của các
hộ gia đình, cơ sở sản xuất nhỏ lẻ để đem ra tiêu thụ. Chợ được xem như một
kênh phân phối, tiêu thụ sản phẩm. Người bán tập trung hàng hóa ở chợ để thực
hiện việc trao đổi mua bán hàng hóa. Chức năng này có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng đối với người mua và bán hàng hoá trong điều kiện nền sản xuất nhỏ,
manh mún, thiếu tập trung.
1.4.4. Phát tín hiệu thị trường.
Chợ là nơi có khả năng phản ánh tổng hợp nhiều mối quan hệ kinh tế thông qua
mua bán, trao đổi hàng hoá, nó chứa đựng thông tin đa dạng về nhiều mặt. Chợ
cung cấp các thông tin về cung cầu đối với các loại hàng hoá: tổng cung, tổng
cầu và cơ cấu; về hàng hóa: chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã…; về khách hàng:
khả năng thanh toán, thu nhập, sở thích, thị hiếu, thói quen tiêu dùng…Chợ cũng
cung cấp các thông tin về đối thủ cạnh tranh, về chi phí và giá cả. Những thông
tin này không chỉ cần thiết cho người sản xuất, người tiêu dùng mà còn có ý
nghĩa quan trọng đối với các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức kinh tế.
1.4.5. Nâng cao hiệu quả phân phối sản phẩm
Chợ được xem như một kênh phân phối hàng hóa quan trọng, đặc biệt đối với hàng
hóa từ các nguồn sản xuất nhỏ, phi tập trung, gồm nhiều người sản xuất như hàng
nông sản, hàng thủ công, hàng tiêu dùng thông thường.
1.4.6. Cung cấp các dịch vụ
Chợ là nơi cung cấp các loại hình dịch vụ hỗ trợ hoạt động trao đổi mua bán tại chợ.
Tuỳ theo quy mô và trình độ phát triển của chợ mà các dịch vụ được cung ứng tại
chợ cũng khác nhau về số lượng và chất lượng. Chợ có quy mô càng lớn và hiện
đại, tính chuyên môn hoá càng cao thì các dịch vụ được cung ứng tại chợ càng đa
dạng và chất lượng dịch vụ đòi hỏi càng cao. Các dịch vụ được cung ứng tại chợ
bao gồm các dịch vụ chủ yếu sau:
- Dịch vụ vệ sinh môi trường;
- Dịch vụ trông coi phương tiện vận tải;
- Dịch vụ giám định chất lượng hàng hoá;
- Dịch vụ vận tải, giao nhận hàng hoá;
- Dịch vụ môi giới mua bán hàng hoá;
- Dịch vụ tư vấn và cung cấp thông tin về giá cả thị trường hàng hoá;
- Dịch vụ ngân hàng, thanh toán, dịch vụ chuyển tiền.
1.4.7. Tạo ra giá trị cộng đồng và xã hội
Chợ tạo ra các giá trị sinh hoạt cộng đồng và xã hội thông qua vai trò và chức năng
của chợ. Chợ không những là nơi gặp gỡ, giao lưu trực tiếp giữa người mua và
người bán để trao đổi mua bán hàng hoá, chợ còn là nơi mọi người có thể giao tiếp
qua lại với nhau, nơi tổ chức hội hè, vui chơi, giải trí. Đặc biệt, ở các vùng nông
thôn, vùng sâu, vùng xa giá trị văn hoá cộng đồng của chợ càng được bộc lộ đầy đủ
và mang ý nghĩa sâu sắc.
1. 5. Vai trò của chợ.
1.5.1. Đối với đời sống của dân cư.
Chợ không chỉ là nơi gặp nhau giữa người mua và người bán để trao đổi sản
phẩm, hàng hóa, ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, bên cạnh các giá trị kinh tế,
chợ còn có các giá trị tinh thần và xã hội to lớn. Chợ là nơi giao lưu gặp gỡ của
mọi người, nơi tổ chức các lễ hội truyền thống, vui chơi, giải trí...
Chợ có ý nghĩa rất to lớn đối với đời sống kinh tế, xã hội của dân cư. Thông qua
chợ, nhiều nhu cầu của đời sống con người được thỏa mãn, kể cả nhu cầu tiêu
dùng, sản xuất, sinh hoạt vật chất hay tinh thần, góp phần nâng cao chất lượng
cuộc sống của dân cư. Cũng thông qua chợ một số tầng lớp dân cư có thêm thu
nhập và có thêm việc làm...
