Đề tài nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và đề xuất những kĩ thuật ban đầu để gây trồng loài hoàng liên ô rô (mahonia nepanensis dc ) tại khu bảo tồn thiên nhiên hoàng liên

  • 26 trang
  • file .pdf
1. Tên ý tưởng
“ Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và đề xuất những kĩ thuật
ban đầu để gây trồng loài Hoàng Liên ô rô (Mahonia nepanensis DC
) tại khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên “
2. Mục tiêu của ý tưởng
- Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và phân bố loài Hoàng Liên ô rô
tai khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên.
- Từ kết quả nghiên cứu làm cơ sở dữ liệu tổng hợp và hệ thống về
các đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật nhân giống vô tính loài
Hoàng liên ô rô phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo về loài.
3. Tổng quan nghiên cứu
3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
3.1.1. Phân loại và phân bố chi Mahonia trên thế giới
-Phân loại:
Hoàng liên ô rô (HLOR) – còn gọi là cây Mật gấu, Mã hồ, Hoàng bá gai,
Thích hoàng bá, Thập đại công lao... có tên khoa học là Mahonia nepalensis
DC. thuộc họ Hoàng liên gai (Berberidaceae), bộ Mao lương
(Ranunculales).
Theo Ying Junsheng (2001), họ Hoàng liên gai (Berberidaceae) có 17
chi và khoảng 650 loài, chủ yếu phân bố ở vùng ôn đới phía Bắc và vùng
miền núi á nhiệt đới. Riêng ở Trung Quốc, có tới 11 chi và 303 loài. Chi
Mahonia có gần 60 loài, phân bố ở Đông Á và Đông Nam Á, phía Tây của
Bắc Mỹ, vùng Trung Mỹ, và phía Tây của Nam Mỹ.
- Phân bố của chi Mahonia và loài HLOR
Chi Mahonia bao gồm khoảng 60 loài cây bụi, gỗ nhỏ thường xanh. Chi
này có quan hệ chặt chẽ với chi Berberis. Chính vì vậy, nhiều nhà thực vật
học không tán thành việc chấp nhận tên chi Mahonia nên đã xếp chi
Mahonia vào cùng với chi Berberis vì một số loài thuộc hai chi này có thể lai
giống với nhau. Tuy nhiên, chi Mahonia có lá kép lông chim lớn dài từ 10-
50 cm, với từ 5-15 lá chét và hoa mọc thành các cành (dài từ 5-20 cm). Tên
chi Mahonia được đặt theo Bernard McMahon (1775-1818), một người làm
vườn ở Philadelphia, Hoa Kỳ.
Phân bố HLOR ở một số quốc gia châu Á:
+ Trung Quốc: Theo Ying Junsheng (2001), ở Trung Quốc có tới 31
loài thuộc chi Mahonia, trong đó loài HLOR (M. nepalensis DC.) xuất hiện
ở trong rừng rậm, bìa rừng hoặc trong các bụi cây ở độ cao từ 1200-3000 m.
Phân bố ở tỉnh Hồ Nam, Nam Tứ Xuyên, Đông Tây Tạng và tỉnh Vân Nam.
+ Bhutan: Theo Chhetri (1989), ở Bhutan, M. nepalensis DC. phân bố ở
độ cao 1500-2400m, gần những dòng suối nhỏ, dưới những cây bụi khác.
Thời kỳ ra hoa từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau.
+ Ấn Độ và Nepal: Phân bố ở những khu vực núi cao trên 1500m.
+ Những nơi khác: M. nepalensis DC. là cây cho hoa màu vàng, mọc
thành cành khá đẹp nên được gây trồng làm cảnh ở nhiều nơi. Mặc dù loài
cây này chỉ có phân bố tự nhiên ở một số nước Châu Á (Trung Quốc, Nê-
pan, Việt Nam) nhưng nó đã được gây trồng ở nhiều nơi khác ở Đông Nam
Á (Indonesia, Malaysia và Myanmar), Sri-Lanka và một số nước ngoài châu
Á như Úc và miền Nam Châu Âu.
Thực tế đã cho thấy, việc cung cấp thực vật cho dược phẩm truyền thống
không thỏa mãn được nhu cầu (Cunningham, 1993). Do vậy, một giải pháp
thay thế thích hợp nhất cho những vấn đề mà ngành công nghiệp dược đang
phải đối mặt đó là phát triển hệ thống nuôi In Vitro nhằm đáp ứng nhu cầu
về dược thảo và các chất tiết của nó (Nalawade et al, 2004). Cùng với sự
phát triển của công nghê sinh học, việc nhân giống các loài cây dược liệu
bằng phương pháp In Vitro đã được nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở
Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan,... tiến hành và đã đem lại kết quả đáng khích
lệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng của việc sản xuất dược liệu (Arora,
1989). Trong tương lai, để phục vụ cho mục đích sức khỏe con người và sự
phát triển của xã hội, nhằm chống lại các bệnh nan y thì cần thiết có sự kết
hợp giữa Đông và Tây y, giữa y học hiện đại và kinh nghiệm cổ truyền dân
tộc. Vì vậy, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các lại cây thuốc là điều hết
sức cần thiết.
