Dịch vụ du lịch ở thành phố đà nẵng

  • 100 trang
  • file .pdf
LUẬN VĂN:
Dịch vụ Du lịch ở Thành phố Đà Nẵng
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIX Đảng bộ thành phố Đà Nẵng đã xác định phương
hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, trong đó chỉ rõ:
Phát triển mạnh du lịch và các dịch vụ mà thành phố có thế mạnh, làm tiền đề chuyển nền
kinh tế thành phố từ cơ cấu “Công nghiệp - Dịch vụ -Nông nghiệp” sang cơ cấu “Dịch vụ
- Công nghiệp - Nông nghiệp" sau năm 2010. Phấn đấu đến năm 2010 đón 2 triệu lượt du
khách, trong đó có 800.000 lượt khách quốc tế và 1,2 triệu khách nội địa. Đồng thời, Bộ
Chính trị (khoá IX) cũng đã ra Nghị Quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển thành phố
Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thực hiện các Nghị quyết nêu trên,
trong những năm qua, đặc biệt là từ khi Thành phố chính thức trở thành Đô thị loại I trực
thuộc Trung ương, ngành du lịch đã có những đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế -
văn hoá - xã hội Đà Nẵng.
Đà Nẵng nằm ở trung lộ của cả nước, với trên 30km bờ biển xanh, sạch, đẹp được
xếp vào Top 1 trong số 06 bãi biển đẹp nhất hành tinh; có sân bay, cảng biển quốc tế và
những điều kiện hết sức thuận lợi về giao thông đường sắt, đường bộ, là trung điểm của 05
Di sản văn hoá trong số 6 di sản văn hoá thế giới của Việt Nam được UNESCO công nhận
là Cố đô Huế, nhã nhạc cung đình Huế, Động Phong Nha, phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ
Sơn - trung điểm của “Hành trình Di sản” của du lịch Việt Nam. Trong phạm vi khu vực
và thế giới, Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng của miền Tây và các nước
vùng Đông Bắc Á. Vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi của tự nhiên giúp cho Đà Nẵng có điều
kiện phát triển các ngành kinh tế một cách nhanh chóng và bền vững, trong đó có ngành
du lịch.
Trong điều kiện chuyển đổi hoạt động kinh doanh dịch vụ theo hướng xã hội hoá
mạnh mẽ và hội nhập kinh tế quốc tế, ngành du lịch nước ta nói chung và du lịch Đà Nẵng
nói riêng đang đứng trước cơ hội và thách thức lớn. Ngành dịch vụ du lịch còn non trẻ,
mới được chuyển sang từ hoạt động phục vụ nhiệm vụ chính trị đối ngoại là chủ yếu, tính
chuyên nghiệp trong nghiệp vụ còn thấp, cơ sở đào tạo chuyên ngành còn thiếu và yếu, cơ sở
vật chất phục vụ lưu trú và vận chuyển của đại bộ phận các đơn vị kinh doanh du lịch chủ yếu
trên địa bàn tuy có vị trí lợi thế, nhưng đang xuống cấp trầm trọng. Hoạt động lữ hành chủ yếu
là trạm trung chuyển; làm lại tour cho các hãng lớn tại hai đầu và phần lớn ngoài tầm kiểm
soát của cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn. Tính liên kết du lịch vùng miền yếu... Do vậy,
có thể nói trong thời gian qua, ngành du lịch Đà Nẵng đã phải đương đầu với rất nhiều thử
thách và sẽ còn phải nỗ lực rất lớn để khai thác hết tiềm năng, lợi thế so sánh của mình trong
khu vực và trong cả nước thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Thành phố, góp phần
thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 33-NQ/TW của Bộ Chính trị (Khóa IX) và Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ XIX.
Chính vì những lý do trên, học viên chọn đề tài “Dịch vụ Du lịch ở Thành phố Đà
Nẵng” làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Kinh tế chính trị, nhằm góp một phần phục vụ
công tác chỉ đạo hoạt động thực tiễn đối với quản lý ngành du lịch, hướng tới đảm nhiệm
nhiệm vụ của ngành “công nghiệp không khói” trong xu thế phát triển công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và hội nhập kinh tế của thành phố Đà Nẵng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Về du lịch nói chung và của từng địa phương đã có một số đề tài, như:
- Trần Quốc Nhật (1996), Phát triển du lịch ở Bà Rịa-Vũng Tàu, Luận văn Thạc sĩ
Kinh tế, Học viện CTQG Hồ Chí Minh.
- Dương Thế Vinh (1996), Khai thác tiềm năng phát triển du lịch Hà Nội trong giai đoạn
hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện CTQG Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Thị Hoá (1997), Kinh tế du lịch Thừa Thiên -Huế, tiềm năng và phương
hướng phát triển, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện CTQG Hồ Chí Minh.
- Hoàng Đức Cường (1999), Phát triển kinh tế du lịch tỉnh Nghệ An, Luận văn Thạc
sĩ Kinh tế, Học viện CTQG HCM.
- Dụng Văn Duy (2004), Du lịch trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
tỉnh Bình thuận, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện CTQG Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Thị Hồng Lâm (2005), Kinh tế du lịch ở tỉnh Thanh Hoá -Thực trạng và
giải pháp phát triển, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện CTQG Hồ Chí Minh...
Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu liên quan đến dịch vụ du lịch ở
thành phố Đà Nẵng một cách toàn diện về lý luận và thực tiễn dưới góc độ khoa học kinh
tế chính trị. Vì vậy, sự lựa chọn đề tài "Dịch vụ du lịch tại Thành phố Đà Nẵng" là cần
thiết và không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích: Trên cơ sở lý luận về dịch vụ du lịch, luận văn phân tích, đánh giá
thực trạng dịch vụ du lịch Đà Nẵng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ du
lịch ở thành phố Đà Nẵng, trong thời gian từ nay đến năm 2020.
3.2. Nhiệm vụ: Luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch vụ du lịch ở Đà Nẵng.
- Đánh giá thực trạng dịch vụ du lịch Đà Nẵng trong giai đoạn 2001 đến 2005 và
những vấn đề đặt ra cần giải quyết.