Tóm lại, chợ có vai trò to lớn đối với đời sống dân cư, là nơi phân phối hàng hóa
đến với mọi tầng lớp dân cư đặc biệt là khu vực nông thôn, miền núi. Qua chợ
mọi người đều có thể thoả mãn được nhu cầu của mình, đó có thể là nhu cầu sản
xuất, nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần.
1.5.2. Đối với phát triển kinh tế
- Chợ đóng vai trò quan trọng trong khâu lưu thông, là cầu nối giữa sản xuất với
sản xuất, giữa sản xuất với tiêu dùng.
- Chợ là một trong những kênh quan trọng của quá trình lưu thông hàng hoá, do
đó đóng vai trò quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã hội và thúc đẩy quá
trình phát triển kinh tế.
- Chợ là nơi góp phần thoả mãn các nhu cầu tiêu dùng của người lao động, do
vậy chợ có vai trò quan trọng đối với tái sản xuất sức lao động xã hội.
- Chợ mang lại nguồn thu trực tiếp cho ngân sách, thông qua việc khai thác
quản lý chợ để thu các khoản thu như thuế và các loại lệ phí chợ.
- Chợ là nơi thu thập và xử lý các thông tin mang tính thời sự về kinh tế - xã hội,
cung cấp các tín hiệu thị trường quan trọng như giá cả, tình hình cung, cầu…
Đây là những nguồn thông tin quan trọng giúp cho các nhà quản lý và sản xuất
hàng hoá trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.5.3. Đối với đời sống văn hóa - chính trị - xã hội.
- Chợ mang tính truyền thống, tính văn hóa cao: Mặc dù không phải là nơi quyết
định bộ mặt của nền kinh tế - xã hội nhưng chợ lại là nơi phản ánh trình độ kinh
tế - xã hội và phong tục tập quán của dân cư địa phương.
- Chợ là nơi thể hiện, gìn giữ, phát huy văn hóa truyền thống, bản sắc dân tộc.
Đặc biệt đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, chợ là nơi lễ hội, giao lưu gặp gỡ
duy nhất của họ. Tính văn hoá của chợ được thể hiện trên nhiều khía cạnh khác
nhau như văn hoá ẩm thực, văn hoá giao tiếp, thông tin cộng đồng.
- Chợ đóng một vai trò quan trọng trong vấn đề giải quyết công ăn việc làm và
tạo thu nhập cho nhiều người. Chợ là nơi thu hút hoạt động của một số lượng
lớn những người tham gia kinh doanh, chợ đã tạo ra một số lượng lớn công ăn
việc làm cho số lao động dôi dư, lao động mùa vụ, đặc biệt là ở các vùng nông
thôn. Gắn với vai trũ về phỏt triển kinh tế
Ngoài ra, chợ cũng tạo ra một bộ phận thương nhân có tính chuyên nghiệp cao
góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội. Đồng thời, sự phát triển của
mạng lưới chợ ở nông thôn còn có vai trò quan trọng đối với nâng cao thu nhập
của dân cư, góp phần xoá đói giảm nghèo, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa
thành thị và nông thôn. Gắn với vai trũ về phỏt triển kinh tế
1.5.4. Đối với cấu trúc thị trường nội địa
Trong Nghị định 02/ 2003/ NĐ- CP, nội dung quy hoạch và phát triển chợ đã
xác định: chợ là một bộ phận quan trọng trong tổng thể kết cấu hạ tầng kinh tế
xã hội; từ nay trở đi Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội từng thời kỳ của địa
phương phải bao gồm quy hoạch phát triển chợ.
Cũng theo Chỉ thị số 13/2004/CT- TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
31/3/2004 cũng đã xác định rằng để khắc phục các yếu kém và bất cập của hoạt
động thương mại trên thị trường nội địa thì một trong các nhiệm vụ phải làm đó
là hình thành và phát triển kết cấu hạ tầng thương mại nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa bao gồm: chợ, trung tâm thương
mại (bán buôn, bán lẻ hàng hóa), siêu thị và mạng lưới các cửa hàng phù hợp
và đáp ứng được yêu cầu phát triển sản xuất, tiêu dùng của nhân dân trên từng
địa bàn.
Như vậy, chợ đã được coi là một phần của kết cấu hạ tầng thương mại, là một bộ
phận quan trọng trong cấu trúc thị trường nội địa.
