Đề tài nckh cấp bộ năm 2007 phát triển công nghiệp nông thôn ở các tỉnh duyên hải nam trung bộ thực trạng và giải pháp

  • 190 trang
  • file .pdf
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH KHU VỰC III
--------YW XZ--------
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2007
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tên đề tài:
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở
CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ -
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chủ nhiệm đề tài : TS. TRẦN THỊ BÍCH HẠNH
Thư ký đề tài : Th.S PHẠM QUỐC TUẤN
Cơ quan chủ trì : HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH KHU VỰC III
7008
21/10/2008
ĐÀ NẴNG, tháng 6 năm 2008
TẬP THỂ TÁC GIẢ
1. TS. Trần Thị Bích Hạnh (Chủ nhiệm đề tài) Học viện chính trị - HC KV3
2. ThS. Phạm Quốc Tuấn Học viện chính trị - HC KV3
3. PGS. TS. Phạm Thanh Khiết Học viện chính trị - HC KV3
4. ThS. Nguyễn Văn Hùng Học viện chính trị - HC KV3
5. PGS.TS Phạm Hảo Học viện chính trị - HC KV3
6. Th.S Lê Văn Hải Học viện chính trị - HC KV3
7. PGS. TS. Nguyễn Thế Tràm Học viện chính trị - HC KV3
8. TS.Đỗ Thanh Phương Học viện chính trị - HC KV3
9. Th.S Trần Đình Chín Học viện chính trị - HC KV3
10. CN. Trần Thị Minh An Học viện chính trị - HC KV3
11. CN. Phạm Trung Uy Văn phòng UB tỉnh Quảng Ngãi
12. CN. Lê Viết Thi Văn phòng UB tỉnh Bình Định
13. CN. Bùi Quốc Hồng Trưởng ban quản lý các khu
Công nghiệp Bình Định
14. CN. Phạm Bình Hoàn Văn phòng UB tỉnh Khánh Hoà
MỘT SỐ CHỮ ĐƯỢC VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
CNH: Công nghiệp hoá
HĐH: Hiện đại hoá
CNNT: Công nghiệp nông thôn
DHNTB: Duyên hải Nam Trung bộ
HTX: Hợp tác xã
DN: Doanh nghiệp
KKT: Khu kinh tế
KCN: Khu công nghiệp
CCN: Cụm công nghiệp
CCNVVN: Cụm công nghiệp vừa và nhỏ
TTCN: Tiểu thủ công nghiệp
KHCN: Khoa học công nghệ
UBND: Uỷ ban nhân dân
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
LN: Làng nghề
LNTT: Làng nghề truyền thống
SXKD: Sản xuất kinh doanh
LĐ – TB – XH: Lao động thương binh xã hội
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 01
CHƯƠNG 1: CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA. 08
1.1 Khái niệm công nghiệp nông thôn 08
1.2 Sự cần thiết phải phát triển CNNT trong quá trình CNH-HĐH 15
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của công nghiệp nông thôn. 23
1.4 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển CNNT
trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. 28
1.5 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp nông thôn ở một số quốc gia
trên thế giới và một số vùng ở Việt Nam. 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP NÔNG
THÔN Ở CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ. 46
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội của các tỉnh Duyên hải Nam
Trung bộ. 46
2.2 Thực trạng phát triển công nghiệp nông thôn ở các tỉnh DHNTB 58
2.3 Đánh giá chung về tình hình hoạt động của công nghiệp nông thôn
các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ. 99
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM
TRUNG BỘ TRONG NHỮNG NĂM TỚI 107
3.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội và phương hướng phát triển
CNNT các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trong những năm tới. 107
3.2 Những giải pháp chủ yếu để phát triển công nghiệp nông thôn ở các
tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ. 115
KẾT LUẬN 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Vấn đề phát triển nông thôn hiện nay đang được nhiều nước nhất là các nước
đang phát triển quan tâm sâu sắc, bởi những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh ở đó
đang ngày càng gay gắt. Hầu hết các quốc gia đều có chương trình mở rộng khu vực
phi nông thôn, trong đó có công nghiệp nông thôn có ý nghĩa quan trọng không chỉ
trong khu vực nông thôn mà còn có ý nghĩa cả với khu vực đô thị và toàn bộ nền
kinh tế nói chung.
Đối với nước ta, từ một nền nông nghiệp lạc hậu đi lên, việc thực hiện công
nghiệp hoá là một tất yếu khách quan, trong đó công nghiệp nông thôn đóng một vai
trò đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, nhiều vấn đề cụ thể như phát triển công nghiệp
nông thôn như thế nào, các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương cũng như ở mỗi
địa phương cần có những chính sách như thế nào để hỗ trợ sự phát triển của công
nghiệp nông thôn…, cần được nghiên cứu tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của
mỗi giai đoạn, mỗi địa phương.