- Phương hướng và giải pháp phát triển dịch vụ du lịch Đà Nẵng trong thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Dịch vụ du lịch Đà Nẵng trong thời kỳ đổi mới, nhất là
từ khi Thành phố Đà Nẵng trở thành đô thị loại I trực thuộc Trung ương đến nay.
4.2. Thời gian: Từ 2001 đến 2005.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận: Vận dụng lý luận kinh tế chính trị của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước và thành phố Đà Nẵng vào phát triển dịch vụ du lịch. Đồng thời, kế thừa những kết
quả nghiên cứu về lĩnh vực dịch vụ du lịch của các nhà khoa học có liên quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, kết hợp lôgíc với lịch sử, thống kê, tổng hợp và phân tích, so
sánh... để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu.
6. Những đóng góp về khoa học và thực tiễn của luận văn
- Góp phần chứng minh sự cần thiết khách quan và vai trò của phát triển dịch vụ du
lịch ở thành phố Đà Nẵng.
- Đề xuất những giải pháp để phát triển dịch vụ du lịch Đà Nẵng trong giai đoạn
2006-2020.
- Góp vào danh mục tài liệu tham khảo phục vụ công tác chỉ đạo thực tiễn và giảng
dạy, học tập ở các cơ sở đào tạo của địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3
chương, 7 tiết.
Chương 1
VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA DỊCH VỤ DU LỊCH
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
1.1. VAI TRÒ CỦA DỊCH VỤ DU LỊCH TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ -
XÃ HỘI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ du lịch
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, đặc biệt là từ 1950 - khi nền kinh tế thế
giới được khôi phục và phát triển, thu nhập bình quân đầu người trên thế giới tăng không
ngừng, đã làm cho nhu cầu giao lưu tham quan học tập, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí... cũng
không ngừng tăng lên. Nhất là trong thời đại ngày nay, khi nhịp sống đại công nghiệp đưa
con người vào những vòng xoáy hối hả của những toan tính bận rộn, thì nhu cầu được nghỉ
ngơi, giải trí, thư giãn kết hợp với giao lưu quốc tế của cộng đồng càng trở nên bức thiết.
Và nhờ đó, một số nước đã coi du lịch là một ngành kinh tế chủ lực tạo nguồn thu nhập
đáng kể cho ngân sách, như Thái Lan, Trung Quốc, Tây Ban Nha... Từ đó nhiều nước đề
ra những quốc sách hữu hiệu cho đầu tư và phát triển dịch vụ du lịch.
Khi điều kiện kinh tế chưa phát triển, người ta coi du lịch như một hiện tượng xã
hội mang tính nhân văn nhằm làm phong phú thêm nhận thức con người và dịch vụ du lịch
là thoả mãn nhu cầu cho tầng lớp trên của xã hội kiếm được tiền ở một nơi và đi tiêu tiền ở
một nơi khác. Điều kiện kinh tế phát triển hơn, người ta nhận thức được du lịch không còn
là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà còn là một hoạt động kinh tế, trong đó những hoạt
động dịch vụ phối hợp với nhau nhằm thoả mãn nhu cầu của con người.
Khi kinh doanh du lịch phát triển, trở thành một hệ thống mang tính tổng hợp trên
phạm vi vùng miền không chỉ của một quốc gia thì người ta coi du lịch là một ngành công
nghiệp với toàn bộ các hoạt động mà mục tiêu là kết hợp giá trị của các tài nguyên du lịch
thiên nhiên và nhân văn với các dịch vụ, hàng hoá để tạo ra sản phẩm du lịch, đáp ứng
nhu cầu của du khách.
Pháp lệnh Du lịch (2/1999) do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước CHXHCN Việt
Nam quy định: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí,
nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định [39].
Có thể hiểu, du lịch là một phạm trù kép; một mặt có ý nghĩa thông thường là sự di
chuyển của con người với mục đích nghỉ ngơi giải trí, nhưng mặt khác nó bao hàm hệ quả
kinh tế tự thân khi những dịch vụ hỗ trợ và cung ứng nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và
tinh thần cho du khách, trong sự di chuyển đó.
Với quan niệm trên, sản phẩm du lịch cũng mang những nét đặc trưng cơ bản không
như các sản phẩm vật chất thuần tuý khác. Theo Từ điển du lịch (Tiếng Đức, Nxb Kinh tế
Berlinh, 1984) định nghĩa: "Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện
vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một
khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng" [35]. Theo nghĩa
hẹp, thì sản phẩm du lịch là những gì du khách bỏ tiền ra mua lẻ hoặc trọn gói trong
chuyến đi của mình. Còn theo nghĩa rộng, đó là tổng hợp những sản phẩm vô hình và hữu
hình do con người và thiên nhiên tạo ra, có khả năng thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh
thần cho du khách về nghỉ ngơi, giải trí và những hoạt động có ích khác.
Theo Từ điển du lịch, lữ hành, lưu trú và ăn uống, (Tiếng Anh, Nxb Butterworth
Heinemann 1993) thì: Dịch vụ du lịch là kết quả của các hoạt động kinh tế được thể hiện
trong sản phẩm vô hình (phân biệt với hàng hoá vật chất) như lưu trú, vận chuyển, dịch vụ
tài chính, thông tin liên lạc, y tế và các dịch vụ cá nhân khác [36].
Theo điều 4, chương I Luật Du lịch Việt Nam “Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các
dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và
các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch” 28, tr.2. Tác giả luận văn tán
thành với khái niệm này về dịch vụ du lịch.
Dịch vụ du lịch có những đặc điểm chung của dịch vụ: là kết quả mang lại nhờ các
hoạt động tương tác giữa những tổ chức cung ứng và khách hàng và thông qua việc đáp
ứng nhu cầu khách hàng đó mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng dịch vụ đó. Ngoài ra,
dịch vụ du lịch còn có các đặc điểm mang tính đặc thù:
Thứ nhất: Tính phi vật thể - đây là đặc điểm quan trọng nhất của dịch vụ du lịch.
