Đề thi học sinh giỏi quốc gia môn văn tỉnh thanh hóa

  • 141 trang
  • file .doc
Đề thi học sinh giỏi quốc gia môn Văn
Câu 1 (8,0 điểm)
Sự bình yên
Một vị vua treo giải thưởng cho nghệ sĩ nào vẽ được một bức tranh đẹp nhất về sự bình yên. Nhiều
họa sĩ đã cố công thể hiện tài năng của mình. Nhà vua ngắm tất cả các bức tranh nhưng chỉ thích có
hai bức và ông phải chọn lấy một. Một bức tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ vì
có những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng mịn
màng. Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều cho rằng đây là một bức tranh bình yên thật hoàn
hảo. Bức tranh kia cũng có những ngọn núi, nhưng những ngọn núi này trần trụi và lởm chởm đá. Ở
bên trên là bầu trời giận dữ đổ mưa như trút kèm theo sấm chớp. Đổ xuống bên vách núi là dòng
thác nổi bọt trắng xóa. Bức tranh này trông thật chẳng bình yên chút nào. Nhưng khi nhà vua ngắm
nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá. Trong bụi
cây một con chim mẹ đang xây tổ. Ở đó giữa dòng thác trút xuống một cách giận dữ, con chim mẹ
đang bình thản đậu trên tổ của mình… Bình yên thật sự. “Ta chấm bức tranh này!” – Nhà vua công
bố.
(Dẫn theo nguồn từ Internet)
Từ ý nghĩa câu chuyện đến quan niệm của anh/chị về sự bình yên trong cuộc sống.
Câu 2 (12,0 điểm)
Nhà thơ Lê Đạt cho rằng:
Chữ bầu lên nhà thơ.
Bằng cảm nhận về hai bài thơ: Tự tình II (Hồ Xuân Hương) và Tây Tiến (Quang Dũng), anh/chị hãy
bình luận ý kiến trên.
……………………………………………HẾT…………………………………………..
HƯỚNG DẪN CHẤM
Câu Ý Nội dung Điểm
Từ ý nghĩa câu chuyện Sự bình yên đến quan niệm của anh/chị về
1 sự bình yên trong cuộc sống. 8,0
Yêu cầu chung
– Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận xã hội của thí sinh; đòi
hỏi thí sinh phải huy động những hiểu biết về đời sống xã hội, kĩ năng
tạo lập văn bản và khả năng bày tỏ thái độ, chủ kiến của mình để làm
bài.
– Thí sinh có thể làm bài theo nhiều cách khác nhau nhưng phải có lí
lẽ và căn cứ xác đáng, được tự do bày tỏ quan niệm riêng của mình,
nhưng phải có thái độ chân thành nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực
đạo đức xã hội.
Yêu cầu cụ thể
a. Giải thích ý nghĩa câu chuyện 1,5
– Chỉ ra ý nghĩa của hai bức tranh vẽ về sự bình yên:
+ Bức tranh thứ nhất: vẽ hồ nước yên ả -> Bình yên là sự êm ả, tĩnh
lặng do không gian ngoại cảnh đem lại.
+ Bức tranh thứ hai: vẽ bên trong khung cảnh dữ dội là hình ảnh một
con chim mẹ đang xây tổ, bình thản đậu trên tổ của mình -> Bình yên
là sự yên an, bình thản, tĩnh lặng trong tâm hồn trước giông bão của
cuộc sống.
– Ý nghĩa của câu chuyện: từ sự lựa chọn bức tranh thứ hai của nhà
vua, câu chuyện chia sẻ một quan niệm về sự bình yên. Sự bình yên
trong tâm hồn mới là sự bình yên đích thực.
b. Bày tỏ quan niệm của bản thân về sự bình yên trong cuộc sống 5,0
Từ nhận thức và những trải nghiệm riêng, thí sinh có thể bày tỏ quan
niệm của mình về sự bình yên trong cuộc sống: quan niệm ấy có thể
giống, không giống hoặc chỉ giống một phần với quan niệm được rút
ra từ ý nghĩa của câu chuyện. Dù quan niệm như thế nào cũng phải có
lí lẽ, căn cứ xác đáng và có thái độ bàn luận nghiêm túc, thiện chí.
c. Bài học sống 1,5
Từ quan niệm về sự bình yên trong cuộc sống, thí sinh cần nêu lên
được định hướng nhận thức và hành động để bản thân có thể đạt được
sự bình yên đích thực.
Cảm nhận về hai bài thơ: Tự tình II (Hồ Xuân Hương) và Tây
Tiến(Quang Dũng) để bình luận ý kiến của Lê Đạt: Chữ bầu lên
2 nhà thơ. 12,0
Yêu cầu chung
– Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học của thí sinh;
đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về lí luận văn học, tác phẩm
văn học, kĩ năng tạo lập văn bản, khả năng cảm nhận văn chương của
mình để làm bài.
– Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải theo những cách khác nhau,
nhưng phải có lí lẽ, căn cứ xác đáng.
Yêu cầu cụ thể
a. Giải thích ý kiến 3,0
* Cắt nghĩa ý kiến:
– Chữ: không chỉ hiểu đơn giản là vỏ âm thanh mà quan trọng đó
chính là ngôn ngữ được sử dụng, tổ chức một cách nghệ thuật.
– Chữ bầu lên nhà thơ: là khẳng định vai trò của ngôn ngữ đối với
nhà thơ. Ngôn ngữ góp phần: chuyên chở điệu hồn thi nhân; khẳng
định tài năng, phong cách của người nghệ sĩ; tôn vinh vị thế nhà thơ. 1,5
* Lí giải ý kiến: 1,5
– Ngôn ngữ là chất liệu, yếu tố đầu tiên của văn học. Ngôn ngữ thơ
là tinh hoa tối cao của ngôn ngữ, là kiến trúc ngôn từ đặc biệt.
– Bản chất của thơ là trữ tình. Tiếng lòng của nhà thơ chỉ có thể được
vang lên, được hữu hình hóa thành câu chữ, âm thanh, nhịp điệu.
– Lao động thơ thực chất là lao động chữ nghĩa, đòi hỏi tài năng, sự
sáng tạo và tâm huyết của nhà thơ.
Cảm nhận về hai bài thơ: Tự tình II (Hồ Xuân Hương) và Tây
b. Tiến(Quang Dũng) 7,0
* Thí sinh không phải cảm nhận toàn bộ bài thơ mà chỉ tập trung cảm
nhận những nét đặc sắc trong cách sử dụng, tổ chức ngôn ngữ ở hai
tác phẩm để thấy được vai trò của nó trong việc tôn vinh mỗi nhà thơ.
– Cảm nhận bài thơ Tự tình II:
+ Sử dụng các từ thuần Việt giàu hình ảnh, màu sắc, đường nét với
sắc thái đặc tả mạnh: những động từ chỉ tình thái (dồn, trơ, xế, xiên
ngang, đâm toạc,…), những tính từ chỉ trạng thái (say, tỉnh, khuyết,
tròn,…).
+ Phối hợp, tổ chức ngôn ngữ một cách sáng tạo: nghệ thuật đối, đảo
ngữ, cách ngắt nhịp,…
=> Bằng cách sử dụng, tổ chức ngôn ngữ sáng tạo, tài tình, Hồ Xuân
Hương đã bộc lộ được tâm trạng bất mãn với cuộc đời, số phận và
niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi.
– Cảm nhận bài thơ Tây Tiến:
+ Phối hợp, hòa trộn nhiều sắc thái phong cách ngôn ngữ với những
lớp từ vựng đặc trưng. Có ngôn ngữ trang trọng mang màu sắc cổ
kính (đoàn binh, viễn xứ, biên cương, khúc độc hành,…); lại có ngôn
ngữ thông tục, sinh động của tiếng nói hàng ngày (bỏ quên đời, cọp 5,0
trêu người, không mọc tóc, chẳng tiếc đời xanh,…).
+ Kết hợp từ độc đáo, mới lạ tạo nghĩa mới hoặc sắc thái mới cho từ
ngữ (nhớ chơi vơi, súng ngửi trời, mưa xa khơi, hoa đong đưa, dáng 2,5
kiều thơm,…).
+ Sử dụng hệ thống các địa danh vừa tạo ấn tượng về tính cụ thể, xác
thực của bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người lại vừa gợi
được sự hấp dẫn xứ lạ phương xa.
+ Sử dụng thể hành với những câu thơ phối hợp đan xen thanh điệu
bằng, trắc tạo nên giọng điệu thơ bi tráng.
=> Những nét đặc sắc, tài hoa trong cách sử dụng ngôn ngữ của
Quang Dũng đã khắc họa nỗi nhớ da diết của nhà thơ về người lính
Tây Tiến hào hùng và hào hoa trên nền thiên nhiên miền Tây hùng
hiểm và thơ mộng. 2,5
* Đánh giá vai trò của ngôn ngữ ở hai bài thơ trong việc “bầu lên nhà
thơ”:
– Cách sử dụng, tổ chức ngôn ngữ độc đáo trong bài Tự tình II đã góp
phần tôn vinh nhà thơ Hồ Xuân Hương xứng đáng là nhà thơ của phụ
nữ, “Bà chúa thơ Nôm” (Xuân Diệu).
– Những nét đặc sắc trong nghệ thuật sử dụng chất liệu ngôn từ ở bài
thơ Tây Tiến đã góp phần khẳng định sự tài hoa, tinh tế của nhà thơ
Quang Dũng – “áng mây trắng xứ Đoài”. 2,0
c. Bình luận ý kiến 2,0
– Lời chia sẻ của Lê Đạt chính là tâm niệm sâu sắc của người nghệ sĩ
luôn ý thức cao về nghề: chọn lựa chữ, nghiêm khắc với chữ trong thơ
cũng chính là sự chọn lựa của tình yêu và trách nhiệm với ngòi bút
của mình.
– Ý kiến cũng là một định hướng, gợi mở cho người đọc khi đến với
thơ: đọc thơ cần giải mã được cấu trúc ngôn từ để lắng nghe điệu hồn
thi nhân; để trân trọng tài năng, sự lao động sáng tạo của nhà thơ.