Từ cuối những năm 80 và đầu những năm 90, trong nông nghiệp vùng duyên
hải Nam Trung bộ có những thay đổi mạnh mẽ về cơ cấu sản xuất có liên quan đến
xu thế phát triển công nghiệp nông thôn. Cùng với chủ trương khoán hộ trong trồng
trọt và khuyến khích ai giỏi nghề gì làm nghề đó nên xu hướng mới đã xuất hiện ở
nông thôn đó là xuất hiện nhiều hộ làm nghề nông kiêm các nghề khác rồi hộ
chuyên tiểu thủ công nghiệp. Đến khi khẳng định hộ nông dân là đơn vị kinh tế độc
lập, tự chủ hạch toán kinh doanh cùng với những đổi mới về chính sách đẩy mạnh
sản xuất hàng hoá trong trong nông thôn thì các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
được khôi phục mạnh mẽ trước hết là ở quy mô hộ gia đình. Mặt khác, do ngành
nghề tiểu thủ công có sự duy trì liên tục với những quy mô và hình thức khác nhau
trong các làng nghề và làng nghề truyền thống, nên khi có những định hướng trong
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã đem lại nhiều thay đổi về sản
xuất, thu nhập và nhiều mặt văn hoá xã hội khác cho nông thôn miền Trung. Với
hiệu quả cao trong cơ chế mới, các làng nghề truyền thống không chỉ khôi phục mà
còn phát triển cả bề rộng và bề sâu và xuất hiện thêm nhiều ngành nghề mới đã trở
1
thành xu thế phát triển trong công nghiệp nông thôn ở vùng duyên hải Nam Trung
bộ, làm cho đời sống kinh tế, xã hội của khu vực này ngày một thêm khởi sắc.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của công nghiệp
nông thôn ở các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ cũng bộc lộ nhiều mặt hạn chế, yếu
kém như:
- Sự phát triển công nghiệp nông thôn diễn ra không đều còn có sự chênh
lệch giữa các huyện và các vùng trong một huyện.
- Công nghiệp chế biến, nhất là công nghiệp chế biến thuỷ hải sản chủ yếu
hoạt động dựa vào việc chế biến sản phẩm tại chỗ và theo kinh nghiệm mà chưa có
một cơ sở đủ mạnh để nâng cao năng lực của sản phẩm này trên thị trường.
- Hoạt động công nghiệp nông thôn ở vùng duyên hải Nam Trung bộ trong
điều kiện có áp lực cạnh tranh của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở các vùng lân
cận, đồng thời chịu áp lực cạnh tranh đáng kể của lượng hàng hoá nhập khẩu trên
địa bàn.
- Thiếu vốn là hiện tượng tương đối phổ biến đối với các cơ sở công nghiệp
nông thôn ở khu vực này hiện nay.
- Vấn đề quản lý nhà nước và sự định hướng của nhà nước đối với các loại
hình tổ chức sản xuất trong công nghiệp nông thôn còn chưa rõ nét.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm của công nghiệp nông thôn ở khu vực
DHNTB còn chưa ổn định và gặp nhiều khó khăn.
- Nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp nông thôn trình độ còn hạn chế.
Chính vì những hạn chế trên mà trong thời gian qua công nghiệp nông thôn ở
khu vực này vẫn trong tình trạng chậm phát triển, chất lượng sản phẩm của công
nghiệp nông thôn chưa cao, khả năng cạnh tranh trên thị trường hạn chế, tỷ trọng
của công nghiệp nông thôn trong cơ cấu kinh tế nông thôn của vùng vẫn còn chiếm
tỷ trọng thấp…
Để phát triển công nghiệp nông thôn ở các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ,
một trong những vấn đề cần phải làm là tổ chức nghiên cứu, khảo sát thực trạng
công nghiệp nông thôn trên địa bàn, tiến hành tổng kết đánh giá và rút ra những
nhận xét làm cơ sở định hướng và đưa ra các giải pháp phát triển công nghiệp nông
2
thôn ở vùng duyên hải Nam Trung bộ trong thời gian tới. Xuất phát từ những lý do
đó chúng tôi chọn vấn đề “Phát triển công nghiệp nông thôn ở các tỉnh Duyên hải
Nam Trung bộ - thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu:
Liên quan đến đề tài này đã có một số công trình nghiên cứu đăng trên các
sách, báo, tạp chí như:
- Một trong những nghiên cứu đầu tiên là đề tài “Xây dựng chính sách công
nghệ phục vụ phát triển nông thôn” do giáo sư Lê Quý An chủ trì, công trình này
với mục đích tìm hiểu về chính sách công nghệ phục vụ phát triển nông thôn, phản
ánh hiện trạng về công nghiệp nông thôn, trình độ phát triển công nghiệp nông thôn
và những kết quả nghiên cứu đạt được đề cập đến mối quan hệ của công nghiệp
nông thôn với các các bộ phận kinh tế khác như công nghiệp lớn, các vấn đề liên
quan đến kinh tế xã hội nông thôn.