3.1.2. Việc sử dụng loài cây HLOR làm thuốc
HLOR là cây dược liệu dùng để chữa bệnh. Tác dụng trị bệnh đã được ghi
trong bộ sách Thần nông bản thảo của Trung Quốc như một loại thuốc được
xếp vào hàng thương phẩm. Ở Trung Quốc, người ta cũng dùng lá, thân và
quả của một loài tương tự có tên khoa học là Mahonia bealei (Fort) Carr. gọi
là Khoát diệp thập đại công lao hay Thổ hoàng bá để làm thuốc chữa bệnh
(Xiuhong Ji et al., 2000).
Các bộ tộc Khasi và Garo của Meghalaya (Ấn Độ) đã sử dụng vỏ cây
tươi của HLOR ép lấy dịch, rồi pha loãng với nước, dùng như thuốc nhỏ mắt
cho nhiều bệnh mắt khác nhau (Rao, 1981). Người dân địa phương còn
thường dùng chữa lỵ, ăn uống không tiêu, vàng da, đau mắt. Bộ phận thường
được sử dụng nhiều là vỏ cây (Laloo R. C. et al. 2006).
Balami (2006) đã nghiên cứu và tìm hiểu 119 loài thực vật được sử dụng
làm thuốc của người Newar thuộc làng Pharping huyện Kathmandu (Nê-
pan). Trong đó, quả và vỏ loài cây Mahonia nepaulensis có thể chế thành
dạng nước ép để chữa bệnh đi ngoài và bệnh lỵ. Ngoài ra còn có hai loài cây
khác cùng họ Berberidaceae là Berberis aristata DC. (Ban marpasi) và
Berberis asiatica Roxb. ex DC. (Marpasi) đều có thể tạo ra nước ép để chữa
bệnh đau dạ dày và cũng được cộng đồng này khai thác.
3.1.3. Kỹ thuật nhân giống và gây trồng
Ở Bắc Mỹ, Úc và một số nước Châu Âu sử dụng các loài cây khác
thuộc chi Mahonia (họ Berberidaceae) có hình thái gần giống với HLOR
trồng làm cảnh. Chẳng hạn ở Mỹ, nhiều loài cây thuộc chi Mahonia như là
M. equifolium; M. fortunei... được trồng làm cảnh xung quanh tường nhà, bờ
rào hoặc các khoảng trống giữa các sân trường. Một số loài về mùa đông lá
chuyển mầu đỏ rất đẹp và tồn tại qua mùa đông. Người ta cũng đã xây dựng
quy trình gồm 8 bước nhân giống dinh dưỡng, gây trồng và chăm sóc các
loài cây này.
3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong thời gian qua, công tác bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc ở
nước ta đã được quan tâm đáng kể. Nhiều bài học kinh nghiệm đã được rút
ra (Lê Thanh Chiến, 2005). Theo đó, một chiến lược bảo tồn và phát triển
cây thuốc được xác định như sau: Đối với cây dược liệu ngắn ngày, phải
điều tra quy hoạch ngay những vùng có loài mọc tập trung, xác định những
cây thuốc có nhu cầu sử dụng cao, đề xuất thời gian khai thác phù hợp với
khả năng tái sinh của cây. Đối với cây dược liệu đa niên, cần điều tra tài
nguyên cây thuốc trong các khu rừng bảo tồn, rừng đặc dụng, xác định các
cây thuốc quý để có kế hoạch bảo vệ và phát triển kịp thời. Lựa chọn một số
loài cây thuốc giá trị cao, đi sâu vào nghiên cứu nhân giống và phát triển kỹ
thuật gieo trồng tại một số vùng đất nhất định để góp phần nâng cao thu
nhập cho người dân địa phương. Chẳng hạn như cây thổ phục linh, là một
loại thân leo, ưa sáng, chịu hạn tốt, phù hợp với hệ sinh thái đất đồi, nương
rẫy. Các xí nghiệp dược thích mua thổ phục linh Phú Yên để làm thuốc chữa
thấp khớp rất công hiệu, thế nhưng người dân trong tỉnh chỉ mới khai thác tự
nhiên nên số lượng ngày càng ít dần và nguy cơ cạn kiệt loài cây này (Lê
Thị Tuyết Anh, Trung tâm Nghiên cứu và sản xuất dược liệu miền Trung
Trước đó, Trần Khắc Bảo (1994) đã đề cập đến các vấn đề về chế biến,
bảo quản và phát triển cây thuốc ở Lào Cai và Hà Giang. Lê Quý Ngưu,
Trần Như Đức (1998) đã tập trung mô tả đặc điểm hình thái, công dụng, nơi
mọc, kỹ thuật thu hái, chế biến và các bài thuốc làm từ các loài thực vật
trong đó có thực vật cho LSNG. Nguyễn Bá Hoạt (2002) đã đề cập đến tài
nguyên thực vật cho LSNG theo hướng phân loại hệ thống sinh và thống kê
thực vật có giá trị làm thuốc ở huyện vùng cao Sa Pa, Lào Cai. Tác giả tập
trung mô tả về công dụng và nơi mọc của các loài thực vật ở đây, trong đó
có loài HLOR.