Người sử dụng dịch vụ không thể tiêu dùng trực tiếp dịch vụ đó trước khi mua nó, nói cách
khác quá trình sản xuất ra dịch vụ cũng gắn liền với quá trình tiêu thụ nó. Dịch vụ đồng
hành với sản phẩm vật chất nhưng nó lại tồn tại dưới dạng phi vật chất nên người sử dụng
chỉ có thể đánh giá được chất lượng của dịch vụ khi trực tiếp sử dụng nó. Đặc điểm quan
trọng này buộc các nhà cung cấp phải có trách nhiệm trong việc tạo dựng thương hiệu
thông qua cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác, chân thực và khách quan về những tiện
ích và ưu việt của dịch vụ đối với du khách để họ thực sự yên tâm và hài lòng về quyết
định mua sản phẩm dịch vụ. Về phía du khách: phải thận trọng và cần có sự nhìn nhận, lựa
chọn nhà cung cấp căn cứ trên uy tín thương hiệu, quảng cáo sản phẩm và tham khảo thêm
những người đã sử dụng dịch vụ trước khi quyết định mua dịch vụ cho mình.
Thứ hai: Tính đồng thời trong sản xuất và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ. Khác với
các hàng hoá thông thường có quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra ở từng thời gian
và địa điểm khác nhau, dịch vụ du lịch được sản xuất và tiêu dùng thường diễn ra cùng
lúc. Chính đặc điểm này quy định tính thời vụ trong loại hình kinh doanh du lịch và nó
làm cho công tác dự báo của ngành du lịch thực sự trở thành một khoa học giúp các nhà
hoạch định chiến lược nắm được cung - cầu trên thị trường mà có hướng đầu tư phù
hợp. Trên thực tế có nhiều bất cập xảy đến trong quá trình quản lý và kinh doanh du
lịch, nguyên nhân sâu xa chính vì chưa nắm thấu đáo tính chất đặc thù này.
Thứ ba: Khách hàng là một bộ phận của cả quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Tính đặc thù này được quy định bởi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dịch vụ diễn ra trong
một thời gian và không gian nhất định nên không tạo ra khoảng cách giữa người tiêu dùng
và người sản xuất dịch vụ. Nói cách khác, người tiêu dùng không chỉ hưởng thụ một cách
thụ động sản phẩm dịch vụ được cung ứng, mà họ còn trực tiếp tham gia vào quá trình sản
xuất thông qua việc phản hồi của họ với nhà cung cấp về chất lượng và mức độ hoàn thiện
của sản phẩm. Thậm chí bằng kinh nghiệm và trình độ cảm nhận của mình, du khách còn
là người trực tiếp sáng tạo ra các sản phẩm dịch vụ giúp cho nhà cung cấp tạo ra những sản
phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng.
Thứ tư: Quyền sở hữu không được chuyển giao khi mua và bán. Đây là một đặc thù
riêng có của loại hình sản phẩm dịch vụ khi đem trao đổi trên thị trường. Vì là sản phẩm
không thể di chuyển trong không gian, là sản phẩm phi vật thể và có tính đồng nhất trong
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nên khách hàng chỉ đang mua quyền sử dụng sản phẩm chứ
không hề mua được quyền sở hữu sản phẩm dịch vụ đó. Khi quyền sử dụng của du khách
không còn thì cũng là lúc nhà cung cấp toàn quyền sở hữu đối với sản phẩm dịch vụ đó.
Sản phẩm du lịch gồm: Dịch vụ du lịch và giá trị tài nguyên thiên nhiên
Dịch vụ du lịch gồm:
- Dịch vụ vận chuyển, nhằm đưa du khách từ nơi cư trú đến các điểm du lịch, từ các
điểm du lịch này đến điểm du lịch khác hoặc trong phạm vi một điểm du lịch nào đó, bằng
phương tiện nhất định.
- Dịch vụ lưu trú, ăn uống bao gồm các dịch vụ phục vụ du khách nghỉ ngơi, thư
giãn và lấy lại sức khoẻ trong hành trình du lịch của mình thông qua hệ thống các khách
sạn, nhà nghỉ, nhà hàng... nơi khách dừng chân.
- Dịch vụ vui chơi giải trí: là loại hình giúp du khách đạt được sự thoả mãn cao
trong mỗi chuyến đi. Bởi vậy, nên thời gian của du khách phần lớn được các nhà tổ chức
chuyên nghiệp hướng đến là đưa khách tham quan các khu du lịch, các khu di tích, xem
văn nghệ... thậm chí đến các sòng bạc, các bar café, sàn nhảy...
Kinh tế càng phát triển thì nhu cầu được thoả mãn về tinh thần càng lấn át nhu cầu
mang tính vật chất thuần tuý, do đó, nhu cầu đi du lịch ngày càng có xu hướng tăng cao
trong cộng đồng dân cư. Nắm được điều này, các nhà kinh doanh du lịch càng nghiên cứu
đầu tư vào dịch vụ giải trí sẽ càng thu được lợi nhuận cao. Thái Lan, Trung Quốc, Tây Ban
Nha... là những quốc gia có kinh nghiệm và nhạy bén trong việc tập trung đầu tư cho dịch
vụ này nên chỉ trong vòng vài thập niên đã nhanh chóng thu hút được tỉ lệ lớn khách du
lịch đến từ các nước và nhờ đó đã đóng góp được một phần đáng kể ngoại tệ cho phát triển
kinh tế đất nước.
Ví dụ: Thái Lan năm 2004 đón 11,6 triệu khách du lịch quốc tế, thu ngoại tệ đạt 9,6
tỷ USD. Khách du lịch nội địa đạt 74,8 triệu lượt khách, tạo thu nội tệ xấp xỉ 8 tỷ USD. Du
lịch đóng góp cho GDP năm 2005 gần 15%. Ngoài ra, hoạt động du lịch đã tạo ra trên 1,3
triệu việc làm gián tiếp và trực tiếp cho xã hội [32].