- Từ sau những năm 90, nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về công nghiệp
nông thôn gắn với những vấn đề cụ thể của phát triển công nghiệp nông thôn như
với quá trình công nghiệp hoá nói chung, với việc hình thành và phát triển các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, với quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn.
Liên quan đến vấn đề này phải kể đến các công trình như:
+ Nông nghiệp và nông thôn Việt Nam trước ngưỡng cửa của công nghiệp
hoá, hiện đại hoá - Nguyễn Điền, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 3
(41)/1996.
+ Công nghiệp hoá nông thôn – quan điểm và giải pháp, Nguyễn đình Phan -
Nguyễn Văn Phúc, tạp chí kinh tế và phát triển, số 12 (6-7)/1996.
+ Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam, hội thảo quốc tế,
Hà Nội tháng 8/1996.
+ Đa dạng các ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn của tác giả Hoàng Hiển,
Báo Nhân dân ngày 24/7/1997.
+ CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ở Bắc Trung bộ của TS Mai Thanh
Xuân, NXB CTQG, Hà Nội, năm 2004
3
+ Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam, báo cáo của
Thứ trưởng Bùi Bá Bổng, tại hội nghị ban điều hành ISG, tháng 03/2004
+ Thúc đẩy công cuộc phát triển nông thôn ở Việt Nam: Tăng trưởng, công
bằng và đa dạng hoá của WB. Ngân hàng thế giới, Hà Nội tháng 02/2006.
- Đi sâu nghiên cứu về vai trò của công nghiệp nông thôn, ý nghĩa của phát
triển công nghiệp nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá có các
công trình sau:
+ Phát triển công nghiệp nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hoá - Nguyễn
Điền, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 5 (31)/10-1994.
+ Phát triển công nghiệp nông thôn – Thanh Đức, Tạp chí Công đoàn, số
(161) / 1994.
+ Về vấn đề phát triển công nghiệp nông thôn - Nguyễn Thị Hiền, Tạp chí
thông tin lý luận, số 1/1994.
- Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển công nghiệp nông thôn nước ta. Đề tài
KX-08, Hà Nội tháng 1 – 1994. Đã làm rõ bản chất của công nghiệp nông thôn,
phân tích cơ sở thực tiễn là nền tảng của phát triển công nghiệp nông thôn Việt Nam
- Về vấn đề tạo môi trường như thể chế, chính sách, thị trường, nguồn lực
lao động và điều kiện xã hội cho sự phát triển công nghiệp nông thôn nước ta có
một số công trình đề cập tới như:
+ Hoàn thiện môi trường thể chế cho phát triển bền vững các hoạt động
dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp ở nông thôn đồng bằng sông Hồng, Kỷ yếu hội
thảo khoa học, Hà Nội 1997.
- Nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của công nghiệp
nông thôn như: cơ sở hạ tầng, kỹ thuật và công nghệ, sự quản lý của nhà nước, yếu
tố văn hoá truyền thống v.v… gồm các công trình sau:
+ Nghiên cứu và phân tích các nhân tố công nghệ phục vụ phát triển công
nghiệp nông thôn, chương trình KX 08, tháng 1/1994.
+ Tác động của cụm công nghiệp làng nghề đối với đổi mới công nghệ của
các cơ sở sản xuất trong cụm của TS Nguyễn Văn Phúc, Tạp chí KCN Việt Nam, số
4
02/2005
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển công nghiệp nông thôn của một số địa
phương trong nước và kinh nghiệm phát triển công nghiệp của một số nước trên thế
giới từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong chính sách công nghiệp hoá và
trong chính sách phát triển công nghiệp nông thôn gồm một công trình sau:
+ Kinh nghiệm CNH của Nhật Bản và sự thích dụng của nó đối với các nền
kinh tế đang phát triển của Kazusho Ohkawa và Hirohisa Kohama, NXB KHXH,
Hà Nội, 2004
+ Phát triển công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Hồng theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta, luận án Tiến sĩ Vũ Thị Thoa chuyên ngành
Kinh tế chính trị, năm 1999.
+ Phát triển công nghiệp nông thôn ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh,
luận án tiến sĩ của Hà Văn Ánh, chuyên ngành kinh tế chính trị, năm 2000.