– Tuy nhiên, khẳng định vai trò của ngôn ngữ với nhà thơ không có
nghĩa là coi việc làm thơ chỉ là gò câu, đúc chữ, rơi vào chủ nghĩa
hình thức cực đoan.
Đề thi học sinh giỏi môn văn
Câu 1 (8.0 điểm):
Bài học sâu sắc nhất mà anh/chị nhận được từ câu chuyện sau:
Một cô gái nhỏ đi bộ tới trường. Dù buổi sáng hôm đó thời tiết có vẻ rất xấu, trên trời những đám
mây đen đang kéo tới nhưng cô bé vẫn thực hiện chuyến hành trình tới ngôi trường tiểu học của
mình như thường lệ. Buổi chiều, quang cảnh còn tồi tệ hơn hơn, gió bắt đầu rít mạnh cùng với sấm
chớp. Mẹ cô vì lo con gái mình sẽ sợ hãi trên đường về nhà và hơn nữa cô sẽ nguy hiểm nếu gặp sét
nên đã đi đón con. Theo sau từng đợt sấm rền là những tia chớp như những nhát gươm sáng loáng
cắt ngang bầu trời. Lòng đầy lo lắng, bà lái xe theo dọc con đường tới trường của con mình. Và kia!
Cô gái nhỏ đang đi, nhưng cứ mỗi lần có chớp lóe lên, cô bé lại dừng lại, nhìn lên trời và mỉm cười.
Khi xe của người mẹ tiến đến cạnh con gái, bà hỏi:
– Con làm gì thế? Tại sao con cứ dừng lại và mỉm cười như thế? Con gái?
Cô bé đáp lại:
– Con muốn làm cho mình xinh đẹp hơn vì Thượng đế cứ liên tục chụp ảnh cho con.
(Theo Quà tặng cuộc sống)
Câu 2 (12.0 điểm):
Trong Vũ trụ thơ, Đặng Tiến cho rằng:
Nghệ thuật tạo vẻ đẹp cho những dòng nước mắt và biến nỗi thống khổ của nhân loại thành tiếng hát
vô biên.
Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Từ những cảm nhận về nỗi thống khổ của nhân vật Mị trong
Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) và nhân vật người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa
(Nguyễn Minh Châu), anh/chị hãy bàn luận về sứ mệnh của văn học đối với thân phận con người.
………………………………….Hết…………………………………….
HƯỚNG DẪN CHẤM
1 Bài học sâu sắc nhất từ câu chuyện 8,0
Yêu cầu chung
– Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận xã hội của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động
những hiểu biết về đời sống xã hội, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng bày tỏ thái độ, chủ kiến của
mình để làm bài.
– Thí sinh có thể làm bài theo nhiều cách khác nhau nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng, được tự
do bày tỏ quan điểm riêng của mình, nhưng phải có thái độ chân thành nghiêm túc, phù hợp với
chuẩn mực đạo đức xã hội.
Yêu cầu cụ thể
* Giải thích ý nghĩa câu chuyện 1.5
– Giới thiệu vắn tắt nội dung câu chuyện: Cô bé tuy còn nhỏ tuổi nhưng khi gặp khó khăn trở ngại
(thời tiết xấu) vẫn tiếp tục hành trình đến trường như thường lệ. Khi gặp nguy hiểm (sấm sét) cô bé
vẫn an nhiên mỉm cười xem đó như một món quà của Thượng đế (chụp ảnh cho mình).
– Ý nghĩa câu chuyện: Từ hành động và cách nghĩ của cô bé trong một tình huống cụ thể của cuộc
sống, câu chuyện mang lại cho người đọc nhiều bài học sâu sắc: bài học về cách ứng xử của con
người trước gian nan thử thách: sự kiên trì, sự bình tĩnh, bản lĩnh nghị lực, sự chủ động biến khó
khăn thành cơ hội; bài học về niềm tin, về tinh thần lạc quan… (Hướng dẫn chấm chỉ nêu lên một
vài bài học mang tính chất gợi ý, bài học sâu sắc nhất mà thí sinh rút ra từ câu chuyện có thể trùng
với một trong những định hướng của hướng dẫn chấm, có thể nằm ngoài những định hướng của
hướng dẫn chấm, nhưng phải gắn với câu chuyện, phải có cơ sở hợp lí và chuẩn mực). 0.5
1.0
* Bàn luận: 5.0
Từ nhận thức và trải nghiệm riêng, thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ riêng về bài học mà thí sinh cho là
sâu sắc nhất từ câu chuyện. Tuy nhiên dù suy nghĩ theo hướng nào cũng phải tập trung vào một bài
học sâu sắc nhất mà bản thân nhận được từ câu chuyện, phải có lí lẽ, căn cứ xác đáng và có thái độ
bàn luận nghiêm túc, thiện chí.
* Bài học nhận thức và hành động 1.5
Từ bài học sâu sắc nhất nhận được từ nội dung câu chuyện, thí sinh cần nêu được định hướng nhận
thức và hành động phù hợp, ý nghĩa cho bản thân. (Lưu ý: Bài học nhận thức và hành động mà thí
sinh trình bày phải phù hợp với nội dung câu chuyện, với bài học mà thí sinh rút ra từ câu chuyện,
đảm bảo tính nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức).
2 Nghệ thuật tạo vẻ đẹp cho những dòng nước mắt và biến nỗi thống khổ của nhân loại thành
tiếng hát vô biên.
Từ những cảm nhận về nỗi thống khổ của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) và nhân
vật người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), bàn luận về sứ
mệnh của văn học đối với thân phận con người. 12.0
Yêu cầu chung
– Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động
kiến thức về lí luận văn học, tác phẩm văn học, kĩ năng tạo lập văn bản, khả năng cảm nhận văn
chương của mình để làm bài.
– Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải theo những cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ, căn cứ xác
đáng.
Yêu cầu cụ thể
* Giải thích ý kiến: 1.0
– “dòng nước mắt”,“nỗi thống khổ”: chính là nỗi đau, sự bất hạnh của con người, là thân phận con
người bị chà đạp trong cuộc sống còn nhiều nhọc nhằn, cơ cực, bất công.
– “tiếng hát vô biên”: là tình cảm trân trọng, nâng niu, ngợi ca, niềm tin đối với con người.
– Ý kiến của Đặng Tiến đã khẳng định sứ mệnh của nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng: Quan
tâm phản ánh, thể hiện nỗi thống khổ của con người không chỉ bằng sự thấu hiểu sẻ chia, âu lo trăn
mà còn bằng sức truyền cảm và khả năng sáng tạo của nghệ thuật; khám phá nâng niu và bộc lộ niềm
tin, niềm lạc quan đối với vẻ đẹp của con người truyền sức mạnh niềm tin vào chính con người. Đó
là sứ mệnh cao cả, sứ mệnh vĩnh cửu của văn học. 0.25
0.25
0.5
* Cảm nhận về nỗi thống khổ của Mị và người đàn bà hàng chài 7.0
– Cảm nhận về nỗi thống khổ của Mị:
+ Nỗi thống khổ của người phụ nữ dưới ách thống trị của cường quyền, thần quyền miền núi:
• Mất tự do, mang thân phận nô lệ (Mị bị bắt làm dâu gạt nợ cho nhà giàu nhưng thực chất là nô lệ
cho nhà giàu).
• Bị bóc lột đày đọa về mặt thể xác (lao động khổ sai, sống kiếp trâu ngựa, bị đánh đập tàn nhẫn).
• Bị chà đạp về tinh thần, mất mát đau đớn trong tâm hồn (mất ý niệm về bản thân; mất đi niềm khao
khát sống, khao khát tự do; mất đi tình thương tình đồng loại).
→ Nỗi thống khổ của Mị đại diện cho sự bất hạnh khổ đau của người lao động nghèo miền núi dưới
ách thống trị của cường quyền, thần quyền. Đó là bi kịch của lịch sử, thời đại được phản ánh bằng
cảm hứng lãng mạn cách mạng.
+ Nỗi thống khổ của Mị được thể hiện qua nghệ thuật trần thuật hấp dẫn với sự dịch chuyển điểm
nhìn trần thuật linh hoạt, nghệ thuật miêu tả tâm lí bậc thầy, ngôn ngữ đậm chất miền núi, lời văn
giàu chất thơ.
– Cảm nhận về nỗi thống khổ của người đàn bà hàng chài:
+ Nỗi thống khổ của người phụ nữ là nạn nhân của đói nghèo, lạc hậu trong cuộc mưu sinh nhọc
nhằn, lam lũ:
• Lam lũ, vất vả, nghèo đói (khuôn mặt mệt mỏi, tấm áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt
sũng).
• Nạn nhân của bạo hành gia đình (chịu đòn roi như nhịp sống hằng ngày không lối thoát).
• Chịu tổn thương đau đớn về tinh thần (bất lực chứng kiến cảnh vô đạo của gia đình, tiếng kêu
“Phác, con ơi!”, giọt nước mắt).
→ Nỗi thống khổ của người đàn bà hàng chài đại diện cho nỗi bất hạnh khổ đau của người phụ nữ
trong đói nghèo lạc hậu. Đó là bi kịch của cuộc sống ngày thường được nhà văn phản ánh bằng cảm
hứng thế sự đời tư.
+ Nỗi thống khổ của người đàn bà hàng chài được thể hiện bằng lối văn giản dị mà sâu sắc, tình
huống truyện đặc sắc mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống, ngôn ngữ người kể chuyện và
ngôn ngữ nhân vật được sử dụng linh hoạt, sáng tạo. 3.5
* Bàn luận về sứ mệnh của văn học đối với thân phận con người 3.0
– Văn học chân chính không thể không quan tâm đến thân phận con người. Viết về nỗi thống khổ
của con người là sứ mệnh muôn đời, cũng là sứ mệnh vinh quang của văn học chân chính. Bởi:
+ Văn học lấy con người làm đối tượng phản ánh hàng đầu. Hiện thực cuộc sống còn nhiều nhọc
nhằn, bất công nên văn chương luôn quan tâm đến nỗi thống khổ và thân phận con người.