Hoặc Trung Quốc: hiện nay là quốc gia có thu nhập từ du lịch quốc tế lớn nhất thế
giới. Năm 2004, Trung Quốc đón 41,8 triệu lượt khách du lịch quốc tế (nếu tính cả khách
tham quan du lịch trong ngày là 109 triệu lượt), thu nhập ngoại tệ từ du lịch đạt 25,7 tỷ
USD. Khách du lịch nội địa đạt 1,1 tỷ lượt khách, tạo thu nội địa tương đương 65,7 tỷ
USD. Du lịch tạo ra 38,93 triệu việc làm gián tiếp và trực tiếp cho xã hội [32].
Cả hai cường quốc trên đều có ưu việt nổi trội trong hoạt động du lịch và có nhiều
kinh nghiệm phát triển kinh doanh du lịch. Hai nước này đều luôn coi du lịch là quốc sách
và có nhiều biện pháp nhằm tạo ra chiến lược sản phẩm du lịch tốt, trong đó coi trọng việc
đầu tư đồng bộ các loại hình dịch vụ giải trí cho du khách.
- Dịch vụ mua sắm: thực tế đây cũng là hình thức giải trí không thể thiếu trong một
chuyến đi du lịch của du khách, được thực hiện thông qua các siêu thị, cửa hàng, làng nghề
truyền thống, hàng mỹ nghệ, tạp hoá, vải lụa...
- Dịch vụ trung gian và bổ sung khác: y tế, công nghệ thông tin, Internet, sửa chữa...
tuy phụ trợ nhưng loại hình dịch vụ này cũng góp phần làm thoả mãn chuyến đi của du
khách và tham gia vào việc tạo nên một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh nơi khách dừng chân.
Ngoài ra, sản phẩm du lịch còn bao gồm cả giá trị tài nguyên thiên nhiên - một bộ
phận cấu thành quan trọng, nó đòi hỏi các nhà chuyên môn trong quản lý và điều hành phải
biết phối hợp và điều tiết quá trình cung ứng sản phẩm du lịch một cách khoa học thực sự,
mới đem lại hiệu quả kinh tế cao đồng thời thoả mãn được nhu cầu của du khách.
Trong nền kinh tế hiện đại, tỉ trọng các ngành dịch vụ có xu hướng ngày càng tăng, ở
các nước tiên tiến có khi lên đến 75%, ở Việt Nam chiếm khoảng 40%. Nghị quyết Đại hội đại
biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X đã chỉ rõ “Cơ cấu ngành trong GDP năm
2010: Khu vực nông nghiệp khoảng 15-16%, công nghiệp -xây dựng 43-44%, dịch vụ 40-
41%” 15, tr.188.
1.1.2. Những nhân tố tác động đến sự phát triển dịch vụ du lịch ở thành phố
Đà Nẵng
Phát triển dịch vụ du lịch ở thành phố Đà Nẵng là một tất yếu khách quan, bởi Đà
Nẵng hội tụ đủ những điều kiện, khả năng, thế mạnh là những nhân tố tác động đến sự
phát triển mạnh mẽ lĩnh vực này, như:
1.1.2.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch
Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên: 1256,5km2. Dân số 781.023 người (2005)
với các quận: Hải Châu,Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu, Cẩm Lệ và các
huyện Hoà Vang, huyện đảo Hoàng Sa. Đà Nẵng nằm ở trung lộ của cả nước, phía Bắc giáp
tỉnh Thừa Thiên-Huế, phía Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây
tiếp giáp với các huyện Đại Lộc, Điện Bàn thuộc tỉnh Quảng Nam. Là thành phố có địa hình
khá đa dạng, phía Bắc là đèo Hải Vân hùng vĩ, vùng núi cao phía Tây Bắc Đà Nẵng thuộc
huyện Hoà Vang có núi Mang với độ cao 1708m và ngọn Bà Nà có độ cao 1487m so mặt
biển. Phía Đông là bán đảo Sơn Trà hoang sơ và chuỗi các bãi tắm trải dài từ bản đảo Sơn Trà
đến biển Non Nước. Phía Nam có danh thắng Ngũ Hành Sơn. Ngoài khơi là quần đảo Hoàng
Sa có tiềm năng lớn về thuỷ sản.
Thành phố Đà Nẵng được hình thành từ năm 1306 nhưng trải qua những thăng trầm
của lịch sử mãi tới năm 1836 Đà Nẵng mới thực sự thay thế Hội An trở thành một trung
tâm thương mại, chính trị, văn hoá và là nơi giao tiếp với phương Tây của xứ Đàng Trong.
Khi đó nơi đây là hải cảng quan trọng, là một trung tâm kinh tế của nước Việt xưa bởi vị
trí địa lý đã gắn Đà Nẵng không chỉ trong khu vực miền Trung - Tây Nguyên mà còn là
nơi giao thương của Cao Miên và Lào với Việt Nam. Đà Nẵng có Cảng Tiên Sa hay còn
gọi là Cảng Sâu và 09 cầu cảng quốc tế dọc theo sông Hàn. Sân bay quốc tế Đà Nẵng được
hiện đại hoá, trong nhiều năm qua thực sự đã tạo cho Đà Nẵng thành một điểm đến quan
trọng với các chuyến bay xuyên Việt và những đường bay trực tiếp quốc tế như Đà Nẵng -
Băng Cốc, Đà Nẵng - Hồng Kông, Đà Nẵng - Xiêm Riệp, Đà Nẵng - Singapore... Thành
phố Đà Nẵng nằm trên trục giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nối khu vực Đà
Nẵng với cả nước hết sức thuận tiện.