Nghiên cứu về tiềm năng và vai trò LSNG đối với cuộc sống cộng đồng
ở một số vùng đệm của VQG và khu dự trữ thiên nhiên tại Việt Nam cho
thấy gần 200 tấn cây dược liệu ở VQG Ba Vì được khai thác trong năm 1997
và 1998, ước tính gần 60% dân tộc Dao tại Ba Vì tham gia vào thu hái cây
dược liệu. Đây là nguồn thu nhập chính trước đây và hiện nay là nguồn thu
nhập thứ hai sau lúa và sắn (D.A.Gilmour và Nguyễn Văn Sản, 1999).
Huỳnh Văn Kéo và cộng sự (2001) đã nghiên cứu về đa dạng sinh học cây
thuốc VQG Bạch Mã, đã đề cập đến vấn đề bảo tồn, sử dụng và phát triển
bền vững nguồn gốc cây thuốc.
Nhìn chung, HLOR ở Việt Nam là cây thuốc quý hiếm. Tính chất quý
hiếm ở đây trước hết xét về giá trị nguồn gen và do kích thước quần thể của
chúng ở nước ta nhỏ hẹp, vùng phân bố bị chia cắt mạnh. Tiếp đến là giá trị
làm thuốc. Xét về bản chất các alcaloid (chủ yếu là berberin) trong cây
HLOR có tác dụng chống nhiễm khuẩn, nhưng tác dụng này chưa được
nghiên cứu đầy đủ. Do vậy, có thể nói, người dân nói chung chưa có thông
tin đầy đủ về giá trị làm thuốc của HLOR, thường là chỉ qua lời đồn đại của
người bán hàng rong mà ở nhiều nơi như ở Đèo Gió (Cao Bằng), Sapa (Lào
Cai)..., thân và rễ HLOR được bán cho khách qua đường với giá rất cao
(50.000-70.000đ/kg thân gỗ khô) (Triệu Văn Hùng và cộng sự, 2007).
Người mua nhiều khi không chắc chắn đó là sản phẩm từ cây HLOR hay
không, những vẫn mua. Thực tế này đã dẫn đến việc khai thác quá mức
HLOR cho dù loài cây này còn rất ít trong tự nhiên (Đỗ Huy Bích, 2006) ở
khu vực này. Vì vậy vấn đề bảo tồn và phát triển loài cây này ở nước ta đã
trở nên cấp bách.
Gần đây, trên thị trường có giới thiệu sản phẩm có thể thay thế mật gấu.
Cây mật gấu còn là tên gọi của một số cây thuốc như cây Vàng kiêng
(Nauclea purpurea Roxb), họ Cà phê (Rubiaceae) chữa viêm túi mật; cây
Hy kiểm (Plectranthus ternifolius D.Don), họ Bạc hà (Lamiaceae)... Ngoài
ra, hiện nay ở chợ, dọc đường đi hoặc ở hiệu thuốc Y học cổ truyền, người ta
bán những đoạn thân, rễ với tên "Mật gấu" có thể được lấy từ cây HLOR
(Mahonia nepalensis DC.) ở một số tỉnh miền núi (Lào Cai, Hà Giang).
4. Tính cấp thiết của ý tưởng đè xuất
4.1. Giá trị và tình trạng của loài Hoàng liên ô rô hiện nay
Với tên “Thập đại công lao”: với vị đắng, tính hàn, quy kinh phế, trừ
ho, hạ nhiệt, bổ âm hư, trị đau ngực, đau gối, chóng mặt, ù tai, viêm gan,
vàng da, tiêu chảy, kiết lỵ. Chúng cũng được chứng minh có tác dụng kháng
sinh đối với Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Pseudomonas
aeruginosa…
Đây là loài cây có nguồn gen quý hiếm và độc đáo của Việt Nam và
có giá trị rất lớn về dược liệu: từ rễ và thân có thể chiết suất lấy berberin
dùng làm thuốc chữa bệnh đường ruột, rễ hoặc gỗ thân sắc uống chữa rối
loạn tiêu hóa, kiết lỵ, viêm ruột, đau mắt đỏ, viêm da dị ứng, mẩn ngứa, mụn
nhọt...
Tính vị, tác dụng: Hoàng liên ô rô có vị đắng, tính mát, có tác dụng
thanh nhiệt ở phế vị, can thận. Ở Ấn Độ, quả được xem như là lợi tiểu và
làm dịu kích thích.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng chữa ho lao, sốt
cơn, khạc ra máu, lưng gối yếu mỏi, chóng mặt ù tai, mất ngủ, Chữa viêm
ruột, ỉa chảy, viêm da dị ứng, viêm gan vàng da, mắt đau sưng đỏ, dùng rễ
hay cây khô sắc uống, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.
Hoàng liên ô rô ở Việt Nam là cây thuốc quý hiếm. Tính chất quý
hiếm ở đây trước hết xét về giá trị nguồn gen và do kích thước quần thể của
chúng ở nước ta nhỏ hẹp, vùng phân bố bị chia cắt mạnh. Tiếp đến là giá trị
làm thuốc. Xét về bản chất các alcaloid (chủ yếu là berberin) trong cây
HLOR có tác dụng chống nhiễm khuẩn, nhưng tác dụng này chưa được
nghiên cứu đầy đủ.
