Đề tài nghiên cứu cấp bộ nghiên cứu bổ sung cơ sở lý thuyết và xây dựng luận cứ cho một số nội dung của quy hoạch các khu công nghệ cao

  • 98 trang
  • file .pdf
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
--------------------------
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
ĐỀ TÀI CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU BỔ SUNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ XÂY DỰNG LUẬN CỨ CHO MỘT SỐ NỘI DUNG
CỦA QUY HOẠCH CÁC KHU CÔNG NGHỆ CAO
Tập trung vào các vấn đề quản lý nhà nước
các khu công nghệ cao và đầu tư vào
các khu công nghệ cao ở Việt Nam
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thanh Hà
Thành viên:
ThS. Cao Thu Anh
ThS. Trịnh Bá Dương
ThS. Nguyễn Thanh Hà
ThS. Nguyễn Võ Hưng
CN. Lê Quang Huy
ThS. Nguyễn Thị Phương Mai
ThS. Hoàng Văn Tuyên
7085
13/02/2009
Hà Nội, 2007
MỤC LỤC
GIỚI THIỆU........................................................................................................... 4
* Phương pháp nghiên cứu..................................................................................... 5
* Giới hạn phạm vi nghiên cứu .............................................................................. 6
Chương Một HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU CNC VÀ MỘT SỐ
VẤN ĐỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC........................................................................ 7
I. Hiện trạng về hoạt động phát triển các khu CNC ............................................... 7
I.1. Các khu công nghệ cao quy mô lớn, đa chức năng.......................................... 7
I.2. Vườn ươm CNC, vườn ươm doanh nghiệp CNC ............................................ 9
I.3. Triển vọng xây dựng mới hoặc chuyển đổi một số khu công nghiệp thành các
khu công nghiệp CNC .......................................................................................... 10
I.4. Khu (công viên, trung tâm) phần mềm .......................................................... 10
I.5. Khu Nông nghiệp ứng dụng CNC.................................................................. 11
II. Hiện trạng một số vấn đề quản lý Nhà nước về phát triển các khu CNC........ 12
II.1. Quan điểm phát triển các khu CNC ở Việt Nam chưa được xác định rõ ràng,
nhất quán .............................................................................................................. 12
II.2. Chưa thống nhất về quan điểm phân cấp quản lý các khu CNC .................. 14
II.3. Có nhiều quan điểm khác nhau về phân cấp quyết định thành lập khu CNC15
II.4. Thiếu các quy định cụ thể về nội dung và trách nhiệm quản lý Nhà nước đối
với Khu CNC ở địa phương ................................................................................. 16
II.5. Quyền hạn, trách nhiệm quản lý về đầu tư của Ban quản lý các khu CNC
cấp tỉnh chưa phù hợp .......................................................................................... 18
III. Hiện trạng về hoạt động của công ty phát triển khu CNC ............................. 19
III.1. Công ty phát triển khu CNC Hoà Lạc ......................................................... 20
III.2. Công ty phát triển Khu CNC TP.HCM ....................................................... 21
Chương Hai KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CNC ............................................. 24
I. Một số tính chất chung của các khu CNC......................................................... 24
I.1. Ý nghĩa chung của khu CNC ......................................................................... 24
I.2. Những bài học không thành công của các khu CNC trên thế giới ................ 25
II. Mô hình hoạt động của công ty phát triển khu CNC....................................... 28
III. Kinh nghiệm quốc tế về một số vấn đề quản lý nhà nước đối với các khu
CNC...................................................................................................................... 33
III.1. Phối hợp giữ Trung ương và chính quyền địa phương là nhân tố quan trọng
tạo nên sự thành công của các khu CNC.............................................................. 33
III.2. Kinh nghiệm phát triển các khu CNC ở Trung Quốc ................................. 37
2
Chương Ba MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CÁC
KHU CNC TẠI VIỆT NAM ................................................................................ 47
I. Một số vấn đề chung ......................................................................................... 47
I.1. Nguyên lý chung về quản lý .......................................................................... 47
I.2. Xu hướng đổi mới quản lý nhà nước ............................................................. 52
II. Quan điểm xây dựng và phát triển các khu CNC ............................................ 57
III. Mô hình công ty phát triển khu CNC............................................................. 58
IV. Mối quan hệ về chức năng, nhiệm vụ giữa Công ty phát triển khu CNC và
Ban quản lý khu CNC .......................................................................................... 60
IV.1. Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của Ban quản lý khu CNC.......................... 61
IV.2. Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của Công ty phát triển khu CNC................ 62
IV.3. Chức năng, nhiệm vụ do Ban quản lý và Công ty phát triển khu CNC cùng
phối hợp thực hiện................................................................................................ 63
V. Trách nhiệm quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương) đối với phát triển các khu CNC ...................................... 63
VI. Bộ máy quản lý các khu CNC ở cấp địa phương trong Ban Quản lý các khu
công nghiệp .......................................................................................................... 64
VII. Tên gọi mới của Ban Quản lý các khu công nghiệp sau khi có bộ phân quản
lý các khu CNC .................................................................................................... 68
PHỤ LỤC ............................................................................................................. 72
Phụ lục 1. ĐỒ TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐIỀU HÀNH KHU CÔNG NGHỆ CAO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH............................................................................. 73
Phụ lục 2. NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÔNG TY PHÁT TRIỂN KHU
CNC TP.HCM ...................................................................................................... 74
Phụ lục 3. NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÔNG TY PHÁT TRIỂN KHU
CNC HÒA LẠC ................................................................................................... 79
Phụ lục 4. MỘT SỐ KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC VỀ PHÁT TRIỂN
CÁC KHU CNC ................................................................................................... 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................... 97
3
GIỚI THIỆU
Ở nhiều nước trên thế giới, các khu công nghệ cao (CNC) đóng vai trò
quan trọng vào thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế. Ở Việt Nam,
Quyết định của Chính phủ về việc xây dựng hai khu CNC đa chức năng với quy
mô lớn – Khu CNC Hòa Lạc và Khu CNC Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM),
đã khẳng định một trong những quyết tâm rất lớn nhằm cải tiến cơ sở hạ tầng
khoa học và công nghệ một cách căn bản, thúc đẩy ứng dụng và phát triển các
công nghệ tiên tiến phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Tuy nhiên, trong khi hai khu CNC Hoà Lạc và Tp.HCM do Thủ tướng
quyết định thành lập vẫn còn đang tiến triển chậm sau một thời gian dài, thì
nhiều tổ chức và chính quyền địa phương xúc tiến hoặc nghiên cứu chuẩn bị
thành lập nhiều loại hình khu CNC ở các địa phương.