+ Quan tâm đến thân phận con người, văn học thấu hiểu sẻ chia với nỗi khổ đau bất hạnh của con
người, đặt ra những vấn đề nhức nhối của cuộc sống, đồng thời khám phá, khẳng định, nâng niu vẻ
đẹp con người; bồi đắp năng lực cảm nhận nỗi đau của con người, khơi dậy những mong muốn đẹp
đẽ, bồi đắp tính Người trong con người.
+ Quan tâm đến thân phận con người, tác phẩm văn học vươn tới giá trị nhân văn sâu sắc, có sức
sống lâu bền. Quan tâm đến thân phận con người là thiên chức cao cả cũng là yếu tố quan trọng làm
nên tầm vóc của một ngòi bút chân chính.
– Để hoàn thành sứ mệnh lớn lao của văn học người nghệ sĩ cần sống sâu với cuộc đời, nhạy cảm với
nỗi đau, trăn trở về số phận con người, viết nên những trang văn mang niềm trăn trở, niềm tin cùng
những giải pháp để con người vượt lên nỗi thống khổ, vươn tới những điều tốt đẹp.
– Người đọc cần biết thấu nhận, sẻ chia, trăn trở cùng những vấn đề thân phận con người trong trang
văn và ý thức bồi đắp tâm hồn, lối sống cho chính mình. 2.0
0.5
0.5
* Đánh giá – nhận xét 1.0
– Ý kiến của Đặng Tiến không chỉ là một lời bàn xác đáng, sâu sắc về sứ mệnh cao cả của văn học
đối với thân phận và vẻ đẹp của con người mà còn là định hướng ý nghĩa đối với nhà văn và độc giả
trong sáng tạo và tiếp nhận văn học.
– Với việc thể hiện thành công nỗi thống khổ, thân phận của Mị và người đàn bà hàng chài, truyện
ngắn Vợ chồng A Phủ và Chiếc thuyền ngoài xa thực sự là những tác phẩm giá trị, hấp dẫn và có sức
sống lâu bền. 0.5
0.5
Lưu ý chung:
1. Đây là đáp án mở, thang điểm có thể không quy định chi tiết đối với từng ý nhỏ, chỉ nêu mức
điểm của phần nội dung lớn nhất thiết phải có.
2. Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm với những bài viết đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đã nêu mỗi
câu, đồng thời phải được triển khai chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc.
3. Khuyến khích những bài viết có sáng tạo. Chấp nhận bài viết không giống đáp án, có những ý
ngoài đáp án nhưng phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục.
4. Không cho điểm cao đối với những bài chỉ nêu chung chung, sáo rỗng.
5. Cần trừ điểm đối với những lỗi về hành văn, ngữ pháp và chính tả.
Đề thi OLYMPIC môn Ngữ văn lớp 11
Câu 1: (8 điểm)
Nhà văn Nguyễn Khải cho rằng: Để sống được hàng ngày tất nhiên phải nhờ vào những “giá trị tức
thời”. Nhưng sống cho có phẩm hạnh, có cốt cách nhất định phải dựa vào những “giá trị bền
vững”.
Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.
Câu 2 :Bàn về thơ, nhà phê bình Hoàng Minh Châu khẳng định : “Thơ khởi sự từ tâm hồn,
vượt lên bằng tầm nhìn, và đọng lại nhờ tấm lòng người viết”
Hãy bình luận ý kiến trên
HƯỚNG DẪN CHẤM Đề thi OLYMPIC môn Ngữ văn lớp 11
Yêu cầu chung
1. Có kiến thức văn học và xã hội đúng đắn, sâu rộng; kĩ năng làm văn tốt: bố cục rõ ràng, lập
luận chặt chẽ, diễn đạt trong sáng, giàu hình ảnh và sức biểu cảm, ít mắc lỗi chính tả.
2. Hướng dẫn chấm chỉ nêu những nội dung cơ bản, có tính định hướng, định tính chứ không
định lượng. Giám khảo cần hết sức linh hoạt khi vận dụng. Cần đánh giá bài làm của thí sinh
trong tính chỉnh thể; trân trọng những bài có ý kiến và giọng điệu riêng. Chấp nhận các cách
kiến giải khác nhau, kể cả không có trong hướng dẫn chấm, miễn là hợp lí và có sức thuyết
phục.
Yêu cầu cụ thể
Câu 1 :
Nhà văn Nguyễn Khải cho rằng: Để sống được hàng ngày tất nhiên phải nhờ vào những “giá trị tức
thời”. Nhưng sống cho có phẩm hạnh, có cốt cách nhất định phải dựa vào những “giá trị bền
vững”.
Giải thích
– Giá trị tức thời: là những giá trị vật chất và tinh thần chưa trải qua thử thách, sàng lọc của thời
gian, mới có ý nghĩa trong thời điểm hiện tại, thoả mãn những nhu cầu cuộc sống sinh hoạt hàng
ngày như: cơm, áo, gạo, tiền, vui chơi, giải trí, các mối quan hệ…Đây là những giá trị rất cần thiết vì
thiếu nó con người không thể tồn tại.
– Giá trị bền vững: Chỉ những giá trị tinh thần đã trải qua thử thách, sàng lọc của thời gian, có ý
nghĩa lâu bền, trở thành nền tảng văn hoá, đạo lí của dân tộc và nhân loại như: tinh thần yêu nước,
lòng nhân ái, tình cảm tri ân, sự ngay thẳng trong sạch, thẩm mỹ tinh tế,….Đây là những giá trị quan
trọng giúp con người sống có phẩm hạnh, cốt cách.
– Mối quan hệ giữa hai giá trị: Vừa đối lập vừa thống nhất. Con người cần có những giá trị tức
thời để duy trì cuộc sống, cũng rất cần những giá trị bền vững để sống có ý nghĩa.
Bàn luận
– Muốn tồn tại con người cần phải tạo ra và nhờ vào những giá trị tức thời (dẫn chứng). Tuy nhiên
nếu quá coi trọng những giá trị đó, con người sẽ bị chi phối bởi lối sống thực dụng, coi trọng vật
chất, chỉ nhìn thấy những lợi ích trước mắt (dẫn chứng).
– Để cuộc sống thật sự có ý nghĩa, con người nhất định phải vươn tới những giá trị tinh thần tốt đẹp
(dẫn chứng). Tuy nhiên, cốt cách, phẩm giá con người không thể có tức thời trong ngày một ngày
hai, mà đó là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, bồi đắp lâu dài về tâm hồn, trí tuệ, hành
động…Đó cũng là cách để con người có một cuộc sống bền vững, không chỉ giới hạn trong thời gian
đời người mà còn trong sự ghi nhận lâu dài của cộng đồng (dẫn chứng).
– Những giá trị tức thời, nếu có ý nghĩa tích cực, được xã hội đón nhận, gìn giữ, lưu truyền sẽ trở
thành những giá trị bền vững (dẫn chứng). Trong khi đó, có những giá trị đã được hình thành từ lâu,
qua thực tiễn không còn phù hợp, trở nên lạc hậu, lỗi thời sẽ bị đào thải (dẫn chứng). Cứ thế, các giá
trị được sàng lọc, chuyển hoá, làm cho cuộc sống con người ngày càng tốt đẹp hơn
Bàn luận
– Nhận thức được vai trò, ý nghĩa của mỗi giá trị.
– Hình thành kĩ năng sống, biết tiếp nhận hợp lí trước các giá trị của cuộc sống.
– Phải có bản lĩnh để sống có phẩm giá, cốt cách dựa theo nền tảng những giá trị bền vững về văn
hóa, đạo lí…của dân tộc và nhân loại.
Câu 2 :
Bàn về thơ, nhà phê bình Hoàng Minh Châu khẳng định : “Thơ khởi sự từ tâm hồn, vượt lên
bằng tầm nhìn, và đọng lại nhờ tấm lòng người viết”
Giải thích
– Thơ khởi sự từ tâm hồn: thơ là tiếng lòng của người viết. Thơ là thể loại trữ tình chất chứa những
tâm trạng, tình cảm của người viết. Nhà thơ không thể làm ra một bài thơ hay nếu như không có cảm
xúc. Bởi vậy, thơ chính là tấm gương phản chiếu tâm hồn nhà thơ.
– Thơ vượt lên bằng tầm nhìn: là muốn nói tới tư tưởng của người viết. Thơ hay là thơ phải có tư
tưởng.
– Thơ đọng lại nhờ tấm lòng người viết: là sức sống của mỗi bài thơ, giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Một bài thơ để sống được trong lòng người đọc phải được viết nên bằng có cái tâm của người cầm
bút. Khi tiếng lòng của nhà thơ chạm được đến tiếng lòng của người đọc thì bài thơ ấy sẽ có sức
sống lâu bền.
– Ý kiến khẳng định: điểm khởi đầu của thơ là cảm xúc, rung động thẩm mĩ; tầm cao giá trị của thơ
là tư tưởng và sức sống của thơ là ở tấm lòng.
Phân tích, chứng minh
* Thơ khởi sự từ tâm hồn
– Đặc trưng của thơ
+ Thơ khởi phát từ trong lòng người, nếu không khởi phát từ tâm hồn, thơ không thể có được sự
chân thành, xúc cảm, làm rung động trái tim.
+ Thơ là nghệ thuật trữ tình chính vì vậy tình cảm trong thơ là yếu tố cốt lõi. Tình cảm trong thơ
được bắt nguồn từ tâm hồn con người sẽ giá trị và có ý nghĩa hơn.
– Chức năng của thơ
+ Thơ đem đến tiếng nói tình cảm chân thật nhất, khơi gợi và hé mở những bí ẩn trong nội tâm con
người.
+ Bắt nguồn từ tâm hồn thơ bồi đắp cho con người những tình cảm đẹp đẽ, những rung động trước
cuộc sống. Tình cảm trong thơ là những tình cảm đẹp đẽ, có khả năng thanh lọc tâm hồn con người.