Do vậy, có thể nói, người dân nói chung chưa có thông tin đầy đủ về
giá trị làm thuốc của HLOR, thường là chỉ qua lời đồn đại của người bán
hàng rong mà ở nhiều nơi như ở Đèo Gió (Cao Bằng), Sapa (Lào Cai)...,
thân và rễ HLOR được bán cho khách qua đường với giá rất cao (50.000-
70.000đ/kg thân gỗ khô). Người mua nhiều khi không chắc chắn đó là sản
phẩm từ cây HLOR hay không, nhưng vẫn mua. Thực tế này đã dẫn đến việc
khai thác quá mức HLOR cho dù loài cây này còn rất ít trong tự nhiên ở khu
vực này. Vì vậy vấn đề bảo tồn và phát triển loài cây này ở nước ta đã trở
nên cấp bách.
4.2. Mức độ nguy cấp
Sách đỏ Việt Nam 2007 đã xếp hạng nguy cấp loài Hoàng Liên ô rô
(Mahonia nepalensis DC.) vào cấp (EN A1c, d).
Theo tiêu chuẩn của IUCN cho phân hạng danh lục đỏ và sách đỏ
(trích Sách đỏ Việt Nam 2007):
- Cấp EN (Endangered): Nguy cấp.
Một taxon được coi là nguy cấp khi chưa phải là rất nguy cấp nhưng đang
đứng trước một nguy cơ rất lớn sẽ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên trong một
tương lai gần.
- Tiêu chuẩn A: suy giảm quần thể dưới bất kỳ dạng nào dưới đây:
1. Suy giảm ít nhất 50%, theo quan sát, ước tính, suy đoán hoặc
phỏng đoán trong 10 năm cuối hoặc 3 thế hệ cuối (lấy khoảng tời
gian nào dài nhất) dựa trên (và xác định được) một trong những
điểm dưới đây:
( a ) Quan sát trực tiếp
( b ) Chỉ số về sự phong phú thích hợp với Taxon đó
( c ) Sự suy giảm nơi cư trú, khu phân bố hay chất lượng nơi sinh cư
( d ) Mức độ khai thác hiện tại hoặc khả năng
( e ) Tác động của các Taxon du nhập, lai tạo, dịch bệnh, chất ôi nhiễm,
vật cạnh tranh hoặc ký sinh
2. Suy giảm ít nhất 50%, theo dự đoán hoặc phỏng đoán, sẽ xảy ra
trong 10 năm tới hoặc 3 thế hệ tới (lấy hoảng thời gian nào dài
nhất), dựa trên (và xác định được) một trong những điểm (b), (c),
(d) hoặc (e) trên đây.
Như vậy, loài Hoàng liên ô rô (Mahonia nepalensis DC.) đang ở trong
tình trạng nguy cấp, suy giảm quần thể ít nhất 50%, theo quan sát, ước
tính, suy đoán hoặc phỏng đoán trong 10 năm cuối hoặc 3 thế hệ cuối do
sự suy giảm nơi cư trú, khu phân bố, chất lượng nơi sinh cư và mức độ
khai thác hiện tại hoặc khả năng khai thác. Loài này đang đứng trước
nguy cơ rất lớn bị tuyệt chủng trong một tương lai gần nếu không có các
biện pháp và phương án bảo tồn hiệu quả
5. Nội dung nghiên cứu của bảo tồn loài Hoàng Liên ô rô
Trong hệ thống phân loại, HLOR được xếp như sau:
Kingdom: Giới Plantae
Division: Ngành Magnoliophyta
Class: Lớp Magnoliopsida
Order: Bộ Ranunculales Mao lương
Family: Họ Berberidaceae Hoàng liên gai
Genus: Chi Mahonia
Species: Loài Mahonia nepalensis DC. HLOR
Tên khoa học đầy đủ là: Mahonia napaulensis de Candolle, Syst Nat.
Thường gọi là Mahonia nepalensis DC. hoặc Mahonia nepaulensis DC. Tên
Tiếng Anh là Nepaul Barberry
5.1. Nội dung nghiên cứu
* Nghiên cứu đặc điểm thân, hình thái bên ngoài.
* Nghiên cứu đặc điểm cây tái sinh đo đếm một số cây về các chỉ tiêu
Hvn, Dt, Lc, Lb.
* Nghiên cứu đặc điểm hình thái lá.
* Nghiên cứu đặc điểm cành và cách phân cành
* Nghiên cứu về đặc điểm hoa quả
* Nghiên cứu vật hậu
- Mùa rụng lá, ra hoa, chồi
- Mùa hoa, quả
5.2. Đặc điểm lâm phần nơi có loài Hoàng Liên ô rô phân bố
tập trung tại khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên
* Cấu trúc tổ thành cây gỗ, cây tái sinh
- Cấu trúc tổ thành cây tái sinh
- Cấu trúc tổ thành cây gỗ
* Cấu trúc của mật độ
- Mật độ cây gỗ
- Mật độ cây tái sinh
- Thành phần loài đi kèm
- Tái sinh quanh gốc mẹ
5.3. Đặc điểm hình thái của loài Hoàng liên ô rô
5.3.1. Thân
Cây thân thảo, cây bụi hay cây gỗ nhỏ, có thể có gai,cao 1,5 – 3m có
thể cao đến 5 - 7m.