- Nghiên cứu, đánh giá và đưa ra những dự báo, những giải pháp tác động
nhằm thúc đẩy công nghiệp nông thôn có các công trình như:
+ Giải pháp vốn tín dụng thúc đẩy CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, TS
Nguyễn Văn Lâm, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 11/2005.
+ Giải pháp thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghiệp nông thôn năm 2005,
Lã Văn Lý, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 02/2005
+ Những vấn đề đặt ra trong phát triển công nghiệp bền vững ở Việt Nam,
Đỗ Hữu Hoà, Tạp chí Kinh tế & Dự báo, số 02/2005.
+ Công nghiệp nông thôn Việt Nam thực trạng và giải pháp phát triển, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2004, TS. Nguyễn Văn Phúc chủ biên.
Tuy nhiên cho đến nay rất ít có công trình đi sâu vào nghiên cứu, đánh giá về
phát triển công nghiệp nông thôn ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình phát triển công nghiệp nông thôn bao
gồm các cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp dưới nhiều
5
hình thức tổ chức kinh doanh đang tồn tại và phát triển trên địa bàn các tỉnh duyên
hải Nam Trung bộ.
- Về mặt không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về công nghiệp nông thôn
ở các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ từ Đà Nẵng đến Khánh Hoà.
- Về mặt thời gian: Đề tài nghiên cứu tình hình phát triển công nghiệp nông
thôn ở các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ từ năm 2000 đến năm 2005.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
4.1 Mục tiêu của đề tài .
- Đánh giá thực trạng công nghiệp nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá
nông nghiệp, nông thôn ở các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ trong những năm qua.
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu phát triển công nghiệp
nông thôn ở các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ trong thời gian tới.
4.2 Nhiệm vụ:
- Hệ thống hoá lý luận về công nghiệp nông thôn, góp phần làm rõ khái niệm
công nghiệp nông thôn, vai trò của nó trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở nước ta cũng như ở các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ,
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp nông thôn ở
các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ và thực trạng phát triển công nghiệp nông thôn ở
các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ trong thời gian qua.
- Đề xuất một số phương hướng và các giải pháp chủ yếu để phát triển công
nghiệp nông thôn ở các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ trong những năm tới.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
- Đề tài vận dụng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, các
quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước trong thời kỳ Đại hội VI, VII,
VIII, IX, X.
- Kế thừa có chọn lọc các công trình có liên quan, các báo cáo về tình hình
phát triển kinh tế, xã hội khu vực nông thôn, báo cáo tổng kết về thực trạng hoạt
động của công nghiệp nông thôn ở các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ trong những
năm qua.
6
- Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm
phương pháp nghiên cứu cơ bản. Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp khác
như phương pháp phân tích thống kê, tổng hợp, phương pháp điều tra… để nghiên
cứu và trình bày các vấn đề lý luận và thực tiễn.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo đề tài được kết cấu thành 3
chương:
Chương 1: Công nghiệp nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ở nước ta.
Chương 2: Thực trạng phát triển công nghiệp nông thôn ở các tỉnh Duyên
hải Nam Trung bộ.
Chương 3: Phương hướng và những giải pháp phát triển công nghiệp nông
thôn ở các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ trong những năm tới.
Sau đây là kết quả nghiên cứu của đề tài.
7
Chương 1
CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA
1.1 Khái niệm công nghiệp nông thôn
Khái niệm công nghiệp nông thôn (CNNT) chỉ mới xuất hiện vào những năm
70 của thế kỷ 20. Với nhiều tên gọi khác nhau như công nghiệp nông thôn (rural
industry), công nghiệp làng xã (village industry), xí nghiệp hương trấn. Trong thực
tế CNNT đã được hình thành và phát triển như một thực thể kinh tế độc lập, gắn
liền với sự phát triển nông nghiệp và nông thôn từ rất lâu. Lúc đầu, khái niệm này
được dùng để chỉ tiểu thủ công nghiệp của các hộ dân cư vùng nông thôn ở các
nước chậm phát triển. Sau này, khái niệm CNNT được mở rộng bao hàm cả các
hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn. Công nghiệp nông thôn
được định nghĩa khác nhau tuỳ thuộc các cách tiếp cận, nghiên cứu nó, tuỳ thuộc
điều kiện phát triển của nó. Trên thực tế, ở các nước khác nhau, khái niệm công
nghiệp nông thôn được hiểu khác nhau.
Hiện nay trên thế giới có 4 cách tiếp cận khác nhau về khái niệm CNNT, đó
là:
- Ở các nước như: Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Công nghiệp nông thôn
được tiếp cận từ giác độ kinh tế lãnh thổ, họ cho rằng: “CNNT được xem như một
bộ phận của kinh tế lãnh thổ, CNNT là công nghiệp được phân bố ở nông thôn” 1.