1. 6. MỘT SỐ MÔ HÌNH KINH DOANH CHỢ
1.6.1. Hợp tác xã chợ
- Theo Luật Hợp tác xã năm 2003, "Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do
các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích
chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy
sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có
hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân,
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn
tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật".
- Phương thức đầu tư chủ yếu là:
+ HTX đứng ra huy động vốn của xã viên để đầu tư xây dựng và quản lý chợ;
+ Địa phương huy động vốn để đầu tư xây dựng chợ hoặc nhà nước xây dựng
chợ rồi giao cho HTX quản lý;
+ HTX đấu thầu kinh doanh chợ.
- Mô hình HTX chợ với cơ cấu tổ chức đơn giản, mỗi HTX chỉ có 1 chủ nhiệm
và từ 1-2 phó chủ nhiệm, 1 kế toán, 1 thủ quỹ và nhân viên quản lý chợ. Cụ thể về
cơ cấu tổ chức của mô hình này như sau:
Chủ nhiệm HTX
Các phó chủ nhiệm HTX
Kế toán, thủ quỹ Các tổ quản lý: vệ sinh,
bảo vệ, PCCC, thu phí…
- Quản lý kinh doanh chợ: HTX có trách nhiệm quản lý, kinh doanh và khai
thác chợ với các nội dung cụ thể sau:
+ Tổ chức kinh doanh các hoạt động tại chợ.
+ Bảo đảm công tác phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự
và an toàn thực phẩm trong phạm vi chợ.
+ Xây dựng nội quy chợ theo quy định tại điều 10 của Nghị định 02 để trình
UBND cấp có thẩm quyền phê duyệt theo phân cấp quản lý chợ.
+ Bố trí, sắp xếp các khu vực kinh doanh bảo đảm các yêu cầu về trật tự, vệ
sinh, văn minh thương mại và phù hợp với yêu cầu của thương nhân kinh doanh tại
chợ.
+ Ký hợp đồng với các thương nhân về việc thuê, sử dụng điểm kinh doanh tại
chợ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.
+ Tổ chức thông tin kinh tế, phổ biến chính sách, quy định của pháp luật và
nghĩa vụ đối với nhà nước của thương nhân kinh doanh tại chợ theo hướng dẫn của
cơ quan quản lý nhà nước.
- Ưu điểm của mô hình HTX chợ
So với hình thức tổ chức theo mô hình ban quản lý chợ hay tổ quản lý chợ em
đã nói tới 2 mô hình này đâu mà so sánh ở đây thì mô hình HTX kinh doanh khai
thác và quản lý chợ có nhiều ưu điểm như: do tự chủ về tài chính và tự chịu trách
nhiệm về các nghĩa vụ tài chính nên mô hình HTX tổ chức kinh doanh khai thác và
quản lý chợ hoạt động năng động hơn, hiệu quả hơn, huy động được nhiều nguồn
lực của xã viên trong việc tổ chức, quản lý khai thác (kể cả nguồn lực tài chính để
xây dựng chợ), giảm bớt gánh nặng cho nhà nước vì không tăng biên chế quản lý
cũng như quỹ lương, bổ sung nguồn vốn để xây dựng chợ. Các hoạt động dịch vụ
trong các chợ cũng được mở rộng hơn, góp phần giải quyết một số lao động dôi dư
trên địa bàn.
- Nhược điểm của mô hình HTX chợ
Cơ cấu tổ chức đơn giản đôi khi dẫn đến tình trạng không thể nắm bắt và giải
quyết được các vấn đề phát sinh trong hoạt động quản lý chợ.
Nguồn vốn của các HTX nhỏ bé, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, điều này ảnh
hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của HTX.
Trên thực tế, kinh doanh chợ có thể chỉ là một mảng hoạt động của hợp tác xã,
vì vậy nếu tính chuyên nghiệp và chuyên môn hoá không cao thì hoạt động quản lý
và kinh doanh chợ khó có thể đạt được hiệu quả.
1.6.2. Doanh nghiệp chợ
Theo Nghị Định 02/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 1 năm 2003, doanh nghiệp
kinh doanh chợ là doanh nghiệp được thành lập, đăng ký kinh doanh và hoạt động
kinh doanh theo quy định của pháp luật.