Xu hướng đa dạng hóa các loại hình khu CNC ở nhiều quốc gia trên thế
giới và tiềm năng xây dựng các khu CNC ở Việt Nam đang đặt ra những yêu cầu
mới cho các cơ quan quản lý nhà nước về việc xem xét, xác định lại khái niệm
và loại hình và điều kiện thành lập các khu CNC ở Việt Nam nhằm phát huy tốt
thế mạnh của các địa phương.
Đề án Phát triển các khu CNC ở Việt Nam do Viện Chiến lược và Chính
sách Khoa học và Công nghệ soạn thảo giai đoạn 2005 -2006 đã tập trung nghiên
cứu và làm rõ một số mô hình khu CNC có tiềm năng phát triển ở Việt Nam,
quan điểm và mục tiêu xây dựng và phát triển các khu CNC đến năm 2020, khái
niệm và loại hình khu CNC, điều kiện cần thiết để thành lập khu CNC, phác thảo
lộ trình xây dựng và phát triển các khu CNC, hỗ trợ và ưu đãi xây dựng và phát
triển khu CNC, quy định về phê duyệt và cấp phép thành lập khu CNC. Tuy
nhiên, do hạn hẹp về thời gian, kinh phí..., Đề án này chưa có điều kiện đi sâu
nghiên cứu toàn bộ các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước đối với việc xây
dựng và phát triển khu CNC.
Vì vậy, mục tiêu chung của Đề tài này sẽ đi sâu nghiên cứu, đề xuất một
số giải pháp quản lý nhà nước về xây dựng và phát triển các khu CNC nhằm
cung cấp các luận cứ để bổ sung và cụ thể hóa một số nội dung liên quan trong
bản Đề án Phát triển các khu CNC ở Việt Nam.
4
Trên tình thần đó, Đề tài này tập trung làm rõ một số vấn đề chủ yếu sau:
1) Nội dung và trách nhiệm quản lý nhà nước ở các địa phương (tỉnh,
thành phố trục thuộc Trung ương) về phát triển các khu CNC. Trong đó, tập
trung vào vai trò, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Ban quản lý các khu CNC.
2) Mô hình hoạt động của công ty phát triển khu CNC trong hoạt động
quản lý đầu tư và kinh doanh phát triển khu CNC;
3) Xác định rõ mối quan hệ về chức năng, nhiệm vụ giữa công ty phát
triển khu CNC và Ban quản lý của một khu CNC.
* Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết:
Thu thập và xử lý các thông tin, tài liệu của nước ngoài, đặc biệt một số
nước trong khu vực có nhiều thành công trong phát triển các khu CNC để phân
tích làm rõ các quan điểm về vai trò, chức năng quản lý nhà nước đối với phát
triển các khu CNC ở Việt Nam.
- Nghiên cứu thực tiễn:
+ Khảo sát tại một số địa phương. Hoạt động khảo sát tại địa phương, đặc
biệt tại một số tỉnh, thành phố thuộc các vùng kinh tế trọng điểm (Hà Nội, Hải
Phòng, Tp.HCM, Đà Nẵng, Đồng Nai, Bình Dương…) để đưa ra những phân
tích, đánh giá thực tiễn về quan điểm, hiện trạng, triển vọng và khó khăn đối với
vấn đề phát triển và quản lý các khu CNC.
+ Lấy kiến chuyên gia. Để bảo đảm tính khách quan khi đưa ra những
đánh giá, các cuộc trao đổi, tọa đàm với các chuyên gia quản lý thuộc một số Bộ
ngành liên quan (Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư…).
+ Nghiên cứu trường hợp. Các nghiên cứu trường hợp tại một số khu
CNC (Ban quản lý và Công ty phát triển khu CNC Hòa Lạc, Ban quản lý và
Công ty phát triển Khu CNC TP.HCM) nhằm tìm hiểu rõ hơn chức năng, nhiệm
vụ, hoạt động, thuận lợi và khó khăn và tiếp thu các giải pháp đề xuất.
5
* Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Quản lý nhà nước và đầu tư là hai vấn đề có phạm vi rất rộng, liên quan
đến nhiều chủ đề khác nhau. Trong đề tài này, chúng tôi đã đề nghị và được Hội
đồng xét duyệt đề cương nghiên cứu chấp nhận giới hạn nội dung nghiên cứu,
theo đó:
+ Vấn đề quản lý nhà nước sẽ tập trung vào tổ chức hoạt động và vai trò
của Ban quản lý khu CNC, vì trong thực tế, đây là vấn đề gặp nhiều vướng mắc
nhất, được các nhà quản lý ở địa phương đặt ra nhiều nhất.
+ Vấn đề đầu tư sẽ tập trung vào vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của
công ty phát triển khu CNC, vì đây được coi là một trong nhũng mắt xích quan
trọng nhất để thu hút được đầu tư vào khu CNC.
6
Chương Một
HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU CNC
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Các cuộc làm việc, khảo sát với các địa phương cho thấy nhiều bất cập
trong việc phát triển các khu CNC. Thứ nhất, quan niệm về các loại hình khu
CNC, chức năng, vai trò và hoạt động của các khu này không thống nhất. Thứ
hai, điều kiện cần và đủ cho việc thành lập và hoạt động của các khu chưa được
nhận thức đầy đủ. Thứ ba, có xu hướng thành lập khu CNC tràn lan theo phong
trào, dẫn tới nguy cơ nhiều khu CNC thành lập ra có thể không đi vào hoạt động
hoặc hoạt động với hiệu quả kém.
Khó khăn chung của hai khu CNC Hòa Lạc và Khu CNC TP.HCM là
thiếu giải pháp khả thi cho công tác giải phóng mặt bằng và thiếu cơ sở pháp lý
cho việc huy động vốn đầu tư xây dựng. Khu CNC TP.HCM được đánh giá là
thực hiện nhanh hơn so với Khu CNC Hòa Lạc, một phần do những lợi thế về vị
trí - địa điểm.
Ngoài ra, một số tỉnh, thành phố cũng đã và đang thành lập các đặc khu
theo kiểu vườn ươm công nghệ, trung tâm/công viên phần mềm và khu nông
nghiệp CNC. Trong đó, một số khu đã đi vào hoạt động được vài năm, nhưng
tính chất hoạt động và chức năng còn rất sơ sài, chủ yếu tập trung vào dịch vụ
cho thuê đất, phòng ốc và một số tiện ích cơ bản. Hầu hết các khu này đều chưa
có chức năng ươm tạo doanh nghiệp CNC. Nhìn chung, việc xây dựng các khu
này chủ yếu dựa trên ý muốn chủ quan của các cơ quan quản lý địa phương.