Vỏ có lớp bần dày, màu trắng xám.
Gỗ thân và rễ có màu vàng nhạt.
Cây có thể phân nhánh.
5.3.2. Lá
Lá kép lông chim lẻ, dài 20 – 40 cm. Lá kép mang 11-25 lá chét mọc
đối xếp chéo hình chữ thập.
Bề mặt lá không có lông, cứng, gần như không cuống, hình bầu dục
hoặc hơi thuôn, cỡ 3,5 – 7 x 2,5 – 4 cm. Gốc hình tim hoặc cụt, đỉnh nhọn
hoắt thành gai.
Phiến lá dày, cứng, mép khía 3 – 5 răng cưa mép to, nhọn sắc, 3 gân
chính, gân phụ nổi rõ ở cả 2 mặt. Lá có thể chứa các viên sỏi, nhìn thấy đưới
dạng các sọc
Lá lúc non màu đỏ. Khi già chuyển thành màu xanh lục hoặc xanh lục
thẫm.
Lá kèm nhọn giống như hai gai nhỏ
5.3.3. Hoa
Hoa hoàn hảo, đối xứng hai bên tới gần như đối xứng tỏa tia, các hoa này
mọc thành một cụm hoa 1 – 5, hình bông, phân nhánh, mọc thẳng ở ngọn
Thông thường trên hoa có lá bắc nhiều màu sắc, hình bầu dục đối diện với
mỗi hoa.
Hoa nhiều, màu vàng nhạt. Đài hoa 9 xếp thành 3 vòng. Tràng hoa 6 hình
ống, 2 môi hay 5 thùy, có 2 tuyến mật ở gốc. Nhị hoa 6 xếp đối với tràng
hoa, bao phấn dài bằng nửa chỉ nhị, chỉ nhị có xúc ứng động. Bầu nhụy lớn,
hình trụ, phình ở giữa, lá noãn 1 với kiểu đính noãn gắn trụ.
5.3.4. Quả và hạt
Quả mọng hay quả hạch, màu xanh lơ, gần hình cầu, đường kính 6 – 7
mm, đầu quả có núm nhỏ do đầu nhụy còn tồn tại.
Quả có một hạt, là loại không có nội nhũ với các phôi lớn, màu nâu đen dài
khoảng 3 mm
5.4. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của loài
5.4.1. Đặc điểm sinh học và sinh thái học
Mùa hoa Hoàng liên ô rô vào các tháng 2 – 4, ra quả tháng 4 – 6.
Cây ra hoa kết quả nhiều, chủ yếu tái sinh tự nhiên bằng hạt, có khả
năng tái sinh chồi sau khi bị chặt phát. Đây là đặc điểm cho thấy loài có khả
năng nhân giống từ hạt và nhân giống vô tính từ hom khá tốt.
Cây mọc hoang ở vùng núi cao lạnh, thường gặp ở ven rừng một số
núi cao như Lang biang (Lâm Đồng) và Phăng xi păng (Lào Cai). Quả thu
hái về mùa hạ. Thân và lá thu hái quanh năm, rửa sạch, phơi khô.
Hoàng liên ô rô là cây ưa ẩm, lúc nhỏ chịu bóng, sau ưa sáng. Thích
nghi với vùng khí hậu ôn hòa, điều kiện khí hậu ẩm mát quanh năm, nhiệt độ
trung bình 15 - 16°C, lượng mưa 1600 – 2800 mm/năm, độ ẩm không khí
trên 80%, quanh năm sương mù. (Đà Lạt, Lang Bian). Thường mọc rải rác ở
ven rừng hoặc dưới tán rừng kín thường xanh ẩm ở độ cao 1700 – 1900 m.
Hiện nay ở theo Sách đỏ Việt Nam, 2007, loài Hoàng liên ô rô có phân bố
tại 6 tỉnh bao gồm Lâm Đồng, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Hà Giang và Cao
Bằng
5.4.2. Giá trị của loài
Với tên “Thập đại công lao”: với vị đắng, tính hàn, quy kinh phế, trừ
ho, hạ nhiệt, bổ âm hư, trị đau ngực, đau gối, chóng mặt, ù tai, viêm gan,
vàng da, tiêu chảy, kiết lỵ. Chúng cũng được chứng minh có tác dụng kháng
sinh đối với Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Pseudomonas
aeruginosa…
Đây là loài cây có nguồn gen quý hiếm và độc đáo của Việt Nam và
có giá trị rất lớn về dược liệu: từ rễ và thân có thể chiết suất lấy berberin
dùng làm thuốc chữa bệnh đường ruột, rễ hoặc gỗ thân sắc uống chữa rối
loạn tiêu hóa, kiết lỵ, viêm ruột, đau mắt đỏ, viêm da dị ứng, mẩn ngứa, mụn
nhọt...