* Vượt lên bằng tầm nhìn:
– Tác phẩm văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh đời sống hiện thực
qua nội dung, tư tưởng.
+ Để chuyển tải nội dung, tư tưởng tác phẩm thơ cần có một cái nhìn toàn diện, sâu sắc.
+ Người làm thơ cần có tầm nhìn bao quát hướng ra sự sống nhưng cũng cần phải biết chắt lọc điểm
nhìn của mình vào những sự kiện nổi bật giữa bộn bề cuộc sống, có như vậy thì tác phẩm nghệ thuật
của họ mới có giá trị
– Giá trị tư tưởng của tác phẩm thể hiện ở cái nhìn khám phá của người nghệ sĩ đối với cuộc sống.
– Người nghệ sĩ cần phải trau dồi, phải trải nghiệm cuộc sống để có một tầm nhìn sâu và rộng, để
những tư tưởng được gửi gắm không chỉ có ý nghĩa trong hiện tại mà cả tương lai.
* Đọng lại nhờ tấm lòng người viết
– Tiếp nhận văn chương là một quá trình. Người nghệ sĩ sáng tạo ra nghệ thuật nhưng người tiếp
nhận lại là độc giả, chính vì vậy mà một tác phẩm nghệ thuật phải đọng lại được trong lòng người
đọc.
– Thơ không chỉ là nghệ thuật mà ẩn giấu trong thơ là những giá trị nhân sinh tốt đẹp: giá trị hiện
thực, giá trị nhân đạo…Những gì được viết ra từ cái tâm sẽ dễ dàng được đón nhận. Đó là tiếng nói
tri âm từ trái tim đến trái tim.
Chứng minh: HS chọn một số bài thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới như Vội vàng, Thơ duyên,
Đây mùa thu tới, Tràng giang, Đây thôn Vĩ Dạ…phân tích để là sáng tỏ nhận định.
Đánh giá
– Ý kiến trên khẳng định sự thống nhất của những yếu tố cần có cho một bài thơ hay, một bài
thơ có sức sống lâu bền đó là “ khởi sự từ tâm hồn, vượt lên bằng tầm nhìn và đọng lại nhờ tấm lòng
người viết”, thiếu đi một yếu tố vẫn thành thơ nhưng không phải là thơ có sức lay động mạnh mẽ, có
giá trị trường tồn. Vì vậy người cầm bút phải yêu và sống hết mình với cuộc đời, luôn tìm tòi, khám
phá vẻ đẹp của cuộc sống, con người và thể hiện bằng tài năng, tâm huyết của người nghệ sĩ.
– Ý kiến trên còn nhấn mạnh đến vai trò của người tiếp nhận. Người đọc cũng cần bồi đắp tâm hồn
và vốn sống để cảm nhận được giá trị của thơ ca, có thái độ trân trọng đối với những áng thơ hay,
yêu quý những nhà thơ chân chính.
Đề thi học sinh giỏi về phong cách nhà văn Nam Cao
Đề bài :
Nói về tính độc đáo của phong cách trong sáng tác, có ý kiến cho rằng:
“Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, vì vậy nó đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi
bật, tức là nó có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong tác phẩm của mình”.
Anh (chị) hãy chọn phong cách tác giả Nam Cao để phân tích, làm sáng tỏ ý kiến trên.
ĐÁP ÁN
Bài làm của học sinh cần đảm bảo những yêu cầu sau đây:
Về kiến thức:
Trên cơ sở hiểu biết về phong cách sáng tác của Nam Cao qua một số tác phẩm, học sinh đánh giá ý
kiến trên. Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải làm rõ những nội dung cơ
bản sau:
– Giới thiệu về ý kiến: nghệ thuật đòi hỏi rất cao ở người nghệ sĩ năng lực sáng tạo, độc đáo. Đấy
chính là phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn chân chính.
– Giải thích ý kiến:
– Thế nào là phong cách nghệ thuật?
+ Là khuôn mặt riêng, giọng điệu riêng của từng nghệ sĩ trong thế giới nghệ thuật, là những nét riêng
biệt, chủ yếu của một tài năng nghệ thuật độc đáo.
+ Cái riêng, cái mới lạ thể hiện trong các tác phẩm của nhà văn là gì? Đó là cái nhìn độc đáo đối với
hiện thực cuộc sống thể hiện chiều sâu của sự cảm nhận và khám phá đời sống của nhà văn, là sự
sáng tạo mới mẻ trong việc sử dụng các phương tiện hình thức nghệ thuật (như lời văn, câu văn, từ
ngữ, hình ảnh, giọng điệu,…)
– Phân tích phong cách Nam Cao qua một số tác phẩm tiêu biểu.
Những nét chính trong phong cách nghệ thuật Nam Cao.
+ Nam Cao nhìn đời, nhìn con người vừa bằng đôi mắt hiện thực sắc sảo, nghiêm ngặt, vừa bằng đôi
mắt của tình thương và lòng vị tha.
+ Để chuyển tải nội dung cái nhìn ấy, nhà văn chú trọng xây dựng những cốt truyện tâm lí sinh động,
phức tạp (với sự giằng co, dằn vặt, thao thức đến khắc khoải của nhân vật) và tập trung bút lực vào
hai đề tài chính là người nông dân và người trí thức nghèo.
Phân tích một số tác phẩm của Nam Cao để làm sáng tỏ những nét phong cách trên. (ví dụ: Chí
Phèo, Đời thừa…)
– Đánh giá chung:
– Sức sống lâu bền của một tác phẩm phụ thuộc rất nhiều vào sự mới lạ, độc đáo trong cách nhìn,
cách thể hiện của nhà văn.
– Phong cách nghệ thuật là thước đo tài nghệ, cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ.
Đề thi hay và khó về những bài thơ mới Ngữ văn lớp 11
Đề thi hay và khó về những bài thơ mới lớp 11. Phân tích những bài thơ mới ngữ văn 11 để làm
sáng tỏ nhận đinh của Hoài Thanh :”Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui
buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt”
Đề bài :
“Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình
yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt.”
(Một thời đại trong thi ca – Hoài Thanh)
Anh/ chị hãy làm sáng tỏ ý kiến của Hoài Thanh, qua việc phân tích một số bài thơ Mới đã học
trong chương trình Ngữ văn 11 như: Vội vàng – Xuân Diệu, Tràng giang – Huy Cận, Đây thôn Vĩ
Dạ – Hàn Mặc Tử, Tương tư – Nguyễn Bính.
Hướng dẫn cách làm
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Lòng yêu nước thương nòi qua tình yêu tiếng Việt của các nhà
thơ Mới.
1. Giới thiệu vấn đề
– Hoài Thanh là một trí thức yêu nước, một nhà phê bình văn học xuất sắc nhất của nền văn học Việt
Nam hiện đại. Sở trường của ông là phê bình thơ. Cách bình của Hoài Thanh không bằng lí trí mà
bằng tình cảm, không bằng lí lẽ khô khan mà bằng cách diễn đạt giàu hình ảnh và cảm xúc; ngắn gọn
mà nói đúng được cái thần thái độc đáo của mỗi hồn thơ, câu thơ.
– Trước Cách mạng, ông có cuốn Thi nhân Việt Nam (viết chung với Hoài Chân), một tuyển Thơ
mới xuất sắc, lời bình tinh tế, tài hoa, có giá trị tổng kết sâu sắc cả một phong trào thơ lãng mạn
trong cuộc cách tân hiện đại hóa thơ ca. Khi nói về các nhà thơ của phong trào Thơ mới, Hoài Thanh
nhận xét: “Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn
tình yêu quê hương trong tình yêu tiếngViệt.”
2.Giải thích đề
– “Họ” ở đây là các nhà Thơ mới như Thế Lữ, Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế
Lan Viên, Nguyễn Bính…Đó là thế hệ nhà thơ lãng mạn Việt Nam (1932 – 1941), những trí thức có
lương tri đang sống và sáng tác trong thời kì nước ta bị thực dân Pháp đô hộ.
– Trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, có nhiều cách biểu lộ lòng yêu nước…. Các nhà Thơ mới
đành gửi lòng yêu nước thương nòi của mình vào tình yêu tiếng Việt. Vì họ nghĩ rằng, tiếng Việt đã
hứng vong hồn dân tộc những thế hệ qua. Vận mệnh dân tộc đã gắn bó với vận mệnh tiếng Việt. Họ
dùng tiếng nói của dân tộc để sáng tác thơ, duy trì tiếng nói và các thể thơ mang hồn cốt dân tộc.
Qua thơ, họ ngợi ca thiên nhiên đất nước, gửi gắm nỗi buốn mất nước.
3. Phân tích một số bài Thơ mới để làm sáng tỏ.
a. Vai trò, đặc điểm, vị trí của tiếng Việt
– Tiếng Việt là tiếng nói của dân tộc ta, đã hình thành từ lâu đời, trải qua bao thăng trầm lịch sử,
tiếng Việt càng trở nên giàu và đẹp, thể hiện được tâm hồn và sức sống của người Việt Nam:
– Chưa thể trở thành chiến sĩ cách mạng, nhà thơ cách mạng, các nhà Thơ mới đã dùng tiếng Việt
sáng tác thơ ca, như một cách giữ gìn, kế thừa và tôn vinh tiếng nói và văn hóa của dân tộc.
b. Chứng minh các nhà Thơ mới có tình yêu tha thiết tiếng Việt, dồn tình yêu quê hương trong tình
yêu tiếng Việt
– Qua thơ, các nhà Thơ mới đã phát triển, đổi mới ngôn từ, làm cho tiếng Việt trở nên rất phong phú,
trong sáng, tinh tể, hiện đại. Trong khi văn học trung đại sáng tác văn học bằng chữ Hán, chữ Nôm
(ảnh hưởng chữ Hán) và các thể thơ chủ yếu là Đường luật; thì các nhà Thơ mới làm thơ bằng tiếng
Việt, chữ quốc ngữ, tôn vinh các thể thơ truyền thống như: thơ lục bát, thơ bốn chữ, thơ năm chữ…
Họ coi tiếng nói của cha ông là là hương hỏa quý giá, mang hồn thiêng dân tộc, nên đã trau chuốt từ
ngữ, hình ảnh: (Vội vàng- Xuân Diệu)
– Nhờ đổi mới về hình thức nghệ thuật ngôn từ (như câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu, các cách tu từ…),
các nhà Thơ mới đã thể hiện được sinh động trong thơ những hình ảnh, cảnh sắc, thần thái của cảnh
trí đất nước mà trong thơ cổ vẫn chỉ là ước lệ. Chính là, các nhà Thơ mới đã dồn tình yêu nước vào
tình yêu tiếng Việt:
– Không chỉ vẽ nên những cánh sắc quê hương đất nước với những tình cảm trong sáng, qua thơ các
nhà Thơ mới còn gửi gắm nỗi buồn mất nước thầm kín mà thiết tha: Tràng giang – Huy Cận
4.Bìnhluận
– Tình yêu tiếng Việt, yêu nghệ thuật thơ ca, yêu bản sắc văn hóa dân tộc của các nhà Thơ mới rất
phong phú sâu sắc. Đó một biểu hiện tinh tế của tình yêu quê hương đất nước.