Cách tiếp cận này thường được cán bộ quản lý kinh tế theo lãnh thổ và các cán bộ
thực tiễn ở địa phương sử dụng, vì nó phù hợp với lợi ích của các cơ quan quản lý
nhà nước trên các vùng lãnh thổ như dễ quy hoạch, dễ tập hợp số liệu, dễ chỉ
đạo…Tuy nhiên cách tiếp cận này thường làm cho xu hướng phát triển CNNT khép
kín trong giới hạn của kinh tế địa phương. Hậu quả là nó bị tách khỏi công nghiệp
cả nước, tách khỏi sự phát triển chung với tư cách là một ngành kinh tế - kỹ thuật,
dẫn đến sự mất cân đối trong nội bộ ngành. Như vậy, với cách tiếp cận này, không
thể hiện rõ tính toàn diện, tính hệ thống và chưa chú ý đúng mức tới quan hệ kinh tế
- kỹ thuật của khu vực kinh tế nông thôn. Tuy vậy, quan niệm này có ảnh hưởng
1
Nguyễn Văn Phúc – CNNT trong quá trình CNH ở VN và 1 số vấn đề KT – XH chủ yếu ảnh hưởng tới sự phát triển của nó. Luận án phó tiến
sĩ KH – KT. H 1996.
8
quan trọng tới sự phát triển của CNNT trên vùng lãnh thổ do địa phương quản lý,
tới sự thành công của việc triển khai các chương trình dự án phát triển CNNT.
- Cách tiếp cận thứ hai là của các nước như Mêhicô, Braxin, Hàn Quốc, tổ
chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc. Cách tiếp cận này từ giác độ kinh
tế ngành. Họ cho rằng: “CNNT được xem như là một bộ phận của toàn bộ công
nghiệp, có đặc điểm là phân bố ở nông thôn, gắn bó với các đơn vị sản xuất kinh
doanh khác trong ngành bởi những quan hệ kinh tế - kỹ thuật, việc phát triển nó
phải được đặt trong chương trình phát triển công nghiệp nói chung, là một nội dung
của công nghiệp hoá”2. Cách tiếp cận này thường dễ được chấp nhận từ phía các cán
bộ lãnh đạo ngành vì gắn với công tác quy hoạch, phân bố điều chỉnh, theo dõi tình
hình phát triển của ngành. Nhưng do quá nhấn mạnh mối quan hệ về kinh tế - kỹ
thuật của ngành làm cho mối quan hệ giữa CNNT với các ngành khác ở nông thôn
thiếu gắn bó, vì vậy, việc khai thác các nguồn lực, tiềm năng địa phương kém hiệu
quả.
- Cách tiếp cận từ giác độ kinh tế - xã hội: Đài Loan cho rằng: “CNNT được
xem là toàn bộ những hoạt động sản xuất có tính công nghiệp ở nông thôn, là những
biện pháp góp phần phát triển kinh tế -xã hội nông thôn và giải quyết những nhiệm
vụ kinh tế xã hội ở nông thôn nói chung và mỗi vùng nông thôn cụ thể nói riêng” 3.
Cách tiếp cận này xuất phát từ thực trạng kinh tế - xã hội ở những vùng nông thôn
kém phát triển. Muốn thay đổi hiện trạng ở khu vực này, lối thoát duy nhất là phát
triển các hoạt động sản xuất có tính công nghiệp. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở sự phát
triển CNNT thì đến một khoảng thời gian nào đó, sự phát triển đó không còn ý
nghĩa, vì không đặt sự phát triển CNNT trong tổng thể sự phát triển công nghiệp nói
riêng và sự phát triển của nền kinh tế quốc dân nói chung. Như vậy, với cách tiếp
cận này chưa thể hiện được tính hệ thống, tính chiến lược trong quá trình phát triển
CNNT.
- Cách tiếp cận xuất phát từ kinh tế - tổ chức: Đây là cách tiếp cận của trung
tâm phát triển nông thôn toàn diện khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Họ xem
khuôn khổ gia đình và qui mô vừa và nhỏ của các hoạt động được gọi là CNNT 4.
2
Nguyễn Văn Phúc – CNNT trong quá trình CNH ở VN và 1 số vấn đề KT – XH chủ yếu ảnh hưởng tới sự phát triển của nó. Luận án phó tiến
sĩ KH – KT. H 1996.