Tính vị, tác dụng: Hoàng liên ô rô có vị đắng, tính mát, có tác dụng
thanh nhiệt ở phế vị, can thận. Ở Ấn Độ, quả được xem như là lợi tiểu và
làm dịu kích thích.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng chữa ho lao, sốt
cơn, khạc ra máu, lưng gối yếu mỏi, chóng mặt ù tai, mất ngủ, Chữa viêm
ruột, ỉa chảy, viêm da dị ứng, viêm gan vàng da, mắt đau sưng đỏ, dùng rễ
hay cây khô sắc uống, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.
5.5. Đề xuất phương thức bảo tồn
- Bảo tồn tai chỗ ( nội vi ) Ínitu
Với những giá trị mà cây Hoàng Liên ô rô mang lại hiện nay cây đang bị
khai thác một cách cạn kiệt và có nguy cơ suy thoái nghiêm trọng nên cần có
những biện pháp bảo tồn tại chỗ trong điều kiện tự nhiên tại vườn quốc gia
Hoàng Liên nhằm phát triển nguồn gen.
Đối với loài cây Hoàng Liên ô rô thì sẽ tiến hành bảo tồn trong vùng tự
nhiên như: vườn quốc gia hoặc khu bảo tồn thiên nhiên nơi có loài này phân
bố tự nhiên VQG Ba Vì, VQG Bạch Mã, khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng
Liên. Khi đã điều tra được nơi sống, điều kiện sống, phân bố tiến hành bảo
tồn theo các phương thức:
+ Bảo tồn loài Hoàng Liên ô rô ở dưới tán rừng nơi có loài phân bố tự nhiên
tại khu bảo tồn Hoàng Liên. Loài được bảo tồn ngoài tự nhiên hoặc trong
các vườn ươm, các lâm trường. Tại đây loài sẽ được trồng, chăm sóc và các
cán bộ kĩ thuật tiến hành nhân giống bằng phương pháp gieo ươm hạt hoặc
la giâm hom.
+ Bảo tồn loài do người dân: thực hiện trên đất rừng được giao khoán. Được
sự hướng dẫn của các cán bộ lâm nghiệp về kĩ thuật nhân giống, trồng, cũng
như chăm sóc. Mở các lớp tập huấn cho người dân về bảo vệ và phát triển
nguồn tài nguyên rừng. Đối với những cây đã lớn thì có thể bảo tồn nơi nó
mọc tự nhiên. Đối với những cây còn non, nhỏ thì có thể đưa về vườn nhà
của người dân để ươm.
- Bảo tồn chuyển chỗ ( ngoại vi ) Ex-Situ
+ Xây dựng các vườn thực vật, khu rừng thực nghiệm, vườn cây thuốc di dời
các cây Hoàng Liên ô rô trong môi trường tự nhiên ở khu bảo tồn thiên
nhiên Hoàng Liên vào môi trường sống mới. Các vườn thực vật đảm bảo
điều kiện sống thích hợp như nơi loài có phân bố tự nhiên. Sau thời gian loài
đã được thích nghi với điều kiện sống ở vườn tiến hành nghiên cứu và gây
trồng nhân tạo. Thực tế đã cho thấy việc nhân giống cây Hoàng Liên ô rô đã
khá thành công. Trạm nghiên cứu và gây trồng cây thuốc ở Tam Đảo và Sa
Pa, bước đầu cũng khẳng định khả năng nhân giống bằng hạt của cây là khá
tốt. Ngoài ra nhóm nghiên cứu này cũng tiến hành thử nghiệm nhân giống
vô tính bằng cách giâm hom và đã cho trồng thử nghiệm hang trăm cây trên
núi đá vôi tại Hà Giang. . Loài cây này cũng được thu thập về trồng tại vườn
của Trung tâm cây thuốc Đà Lạt (Viện Dược liệu) với mục đích bảo tồn
ngoại vi (Ex situ), cây sinh trưởng phát triển tốt. Bên cạnh đó, năm 2009,
Trung tâm nghiên cứu khoa học sản xuất lâm nghiệp vùng Tây Bắc (Viện
Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) đã tiến hành điều tra sơ bộ phân bố loài
cây này tại vùng núi cao Cò Mạ, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La và huyện
Sa Pa, tỉnh Lào Cai cho thấy cây phân bố ở rừng thứ sinh và phân bố ở độ
cao trên 1000m, số lượng cá thể phân bố còn rất ít, số cây mẹ nhân giống rất
hiếm gặp.
+ Bảo tồn ở các ngân gen hàng hạt. Hạt thu hai về được bảo quản theo hai
phương pháp chính:
. Ở nơi có điều kiện hạt thu hái về sẽ được bảo quản lạnh
. Bảo tồn tại các ngân hàng hạt cộng đồng. Người dân thu hái hạt về sẽ bảo
quản theo phương pháp truyền thống và dựa theo phương thức của địa
phương.