– Có thể còn có những tác giả, tác phẩm Thơ mới có thái độ chán chường ủy mị yếu đuối, nhưng đó
chỉ là nét cá biệt, không phải là tinh thần của Thơ mới. Thơ mới bộc lộ cái tôi cá nhân sầu buồn, đó
là nỗi sầu buồn nhân văn, khi hướng tình cảm của mình về quê hương đất nước. Bởi vậy tình yêu
quê hương đất nước, dồn trong tình yêu tiếng Việt của các nhà Thơ mới, đã góp phần rung lên tiếng
tơ lòng muôn điệu của những tâm hồn Việt. Tình yêu đó rất đáng trân trọng
(Đề sưu tầm)
Chứng minh nhận định: Huấn Cao là nhân vật đẹp nhất trong đời văn Nguyễn Tuân
Đề bài : Hãy phân tích nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù để chứng minh
rằng: “Huấn Cao là nhân vật đẹp nhất trong đời văn Nguyễn Tuân’.
a.Mở bài.
Nhân vật là kết tinh của cả tác phẩm, là nơi hội tụ tài năng của nhà văn. Xây dựng thành công nhân
vật là điểm tựa vững chắc cho truyện ngắn.
Chữ người tử tù (rút từ tập Vang bóng một thời, 1940) của Nguyễn Tuân đạt đến đỉnh cao của thành
công vì đã khắc hoạ thành công nhân vật Huấn Cao – nhân vật được đánh giá là “đẹp nhất trong đời
văn Nguyễn Tuân” ( Chu Văn Sơn).
Thân bài.
* Khái quát về tác phẩm Chữ người tử tù: Cốt truyện, giá trị của truyện, cảm hứng chủ đạo, thông
điệp của thiên truyện…
* Khái quát về nhân vật: Nguyên mẫu (Cao Bá Quát), vị trí (trung tâm của truyện), kiểu nhân vật,
hoàn cảnh của nhân vật…
* Phân tích để chứng minh.
– Huấn Cao mang một vẻ đẹp toàn bích mà hiếm có nhân vật nào của Nguyễn Tuân đạt tới.
+ Các nhân vật khác thường chỉ nổi bật trên một phương diện:
Trước cách mạng tháng Tám 1945, nhân vật của Nguyễn Tuân thường thiên về vẻ đẹp tinh thần, ở
một phương diện: Trí tuệ (Nhân vật Đầu Xứ Anh, Đầu Xứ Em trong truyện Khoa thi cuối cùng), Tài
năng (Bát Lê trong Chém treo ngành), nội tâm (cụ Kép trong Hương cuội)…
Sau cách mạng tháng Tám 1945, nhân vật của Nguyễn Tuân cũng nổi bật ở một nét nào đó: Trong
chiến đấu (anh cảm tử quân trong Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi), trong lao động (ông lái đò trong Người
lái đò sông Đà)…
-> Các nhân vật khác toả sáng trong một phương diện nhưng Huấn Cao mang một vẻ đẹp toàn diện.
+ Huấn Cao đẹp một vẻ toàn bích:
Vẻ đẹp của nghệ sĩ thư pháp bậc thầy: Tạo được những bức tranh chữ được coi là “báu vật trên đời”
với hình dáng chuẩn mực “đẹp lắm, vuông lắm”, với thần thái “thể hiện được cái hoài bão tung
hoành của 1 đời con người” .
Vẻ đẹp tinh thần chủ động, làm chủ hoàn cảnh “có tài bẻ khoá và vượt ngục nữa”
Vẻ đẹp của khí phách hiên ngang: Nguyễn Du nhận xét “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn”. Tuy
nhiên Huấn Cao nằm ngoài quy luật ấy. Trong ngục thất, ông vẫn hiên ngang bất khuất, ung dung tự
tại. Điều đó bộc lộ qua hành động (rỗ gông, bỏ ngoài tai lời đe doạ của tên lính áp giải), qua thái độ
(“thản nhiên nhận rượu thịt, coi như đó là một việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình lúc chưa bị
giam cầm”), qua ngôn ngữ (lời nói trịch thượng , tỏ ra khinh bạc đến điều với quản ngục).
Vẻ đẹp của thiên lương trong sáng: trước khi vào tù, ông đã từ bỏ đặc quyền , đặc lợi của tầng lớp
trên để đứng về phía nhân dân, đấu tranh cho quyền lợi của họ. Khi vào tù, Huấn Cao vẫn nguyên
vẹn tấm lòng ấy. Điều đó thể hiện qua lí do ông cho chữ quản ngục (“cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên
tài của các người” chứ không phải lung lay vì tiền bạc. quyền thế), qua lời khuyên từ đáy lòng dành
cho quản ngục.
-> Huấn Cao hội tụ mọi vẻ đẹp: Tài năng xuất chúng, tấm lòng nhân hậu, khí phách hiên ngang.
V Goth có nói “trước một trí tuệ vĩ đại, tôi cúi đầu, trước một trái tim vĩ đại, tôi quỳ gối”. Huấn Cao
là nhân vật có cả vẻ đẹp của trí tuệ và trái tim, xứng đáng được tôn kính.
– Huấn Cao “đẹp nhất trong đời văn Nguyễn Tuân” còn vì nhà văn đã khắc hoạ nhân vật bằng
những lời văn đẹp nhất và dành sự yêu mến, ngưỡng mộ cho nhân vật.
Tác giả dụng công tạo tình huống làm nền cho Huấn Cao xuất hiện, khiến nhân vật được tôn lên rất
nhiều.
Trong cảnh cho chữ, Nguyễn Tuân để Huấn Cao nổi bật trong khung cảnh lao tù khiến cho hình
tượng toả sáng.
Tác giả gọi nhân vật là “Ông”, “ông Huấn” và dùng những ngôn từ Hán Việt trang trọng để nói về
nhân vật.
-> Chính sự yêu mến và tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân khiến nhân vật trở thành hình tượng
đẹp nhất.
* ý nghĩa của nhân vật: Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân dụng công khắc hoạ nhân vật này,
bởi ông muốn đây sẽ là biểu tượng cho cái thiện, cái đẹp. Thông qua nhân vật, nhà văn bày tỏ niềm
tin mãnh liệt vào cái đẹp và sự kì diệu của nó.
* Mở rộng liên hệ với các nhân vật khác cùng giai đoạn, cùng kiểu nhân vật để khẳng định đây là
nhân vật đẹp nhất.
Kết luận:
Nếu toàn bộ thiên truyện là một màu ảm đạm. là bóng tối của tù ngục thì Huấn Cao chính là ánh
sáng rực rỡ trong tác phẩm, khiến cho người ta thêm yêu cái đẹp và tin ở cuộc đời này. Điều đó có
được là do vẻ đẹp của nhân vật.
Đề thi học sinh giỏi về bài Chí Phèo- Nam Cao-đề số 6
Đề bài: Khi một nhà văn mới bước vào làng văn, điều đầu tiên tôi sẽ hỏi anh ta là anh sẽ mang
lại điều gì mới cho văn học ( Lep Tonxtoi). Bằng những hiểu biết của mình về truyện ngắn Chí
Phèo anh/ chị hãy thay mặt nhà văn Nam Cao trả lời câu hỏi ấy
ĐÁP ÁN
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận 0,25
Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề,
kết bài kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Sự sáng tạo của Nam Cao trong tác phẩm Chí Phèo 0,50
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các
thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng
– Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, trích dẫn câu nói của Lep Tonxtoi, sự độc đáo, sáng tạo
của Nam Cao trong tác phẩm Chí Phèo
– Giải thích câu nói: Sự độc đáo, sáng tạo mà mỗi nhà văn, nhà thơ thể hiện trong tác phẩm của
mình.
– Sự sáng tạo của nhà văn Nam Cao trong tác phẩm Chí Phèo
+ Quan điểm sáng tác của Nam Cao: Sinh thời Nam Cao Luôn coi trọng hoạt động sáng tạo trong
nghệ thuật “Văn chương không cần đến sự khéo tay,Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào
sâu tìm tòi khơi hứng nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa ai có “. Quan điểm này gặp gỡ
với quan điểm của rất nhiều các nhà văn nổi tiếng trên thế giới bởi nó đề cập tới bản chất của nghệ
thuật là sáng tạo. Nói cách khác, sáng tạo là sinh mệnh của văn chương.