3
Như 2
4
Đặng Ngọc Dĩnh, Nguyễn Mạnh Quân, Bùi Quốc Khánh. CNH nông thôn ở một số nước, đề tài KX08-07. H.1995
9
Cơ sở của quan niệm này xuất phát từ bối cảnh dân số nông thôn tăng nhanh, cơ hội
kiếm việc làm trong nông nghiệp giảm, cho nên CNNT và công nghiệp hộ gia đình
đã nổi bật như một tiềm năng giải quyết được việc làm ở nông thôn. Quan niệm này
phù hợp với điều kiện thực tế ở nhiều nước đang phát triển, nhưng khái niệm CNNT
chưa nói rõ CNNT bao gồm những ngành nghề gì, dễ đi đến nhận định tất cả các
hoạt động phi nông nghiệp đều là CNNT.
Từ các cách tiếp cận trên, cho thấy không thể dừng lại từng cách tiếp cận
riêng lẻ mà phải xuất phát từ quan điểm toàn diện. Nghĩa là, phát triển CNNT là
một vấn đề kinh tế xã hội chứ không phải đơn thuần là vấn đề kinh tế; vừa gắn với
chiến lược, chương trình phát triển các ngành kinh tế - kỹ thuật cả nước, vừa gắn
với mục tiêu kinh tế, chính trị và xã hội ở địa phương mà trước hết là nông thôn. Ở
Việt Nam, từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đặc biệt sau khi có Nghị quyết 10
của Bộ Chính trị (4/1988) và các nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VII, VIII, đã có
nhiều công trình nghiên cứu về CNNT và cũng đã có nhiều quan niệm khác nhau về
CNNT như sau:
- Theo tác giả Nguyễn Văn Phúc: CNNT chỉ là tiểu thủ công nghiệp được
phân bố ở nông thôn 5. Nó được xem là một bộ phận kinh tế địa phương nhằm cung
cấp bổ sung các sản phẩm hàng hoá trong trường hợp xí nghiệp công nghiệp quốc
doanh không cung cấp đủ hoặc bỏ qua không sản xuất. Như vậy CNNT có thể tồn
tại hay không tồn tại tuỳ thuộc vào vai trò và năng lực của các xí nghiệp quốc
doanh. Quan điểm này đã làm cản trở sự phát triển của CNNT, vì chỉ thấy chức
năng “bổ sung” của CNNT chứ chưa nhận thấy hết được ý nghĩa vai trò của việc
phát triển CNNT.
- Tác giả Nguyễn Đình Phan xem CNNT bao gồm toàn bộ công nghiệp ở
nông thôn không cần phân biệt các đơn vị công nghiệp đó có gắn gì đến kinh tế
nông thôn hay không. Với quan điểm này dẫn đến việc đánh giá không chính xác sự
phát triển kinh tế - xã hội nông thôn 6.Chẳng hạn, có xí nghiệp công nghiệp tuy phân
bố ở nông thôn nhưng không có gì gắn với kinh tế nông thôn, với doanh thu rất lớn,
sẽ làm cho tỷ trọng công nghiệp ở đó tăng lên dẫn đến sự ngộ nhận là cơ cấu kinh tế
5
Nguyễn Văn Phúc – CNNT trong quá trình CNH ở VN và 1 số vấn đề KT – XH chủ yếu ảnh hưởng tới sự phát triển của nó. Luận án phó tiến
sĩ KH – KT. H 1996.
6
Nguyễn Đình Phan, nghiên cứu môi trường thể chế nhằm đảm bảo sự hình thành và phát triển bền vững các hoạt động dịch vụ và SX phi nông
nghiệp ở đồng bằng sông Hồng. Chương trình nghiên cứu Việt Nam – Hà Lan. H.1997
10
nông thôn ở đó đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ đúng hướng. Từ đó có thể dẫn đến
có những chính sách phát triển kinh tế - xã hội nông thôn không phù hợp.
- Nguyễn Trung Quế và nhóm tác giả coi CNNT là bộ phận công nghiệp
phục vụ trực tiếp cho nông thôn, nhưng không nhất thiết phải nằm ở nông
thôn7.Quan điểm này chỉ nói lên được mối quan hệ giữa công nghiệp với nông
nghiệp, nông thôn, chứ chưa giúp gì cho việc nghiên cứu CNNT. Thật vậy, trong
thực tế hầu hết các ngành công nghiệp đều có phần phục vụ nông nghiệp, nông
thôn. Nếu chấp nhận quan điểm này thì sẽ gặp trở ngại rất nhiều trong quá trình
nghiên cứu CNNT. Trước hết, không thể phân biệt CNNT với công nghiệp đô thị.
Thứ hai, là khó xác định doanh nghiệp nào đó có phải thuộc CNNT hay không vì
nhiều doanh nghiệp không chỉ sản xuất phục vụ riêng nông thôn và nông nghiệp.