I. Hiện trạng về hoạt động phát triển các khu CNC
I.1. Các khu công nghệ cao quy mô lớn, đa chức năng
a) Khu CNC Hòa Lạc
Mặc dù tiến độ thực hiện Dự án Khu CNC Hòa Lạc rất chậm so với kế
hoạch, nhưng hai năm gần đây đã có những bước tiến đáng kể. Nguyên nhân chủ
yếu là do quá trình triển khai xây dựng dự án này gặp nhiều khó khăn, đặc biệt
liên quan đến giải phóng mặt bằng và phân công, phân cấp trách nhiệm cũng như
việc phối hợp thực hiện giữa các cơ quan liên quan.
Trong năm 2007 đã có khoảng 500 đoàn doanh nghiệp trong và ngoài
nước, đặc biệt là từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Đài Loan, Trung Quốc...đến khảo
sát và tìm hiểu cơ hội đầu tư, trong đó Ban Quản lý Khu CNC Hoà Lạc đã cấp
7
phép cho 9 dự án với tổng số vốn đầu tư trên 200 triệu USD và hiện nay đang có
hàng loạt dự án xin cấp phép như dự án lắp ráp và thử nghiệm chip của V-CAPS
(Mỹ), dự án Trung tâm triển lãm quốc tế CNC trị giá 785 triệu USD của N-City
(Hàn Quốc)...Trong đầu năm 2008 tới, đại học FPT sẽ được khởi công và đến
tháng 9/2009 sẽ chính thức tuyển sinh...
Bên cạnh đó, Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã giúp cập nhật
lại quy hoạch tổng thể, hoàn thiện báo cáo cuối kỳ và dự kiến Ban quản lý sẽ
trình Thủ tướng phê duyệt trong tháng 1/2008; mục tiêu đặt ra của Khu CNC
Hoà Lạc là đến năm 2010 sẽ lấp đầy 50-60% diện tích khu công nghiệp và khu
công viên phần mềm, phấn đấu có từ 8-10 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia
và đến năm 2015 sẽ cơ bản lấp đầy cá khu vui chơi giải trí, khu nhà ở và khu
trung tâm...
Ngoài ra, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) Khu CNC Hòa Lạc đã
được giao cho UBND tỉnh Hà Tây đảm trách nên đã nhanh chóng đạt được
những kết quả. Chỉ trong 6 tháng đầu năm, đã giải phóng được 148ha và dự kiến
đến cuối năm 2007 sẽ có thêm hơn 200ha nữa được bàn giao cho Khu CNC. Do
đó, đến đầu năm 2008, Khu CNC sẽ có 600ha sẵn sàng cho các nhà đầu tư.
b) Khu CNC Thành phố Hồ Chí Minh
So với Khu CNC Hòa Lạc, Khu CNC TP.HCM có một số lợi thế nhất
định. Về địa điểm, Khu này chỉ cách trung tâm thành phố, cảng Sài Gòn và sân
bay quốc tế Tân Sơn Nhất khoảng 15km, nằm ở giữa 43 khu công nghiệp và khu
chế xuất, gần Đại học Quốc gia TP.HCM và các viện nghiên cứu công nghệ. Về
nhu cầu sản xuất công nghiệp CNC, Khu CNC TP.HCM đã thu hút được sự quan
tâm của nhiều doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Về sự cam kết của chính quyền
địa phương, Ủy ban nhân dân TP.HCM đã có nhiều nỗ lực trong việc phân công
các cơ quan ban ngành hỗ trợ giải quyết các vấn đề giải phóng mặt bằng, cam kết
phân bổ ngân sách đầu tư cơ sở hạ tầng và kêu gọi đầu tư vào Khu CNC.
Khu CNC Tp.HCM phát triển theo mô hình là một khu kinh tế kỹ thuật,
thu hút đầu tư nước ngoài và huy động các nguồn lực khoa học công nghệ cao
trong nước. Đây là nơi tập trung lực lượng sản xuất hiện đại, kết hợp sản xuất -
kinh doanh với chuyển giao, đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển CNC.
Hiện nay, Khu CNC Tp.HCM tập trung thu hút đầu tư các ngành công
nghệ cao thuộc 4 lĩnh vực: a) Công nghệ vi mạch bán dẫn, công nghệ thông tin
và viễn thông; b) Công nghệ tự động hóa, cơ khí chính xác; c) Công nghệ sinh
học áp dụng cho y tế, dược phẩm và môi trường; d) Công nghệ vật liệu mới,
công nghệ nano và năng lượng.
8
Triển vọng thu hút đầu tư công nghệ cao vào Khu CNC là rất rõ ràng và
sáng sủa - nhất là sau khi tập đoàn Intel quyết định đầu tư vào Khu CNC. Hiện
nay, có 39 dự án đăng ký đầu tư với tổng vốn khoảng 850 triệu USD và 85 ha
đất. Ngoài việc thu hút các dự án sản xuất công nghiệp CNC, một số tập đoàn,
công ty lớn cũng có ý định đầu tư phát triển các loại hình dịch CNC trong Khu
CNC.
Dù được đánh giá là có sức hấp dẫn, nhưng Khu CNC Tp.HCM vẫn còn
nhiều rào cản khiến các nhà đầu tư quan ngại, đặc biệt là chất lượng và số lượng
nhân lực cho các ngành CNC còn rất hạn chế.
I.2. Vườn ươm CNC, vườn ươm doanh nghiệp CNC
Mặc dù khái niệm về ươm tạo công nghệ còn khá mới mẻ ở Việt Nam,
nhưng cũng đã có một số dự án đang được triển khai xây dựng. Mô hình vườn
ươm ở Việt Nam hiện nay cũng khá đa dạng, trong đó có 3 loại: 1) vườn ươm
công nghệ, 2) vườn ươm công nghệ và doanh nghiệp, và 3) vườn ươm doanh
nghiệp. Có thể phân loại các dự án vườn ươm ở Việt Nam như sau:
+ Vườn ươm công nghệ: Vườn ươm CNC trong Khu CNC Hòa Lạc và
Vườn ươm CNC trong Khu CNC Tp HCM, trong đó các dự án ươm tạo sẽ thuộc
các lĩnh vực: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới,
công nghệ tự động hóa…1
+ Vườn ươm công nghệ và doanh nghiệp: “Vườn ươm Doanh nghiệp
Bách Khoa - FPT”.2
+ Vườn ươm doanh nghiệp: Chương trình phát triển khu vực tư nhân do
Cộng đồng Châu Âu cũng tài trợ xây dựng thử nghiệm hai vườn ươm chuyên
ngành: Vườn ươm công nghệ chế biến thực phẩm ở Hà Nội và Vườn ươm công
nghệ thông tin-viễn thông ở TP.HCM. Mục tiêu của hai vườn ươm này là tăng
cường năng lực quản lý và đổi mới công nghệ cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và
vừa ở Việt Nam.