5.6. Các bước trong bảo tồn nguồn gen
- Điều tra khảo sát
+ Đặc điểm sinh vật
+ Đặc điểm phân bố
+ Đặc điểm kinh tế xã hội
- Đánh giá hiện trạng
+ Phân hạng
+ Tác động từ tự nhiên, con người
+ Khai thác, tái sinh
- Triển khai bảo tồn
+ Bảo tồn tại chỗ
+ Bảo tồn chuyển chỗ
+ Giải pháp tổng hợp
- Sử dụng, nhân rộng
+ Nhân rộng
+ Sử dụng nguồn gen
5.7. Thử nghiệm nhân giống, trồng phục vụ mục tiêu bảo tồn và phát
triển loài
- Thử nghiệm nhân giống vô tính: bằng phương thức giâm hom
- Thử nghiệm nhân giống hữu tính bằng hạt
5.8. Thử nghiệm trồng, theo dõi, đánh giá sinh trưởng
Trần Ngọc Hải và nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Lâm nghiệp
đã triển khai đề tài nghiên cứu, thu thập nguồn gen thực vật của một số loài
ở vùng lòng hồ thủy điện Sơn La về trồng tại Vườn sưu tập của Lâm viên
Sơn La từ 2007-2009. Kết quả là đã sưu tập và trồng được trên 30 loài cây
với diện tích 6ha, hiện nay vẫn còn một số loài cây đang ở vườn huấn luyện
và vườn ươm. Nhìn chung, các cây có tỷ lệ sống tương đối cao, nhiều loài
trong số đó sinh trưởng tốt, bước đầu thể hiện sự thành công của bảo tồn
chuyển chỗ, trong đó có loài HLOR. Loài cây này được lấy mẫu từ Tủa
Chùa (Lai Châu), rồi đưa về gây trồng thử nghiệm. Sau gần 2 năm, bước
đầu khẳng định, loài cây này có khả năng gây trồng ở dưới tán rừng, tuy
nhiên cây sinh trưởng rất chậm. Để thử nghiệm nhân giống vô tính, nhóm
nghiên cứu đã vào rừng tự nhiên đào tách cây con (cây mọc lên từ chồi của
cây trưởng thành), dùng bùn nhão hồ vào gốc và đem giâm trong nơi có
bóng râm, sau một thời gian chăm sóc, tỷ lệ cây sống và ra rễ khá cao và có
thể đem trồng. Cũng trong nghiên cứu này, một lô hạt giống HLOR được
thử nghiệm gieo cũng cho tỷ lệ nảy mầm 50-55%. Bên cạnh đó, nhóm
nghiên cứu cũng đã bước đầu thử nghiệm nhân giống vô tính loài cây này
nhưng kết quả nhân giống bằng hom cành không khả quan, chỉ hom thân của
loài cây này đã ra rễ và có khả năng phát triển
Tuy nhiên, khi thử nghiệm nhân giống loài cây này tại Lâm Đồng bằng hom
thân và cành từ 2008 đến nay, cành hom có thể ra rễ khi dùng các chất kích
thích ra rễ như IBA và IAA. Kết quả bước đầu cho thấy, sau 4-5 tháng giâm,
những hom sống đã mọc 3-6 lá. Hiện nay, các thí nghiệm đang được tiếp tục
theo dõi, đánh giá. Trung tâm cũng đã tiến hành thu hái hạt giống và gieo
ươm nhưng tỷ lệ nảy mầm của hạt thấp, chỉ đạt 40%, do chất lượng hạt kém.
Đây được xem là những kết quả ban đầu về nhân giống HLOR. Qua đó
khẳng định rằng, việc nhân giống vô tính loài cây này có triển vọng. Cần
tiếp tục thử nghiệm nhằm tạo ra nguồn giống thích hợp phục vụ công tác
trồng rừng bằng loài cây này tại Tây Nguyên, trong đó có Vườn Quốc gia
Bidoup - Núi Bà và những nơi có điều kiện tương đồng. Trung tâm nghiên
cứu khoa học sản xuất lâm nghiệp vùng Tây Bắc cũng đang tiến hành thử
nghiệm nhân giống và bảo tồn chuyển chỗ loài cây này tại Sơn La nhằm xác
định giống có khả năng gây trồng và sinh trưởng nhanh để bổ sung vào tập
đoàn cây trồng của khu vực Tây Bắc.
*Sau đây xin trình bày các bước nhân giống vô tính cho loài Hoàng Liên ô
rô:
+ Lấy hom giống: Chọn những cây sinh trưởng và chất lượng tốt nhất, có
nhiều cành bánh tẻ, không bị sâu bệnh hại để lấy hom cành. Số lượng hom
lấy trên một cây không quá nhiều để tránh gây tổn thất cho cây.
+ Cách lấy hom: hom được lấy ở những cây mẹ trên 2 tuổi, có thân và tán
đẹp, sinh trưởng tốt. Hom cành được lấy từ cành bánh tẻ hoặc đoạn thân
thẳng, mỗi đoạn hom có 2-3 đốt (vị trí có thể ra mầm). Hom được lấy ở đầu
cành hoặc giữa cành.
+ Cách cắt hom: dùng dao sắc để cắt, cắt vát 45 độ, không để đầu hom dập
nát, trầy xước. Chiều dài hom từ 10-12 cm, sau đó dùng kéo cắt bớt một
phần lá để giảm bớt sự thoát hơi nước cho hom.
+ Xử lý thuốc chống nấm bằng nước vôi trong (1%) trước khi xử lý thuốc
kích thích ra rễ.
+ Xử lý chất kích thích ra rễ và cắm hom:
- Lựa chọn chất kích thích ra rễ: Sử dụng IAA và IBA.