- Về cơ cấu tổ chức, bao gồm: giám đốc (hoặc là chủ tịch hội đồng quản trị đối
với công ty cổ phần, hoặc là tổng giám đốc đối với các công ty mẹ và công ty con),
các phó giám đốc (phó chủ tịch hội đồng quản trị, phó tổng giám đốc). Dưới giám
đốc và phó giám đốc là các phòng ban như: Phòng kinh tế kế hoạch, phòng tổ chức
hành chính, phòng kinh doanh, phòng kế toán tài chính...., số lượng các phòng, ban
này tuỳ thuộc vào quy mô hoạt động của doanh nghiệp.
Giám đốc
Phó Giám đốc
P. Kinh doanh Phòng tổ chức hành chính Phòng kế toán
- Quản lý kinh doanh chợ: Doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ
có trách nhiệm thực hiện các nội dung sau:
+ Tổ chức kinh doanh các dịch vụ tại chợ.
+ Bảo đảm công tác phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự
và an toàn thực phẩm trong phạm vi chợ.
+ Xây dựng nội quy chợ theo quy định tại Điều 10 của Nghị Định 02 để trình
Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền phê duyệt theo phân cấp quản lý chợ, tổ chức
điều hành hoạt động theo nội quy chợ và xử lý các vi phạm về nội quy chợ.
+ Bố trí, sắp xếp các khu vực kinh doanh đảm bảo các yêu cầu về trật tự, vệ
sinh, văn minh thương mại và phù hợp với yêu cầu của thương nhân kinh doanh tại
chợ.
+ Ký hợp đồng với các thương nhân về việc thuê, sử dụng điểm kinh doanh tại
chợ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật
+ Tổ chức thông tin kinh tế, phổ biến chính sách, quy định của pháp luật và
nghĩa vụ đối với nhà nước của thương nhân kinh doanh tại chợ theo hướng dẫn của
các cơ quan chức năng.
+ Tổng hợp tình hình hoạt động kinh doanh của chợ và báo cáo định kỳ cho
các cơ quan quản lý nhà nước theo hướng dẫn của Bộ Thương mại.
- Ưu điểm của mô hình doanh nghiệp chợ
Mô hình doanh nghiệp chợ có ưu điểm là năng động hơn so với mô hình ban
quản lý, huy động được vốn nhanh hơn, quản lý và kinh doanh chợ có hiệu quả hơn
do có cơ cấu tổ chức hợp lý với đội ngũ cán bộ nhân viên có chuyên môn làm việc
có hiệu quả cao.
Bên cạnh đó, do cơ chế tự chủ về tài chính, tự hạch toán kinh doanh của doanh
nghiệp nên doanh nghiệp phải có kế hoạch kinh doanh sử dụng vốn có hiệu quả
nhất. Các hoạt động dịch vụ trong các chợ cũng được mở rộng hơn, góp phần giải
quyết một số lao động dôi dư trên địa bàn. Cơ sở vật chất của chợ cũng được đầu tư
xây dựng kiên cố, hiện đại tạo điều kiện làm việc thuận lợi cho người lao động hoạt
động ở chợ.
Có tư cách pháp nhân, thuận lợi cho việc vay vốn để đầu tư xây dựng và phát
triển chợ.
- Nhược điểm của mô hình doanh nghiệp chợ
Mô hình doanh nghiệp chợ thường áp dụng với các chợ có quy mô lớn, còn đối
với các chợ nhỏ, chợ ở các vùng còn nhiều khó khăn như vùng núi, vùng sâu, vùng
xa thường không thu hút được các doanh nghiệp đầu tư xây dựng và kinh doanh
chợ.
1.6.3. Mô hình ban quản lý chợ
Theo Nghị định số 02/2003/NĐ - CP ngày 14/1/2003 của Chính phủ về phát
triển và quản lý chợ, ban quản lý chợ là đơn vị sự nghiệp có thu, tự trang trải các chi
phí, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng tại kho bạc nhà nước.
Đây là mô hình quản lý chợ truyền thống, phổ biến đối với hầu hết các loại
chợ hiện nay ở Việt Nam.
* Cơ cấu tổ chức: Có 1 trưởng ban và có từ 1-2 phó trưởng ban.
* Chức năng, nhiệm vụ của ban quản lý chợ
Chức năng quản lý nhà nước về chợ: ban quản lý chợ phải xây dựng các cơ
chế, quy chế hoạt động của chợ phục vụ cho công tác quản lý và kinh doanh tại chợ.