1
Hai dự án xây dựng Vườn ươm CNC, một thuộc Khu CNC Hòa Lạc và một thuộc Khu CNC TPHCM được
tổ chức InWEnt của Đức hỗ trợ. Đến nay, cả hai dự án này đang trong giai đoạn hoàn thiện nghiên cứu khả
thi, xây dựng mô hình.
2
Cuối tháng 3/2005, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (ĐHBKHN) và công ty FPT hợp tác phát triển
''Vườn ươm doanh nghiệp Bách Khoa - FPT" trên cơ sở phối hợp và hỗ trợ giữa vườn ươm sẵn có của hai
bên.
9
Nhìn chung, các mô hình vườn ươm được đề xuất xây dựng đều nhấn mạnh
tới vai trò quan trọng của việc cung cấp các dịch vụ chuyên ngành chất lượng
cao cho các dự án ươm tạo. Theo dự kiến, các vườn ươm sẽ hỗ trợ các dự án
công nghệ có tính khả thi cao bằng việc cung cấp dịch vụ chuyên ngành và cơ sở
vật chất ngay từ giai đoạn hình thành ý tưởng tới phát triển sản phẩm và đến khi
thành lập và phát triển doanh nghiệp.
I.3. Triển vọng xây dựng mới hoặc chuyển đổi một số khu công nghiệp thành
các khu công nghiệp CNC
Ý tưởng xây dựng khu công nghiệp CNC cũng đã được một số địa
phương quan tâm đề xuất, đặc biệt là các địa phương đang hoặc có khả năng trở
thành trung tâm sản xuất công nghiệp mới như Đồng Nai, Bình Dương ở miền
Nam, và Hải Dương, Hải Phòng ở miền Bắc. Tuy nhiên, quan điểm của nhiều
địa phương về khu công nghiêp CNC thực chất là các khu công nghiệp hoạt
động trong các lĩnh vực CNC.3 Thực tế, các khu này chỉ thuần túy thực hiện
chức năng sản xuất ra các sản phẩm CNC, mà không có các hoạt động ươm tạo
hay nghiên cứu.
Trong nhiều trường hợp, đội ngũ quản lý các khu công nghiệp không hiểu
rõ bản chất chức năng ươm tạo công nghệ. Thực tế, rất ít khu công nghiệp đang
hoạt động hiện nay có nhu cầu xây dựng một vườn ươm bên trong. Nhu cầu dẫn
tới ý muốn lập khu khu công nghiệp CNC dường như chủ yếu là để nhận được
các ưu đãi của Nhà nước và sử dụng các ưu đãi này để thu hút đầu tư nước
ngoài.
I.4. Khu (công viên, trung tâm) phần mềm
Đến nay, Việt nam có khoảng 10 khu phần mềm đang hoạt động, tập trung
ở một số thành phố lớn. Có thể phân loại các khu như sau:
- Các khu hoạt động hiệu quả: Công viên phần mềm Quang Trung, Trung
tâm công nghệ phần mềm TP.HCM.
- Các khu đang phát triển: Trung tâm công nghệ phần mềm Đà Nẵng,
Trung tâm công nghệ phần mềm Cần Thơ, Trung tâm công nghệ phần mềm Huế,
Trung tâm công nghệ phần mềm Hải Phòng, Khu công nghệ phần mềm Đại học
Quốc gia TP.HCM, Trung tâm công nghệ phần mềm Hà Nội.
3
Khi nói về khu công nghiệp CNC, nhiều người trong đó có nhiều nhà quản lý thường liên tưởng đến một số
khu công nghiệp hoạt động trong một số lĩnh vực CNC như Khu Công nghiệp Numura ở Hải Phòng, Khu
Công nghiệp Sài Đồng, Khu Công nghiệp Bắc Thăng Long-Nội Bài, Khu Công nghiệp Nhơn Trạch.....
10
- Các khu dự kiến xây dựng: Trung tâm công nghệ phần mềm Đà Lạt,
Trung tâm công nghệ phần mềm Bình Dương.
Phần lớn các trung tâm phần mềm hiện nay chủ yếu làm dịch vụ cho thuê
địa điểm và một vài tiện ích văn phòng cơ bản, chưa quan tâm đến các dịch vụ
ươm tạo.
Theo đánh giá của Hội tin học TP.HCM, trong tổng số gần 400 công ty
hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin trên cả nước mới có khoảng 35%
trong số đó hoạt động trong các khu công viên phần mềm tập trung, trong đó
phần lớn thuộc Công viên phần mềm Quang Trung (hơn 60 doanh nghiệp) và
Trung tâm công nghệ phần mềm TP.HCM.
I.5. Khu Nông nghiệp ứng dụng CNC
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết Việt Nam sẽ xây dựng
hơn 10 khu nông nghiệp CNC trên cả nước. Từ nay đến 2010, tập trung chủ yếu
ở Tp.HCM, Hà Nội, Thái Nguyên, Cần Thơ, Hải Phòng... Một số khu, trung tâm
sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC điển hình đang và sắp đi vào hoạt động có
thể kể tới như sau:
- Tp.HCM là địa phương có khá nhiều dự án đang triển khai, bao gồm:
Khu nông nghiệp CNC ở huyện Củ Chi với diện tích 88 ha, tổng vốn đầu tư 88
tỷ từ nguồn ngân sách thành phố; Trung tâm công nghệ sinh học với diện tích
24ha tại Quận 12 có vốn đầu tư gần 70 tỷ, có đẩy đủ các chức năng nghiên cứu,
sản xuất thử, sản xuất vacxin, nhân giống, đào tạo và thương mại. Ngoài ra,
Thành phố còn đang triển khai hoạt động một loạt các trung tâm khác, như:
Trung tâm giống thủy sản nước ngọt tại Củ Chi, Trung tâm giống thủy sản nước
mặn Cần Giờ, Trung tâm quản lý - kiểm định giống cây trồng vật nuôi Nhị
Xuân.
- Cần Thơ với điển hình Khu sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC - Nông
trường Sông Hậu với diện tích gần 7000 ha và trên 10.000 lao động.
- Từ năm 2004, dự án nông nghiệp CNC của Trung tâm kỹ thuật rau quả
Hà nội đã đi vào hoạt động (diện tích quy hoạch 15 ha) với số vốn đầu tư 24 tỷ
(50% từ ngân sách thành phố, còn lại tự huy động). Trong giai đoạn đầu, trung
tâm mới thí điểm trồng cà chua bi, cà chua quả to, dưa leo, dưa xanh, ớt ngọt,
hoa hồng và hoa lan trên diện tích 1ha nhà kính, giống và công nghệ được cung
ứng trọn gói từ hãng Netafim, Isarel, với tổng chi phí đầu tư 7 tỷ đồng/1ha nhà
kính. Trung tâm đã đạt được những kết quả rất khả quan (thời gian gieo trồng
11
ngắn, thu hoạch quanh năm và năng suất gấp 15 lần) và mô hình này sẽ được nh
ân rộng tại các huyện: Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Từ Liêm cho các lĩnh
vực về rau, hoa và cá với tổng diện tích lên tới 300ha, vốn đầu tư 1.000 tỉ đồng.