+ Chứng minh
* Về nội dung
+ Giá trị hiện thực mới mẻ: Chọn một đề tài đã cũ – người nông dân trước cách mạng tháng Tám
song cách khai thác hoàn toàn khác
– Chị Dậu (“Tắt đèn” – Ngô Tất Tố), Anh Pha (“Bước đường cùng” – Nguyễn Công Hoan) bị bóc
lột, bị chà đạp, chịu sự đày đọa về vật chất nhưng vẫn là con người
– Chí Phèo từ 1 anh canh điền khỏe mạnh, hiền lành, chất phác bị vu oan biến thành 1 Chí Phèo lưu
manh mất cả nhân hình và nhân tính, hắn bán cả linh hồn mình trở thành con quỷ dữ của làng Vũ
Đại. Với Chí Phèo, Nam Cao không chỉ lột trần sự thật đau khổ của người nông dân vừa nêu được
một quy luật xuất hiện trong làng xã Việt Nam trước CM8: Hiện tượng những người nông dân nghèo
lương thiện bị áp bức bóc lột nặng nề và bị đẩy vào con đường tha hoá, lưu manh. Tình cảnh ấy của
Chí Phèo đã làm cho số phận người nông dân trung thực rơi xuống vực thẳm của bi kịch.
* Giá trị nhân đạo độc đáo:
– Nếu Ngô Tất Tố ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, trọn vẹn, không tì vết của Chị Dậu thì Nam
Cao miệt mài lật xới tận cùng để gạn lấy “giọt thiên lương” nhỏ nhoi, khuất lấp nhưng trong trẻo,
thanh khiết nơi tâm hồn tưởng như đã hoàn toàn méo mó của Chí. Bởi vậy, hành trình từ cõi quỷ trở
về cõi người ngỡ giản đơn mà sao nhọc nhằn, khổ đau, quằn quại đến thế. Qua nhân vật Thị Nở, nhà
văn gieo trồng hạt nhân tư tưởng và ước mơ về tình thương làm thay đổi thế giới hay ít ra cứu vớt
một con người. Có lẽ ít ai như Nam Cao, nhọc công để dừng lại suy tư, khám phá và nuôi giữ mầm
sống trong những tâm hồn thoạt nhìn thấy chỉ có tro tàn tăm tối.
b, Về nghệ thuật:
Nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình
Nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật: Nhiều trường đoạn tâm lí phức tạp được nhà văn “giải phẫu”
thành công. (Lúc Chí Phèo tỉnh dậy sau cơn say, cảm nhận cuộc sống và ý thức về đời mình, khi Thị
Nở đem bát cháo hành sang để Chí thấm thía giá trị của tình thương, đoạn Chí Phèo miệng nói trả
thù “con khọm già” mà chân lại tìm tới cửa nhà Bá Kiến…)
Ngôn ngữ: giản dị nhưng tinh sắc (ngôn ngữ tâm lí của Bá Kiến khi dụ dỗ Chí Phèo) 0,50
d. Sáng tạo 0,50
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu 0,25
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.
Đề thi học sinh giỏi về bài Chí Phèo- Nam Cao: Nhà văn như Thị Nở
Đề thi học sinh giỏi về bài Chí Phèo- Nam Cao
Từ cách nhìn của Thị Nở đối với nhân vật Chí Phèo (Chí Phèo– Nam Cao), nhà phê bình Phạm
Xuân Nguyên đã liên hệ đến thiên chức của người nghệ sĩ. Và ông đã quả quyết rằng : Nhà văn như
Thị Nở.
Anh/ chị hãy bàn về quan niệm trên và chứng minh rằng với tác phẩm Chí Phèo, Nam Cao đã làm
tròn thiên chức của một nhà văn.
Đáp án
1. Giải thích
– Cái nhìn của Thị Nở đối với Chí Phèo là cái nhìn bằng sự yêu thương, bằng lòng cảm thông.
+ Trong khi cả làng Vũ Đại xa lánh Chí, không xem Chí là con người thì Thị Nở đã chăm sóc Chí.
Bát cháo hành là biểu hiện của tình người ấm áp.
+ Chính nhìn Chí Phèo bằng sự cảm thông như vậy nên: Thị Nở đã thấy Chí rất đáng thương. Còn gì
đáng thương bằng đang ốm mà phải nằm một mình. Thị Nở đã thấy nỗi buồn, nỗi cô độc của Chí.
Thị đã phát hiện ra phần con người của Chí Phèo. Chính Thị Nở đã khẳng định :
* Ôi sao mà hắn hiền, có phải đây mới là bản chất của Chí mà ngày thường bị lấp đi không.
* Sao có lúc nó hiền như đất
– Thiên chức của người nghệ sĩ: Phải nhìn đời bằng con mắt của tình thương. Phải tìm tòi và thấu
hiểu những điều mà chưa ai ngờ tới, phải biết khơi những gì chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa
có.
2. Ở tác phẩm Chí Phèo, nhà văn Nam Cao thực sự đã làm tròn thiên chức của người nghệ sĩ.
a. Nhà văn đã biết đào sâu, biết tìm tòi, biết khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì
chưa có.
– Chí Phèo, không chỉ là nỗi khổ vật chất mà đau đớn hơn là bi kịch tinh thần, nỗi đau bị cướp đi cả
nhân hình lẫn nhân tính, bị cự tuyệt quyền làm người. Nam Cao muốn khẳng định còn có những nỗi
đau, đau khổ hơn tất cả là con người bị loại ra khỏi cộng đồng.
– Nhưng bên trong cái lốt của quỷ dữ là đốm sáng nhân tính.
-> Đây là những phát hiện mới mẻ của nhà văn Nam Cao so với các nhà văn cùng thời.
b. Nhà văn phải nhìn đời bằng con mắt của tình thương để tìm tòi để thấu hiểu
– Trong các tác phẩm của mình, Nam Cao thường trân trọng giá trị của tình thương. Chính tình
người có khả năng thức tỉnh tính người. Nam Cao đã xây dựng nhiều nhân vật biểu hiện cho lối sống
tình thương. Và đó chính là tấm lòng của Nam Cao dành cho con người. (Là Từ trong Đời thừa, và
ở Chí Phèo là Thị Nở)
– Chỉ bằng tấm lòng bao dung độ lượng, người nghệ sĩ mới thực sự có những cảm thông sâu sắc
trước những bất hạnh của con người. (Xót xa trước những quằn quại trong cô đơn của Chí; đau đớn
trước nhân hình nhân tính của Chí bị rách nát )
– Và cũng chính bằng tấm lòng bao dung độ lượng, nhà văn cũng mới phát hiện và trân trọng vẻ đẹp
khuất lấp, bên trong tâm hồn của con người.(Đồng cảm, xót thương, trân trọng trước nỗi buồn, sự ăn
năn, niềm khao khát của Chí Phèo…)
– Chính nhìn nhân vật bằng sự cảm thông như vậy, nên ngòi bút của Nam Cao nặng trĩu yêu thương.
c. Muốn làm tròn thiên chức ấy, nhà văn phải luôn trau giồi tài năng, trau giồi lối sống. Để làm sao
nhà văn có thể cùng một lúc sống nhiều cuộc đời, biết mở lòng để đón nhận những vang động của
cuộc đời và bằng tài năng nghệ thuật phải thể hiện những nội dung ấy một cách da diết và lắng đọng.
Đánh giá chung
– Giá trị của tác phẩm Chí Phèo
– Đóng góp của nhà văn Nam Cao cho nền văn học Việt Nam hiện đại.
Tài liệu luyện thi Học sinh giỏi môn văn
Câu 1 (8 điểm). Đọc bài thơ sau:
Bản hợp đồng cuối cùng
Buổi sáng tôi đi trên con đường lát đá
Và rao lên: “Nào, ai thuê tôi thì đến thuê”
Ông vua ngồi trên xe đi tới,
kiếm cầm trong tay.
Ông nắm tay tôi và bảo
“Ta muốn thuê ngươi bằng quyền lực của ta”
Nhưng quyền lực của y thì có gì đáng kể,
và thế là y lại đi
Dưới trời trưa nóng bỏng
Những ngôi nhà đóng cửa đứng yên.
Tôi lang thang trên con đường nhỏ quanh co
Một ông già bước ra, mang một túi vàng.
Ông suy nghĩ rồi bảo:
“Ta sẽ thuê ngươi bằng tiền bạc của ta”.
Ông ta nhấc tiền lên, đồng này rồi đồng khác
nhưng tôi đã quay lưng.
Chiều đã xuống, khu vườn nở hoa đầy giậu.
Một cô gái xinh đẹp đến vào bảo
“Tôi sẽ thuê anh bằng một nụ cười”
Nụ cười của cô ta đã nhạt đi
và tan thành nước mắt,
và cô trở về trong bóng tối một mình
Ánh mặt trời long lanh trên cát
và sóng vỗ rì rào
Một cậu bé ngồi chơi với dăm vỏ ốc
Cậu ngẩng đầu lên và dường như cậu nhận ra tôi
rồi nói: “Tôi thuê anh với hai bàn tay trắng”
Và từ khi bản hợp đồng được kí chơi với cậu bé
tôi đã thành người tự do.
(Thơ Ta-go – Bản dịch của Đào Xuân Quý)
Bình luận về ý nghĩa của “bản hợp đồng cuối cùng” trong bài thơ.
Câu 2. (12 điểm)
Trong bài văn “Đọc Kiều một ngày kia”, Chế Lan Viên viết:
“Trong câu Kiều xưa ta tìm ra Nguyễn Du và tìm ra chính mình”.
Anh (chị) suy nghĩ gì về câu văn trên? Bằng các tác phẩm văn học đã học trong chương trình Ngữ
văn trung học phổ thông, anh (chị) hãy làm sáng tỏ.
-> Đáp án:
Câu 1: 8 điểm
1.Vấn đề nghị luận: quan niệm về tự do của Ta-go: tự do nghĩa là sự giải thoát khỏi ràng buộc của
những dụng vọng, ham muốn tầm thường.
Dàn ý:
*) Giới thiệu vấn đề nghị luận.
– Phân tích ý nghĩa của bài thơ:
Bài thơ có dáng dấp như một câu chuyện dân gian với tình huống đặc biệt: một chàng trai ra giá thuê
mình, đi tìm kiếm một bản hợp đồng. Lần lượt, nhà vua thuê bằng quyền lực, ông già thuê bằng tiền
bạc, cô gái xinh đẹp thuê bằng nhan sắc… nhưng anh ta đều không đồng ý. Cuối cùng, chàng trai kí
kết một bản hợp đồng đặc biệt với một cậu bé, một thứ hợp đồng như trò chơi thuần túy tinh thần và
phi vật chất: chơi với cậu bé một ngày trên bãi biển, cậu bé chẳng có gì trả cho anh và thực ra, anh
không phải lao động đúng nghĩa. Chính lúc kí bản hợp đồng cuối cùng này, anh cảm thấy “mình
thành người tự do”.