Các công cụ được sử dụng là: kinh tế, hành chính, kỹ thuật, tuyên truyền vận
động… để điều hành, tổ chức, kiểm tra giám sát, xử lý vi phạm bảo đảm cho các
hoạt động đó diễn ra một cách an toàn, hiệu quả, có kỷ cương, văn minh theo đúng
các quy định của nhà nước.
Chức năng kinh doanh khai thác chợ: ban quản lý chợ có chức năng khai thác
các hoạt động và các điểm kinh doanh tại chợ để thu hồi vốn đầu tư xây dựng chợ,
bảo toàn các tài sản của nhà nước và mang lại lợi nhuận tăng nguồn thu cho ngân
sách nhà nước.
Chức năng hoạch định chiến lược phát triển chợ: Ban quản lý chợ có chức
năng tư vấn, đề xuất hoặc phối hợp với nhà nước để hoạch định các chiến lược phát
triển chợ cho phù hợp với đòi hỏi của tiến trình phát triển kinh tế – xã hội địa
phương.
- Ưu điểm của mô hình ban quản lý chợ
Với mô hình này, nhà nước có thể can thiệp để điều tiết các hoạt động quản lý
chợ.
Có thể giải quyết các vấn đề phát sinh tại chợ nhanh chóng.
- Nhược điểm của mô hình ban quản lý chợ
Do cơ chế không tự chủ về tài chính nên mô hình này không phát huy được
tính chủ động, sáng tạo cũng như chưa phát huy được hiệu qủa hoạt động của đội
ngũ nhân viên tham gia quản lý chợ làm cho hiệu quả của công tác quản lý chợ
không cao. Cơ cấu tổ chức còn mang nặng tính chất của nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung, bao cấp theo cơ chế cũ, không năng động và nhanh nhậy với những vấn
đề phát sinh. Hiệu quả của công tác quản lý, kinh doanh và khai thác các công năng
của chợ còn thấp.
Ngoài ra, một trong những nhược điểm của các ban quản lý đó là những khó khăn
về vốn do chưa đủ tư cách pháp nhân để vay vốn cho đầu tư xây dựng chợ hoặc xin
cấp kinh phí để sữa chữa, đầu tư nâng cấp chợ
1. 7. Nhân tố ảnh hưởng đến mô hình kinh doanh chợ.
1.7.1. Quy mô và tính chất các loại chợ
Quy mô và tính chất các loại chợ sẽ có ảnh hưởng quyết định đến phương thức kinh
doanh, tổ chức quản lý, cơ cấu bộ máy, các bộ phận chức năng và các dịch vụ sẽ
được cung cấp qua chợ.
Việc tổ chức và quản lý chợ một cách có hiệu quả tuỳ thuộc rất lớn vào tầm nhìn và
định hướng phát triển chợ trong tương lai của các cơ quan có thẩm quyền.
Đối với quá trình hình thành và phát triển mô hình kinh doanh chợ, nhân tố tổ chức,
quản lý đóng vai trò hết sức quan trọng, chi phối hầu hết các phương diện phát triển
của chợ, cũng như quyết định các bộ phận chức năng trong bộ máy kinh doanh chợ,
các dịch vụ sẽ được cung ứng trên chợ và mối quan hệ giữa các bộ phận chức năng
của chợ.
1.7.2. Công nghệ quản lý chợ.
Đây là nhân tố kỹ thuật để quản lý chợ. Công nghệ quản lý chợ càng hiện đại thì càng
tạo điều kiện tốt cho quản lý chợ; Nhà quản lý chợ dù tài giỏi nhưng nếu như không áp
dụng công nghệ quản lý chợ phù hợp thì rất khó có thể thành công trong công tác quản
lý. Công nghệ quản lý ở đây được xem như là công cụ cho các nhà quản lý thực hiện
thành công mục tiêu của quản lý.
Công nghệ quản lý bao gồm các nhân tố: Hệ thống máy móc thiết bị (hệ thống máy
tính để kiểm tra và kiểm soát nguồn hàng hoá lưu thông trên chợ); Hệ thống các
phần mềm để nhập các dữ liệu về hàng hoá cũng như các phần mềm kế toán quản lý
hệ thống tài chính.
1.7.3. Trình độ của người tham gia quản lý chợ.
Quản lý là quá trình tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, trình độ
của người tham gia quản lý chợ có vai trò quyết định đến hiệu quả của công tác