Đồng thời nhân rộng mô hình sản xuất rau - hoa - quả ra các địa phương khác
như: Hải Phòng, Hà Tây, Thái Bình,...
- Tỉnh Bạc Liêu đang soạn thảo dự án xây dựng khu nông nghiệp CNC có
qui mô 100 ha, chia thành hai giai đoạn đầu tư: Giai đoạn đầu (2005-2010) 50 ha
và mở rộng lên 100 ha trong giai đoạn 2011- 2020. Địa điểm dự tính xây dựng
Khu nông nghiệp CNC là kế cận khu vực đang dự kiến xây dựng Trường đại học
Bạc Liêu với 6 tiểu khu chức năng: tiểu khu trung tâm, thực nghiệm và trình
diễn, sản xuất, nuôi trồng nấm và các chế phẩm sinh học, bảo quản chế biến
nông sản và tiểu khu lâm sinh, sinh vật cảnh và du lịch sinh thái kết hợp đào tạo
huấn luyện nguồn nhân lực và chuyển giao tri thức nông nghiệp - công nghiệp.
Bên cạnh trường hợp thành công, có thể nhận thấy còn có sự lúng túng về
quan điểm, nguyên tắc xây dựng và phát triển nên dẫn đến nhiều khu không di
vào hoạt động, chỉ muốn gắn mác là khu CNC để được hưởng các chế độ ưu đãi
của Nhà nước.
II. Hiện trạng một số vấn đề quản lý Nhà nước về phát triển các khu CNC
II.1. Quan điểm phát triển các khu CNC ở Việt Nam chưa được xác định rõ
ràng, nhất quán
a) Mức độ chú ý đến tính chất CNC. Thực tế đã có nhiều bằng chứng khác
nhau về mức độ chú ý đến tính chất CNC của các khu CNC. Trong khi chỉ có
một số ít khu CNC thực sự nhấn mạnh đến tính chất CNC của các nhà đầu tư
hoạt động trong khu, thì nhiều khu khác, đặc biệt là các khu do địa phương thành
lập lại không thực sự chú ý đến khía cạnh này. Phần lớn các khu CNC (hoặc đề
án đang triển khai xây dựng) đều nhấn mạnh tính chất sản xuất và ứng dụng
CNC sẵn có từ bên ngoài. Chức năng nghiên cứu - phát triển, ươm tạo
CNC/doanh nghiệp CNC hầu như không được quan tâm đúng mức trong quy
hoạch tổng thể của nhiều đề án thành lập khu CNC.
b) Tương quan giữa mức độ hiện đại của cơ sở hạ tầng với yêu cầu về các
dịch vụ hỗ trợ chuyên môn. Nhiều khu CNC chủ yếu tập trung đầu tư cho cơ sở
hạ tầng nhằm thu hút các nhà đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài. Mặc dù
nhiều dự án thành lập khu CNC tuyên bố chú trọng cung cấp nhiều loại dịch vụ
chuyên môn chất lượng cao, nhưng trên thực tế thì chủng loại và chất lượng các
dịch vụ được cung cấp không đáng kể.
12
Chúng tôi cho rằng, trong điều kiện ngày nay, khi mà việc xây dựng cơ sở
hạ tầng nhà xưởng và kể cả hạ tầng kỹ thuật và viễn thông đã trở nên đơn giản
hơn nhiều so với trước đây (ví dụ viễn thông băng thông rộng, đường truyền thuê
riêng với dung lượng cao, giá giảm nhiều), thì sự cấp thiết đặt ra về hạ tầng phần
cứng đã giảm đi nhiều. Một lý do quan trọng khác nữa là hiên nay và trong
tương lai, có rất nhiều khu công nghiệp đã và đang được xây dựng (gần 500 theo
Quy hoạch điều chỉnh do Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo), và vì thế cơ sở hạ
tầng thuần tuý sẽ được đáp ứng bởi các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh
tế mở… Thêm nữa, một khu CNC mà thực sự không có gì khác biệt với các khu
công nghiệp bình thường sẽ làm méo mó về thị trường, tạo ra ưu đãi không bình
đẳng cho các doanh nghiệp về cơ bản giống nhau nhưng hoạt động ở hai loại khu
khác nhau.Vì thế, sự chú ý đối với "phần mềm" là các dịch vụ hỗ trợ chuyên
môn càng phải được đặt ra nếu muốn cho khu CNC tạo nên sự khác biệt.
Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra đối với các cơ quan quản lý Nhà nước là một
khu nào đó có phải thoả mãn yêu cầu tối thiểu về các dịch vụ chuyên môn để
được gọi là khu CNC hay không, và yêu cầu đó nên đặt ở mức độ nào là hợp lý
về mặt chủng loại và chất lượng?
c) Mức độ chú ý đến vai trò phát triển vùng của khu CNC. Nhiều khu
CNC ở các nước đang phát triển, đặc biệt là những khu do chính phủ và chính
quyền địa phương khởi xướng, đặt ra kỳ vọng khá lớn vào vai trò phát triển kinh
tế - xã hội vùng nơi khu CNC được xây dựng. Theo chúng tôi, phát triển vùng
chỉ nên được coi là giá trị gia tăng phụ thêm của khu CNC, chứ không nên được
coi là mục tiêu tự thân của việc phát triển các khu CNC (kể cả đối với các khu
nông nghiệp CNC, được coi là có liên hệ gần gũi hơn với nông nghiệp và phát
triển nông thôn). Đã có nhiều bài học cho thấy các công trình đầu tư tốn kém đã
không mang lại hiệu quả tương xứng về phát triển vùng.
Một vấn đề liên quan khác cần chú ý là các khu CNC phải đóng góp vào
việc nâng cao trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trong nước. Tác động lan
tỏa công nghệ của các khu CNC bao gồm tác động trực tiếp tới các doanh nghiệp
trong khu và tác động gián tiếp đến các doanh nghiệp bên ngoài khu. Một khu
chỉ được coi là khu CNC khi bản thân khu đó và các tổ chức trong khu đó có
đóng góp đáng kể tới việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và tính cạnh
tranh của các doanh nghiệp bên ngoài khu.
Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra đối với các cơ quan quản lý Nhà nước là làm thế
nào để đánh giá được mức độ của các tác động này, và tương quan giữa hai loại
tác động này như thế nào là chấp nhận được?