– Ẩn sau mạch tự sự là mạch triết lí. Chàng trai ra giá thuê mình mà tại sao lại không chấp nhận kí
hợp đồng với người có quyền lực, có tiền bạc, có nhan sắc? Bởi vì những điều đó đều khiến anh ta
thấy mất tự do. Bản hợp đồng với cậu bé đã được kí kết vì anh thấy mình tự do. Như vậy, bài thơ là
hành trình tìm kiếm tự do, hành trình của một khát vọng. Từ đó, triết lí nảy ra: chỉ khi nào tâm hồn
con người được giải thoát khỏi sự cám dỗ, ràng buộc của quyền lực, tiền tài, sắc đẹp… nghĩa là
những ham muốn, dục vọng vật chất, thì mới có được sự tự do đích thực trong tinh
thần.
*) Bàn luận quan niệm về tự do của Ta-go.
– Giải thích khái niệm
+ Tự do (của cá nhân) là trạng thái con người tự mình làm chủ mình, không lệ thuộc vào người khác,
không bị người khác chi phối và được nghĩ, được hành động theo đúng những đòi hỏi của tâm hồn
mình trên cơ sở nhận thức về lẽ phải.
+ Tự do vừa là bản chất tự nhiên, vừa là khát vọng thường trực của mỗi con người. Tìm kiếm tự do
trở thành bản năng sống của mỗi người. Càng thiếu tự do, con người càng khao khát tự do.
– Lí giải quan niệm của Ta-go.
+ Vì sao giải thoát khỏi quyền lực, tiền bạc, sắc đẹp con người sẽ có tự do?
Bản chất của con người khi sinh ra là tự do. Đó là quyền tự nhiên của mỗi con người. Quyền lực,
tiền bạc, sắc đẹp… là hiện thân cho những mong muốn, dụng vọng vật chất có thể điều khiển, chi
phối suy nghĩ, hành động của con người, khiến con người không được sống đúng với mong muốn
thực sự của mình, nghĩa là mất tự do. Ngược lại, thoát khỏi cái nhà tù vô hình của dục vọng, con
người sẽ có được tự do trong tinh thần- một biểu hiện cao nhất, sâu sắc nhất của tự do.
+ Vì sao tự do tinh thần là biểu hiện cao nhất, sâu sắc nhất của tự do?
+) Tinh thần và thể xác của con người dù thống nhất nhưng luôn có sự độc lập tương đối. Tự do thể
xác đôi khi không đồng nghĩa với tự do tinh thần. Và tự do tinh thần lại quyết định tự do thể xác.
Tinh thần cảm thấy không tự do thì thể xác tự do cũng vô nghĩa. Tinh thần tự do thì ngay cả khi thể
xác bị cầm tù, con người vẫn thấy tự do. Vì thế, tự do tinh thần là biểu hiện cao nhất và sâu sắc nhất
của tự do.
+) Tự do tinh thần đem đến sự thanh thản và cảm giác sung sướng thỏa nguyện, tức là cảm
giác hạnh phúc nên nó là thứ tự do cao nhất mà con người luôn khao khát, kiếm tìm.
*). Đánh giá quan niệm của Ta-go
– Bài thơ thể hiện một quan niệm đúng đắn, sâu sắc về tự do.
– Quan niệm này định hướng cho con người cách giải thoát khỏi những ràng buộc của cuộc sống,
tìm được sự an nhiên, thanh thản trong tâm hồn để có niềm vui, niềm hạnh phúc đích thực.
*) Mở rộng, liên hệ:
– Tự do tinh thần phải đi cùng với hiểu biết về lẽ phải, nó không bao giờ có nghĩa là vô chính phủ, là
hoang dã, không luật lệ… Không thể dựa vào tự do để làm những điều bất nghĩa, phi nghĩa, không
có đạo đức và văn hóa…
– Tự do không có nghĩa là không ham muốn bất kì điều gì… mà chỉ là làm như lời nhà
Phật dạy: “tri túc, tiểu dục” (biết đủ, muốn ít).
– Tự do của mỗi cá nhân phải gắn liền với tự do, độc lập của đất nước, dân tộc…
– Lối sống thực dụng của con người hiện đại cho thấy con người đang đánh mất tự do tinh thần của
chính mình…
*) Bài học rút ra:
– Để có được hạnh phúc trong cuộc sống, con người cần tìm cho mình sự tự do trong tinhthần.
– Giảm bớt ham muốn, làm điều thiện, sống đúng với suy nghĩ, mong muốn của chính
mình ta sẽ cảm thấy tự do.
Câu 2: 12 điểm
Vấn đề nghị luận: mối quan hệ tri âm giữa tác giả và người đọc trong quá trình tiếp nhận văn học;
giá trị nhận thức to lớn của văn học..
Đáp an:
a.Giải thích- chứng minh ý kiến:
*) Vế 1:
“Trong câu Kiều xưa ta tìm ra Nguyễn Du”.
– Câu văn gợi cho ta suy nghĩ về hoạt động tiếp nhận một tác phẩm văn học, về mối quan hệ giữa
nhà văn và người đọc. Người đọc tìm ra Nguyễn Du trong câu Kiều nghĩa là tìm ra, thấu hiểu tâm tư,
tình cảm của tác giả, tìm thấy cả nỗi đau, nỗi cô đơn, niềm hi vọng… của họ gửi gắm trong tác
phẩm. Khi ấy người đọc và người viết có quan hệ tri âm. Đây là quan hệ lí tưởng của hoạt động tiếp
nhận văn học. Vì quá trình sáng tác văn chương là quá trình nhà văn mã hóa những tâm tư, tình cảm
của mình bằng văn bản ngôn từ. Người viết luôn kì vọng ở người đọc hiểu được tác phẩm
của mình, hiểu mình ( Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?).
– Quá trình tiếp nhân là quá trình người đọc giải mã tác phẩm để hiểu, đồng cảm với tâm tư, tình
cảm của nhà văn.
– Làm thể nào để tìm ra Nguyễn Du trong câu Kiều?
Người đọc – người viết có sự tri âm là điều không dễ. Để có được quan hệ lí tưởng đó yêu cầu người
đọc cần : hiểu đúng tác phẩm để đồng cảm với nhà văn; có tri thức văn hóa; có sự từng trải trong
cuộc sống…Những tác phẩm càng lớn thì quá trình mã hóa càng phức tạp và vì vậy quá trình tri âm
càng nhọc nhằn.
– Chứng minh: cần chứng minh bằng những tác phẩm đã học trong chương trình ở các thểloại thơ,
truyện như: Truyện Kiều (Nguyễn Du), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử), Chí Phèo (Nam Cao),
Tây Tiến (Quang Dũng), Đàn ghi ta của Loca (Thanh Thảo), Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn
Minh Châu)…
Ở mỗi tác phẩm cần chỉ rõ: con người tác giả ở bề sâu bề xa câu chữ của
tác phẩm là con người như thế nào? Tâm tư, tình cảm gì của nhà văn được gửi gắm?…
*) Vế 2:
“Trong câu Kiều xưa ta tìm ra chính mình”.
– Giải thích: tìm ra chính mình nghĩa là hiểu mình, là soi vào tác phẩm ta thấy rõ tình cảm của mình,
thấy cả sự thiếu hụt, bất toàn của mình. Đây chính là giá tị to lớn mà văn chương đem lại, cũng là
chức năng nhận thức của văn chương..
– Vì sao? Vì hoạt động tiêp nhận là hoạt động đối thoại (tương thoại). Người đọc luôn phải chủ
động. Muốn hiểu được người khác thì ta phải nhìn lại chính mình. Và khi hiểu người khác thì càng
hiểu mình hơn.
– Chứng minh: chọn những tác phẩm như trên và làm rõ: soi vào tác phẩm thấy tình cảm, cảm xúc
của mình trong đó như thế nào? Thấy được cả phần chưa biết hết của tâm hồn mình ra sao?…
Bình luận mở rộng:
+ Đoc văn chương để đạt được yêu cầu trên là phải đọc như thế nào?
– Không thể đọc hời hợt mà phải đọc nghiền ngẫm
– Đọc phải sống với từng con chữ trong tác phẩm…
+ Bài học cho người cầm bút.
Đề thi học sinh giỏi Ngữ văn 12
Câu 1: ( 4,0đ) Đọc văn bản sau và thực hiện những yêu cầu:
Một ít nắng, vài ba sương mỏng thắm,
Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêụ
Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiềụ
Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng.
Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng;
Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,
Chim trên cành há mỏ hót ra thơ ;
Xuân là lúc gió về không định trước.
Đông đang lạnh bỗng một hôm trở ngược,
Mây bay đi để hở một khung trờị
Thế là xuân. Ngày chỉ ấm hơi hơi,
Như được nắm một bàn tay son sẻ…
Xuân ở giửa mùa đông khi nắng hé;
Giữa mùa hè khi trời biếc sau mưa;
Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa
Lùa thanh sắc ngẫu nhiên trong áo rộng.
(Trích Xuân không mùa .Dẫn theo Tuyển tập thơ Xuân Diệu, NXB Văn hoá Thông tin,2010, tr 6)
1. Chỉ ra các hình thức điệp trong đoạn thơ và nêu tác dụng của chúng
2. Trình bày ngắn gọc quan niệm mới mẻ và vẻ đẹph tâm hồn Xuân Diệu được thẻ hiện trong
đoạn thơ trên
Câu 2 ( 6 điểm)
BÓNG NẮNG BÓNG RÂM
Con đê dài hun hút như cuộc đời.Ngày về thăm ngoại,trời chợt nắng chợt râm.Mẹ bảo:
-Nhà ngoại ở cuối con đê.Trên đê chỉ có mẹ, có con.