1.1.2.2. Tiềm năng, thế mạnh của Đà Nẵng
Đến với Đà Nẵng, du khách sẽ có dịp tham quan các danh lam thắng cảnh nổi tiếng như
Bà Nà, Ngũ Hành Sơn, đèo Hải Vân, bán đảo Sơn Trà... và thoả thích bơi lội trên các bãi biển
trải dài hàng chục km, được coi là một trong 6 bãi biển sạch đẹp nhất của hành tinh. Đà Nẵng
còn là trung điểm của “Hành trình Di sản Văn hoá thế giới”, chỉ trong bán kính chưa đầy 200
km, bạn đã có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của 05 Di sản Văn hoá thế giới: Thánh địa Mỹ Sơn,
Phố Cổ Hội An, Cố đô Huế, nhã nhạc cung đình Huế và Di tích Động Phong Nha.
Có thể nói, tiềm năng du lịch của Đà Nẵng là hết sức phong phú và to lớn.
Trong những năm qua, nhất là từ khi Đà Nẵng trở thành Đô thị loại 1 trực thuộc
Trung ương, nơi đây được coi là điểm phát triển năng động với tốc độ cao trong khu vực,
có cơ sở hạ tầng hoàn hảo, cơ chế đầu tư thông thoáng và hệ thống dịch vụ phụ trợ của du
lịch ngày càng được cải thiện, phù hợp với một đô thị phát triển theo hướng hiện đại.
1.1.2.3. Các điều kiện kinh tế - xã hội khác: cũng là một ưu việt của Đà Nẵng khi
định hướng phát triển dịch vụ du lịch:
Về dân số: Thành phố Đà Nẵng có gần 790.000 người và hơn 130.000 sinh viên học
sinh đang theo học tại các trường Đại học, Cao Đẳng và dạy nghề trên địa bàn, ngoài ra
phải kể đến trên 40.000 sinh viên, học sinh tốt nghiệp Đại học, Cao đẳng và dạy nghề ra
trường hàng năm, đó là nguồn lao động dồi dào cho các điểm dịch vụ được mở ra nếu có
chính sách thu hút tốt.
Bảng 1.1: Dân số, lao động, xã hội
Đơn vị tính: người
Năm 2000 2002 2003 2004 2005
Dsố (31/12/05) 722.826 747.607 757.270 771.828 790.191
Nguồn LĐ 413.900 432.600 438.962 451.663 487.096
LLg lao động 330.827 348.997 355.820 370.978 386.457
Trong đó:
Công nhân KT 36.000 60.000 66.667 79.760 97.000
Trung học 15.000 20.000 23.333 26.154 29.027
Cao đẳng, ĐH 29.700 40.000 42.667 41.179 56.048
Khác 250.127 228.997 223.153 223.885 204.412
Nguồn: Niên giám thống kê Đà Nẵng 2005.
Theo cơ cấu dân số thống kê trên, số dân trong độ tuổi lao động rất cao, chiếm tỉ lệ
bình quân trên 60%, trong đó lao động có đào tạo ở các cấp (trừ học sinh, sinh viên đang
trên lớp học) thì lực lượng lao động có thể huy động được chiếm gần 80% và đây là tiềm
năng cho các ngành dịch vụ mới mở ra khi có nhu cầu cao về lao động.
Điều đáng quan tâm nữa đó là vấn đề môi trường du lịch. Trong nhiều năm qua,
nhất là từ khi thành phố được tách ra thành đơn vị hành chính từ tỉnh Quảng Nam - Đà
Nẵng và trở thành đô thị loại I trực thuộc Trung ương, Đà Nẵng đã có nhiều động thái tích
cực nhằm cải thiện môi trường, cảnh quan và tập trung hết tâm sức cho việc xây dựng kết
cấu hạ tầng đô thị, xây dựng nếp sống văn hoá trong mỗi tổ dân phố đến cộng đồng dân cư,
xây dựng “Thành phố 5 không” và “3 có” với những tiêu chí đầy tính nhân văn... Đó cũng
là yếu tố tạo ra động lực, thúc đẩy và tao điều kiện cho các ngành dịch vụ phát triển, trong
đó có dịch vụ du lịch.
1.1.2.4. Về tài nguyên du lịch nhân văn
Đà Nẵng không chỉ là vùng đất được tiếp quản nền văn hoá Đại Việt từ phương
Bắc xuống và giao thoa với văn hoá Chămpa phương Nam độc đáo từ cuối thế kỷ XV đầu
thế kỷ XVI... mà Đà Nẵng còn là “nơi tiếp nhận và nhào nặn các luồng văn hoá để làm
giàu thêm vốn văn hoá dân tộc” [25, tr.7]. Đây là một kho tàng đồ sộ chưa được khai thác
nhiều cho hoạt động du lịch.
1.1.3. Vai trò của dịch vụ du lịch thể hiện trong việc hình thành cơ cấu kinh tế
"Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp” của thành phố Đà Nẵng
1.1.3.1. Dịch vụ du lịch phát triển kéo theo sự phát triển của nhiều ngành kinh tế
trên địa bàn góp phần hình thành cơ cấu kinh tế: “Dịch vụ - Công nghiệp - Nông
nghiệp”
Ngành du lịch có tác động rất tích cực đến kinh tế thành phố và của từng vùng
thông qua việc tiêu dùng của khách du lịch.
Thông qua tiêu dùng, du lịch tác động mạnh đến lĩnh vực lưu thông phân phối sản
phẩm hàng hóa được sản xuất và lưu thông trong vùng, nhờ đó có tác động sâu sắc đến
những lĩnh vực khác khác của quá trình tái sản xuất xã hội. Đồng thời, khách du lịch là người
nước ngoài hay trong nước đến, với số lượng tiền tệ tiêu dùng đem theo tất yếu sẽ làm cho cán
cân thanh toán tại địa phương có sự đổi thay. Và nhờ đó góp phần làm sống động kinh tế vùng
du lịch.
Mặt khác, thông qua lĩnh vực lưu thông mà du lịch có ảnh hướng tích cực đến sự phát
triển của những ngành kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Khách du lịch luôn
đòi hỏi hàng hóa được phục vụ với chất lượng cao, chủng loại phong phú và hình thức, mẫu
mã đẹp. Như vậy, chính du khách đã giúp phần định hướng cho sản phẩm được sản xuất ra
không chỉ bảo đảm về chất lượng, chủng loại mà còn cả hình thức, bao bì, nhãn mác... Từ đó
khuyến khích chuyên môn hóa ngày càng sâu sắc và rộng rãi trong các ngành kinh tế của thành
phố.