13
d) Tương quan giữa dịch vụ được cung cấp bởi các tổ chức trong khu với
các dịch vụ được cung cấp bởi các tổ chức bên ngoài khu. Có khá nhiều khu
tuyên bố là có cung cấp nhiều dịch vụ chuyên môn khác nhau, nhưng thực ra rất
hạn chế, trong đó, chủ yếu do các đơn vị dich vụ bên ngòai khu cung cấp, và khu
chỉ đóng vai trò trung gian, môi giới. Số khu có đầy đủ các loại hình dịch vụ
chuyên môn ngay trong khu không nhiều. Chúng tôi cho rằng, do nhiều yếu tố
khác nhau (chuyên môn hoá, liên kết, hiệu quả…) nên một số khu có xu hướng
thu xếp để các dịch vụ chuyên môn như tư vấn, đào tạo kế toán, kiểm toán được
cung cấp bởi các tổ chức nằm ngoài khu, nhưng có quan hệ liên kết với/thông
qua Công ty phát triển khu CNC (hoặc Ban quan lý khu). Đây là xu hướng tích
cực và chấp nhận được.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra đối với cơ quan quản lý Nhà nước là có cần giữ
một tương quan nào đó giữa các dịch vụ được cung cấp ngay trong khu với các
dịch vụ được cung cấp từ bên ngoài, đặc biệt là theo mức độ/giai đoạn cấp phát
triển của khu CNC (ví dụ tỷ lệ trong/ngoài sẽ phải lớn trong gia đoạn đầu, rồi có
thể giảm dần, hay ngược lại)
II.2. Chưa thống nhất về quan điểm phân cấp quản lý các khu CNC
Có nên phân cấp thành hai loại khu CNC: 1) Khu CNC cấp Trung ương
và 2) Khu CNC cấp tỉnh/thành phố hay không?
Qua tìm hiểu hiện trạng hoạt động xây dựng và phát triển các khu CNC ở
Việt Nam trong thời gian qua cho thấy, ngoài Khu CNC Hòa Lạc và Khu CNC
TP.HCM được Thủ tướng Chính phủ cấp quyết định thành lập, nhiều loại hình
khu CNC khác đều do chính quyền địa phương chủ động thành lập. Trừ một số ít
có triển vọng thành công, nhiều khu CNC được thành lập tràn lan theo phong
trào. Tình trạng này có thể dẫn tới nguy cơ không đi vào hoạt động hoặc hoạt
động kém hiệu quả
Chúng tôi cho rằng, về lâu dài, không nên phân biệt thành hai loại khu
như vậy, vì có thể dẫn đến sự phân biệt đối xử về các mức độ ưu đãi khác nhau.
Tuy nhiên, do hiện nay đã có hai Khu CNC do Thủ tướng cấp quyết định thành
lập nên trên thực tế có thể coi hai Khu CNC đó như khu CNC “cấp Trung ương”.
Các khu CNC khác được thành lập trong tương lai sẽ do các tỉnh/thành phố
quyết định và có thể coi như “cấp địa phương”, nhưng sẽ được hưởng cùng
chính sách ưu đãi với các khu CNC cấp Trung ương.
Mặt khác, chúng ta đã có mô hình Khu CNC Quốc gia (Hoà Lạc) và cũng
có những khu CNC của địa phương, phải chăng nên có thêm mô hình Khu CNC
cấp Vùng. Đây là ý kiến đáng chú ý bởi: (i) Các khu CNC như Khu CNC Thành
14
phố Hồ Chí Minh mới thể hiện vai trò với địa bàn Thành phố hơn là trực tiếp đối
với Vùng. Chính vì vậy mà các địa phương kề cận như Đồng Nai vẫn muốn xây
dựng khu CNC của riêng mình, còn Bình Dương thì nhìn nhận các Khu CNC
của Thành phố Hồ Chí Minh là đối trọng hơn là đối tác; (ii) Kinh nghiệm của
một số nước như Thái Lan là tập trung vào vào xây dựng 5 khu Công viên Khoa
học đại biểu theo Vùng, bao gồm: Công viên khoa học tại Pratumthani (phía Bắc
Băng Cốc), Công viên khoa học phía Bắc ở Chiang Mai, Công viên khoa học
Đông Bắc (2 vị trí) Khon Kaen và Nakorn Rajasrima, Công viên khoa học phía
Đông ở Cholburi, Công viên khoa học phía Nam ở Songkla; (iii) Quy hoạch kinh
tế ở nước ta cũng theo Vùng kinh tế trọng điểm, vậy quy hoạch phát triển Khu
CNC cũng nên có sự tương thích;...
Đồng thời, nếu đặt vấn đề về Khu CNC cấp Vùng thì sẽ phải giải quyết
những mối quan hệ đặc thù liên quan tới loại khu CNC này: quan hệ giữa Chính
phủ và địa phương mà Khu CNC đóng trên địa bàn; sự thu hút nguồn lực và lan
toả của Khu CNC với các địa phương trong vùng;...
Nên chăng phân rõ 2 loại Khu CNC:
- Khu CNC đa chức năng, quy mô lớn: trong vòng 5 - 8 năm nữa, cả nước
chỉ nên xây dựng 3 - 4 khu ở những thành phố lớn thuộc các vùng kinh tế trọng
điểm của quốc gia.
- Khu CNC quy mô nhỏ (như các khu công nghiệp CNC, khu nông nghiệp
CNC nói chung, khu Phần mền, cơ sở ươm tạo...): nên để cho các địa phương
chủ động phát triển khi có nhu cầu.
Hai loại khu trên khác nhau về quy mô, chức năng, tầm ảnh hưởng lan
toả, tính chất CNC và các điều kiện cần thiết để được thành lập. Hai loại khu
CNC này sẽ có các cách quản lý khác nhau. Đối với loại khu CNC cấp địa
phương có thể không cần Thủ tướng ra quyết định thành lập
Việc phân ra hai loại như vậy sẽ có ý nghĩa giải quyết mâu thuẫn giữa tập
trung nguồn lực quốc gia để phát triển Khu CNC, đồng thời tạo sự năng động
của các địa phương.
II.3. Có nhiều quan điểm khác nhau về phân cấp quyết định thành lập khu
CNC
Vấn đề đặt ra là việc thành lập các khu CNC sẽ do Thủ tướng Chính phủ
cấp quyết định theo như quy định hiện hành, hay là có thể do các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương quyết định?
15
Theo chúng tôi, việc cấp quyết định thành lập khu CNC nên được phân
cấp cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nếu các khu đó thỏa mãn các
điều kiện chặt chẽ do chính Chính phủ đặt ra.
Cần nhấn mạnh vai trò của địa phương đối với phát triển khu CNC, vì:
- Nếu Chính phủ không hỗ trợ kinh phí thì mức độ ảnh hưởng đến việc
phát triển các khu CNC của các địa phương cũng không đáng kể.
- Thực tế cho thấy quyết định của Chính phủ đối với phát triển các khu
công nghiệp, khu chế xuất rất hạn chế (các địa phương đang đẩy mạnh phát triển
mô hình các cụm công nghiệp).