- Một nhóm tác giả khác quan niệm CNNT là bộ phận công nghiệp nằm ở
nông thôn, có gắn bó trực tiếp và chặt chẽ với sản xuất kinh doanh ở địa phương.
Quan điểm này dễ thuyết phục hơn, nhưng chưa thấy được xu hướng thị trường địa
phương nông thôn ngày càng mở rộng, nên tính gắn bó của mỗi đơn vị sản xuất
kinh doanh với kinh tế địa phương ngày càng thu hẹp. Hơn nữa, khi một doanh
nghiệp nào đó, trong sự phát triển của mình có thể vươn tới đặt các chi nhánh ở
vùng khác thì sự gắn bó đó khó có thể thực hiện được. Do đó, quan điểm này chưa
thấy được sự phát triển của CNNT.
- Tác giả Phạm kim Luân cho rằng CNNT bao gồm toàn bộ những hoạt động
phi nông nghiệp ở nông thôn. Nghĩa là ngoài công nghiệp, thủ công nghiệp còn có
thương mại dịch vụ 8. Quan điểm này xuất phát từ việc cho rằng: “nói đến công
nghiệp là nói đến tính chất sản xuất hàng hoá. Để có thể tồn tại và phát triển công
nghiệp phải gắn bó chặt chẽ với thương mại dịch vụ thành một thể thống nhất hài
hoà. Do vậy phạm vi của CNNT cần bao gồm các loại hoạt động phi nông nghiệp -
cả sản xuất lẫn phi sản xuất. Quan điểm này có những vấn đề cần xem xét. Thứ
nhất, vì hình thức, tính chất hoạt động thương mại dịch vụ khác với hình thức, tính
chất hoạt động công nghiệp, cho nên, không thể đồng nhất giữa thương mại dịch vụ
với công nghiệp được. Thứ hai, lĩnh vực thương mại dịch vụ hiện nay đã trở thành
7
Nguyễn Trung Quế - Phát triển CNNT trên địa bàn tỉnh Đắc Lắc và Hà Tây. Chuyên đề thuộc chương trình KX08-07. H.12-1992
8
Phạm Kim Luân – Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển CNNT ở nước ta. Chuyên đề đề tài KX.08-07, H. 1-1994.
11
một hoạt động kinh tế độc lập đã tách ra khỏi hoạt động sản xuất công nghiệp nông
nghiệp. Cho nên theo chúng tôi không thể gộp thương mại dịch vụ vào CNNT được.
Từ sau những năm 90 của thế kỷ XX, nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về
CNNT gắn với những vấn đề cụ thể của phát triển công nghiệp nông thôn, như với
quá trình CNH nói chung, với việc hình thành và phát triển các doanh nghiệp vừa
và nhỏ, với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, khái niệm CNNT được
định hình thêm trên cơ sở cách hiểu ban đầu và bao hàm những nội dung mới như
sau:
- Công nghiệp nông thôn là một bộ phận công nghiệp đóng trên địa bàn nông
thôn, bất kể nó phục vụ hay không phục vụ nông thôn.
- Công nghiệp nông thôn là công nghiệp đóng trên địa bàn nông thôn, phục
vụ nông thôn và do địa phương quản lý.
- Công nghiệp nông thôn là bộ phận công nghiệp phục vụ cho nông thôn, nó
bao gồm phần công nghiệp phân bổ ở nông thôn và cả phần công nghiệp thành thị
phục vụ cho nông thôn 9.
- Công nghiệp nông thôn là những ngành công nghiệp được phát triển ở nông
thôn. Nó bao gồm những hoạt động phi nông nghiệp trong nông thôn 10.
- Công nghiệp nông thôn là một hệ thống các hoạt động kinh tế công nghiệp
và dịch vụ ở nông thôn, bên cạnh các hoạt động kinh tế nông nghiệp 11.
- Công nghiệp nông thôn là một bộ phận công nghiệp cả nước được bố trí ở
địa bàn nông thôn. Nó gắn chặt chẽ với nông nghiệp và sự phát triển kinh tế - xã hội
nông thôn.
- Công nghiệp nông thôn là khái niệm mang tính quy ước tương đối, khái
niệm này chỉ đề cập đến địa điểm. Công nghiệp nông thôn bao gồm các hoạt động
phi nông nghiệp - cả sản xuất lẫn phi sản xuất. Những hoạt động phi nông nghiệp có
thể là công nghiệp chế biến, chế tạo, có thể là các hoạt động trong thương mại, dịch
vụ.