Ảnh hưởng của du khách đối với các ngành: viễn thông, ngân hàng, thương mại,
xây dựng, văn hóa... cũng hết sức to lớn, nhất là trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc
tế... Bởi chúng ta biết rằng trong số hàng triệu du khách đã đến với Đà Nẵng trong nhiều
năm qua, ngoài đối tượng du lịch thuần túy còn có rất đông khách công vụ và thương gia
đến tìm kiếm cơ hội làm ăn. Đối tượng này có nhu cầu đặc biệt cao về công nghệ thông
tin, các điều kiện và phương tiện thanh toán hiện đại cũng như kết cấu hạ tầng thuận lợi.
Việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên vào phục vụ du khách đòi hỏi phải có sự đầu tư
đồng bộ và từ đó cũng kích thích phát triển tương ứng các ngành kinh tế có liên quan khác
của thành phố.
Bảng 1.2: Chỉ số phát triển tổng sản phẩm quốc nội trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng(từ 2000-2005)
(Năm trước 100, theo giá so sánh năm 1994)
Đơn vị tính: %
Năm 2000 2002 2003 2004 2005
Tổng số 109,88 112,56 112,62 113,20 113,91
Trong đó:
1. NLTS 102,69 104,33 105,52 104,76 104,86
2. CN, XD 110,82 118,44 121,74 120,32 117,58
3. Dịch vụ 110,37 108,98 105,50 107,09 110,94
Dịch vụ du lịch 104,33 110,36 95,91 107,09 112,88
Nguồn: Niên giám thống kê Đà Nẵng 2005.
1.1.3.2. Dịch vụ du lịch góp phần làm tăng thu nhập quốc dân, cải thiện đời sống
nhân dân vùng du lịch
Cũng như các ngành kinh tế khác, dịch vụ du lịch phát triển sẽ tạo điều kiện cho một số
ngành kinh tế phát triển theo; như việc hình thành các làng nghề tại các khu, điểm mà du
khách thường xuyên tới: Làng đá Non Nước, làng nghề tơ tằm Duy Xuyên, gốm sứ Thăng
Bình... Ngoài ra còn các khu ẩm thực, các trung tâm thương mại, phố Đêm... cũng được phát
triển. Có thể nói du lịch là ngành “xuất khẩu tại chỗ” nhờ chính nguồn thu nhập ngoại tệ trực
tiếp do nó mang lại cho thành phố và sản phẩm xuất khẩu đó mang tính đặc thù không thể
xuất theo cái cách thông thường mà trực tiếp được chuyển tới người tiêu dùng dưới dạng vật
thể (thông qua mua sắm, ăn uống, vui chơi...) hoặc phi vật thể (thưởng thức một chương trình
múa rối nước, ca nhạc dân tộc...). Tính đặc thù đó chính là yếu tố giúp cho việc “xuất khẩu"
của du lịch giảm thiểu các khoản chi phí tốn kém do vận chuyển, kho bãi... như các thương vụ
xuất khẩu thông thường khác. Ở một góc độ mang tính độc quyền, có thể nói trong nền kinh tế
thị trường hiện đại, du lịch là ngành “xuất khẩu” có cái đặc quyền mà nhiều ngành kinh tế
khác không có được; đó là việc tổ chức bán cái mà mình có và thu lợi nhuận cao từ người tiêu
dùng là du khách. Trong khi các ngành chỉ bán được cái mà thị trường cần. Và nhờ đó ngành
dịch vụ du lịch góp phần tăng sản phẩm xã hội, nâng cao thu nhập cho cư dân trong vùng.
Bảng 1.3: Tổng mức bán hàng hoá và dịch vụ tại Đà Nẵng
Đơn vị tính: Tỷ VND
Năm 2000 2002 2003 2004 2005
Tổng mức 18.531 20.419 22.912 26.461 32.235
Trong đó:
Tổng mức bán lẻ 4.678 5.416 6.530 7.032 9.555
Dịch vụ du lịch 1.349 1.720 1.214 910 1.384
Nguồn: Niên giám thống kê Đà Nẵng 2005.
Từ biểu trên cho thấy nguồn thu từ các dịch vụ du lịch mang lại đóng góp một phần
không nhỏ vào tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tại Đà Nẵng và điều đó cũng làm cho
hoạt động kinh doanh du lịch thêm sôi động.
Việc phát triển du lịch còn tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho nhân dân, giúp
chuyển đổi nghề nghiệp từng bước cho lực lượng lao động nông nghiệp chuyển sang lao
động có tay nghề, được đào tạo gắn với tính chuyên nghiệp cao, trong lĩnh vực hoạt động
mới - ngành công nghiệp không khói.
1.1.3.3. Dịch vụ du lịch phát triển đóng góp phần quan trọng trong việc nâng cao
đời sống văn hoá, xã hội, cải thiện bộ mặt đô thị Đà Nẵng
Đây là kết quả có ý nghĩa hết sức quan trọng mà hoạt động dịch vụ du lịch mang lại.
Thông qua du lịch, con người mở mang kiến thức, được giao lưu với các nền văn minh từ
nhiều quốc gia, tăng thêm sự hiểu biết và mở ra những mối quan hệ đoàn kết mang tính
quốc tế.
Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu đất nước, giữ gìn và nâng cao truyền
thống dân tộc. Thông qua các chuyến đi tham quan, nghỉ mát, vãn cảnh giúp con người có
điều kiện chiêm ngưỡng vẻ đẹp cảnh quan, tìm hiểu lịch sử văn hoá dân tộc để từ đó thêm
yêu hơn đất nước mình. Hoạt động du lịch con người sẽ có thêm động lực mới trong học tập,
rèn luyện và xác định mục tiêu cho cuộc sống. Cũng nhờ sự giao lưu mà mỗi người tự nhận
thức được giá trị vật thể và phi vật thể trong nền văn hoá dân tộc mình để từ đó có suy nghĩ
đóng góp vào việc khai thác một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên đất nước,
đồng thời cũng gìn giữ, tôn tạo bản sắc văn hoá dân tộc mình.