- Trong nhiều trường hợp, quyết định của Thủ tướng nhiều khi cũng
không có những căn cứ và thường dựa theo đề xuất, yêu cầu của địa phương.
- Hiện nay nhiều địa phương đang dùng những "thủ thuật" như: cứ kêu gọi
đầu tư sau đó mới xin Chính phủ cấp phép nhằm tránh sự kiểm soát ngay từ đầu
của Chính phủ, đặc biệt tránh được việc Chính phủ chỉ cho phép thành lập thêm
khu công nghiệp nếu các khu công nghiệp trước đó đã lấp đầy trên 50% diện
tích.
Tuy nhiên, thực tế có nhiều ý kiến cho rằng, đối với trường hợp các Khu
CNC do địa phương quyết định thành lập có thể có nhiều khả năng thất bại do
nhận thức chưa rõ về mục tiêu, vai trò Khu CNC cũng như các điều kiện cần và
đủ để phát triển khu CNC, xu hướng chạy theo phong trào. Vì vậy, cần nhấn
mạnh vai trò của cấp Trung ương trong việc hỗ trợ, hưỡng dẫn và cung cấp các
thông tin về Khu CNC và các điều kiện cần và đủ để được thành lập khu CNC.4
II.4. Thiếu các quy định cụ thể về nội dung và trách nhiệm quản lý Nhà nước
đối với Khu CNC ở địa phương
Nhận định về vai trò của địa phương, nhóm chuyên gia quốc tế IDRC
cũng cho rằng: "Phối hợp nỗ lực của cả nhà nước trung ương và địa phương. Cơ
hội thành công của việc phát triển một khu CNC sẽ dễ dàng đạt được nếu như có
sự nhất trí rõ ràng giữa những người ra ra quyết định ở cấp trung ương và cấp địa
phương về những gì cần đạt được và cách thức để đạt các mục tiêu" (IDRC,
1997). Tuy nhiên, khảo sát tình hình ở một số địa phương cho thấy, vai trò này
chưa được thể hiện. Hạn chế trong việc phát huy vai trò của chính quyền địa
4
Khảo sát tại một số địa phương cho thấy, không ít trường hợp những người được giao nhiệm vụ chủ trì lập
đề án phát triển khu CNC không hiểu nhiều về khu CNC, dẫn đến sự lúng túng trong quá trình xây dựng đề
án. Có những trường hợp cơ quan quản lý (cấp địa phương) không rõ về khu CNC nên việc thẩm định đề án
phát triển các khu CNC gặp nhiều khó khăn.
16
phương có một phần nguyên nhần do thiếu những quy định cụ thể trong các
chính sách đã được banh hành.
Trước đây, Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 ban hành Quy chế khu
công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao quy định cụ thể nhiệm và
quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có khu công nghiệp, trong đó
bao gồm một số nội dung chủ yếu quy định tại Điều 36 như sau:5
- Thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp, Ban
quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh trên địa bàn lãnh thổ.
- Tham gia xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp; chỉ
đạo lập dự án thành lập khu công nghiệp và xây dựng quy hoạch chi tiết khu
công nghiệp.
- Giám sát, kiểm tra thực hiện quy hoạch, quy trình quy phạm xây dựng,
các quy định về lao động, môi sinh môi trường, bảo đảm an ninh, trật tự trong
khu công nghiệp.
- Chủ trì lập phương án và tổ chức thực hiện giải tỏa mặt bằng, tái định cư
dân trong địa bàn cần giải tỏa; việc giao đất cho khu công nghiệp và giao đất cho
xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng ngoài khu công nghiệp phục vụ cho việc
phát triển khu công nghiệp.
- Cấp giấy phép thành lập các doanh nghiệp Việt Nam thuộc thẩm quyền
theo quy định hiện hành.
- Thực hiện sự uỷ quyền của các Bộ trong việc cấp, điều chỉnh và thu hồi
giấy phép đầu tư cho các dự án đầu tư nước ngoài vào khu CNC, xem xét duyệt
kế hoạch xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp trong khu CNC.
Trong khi đó, Nghị Định số 108/CP-NĐ Quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật Đầu tư (thay thế Nghị Định 36/CP) chưa quy định
về quyền hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối
với xây dựng và phát triển khu CNC trên địa bàn. Điều 80 Nghị Định này chỉ
quy định quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước về đầu tư phát triển các khu
công nghiệp, khu chế xuất, trong đó có có một số nội dung sau:
5
Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 ban hành Quy chế ngày 22/9/2006 khu công nghiệp, khu chế xuất, khu
công nghệ cao. Tuy nhiên, từ khi ban hành Nghị Định số 108/CP-NĐ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Đầu tư, Nghị Định số 36/CP đã không còn hiệu lực.
17
- Chỉ đạo lập quy hoạch chi tiết xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất
và phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất theo
quy định của pháp luật về xây dựng.
- Định kỳ hàng quý, 6 tháng và hàng năm, chủ trì, phối hợp với Ban Quản
lý tổng hợp để báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hoạt động đầu tư trên địa bàn.
Nghị Định số 99/2003/NĐ/-CP ngày 28/8/2003 về việc ban hành Quy chế
khu CNC thực tế chỉ có tác động tới 2 khu CNC do Thủ tướng Chính phủ thành
lập (Khu CNC Hòa Lạc và Khu CNC TP.HCM). Vì vậy, Nghị Định này chỉ quy
định về UBND tỉnh, thành phố nơi có khu CNC thực hiện việc quản lý hành
chính, dân cư, an ninh, trật tự công cộng trong khu CNC với sự phối hợp của
Ban Quản lý khu CNC.
II.5. Quyền hạn, trách nhiệm quản lý về đầu tư của Ban quản lý các khu CNC
cấp tỉnh chưa phù hợp
Theo quy định hiện hành, Ban Quản lý là cơ quan quản lý các khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu CNC, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh hoặc thành phố
trực thuộc trung ương. Ban Quản lý là cơ quan do Thủ tướng Chính phủ quyết
định thành lập, chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế và kinh phí hoạt
động của UBND cấp tỉnh.
Trước đây, Nghị Định số 36/CP về ban hành Quy chế khu công nghiệp,
khu chế xuất, khu công nghệ cao quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu
tổ chức của Ban quản lý các khu công nghiệp cấp tỉnh.
Mặt khác, Nghị Định số 99/2003/NĐ/-CP ngày 28/8/2003 về việc ban
hành Quy chế khu CNC thực tế chỉ có tác động tới 2 khu CNC do Thủ tướng
Chính phủ thành lập (Khu CNC Hòa Lạc và Khu CNC TP.HCM). Vì vậy, trong
thực tế, Nghị Định này chủ yếu quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Quản lý
của 2 Khu CNC nói trên.