- Nhúng hom vào dung dịch chất kích thích ra rễ rồi cấy vào nền giá thể đã
được chuẩn bị. Độ sâu cắm hom khoảng 4-5 cm, hom được cắm đứng.
- Mùa giâm hom: mùa Xuân (tháng 1 đến tháng 4).
+ Chăm sóc hom sau khi giâm: hom được giâm trong nhà lưới. Định kỳ tưới
nước hàng ngày. Đặt một nhiệt kế và máy đo độ ẩm không khí trong luống
giâm hom để theo dõi thường xuyên. Tùy thuộc vào nhiệt độ, độ ẩm không
khí hàng ngày mà điều chỉnh lượng nước tưới và khoảng thời gian tưới cho
hợp lý.
+ Khi hom ra rễ và ra lá mới (2-3 lá) thì chuyển sang bầu đất. Thành phần
ruột bầu cho tất cả các cây hom, gồm 85-90% đất tầng mặt hoặc tầng B, 8-
12% phân chuồng hoai, 1-2% phân NPK. Bầu được xếp thành luống, trên có
dàn che, tưới nước đủ ẩm hàng ngày.
6. Phương pháp
6.1. Phương pháp chung.
- Điều tra, đo đếm trực tiếp các chỉ tiêu nghiên cứu về rừng và loài
Hoàng Liên ô rô ngay tại rừng nơi có cây Hoàng Liên ô rô phân bố
trong các ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình và cây tiêu chuẩn điển hình.
- Kế thừa, sử dụng các tài liệu về thực vật, về loài của khu vực nghiên
cứu và các công trình khoa học có liên quan về loài Hoàng Liên ô rô
đã được công bố.
6.2. Phương pháp cụ thể và các bước tiến hành.
6.2.1. Chuẩn bị:
- Chuẩn bị các tài liệu có liên quan đến công tác điều tra như: bản đồ
hiện trạng, tài liệu, giáo trình, sách báo… có liên quan đến loài và tài
liệu về khí hậu, điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội khu vực nghiên
cứu.
- Chuẩn bị dụng cụ nghiên cứu: địa bàn, thước dây, thước kẹp kính,
thước đo cao, phấn đánh dấu, dao phát, máy ảnh, bảng biểu ghi
chép…
6.2.2. Điều tra sơ thám:
- Dùng bản đồ và địa bàn tiến hành điều tra sơ thám, để biết về nơi
phân bố tập trung của Hoàng Liên ô rô.Tiến hành điều tra khảo sát 3
tuyến, các tuyến đi qua các dạng địa hình và trạng thái rừng khác
nhau:
+ Tuyến 1:
+ Tuyến 2:
+ Tuyến 3:
- Từ 3 tuyến xác định sơ bộ khu phân bố của loài từ đó tiến hành mở 3
tuyến chính thuộc khu có loài Hoàng Liên ô rô phân bố, trên mỗi
tuyến điều tra lập 3 OTC tại các vị trí chân núi, sườn núi, đỉnh núi.
Mỗi OTC có diện tích 500m2 (20x25) chiều dài OTC song song với
đường đồng mức, chiều rộng OTC vuông góc với đường đồng mức
OTC lập tại điểm điển hình của rừng.
6.2.3. Điều tra chi tiết
* Điều tra tầng cây cao.
Cây cao là những cây có tán tham gia vào tầng tán chính (tầng A) có D 1.3
> 6cm cây lớn được đo đếm các chỉ tiêu sau:
- Đo D1.3 bằng thước dây đã quy đổi.
- Đo Hvn , Hdc bằng sào, đo một số cây sau đó mục trắc các cây khác.
- Đo Dt bằng thước dây thong qua hình chiếu của nó trên mặt phẳng.
- Điều tra vật hậu : Điều tra những cây mình gặp như lá ra chồi, ra
hoa, ra quả.
- Điều tra tình hình sinh trưởng ở 3 mức độ: tốt, trung bình, xấu
+ Sinh trưởng tốt là : Cây có thân hình cân đối tán lá đều, không
cong queo, sâu bệnh, không cụt ngọn.
+ Sinh trưởng xấu là : Cây có tán lệch cong queo, sâu bệnh, cụt ngọn.
Kết quả 5 ghi vào biểu 01
Biểu 01 : Biểu điều tra cây gỗ
OTC số:………………… Địa hình:………...Người điều tra:…………..
Ngày điều tra:…………… Độ cao:…………….. .Độ tàn che:……………
Tên đất:…………...............Độ dốc:………….
TT TÊN D1.3 Hvn Dt (m) Sinh trưởng Ghi
LOÀI chú
ĐT NB TỐT TB XẤU
Tại các độ cao khác nhau em điều tra toàn bộ cây gỗ trong 9 OTC để
nghiên cứu tổ thành.
+ Vẽ trắc đồ : Mục đích điều tra cấu trúc tầng thứ, trắc đồ mô tả hai
chiều hình chiếu đứng và hình chiếu bằng của một dải rừng đại diện và một
chiều dài bằng cạnh 1 OTC tỷ lệ 1/200.
* Điều tra tầng cây tái sinh