Lúc nắng mẹ kéo tay con:đi nhanh lên kẻo nắng vỡ đầu.Con cố.
Lúc râm,con đi chậm,mẹ mắng:đang mát trời,nhanh lên kẻo nắng bây giờ.
Con ngỡ ngàng sao nắng hay râm đều phải vội?
Trời vẫn nắng vẫn râm…Mộ mẹ cỏ xanh,con mới hiểu: (…)
1. Hãy viết tiếp vào dấu ba chấm(…) điều con mới hiểu
2. Trình bày suy nghĩ của anh( chị) về ý nghĩa triết lí gợi ra từ câu chuyện trên?
Câu 3( 10 điểm)
Về vấn đề xây dựng tính cách của nhân vật trong tác phẩm văn học, nhà nghiên cứu Hoàng ngọc
Hiến có viết :” Tính cách của nhân vật được sáng tạo trong tác phẩm văn học bao giờ cũng là một
chất lượng mới so với những dữ kiện thực tế…Đó là một chất lượng mới vì tính cách được sáng tạo
trong tác phẩm văn học bao giờ cũng bao hàm tư tưởng của tính cách”.
( Văn học …gần và xa , NXB Giáo dục Việt Nam, 2006, tr. 87)
Anh/ chị hãy làm sáng tỏ quan điểm của Hoàng Ngọc Hiến qua một số tác phẩm văn học tiêu biểu
trong chương trình ngữ văn THPT.
……………………………HẾT…………………………..
Gợi ý đáp án
Câu 2 :
+Giới thiệu câu chuyện: Câu chuyện kể về cuộc hành trình của hai mẹ con khi về thăm nhà ngoại.
+Giải thích, nêu ý nghĩa câu chuyện:
Bóng nắng, bóng râm là hai trạng thái thời tiết, hai hoàn cảnh khác biệt.
+ Bóng nắng: hoàn cảnh cuộc sống khắc nghiệt, khó khăn
+ Bóng râm: hoàn cảnh thuận lợi
=> Dù trong hoàn cảnh nào người mẹ vẫn luôn giục giã con đi nhanh. Điều đó có ý nghĩa: Lúc gặp
khó khăn, khắc nghiệt, con người phải dốc toàn bộ tâm sức để vượt qua, khi được sống trong khoảng
thời gian yên bình, thoải mái, dễ chịu hơn, con người cũng không nên vì thế mà buông thả.
=> Bài học cuộc sống: Luôn nỗ lực không ngừng để có được cuộc sống trọn vẹn.
Phân tích, lý giải:
+ Khó khăn, thử thách là những rào cản ngăn bước con người. Để vượt qua được, con người cần nỗ
lực hết sức. Không ai có thể vượt qua khó khăn, thử thách chỉ bằng cách im lặng, chờ đợi.
+ Cuộc sống luôn tiềm tàng biến cố nằm ngoài khả năng dự đoán của con người. Cuộc sống không
phải lúc nào cũng yên bình, thoải mái, thuận lợi. Chính vì vậy, trong hoàn cảnh thuận lợi, con người
cần tận dụng cơ hội để trân trọng từng giây từng phút, sống hết mình.
+ Những lúc yên bình, thuận lợi là những điều kiện tốt nhất để con người nhanh chóng đạt được mục
tiêu. Càng trong hoàn cảnh thuận lợi, con người càng phải cố gắng, nỗ lực hết mình. Hoàn cảnh
thuận lợi cùng với sự nỗ lực hết sức của con người sẽ đưa ta đến đích một cách dễ dàng hơn, nhanh
chóng hơn.
Bài học : con người cần tranh thủ từng giây từng phút sống hết mình, nhiệt tình, biết trân trọng thời
gian. Sống là không chờ đợi.
Bình luận, liên hệ bản thân:Nhận thức được giá trị của từng giờ trôi qua, biết trân trọng thời gian,
trân trọng từng cơ hội đến với mình
Đề thi chọn đội tuyển học sinh giỏi môn Văn lớp 12
Câu 1- 8đ: Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 từ) có nhan đề Con lật đật.
Câu 2-12đ: Nhà thơ Trung Quốc đời Tống, Lục Du đã viết:
Công phu của thơ là ở ngoài thơ (công phu tại thi ngoại).
Suy nghĩ của anh (chị) về lao động thơ ca từ ý kiến trên.
-> Đáp án:
Câu 1:
Giải thích: con lật đật – đồ chơi quen thuộc
– Lật đật có nguồn gốc từ Nhật Bản, về sau du nhập vào Nga , tại đây nó được cải tiến và truyền bá
rộng rãi trở thành nét văn hóa đặc sắc của đất nước bạch dương. Với trẻ em ở nhiều nước trên thế
giới, trong đó có Việt Nam, lật đật là thứ đồ chơi quen thuộc và hấp dẫn.
– Con lật đật có nhiều đặc điểm rất đáng chú ý: vẻ mặt vui vẻ, tươi tắn, vì có bộ phận giữ thăng bằng
rất tốt nên dù có bị tác động thế nào cũng luôn trở lại tư thế thẳng đứng.
Suy nghĩ của bản thân
Dù chỉ đơn giản là một món đồ chơi nhưng con lật đật lại gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ:
– Con lật đật luôn mang vẻ mặt tươi tắn, vui vẻ, đó chính là biểu hiện của sự lạc quan yêu đời. Điều
này rất có ý nghĩa. Bởi, trong cuộc sống chúng ta cần phải lạc quan, vững vàng vượt qua thử thách
và hơn thế chúng ta còn phải biết mỉm cười chấp nhận những thất bại để có thể tiếp tục làm lại.
– Con lật đật luôn luôn đứng thẳng dù có bị lật qua lật lại. Trong cuộc sống, con người luôn phải đối
mặt với những khó khăn thử thách, điều quan trọng là không được cúi đầu gục ngã trước bất kì hoàn
cảnh nào, phải biết đứng dậy sau mỗi thất bại để luôn hướng về phiá trước.
– Vì có một trọng tâm vững chắc nên nó có thể đứng vững dù có bị tác động thế nào. Điều này giúp
mỗi chúng ta hiểu rằng mỗi người cần phải có bản lĩnh sống để có thể vững vàng dù trong mọi tình
huống của cuộc sống.
Bài học cho mọi người
– Trong cuộc sống luôn lạc quan, sẵn sàng đối diện với những thử thách và biết chấp nhận thất bại
để đi đến thành công.
– Mỗi người cần tự rèn luyện cho mình một bản lĩnh vững vàng để có thể tự tin, chủ động trong cuộc
sống vốn rất nhiều những khó khăn, bất trắc.
Câu 2:
Giải thích
– Ở ngoài thơ : Vai trò vốn sống khả năng hiểu biết cuộc đời, sự từng trải là nhân sinh của người
cầm bút.
– Lục Du muốn khẳng định sức mạnh của thơ nằm ở đời sống chứ không phải ở ngôn từ.
Bàn luận vấn đề
– Nói đến thơ là nói đến cảm hứng sáng tạo mạnh mẽ, cảm hứng ấy chỉ xuất hiện trong việc tiếp xúc
với hiện thực đời sống, cho nên cảm hứng thơ ca không tự nhiên mà có, nó đến trong sự va đập của
nhà thơ với cuộc đời.(Nguyễn Du để có cảm hứng đau đớn lòng phải bắt đầu từ “những “điều trông
thấy”…}.
– Nói đến thơ là nói đến cái Đẹp, đó là cái Đẹp bất ngờ, đa dạng, tiềm ẩn trong hiện thực đời sống và
chỉ khi đi vào hiện thực người cầm bút mới có cơ duyên bắt gặp được những cái Đẹp ấy.
{Những hình ảnh thi vị trong thơ không phải lúc nào cũng là sự hư cấu mà nó
bắt nguồn từ hiện thực cuộc đời: Đầu súng trăng treo – là hình ảnh đẹp bắt nguồn từ hiện thực chiến
đấu…}.
– Chính hiện thực là chất liệu nhào nặn lên bản lĩnh của nhà thơ. Cuộc sống với sự tương tác của nó
đem lại cho anh ta cái nhìn riêng, và đó là yếu tố quyết định tài năng của người nghệ sĩ. {Chính cuộc
đời đã tạo nên cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du (sống trong thời đại nhiều biến cố, đã đưa đến
cảm thức về thân
phận bé bỏng của con người)…}.
Mở rộng, nâng cao
– Nếu chỉ có thi ngoại (chỉ có hiểu biết cuộc sống) thơ sẽ không còn thuyết phục (làm người quý
thẳng, làm thơ quý cong). Vì thế bên cạnh sự hiểu biết cuộc sống, thơ còn phải là thế giới nghệ thuật
của ngôn từ (cách tổ chức lời thơ, nhịp thơ…).
– Tác phẩm nghệ thuật đích thực phải là sự kết hợp hài hòa của hai yếu tố “thi
ngoại” và “chuốt lời” mới tạo nên sự xuất thần.
– Chính sự cao quý của thơ nên người nghệ sĩ phải sống, phải không ngừng trải
nghiệm, phải vật lộn với ngôn từ mới có thể đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật.
Đề thi chọn đội tuyển môn Văn lớp 12, đề số 2
Câu 1. (8 điểm)
Amonimus cho rằng: Con đường gần nhất để đi khỏi gian nan là đi xuyên qua nó. Nhưng có người
lại khuyên: Hãy học cách ứng xử của dòng sông: gặp trở ngại, nó vòng đường khác.
Anh/ chị hãy bày tỏ quan điểm của mình về những ý kiến trên.
Câu 2. (12.0 điểm)
Trong bài ngoại cảnh trong văn chương, in trên báo Tràng An, số 82, ngày 10-12 -1935, Hoài Thanh
viết: “Nhà văn không có phép thần thông để vượt ra khỏi thế giới này, nhưng thế giới này trong con
mắt nhà văn phải có một hình sắc riêng”.
(Hoài Thanh, trích Bình luận văn chương, NXB Giáo dục, 1998, tr54)
Anh (chị) hiểu như thế nào về ý kiến trên. Hãy làm sáng tỏ.