Nghị Định số 108/NĐ-CP lại chưa quy định rõ chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn cụ thể, cơ cấu tổ chức, quy chế hoạt động của Ban Quản lý đối với
xây dựng và phát triển các khu CNC. Các quy định tại Điều 81 về “Quyền hạn,
trách nhiệm quản lý về đầu tư của Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất,
khu công nghệ cao, khu kinh tế” chưa thể hiện rõ vai trò của Ban quản lý trong
việc tổ chức xây dựng và quản lý thực hiện quy hoạch chi tiết, tiến độ xây dựng,
phát triển các khu CNC trên địa bàn. Các quy định hiện hành mới chủ yếu tập
trung vào các vấn đề quản lý và giải quyết các khó khăn vướng mắc trong quá
18
trình thực hiện các dự án đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu
công nghệ cao, khu kinh tế nói chung.6
Theo quy định hiện hành về đánh giá hiệu quả đầu tư chỉ áp dụng đối với
khu công nghiệp, khu chế xuất.7 Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của khu CNC so
với các đặc khù truyền thống, việc đánh giá cũng cần được quy định đối với các
khu CNC. Kinh nghiệm quốc tế về quản lý các khu CNC trên thế giới cho thấy,
việc đánh giá các khu CNC nhằm phục vụ 2 mục tiêu khác nhau: đánh giá để xếp
hạng các khu CNC và đánh giá để công nhận là khu CNC. Trường hợp thứ nhất
thường thấy ở các nước đã phát triển nhiều khu CNC và các khu này chủ yếu do
khu vực tư nhân khởi xướng. Trường hợp thứ hai chủ yếu áp dụng ở một số nước
trong khu vực, đặc biệt là các nước mà vốn đầu tư xây dựng khu CNC chủ yếu từ
ngân sách nhà nước.
Chúng tôi cho rằng việc xây dựng các tiêu chí đánh giá định kỳ để công
nhận là khu CNC là cần thiết, tránh được việc một khu CNC sau khi có quyết
định thành lập, nhưng sau một thời gian đi vào hoạt động lại không đáp ứng
được các tiêu chí/tiêu chuẩn đặt ra. Tuy thiên, điều này chỉ thực hiện được sau
khi các khu đã đi vào hoạt động được một thời gian nhất định (3 -5 năm).
Một vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước đối với các khu CNC là cơ
quan quản lý các khu CNC sau khi được cấp phép xây dựng và hoạt động. Có
hai phương án lựa chọn. Một là giao thẩm quyền này cho Ban Quản lý khu công
nghiệp và khu chế xuất cấp tỉnh/thành phố (phần lớn các tỉnh/thành phố đều đã
có Ban này), và hai là thành lập một Ban quản lý khu CNC riêng rẽ tại các
tỉnh/thành phố có khu CNC. Sau khi cân nhắc các khía cạnh về cải cách hành
chính, về việc gắn kết nghiên cứu - phát triển và ươm tạo công nghệ với sản
xuất, chúng tôi cho rằng nên giao thẩm quyền này cho các Ban quản lý khu công
nghiệp và khu chế xuất của các tỉnh/thành phố (nếu cần thì bổ xung thêm tên
CNC vào tên gọi và chức năng của các Ban này).
III. Hiện trạng về hoạt động của công ty phát triển khu CNC
Cho đến nay ở Việt nam mới có hai mô hình công ty phát triển khu CNC,
đó là mô hình doanh nghiệp nhà nước của Khu CNC TP.HCM và mô hình công
ty cổ phần tư nhân của Khu CNC Hoà Lạc.
6
Xem Điều 81 Nghị Định 108/NĐ-CP ngày22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.
7
Xem Khoản 5 Điều 81 Nghị Định 108/NĐ-CP.
19
III.1. Công ty phát triển khu CNC Hoà Lạc
Sau gần 10 năm có quyết định thành lập, hoạt động xây dựng và phát triển
Khu CNC Hòa Lạc do Ban quản lý khu trực tiếp chỉ đạo và tổ chức thực hiện.
Gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã có Công văn số 303/TTg-KG ngày 8/3/2007
về việc giao cho Công ty cổ phần phát triển đầu tư công nghệ FPT thực hiện
nhiệm vụ Công ty phát triển khu CNC hoà Lạc theo Quy chế khu công nghệ cao
ban hành kèm theo Nghị định số 99/2003/NĐ-CP. Đây được coi là một trong
những giải pháp quan trọng góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng và phát triển
Khu CNC Hòa Lạc.8
Mặc dù FPT là một công ty cổ phần có phần vốn góp của Nhà nước,
nhưng trên thực tế đa số là thuộc sở hữu tư nhân. Công ty mẹ FPT có một số cổ
đông là nhà đầu tư, nhưng không có cổ đông nào là trường đại học, tổ chức khoa
học và công nghệ.
Để thực hiện vai trò là công ty phát triển khu CNC Hoà Lạc, Công ty FPT
đã thành lập một công ty bất động sản là FPT Land, với 100% vốn của công ty
mẹ FPT, và giao cho FPT Land làm chủ đầu tư. Trong đề án thành lập Công ty
phát triển Khu CNC Hòa Lac của FPT, cũng có nói đến việc huy động vốn từ
bên ngoài, nhưng chủ yếu là vốn vay, trái phiếu, v.v., nghĩa là FPT về lâu dài
vẫn là chủ sở hữu duy nhất của Công ty phát triển Khu CNC Hoà Lạc. Điều đó
có nghĩa là Công ty FPT vẫn chưa có ý định và có thể không có khả năng huy
động sự tham gia của các nhà đầu tư từ các tổ chức, các nhà đầu tư chiến lược có
kinh nghiệm và năng lực về các vấn đề liên quan đến phát triển khu CNC.
Công ty FPT đã tương đối thành công với việc phát triển một khu vườn
ươm phần mềm. Tuy nhiên, quy mô của các loại khu này chủ yếu thuộc loại nhỏ,
lĩnh vực hoạt động hẹp, dành chủ yếu cho các đối tượng là các sinh viên mới ra
trường và các nhà nghiên cứu trẻ, chưa có sự tham gia của các tổ chức nghiên
cứu và phát triển, doanh nghiệp lớn và nhà đầu tư nước ngoài.
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, Công ty FPT có những hạn chế sau:
- Chưa có kinh nghiêm và năng lực nội bộ xây dựng và phát triển các dự
án lớn về hạ tầng cơ sở.
- Chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc vận hành các loại hình khu CNC
quy mô lớn.
8
Theo Công văn số 303/TTg-KG ngày 8/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao Công ty FPT thực
hiện nhiệm vụ công ty phát triển Khu CNC Hòa Lạc
20