Du lịch còn được coi là sứ giả của hoà bình và tình hữu nghị bởi nhờ các chuyến
giao lưu quốc tế, các quốc gia dân tộc sẽ xích lại gần nhau hơn nhờ sự hiểu biết và học hỏi
được ở nhau, từ đó tăng cường thêm mối quan hệ và tình đoàn kết quốc tế của các quốc
gia, các dân tộc trên thế giới. Và cũng từ đó góp phần cùng nhau tôn tạo bản sắc văn hoá
của từng dân tộc và những di sản văn hoá chung của toàn nhân loại.
Với ý nghĩa đó, du lịch Đà Nẵng được coi là có lợi thế đặc biệt bởi nằm ở trung
điểm của các Di sản văn hoá thế giới tại miền Trung, điều này đã và sẽ tiếp tục mang lại
cho Đà Nẵng sự khởi sắc trong hoạt động khai thác du lịch với hiệu quả ngày càng tăng
trong thòi gian tới.
1.1.4. Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta và Thành phố
Đà Nẵng về phát triển du lịch dịch vụ
Nghị Quyết số 33-NQ/TW Bộ Chính trị (khoá IX) về xây dựng và phát triển thành
phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã chỉ ra nhiệm vụ của Đà Nẵng
từ nay đến năm 2010: Xây dựng Thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn
của cả nước, là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miền Trung với vai trò là trung tâm công
nghiệp, thương mại du lịch và dịch vụ, là thành phố cảng biển, đầu mối giao thông quan
trọng về trung chuyển vận tải trong nước và quốc tế... Và trong đó phải tập trung nhiệm
vụ: Đầu tư phát triển mạnh du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố, xây
dựng Đà Nẵng thành trung tâm du lịch lớn của đất nước, là đầu mối trung chuyển, quá
cảnh và giao lưu hàng hoá - dịch vụ của miền Trung - Tây Nguyên [3].
Để triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng
đã đề ra chương trình hành động, trong đó nêu rõ những định hướng và mục tiêu cụ thể
cho ngành du lịch thành phố: Phát triển mạnh du lịch và các dịch vụ mà thành phố có thế
mạnh, làm tiền đề chuyển nền kinh tế thành phố từ cơ cấu “Công nghiệp - Dịch vụ - Nông
nghiệp” sang cơ cấu "Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp” sau năm 2010. Phấn đấu đến
năm 2010 đón 2 triệu lượt du khách, trong đó có 800.000 lượt khách quốc tế và 1,2 triệu
khách nội địa, tốc độ tăng bình quân 15-17%/năm. Cơ sở vật chất đồng bộ với hơn 10.000
phòng. Tổng doanh thu 1.500 tỷ đồng, tốc độ tăng doanh thu bình quân 13-14%/năm [7].
Những chủ trương nhất quán và đồng bộ trên thể hiện sự quan tâm chỉ đạo sâu sắc
của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đối với sự phát triển du lịch trên địa bàn. Điều
đó đã tạo nên một sự chuyển biến trong nhận thức xã hội về vai trò, vị thế của ngành du
lịch với các ngành kinh tế khác. Đồng thời, cũng tạo nên động lực cho sự phát triển của du
lịch trong những thập niên của thế kỷ XXI ở thành phố Đà Nẵng.
Pháp lệnh Du lịch 1999 và Luật Du lịch được thông qua tại Kỳ họp thứ 7 Quốc hội
nước CHXHCNVN khoá 11 (ngày 14-06-2004) đã khẳng định tính pháp lý của sự nghiệp
phát triển du lịch: “Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn
hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, góp phần nâng cao dân trí, tạo
việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước...” [39].
1.2. ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ DU LỊCH Ở THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG
1.2.1. Đặc điểm của dịch vụ du lịch ở thành phố Đà Nẵng
Ngành du lịch cũng mang những đặc điểm chung như mọi ngành kinh tế khác, tuy
nhiên do là ngành kinh tế đặc thù nên du lịch có những nét đặc điểm riêng, cụ thể:
1.2.1.1. Tính nhạy cảm
Do sản phẩm của ngành mang tính tổng hợp cao nên so với các ngành khác du lịch
thể hiện tính chất này rõ hơn. Một chương trình du lịch được nhà cung cấp chào bán khi
thực hiện phải đảm bảo sự chính xác về thời gian, không gian và cả tính khoa học, giáo
dục... để du khách có thể hài lòng về nơi ăn nghỉ, các chương trình vui chơi giải trí, mua
sắm và cảm nhận được nhiều điều thú vị trong chuyến đi đó. Một sáng kiến nhỏ bất ngờ
của hướng dẫn viên có thể làm tăng hiệu quả chuyến đi nhờ ấn tượng tốt, và ngược lại chỉ
một thay đổi nhiều khi không phải do nhà cung cấp chính mà lỗi từ các chương trình phụ
khác (như việc hoãn huỷ chuyến bay của Hàng không...) khiến cho cảm nhận về chuyến du
lịch chịu ảnh hưởng trực tiếp.
Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội khác cũng là nguyên nhân trực tiếp hoặc
gián tiếp tác động đến hiệu quả hoạt động của du lịch, như đại dịch SARS, dịch cúm gia
cầm, chiến tranh hoặc tình hình an ninh chính trị mất ổn định...
Trong những năm qua Đà Nẵng được coi là điểm đến lý tưởng cho du khách nhờ sự
nỗ lực của chính quyền các cấp trong việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn an
ninh trật tự xã hội, chủ động phòng chống các dịch bệnh trong gia súc gia cầm... Đặc biệt
là chủ động xây dựng chương trình “5 không” trong toàn thành phố (không có người mù
chữ, không có người lang thang xin ăn, không có người nghiện ma tuý trong cộng đồng,
không có tội phạm giết người để cướp của, không có người thất nghiệp) hướng tới môi trường
đô thị trong sạch và thuần khiết nhằm thu hút du khách đến với Đà Nẵng.
1.2.1.2. Tính thời vụ
Do chịu ảnh hưởng của các yếu tố địa lý tự nhiên khắc nghiệt và thất thường, nên
hoạt động kinh doanh du lịch ở Đà Nẵng mang tính thời vụ rõ rệt. Về mùa hè (từ tháng 3
đến tháng 9 hàng năm) hầu hết các nhà nghỉ và khách sạn đều không còn phòng, các dịch
vụ trên bãi biển sôi động và náo nhiệt, và ngược lại trong mùa mưa hoạt động của ngành
chỉ tập trung cho khách công vụ, hội nghị...
Tính chất này được xác định đúng sẽ giúp các nhà quản lý tạo định hướng đầu tư,
thời điểm kinh doanh và loại hình cần đầu tư cho du lịch, đồng thời cũng lập kế hoạch hoạt
động và tổ chúc đào tạo hoặc bố trí nghỉ ngơi cho lao động phục vụ trong ngành, nhằm thu
lợi nhuận tối đa. Còn với du khách, sẽ giúp cho việc lựa chọn chương trình du lịch phù hợp
với điều kiện thời gian, sức khoẻ, kể cả tài chính... một cách tối ưu.
Trên thực tế, khắc phục tính thời vụ trong hoạt động du lịch là một vấn đề rất khó
và có xu hướng ngày càng phức tạp do sự phụ thuộc các điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu
nơi du khách chọn đến. Điều này đòi hỏi nhà quản lý phải có kiến thức tổng hợp để cố gắng
giảm thiểu những khó khăn do tính chất này gây ra, nhằm tận dụng công suất trang thiết bị và
nhân lực cùng những chi phí thường xuyên phải trả và đạt được hiệu quả hoạt động kinh
doanh.
1.2.1.3. Tính tổng hợp
Xuất phát từ nhu cầu mang tính tổng hợp cao của du khách mà hoạt động của dịch
vụ du lịch mang tính chất này. Có thể nói không có ngành nào thể hiện đặc điểm tổng hợp
rõ nét như du lịch bởi mỗi một nhu cầu của du khách đều trở thành một công đoạn trong
chuỗi các dịch vụ mà ngành phải cung ứng; như ăn uống, mua sắm, đi lại tham quan, lưu
trú... và người làm du lịch phải cung cấp một cách đầy đủ trung thực và chính xác các
thông tin về nhà hàng, các trung tâm thương mại, siêu thị, phương tiện giao thông, bản đồ
các điểm tham quan, khí hậu thời tiết, lộ trình đường đi, hệ thống khách sạn phù hợp với
du khách...
1.2.1.4. Tính đa ngành
Ngoài những yêu cầu tối thiểu trên cho một chuyến đi, du khách còn đòi hỏi phải có
những dịch vụ không thể thiếu khác như: hệ thống thanh toán từ dịch vụ của ngành tài
chính ngân hàng, hải quan cửa khẩu, sân bay, bưu điện...Tất thảy đều phải được hoạt động
một cách đồng bộ và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, hướng tới việc thoả mãn nhu cầu
cho du khách.
Đồng thời du khách sẽ mất đi cảm giác an tâm khi thiếu sự trợ giúp của các ngành
kinh tế - xã hội khác như bảo hiểm, y tế, giao thông, công an, môi trường... tại nơi sẽ đến
tham quan, du lịch. Trong những năm qua, đặc biệt trong vài năm trở lại đây, các ngành
dịch vụ hỗ trợ này của Đà Nẵng đã có những tiến bộ vượt bậc so với trước. Điều đó tạo sự
đổi mới cho bộ mặt đô thị của thành phố nhưng đồng thời cũng giúp thỏa mãn nhu cầu
được phục vụ một cách chu đáo nhất của du khách.
Cũng chính những nhu cầu cần được đáp ứng đó của du khách lại có hiệu quả như
một động lực thúc đẩy sự phát triển đối với các ngành kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế... ở
địa phương phát triển.
Đặc điểm tổng hợp và đa ngành trên đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng không chỉ giữa
các khách sạn, nhà hàng, các xí nghiệp vận chuyển đưa đón khách... trong nội bộ ngành du
lịch mà còn đòi hỏi sự liên kết cao trong khối các ngành có liên quan. Và trên hết là sự
điều phối của chính quyền thành phố Đà Nẵng. Mọi tính toán lợi ích cục bộ hoặc sự phối
hợp không đồng bộ trong mỗi khâu dịch vụ đều liên quan mật thiết đến tính hiệu quả của
không chỉ riêng ngành du lịch mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả chung về nhiều mặt cho
kinh tế - xã hội của địa phương.
1.2.1.5. Tính liên vùng
Đặc điểm này biểu hiện ở việc thông tuyến du lịch với một quần thể các điểm du
lịch trong khu vực, mà Đà Nẵng có ưu thế nổi trội so với các vùng miền khác. Là trung lộ
của cả nước đồng thời là trung điểm của hành trình Di sản văn hoá với 05 Di sản trong số
06 di sản của cả nước đã được UNESCO công nhận, du khách chọn điểm đến của mình là
Đà Nẵng và từ đó chỉ cần với một quỹ thời gian khiêm tốn là có thể đặt chân tới một cụm
các danh thắng nổi tiếng nhất đặc trưng cho văn hoá Việt Nam. Tuy nhiên, mỗi điểm lại có
những nét văn hoá độc đáo riêng, nên hiểu dược đặc điểm liên vùng sẽ giúp cho các nhà
làm du lịch gắn kết lợi thế của mình với các tuyến điểm toàn khu vực, tạo ra một chuỗi khép
kín các dịch vụ liên hoàn sẽ mang lại hiệu quả cao cho chính mỗi hoạt động du lịch cục bộ. Và