9
Báo cáo tổng hợp, nghiên cứu môi trường thể chế nhằm đảm bảo sự hình thành và phát triển bền vững các hoạt động dịch vụ và SX phi nông
nghiệp ở đồng bằng sông Hồng. Chương trình nghiên cứu Việt Nam – Hà Lan. H.1997
10
KT – XH nông thôn Việt Nam ngày nay tập 2 ban Nông nghiệp TW, NXB tư tưởng văn hoá, Hà Nội 1991
11
Nguyễn Điền, phát triển CNNT trong thời kỳ CNH, tạp chí những vấn đề KT thế giới số 5/1994
12
- Công nghiệp nông thôn là một khái niệm đơn ngành dùng để chỉ một bộ
phận của ngành công nghiệp được tiến hành ở nông thôn. Công nghiệp nông thôn là
các hoạt động sản xuất mang tính chất công nghiệp, diễn ra ở nông thôn do kết quả
phân công lao động tại chỗ.
Những nội dung trên thống nhất với nhau ở 2 điểm:
- Công nghiệp nông thôn là hoạt động phi nông nghiệp
- Có liên quan đến địa bàn nông thôn
Tuy nhiên, khái niệm CNNT cần được đề cập ở mức độ khái quát hơn, liên
quan đến phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất và tham gia vào
giải quyết các vấn đề kinh tế- xã hội ở nông thôn. CNNT còn cần được xem xét từ
góc độ phân công lao động xã hội, tính chất của sản phẩm và sự gắn bó của lĩnh vực
đó với công nghiệp, với hệ thống nông thôn, đồng thời dựa vào cơ sở thực tiễn của
nông thôn Việt Nam hiện nay, khái niệm về Công nghiệp nông thôn có thể được
hiểu như sau: Công nghiệp nông thôn là một bộ phận của công nghiệp cả nước
được phân bố ở nông thôn, bao gồm các cơ sở sản xuất công nghiệp với quy mô vừa
và nhỏ là chủ yếu thuộc nhiều thành phần kinh tế có hình thức tổ chức và trình độ
phát triển khác nhau, hoạt động gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế- xã hội ở
nông thôn.
Khái niệm này đã thể hiện đầy đủ các cách tiếp cận từ giác độ kinh tế lãnh
thổ, kinh tế ngành, kinh tế xã hội, kinh tế tổ chức. Nó xác định được quan hệ kinh
tế- kỹ thuật, quan hệ kinh tế xã hội và quan hệ sản xuất của CNNT. Đồng thời đã
vạch ra được hình thức tổ chức, quy mô, trình độ, mục tiêu của sự phát triển CNNT.
Như vậy theo khái niệm này chỉ những cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp ở nông thôn có những tiêu chí sau đây mới thuộc khái niệm công nghiệp
nông thôn:
+ Tạo ra nhiều việc làm mới, đẩy mạnh phát triển phân công lao động xã hội
nông thôn, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống dân cư nông thôn.
+ Thu hút lao động từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ ngay
trên địa bàn nông thôn.
13
+ Làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn từ thuần nông sang
cơ cấu nông- công nghiệp- dịch vụ.
+ Tạo điều kiện thúc đẩy xã hội nông thôn phát triển văn minh hiện đại.
+ Phát triển phù hợp với chương trình kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội tại
địa bàn nông thôn và do chính quyền cấp huyện, xã quản lý về mặt nhà nước.
Các cơ sở công nghiệp nằm trong khu chế xuất, khu công nghiệp lớn hoặc
ngoài khu công nghiệp do thành phố hay trung ương quản lý tuy ở trên địa bàn nông
thôn nhưng không thuộc vào khái niệm CNNT.
Với khái niệm CNNT nêu trên có thể thấy cơ cấu của CNNT như sau:
- Về ngành nghề: CNNT bao gồm các ngành chính:
+ Chế biến nông, lâm, thuỷ sản tại nông thôn.
+ Khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng.
+ Cơ khí chế tạo, sửa chữa nông cụ, hoá chất.
+ Sản xuất tư liệu tiêu dùng, gia dụng, mỹ nghệ.
- Về cơ cấu loại hình tổ chức sản xuất: các hình thức tổ chức sản xuất của
công nghiệp nông thôn rất đa dạng phong phú. Công nghiệp nông thôn hiện nay có
các hình thức tổ chức chủ yếu:
+ Hộ gia đình sản xuất tiểu thủ công nghiệp.
+ Các tổ hợp, hợp tác xã chuyên sản xuất tiểu thủ công nghiệp.
+ Các xí nghiệp, công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Về cơ cấu thành phần kinh tế:
+ Hộ gia đình (chuyên hay không chuyên) cá thể.
+ Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.
+ Hợp tác xã.
+ Doanh nghiệp nhà nước.
1.2 Sự cần thiết phải phát triển CNNT trong quá trình CNH-HĐH
14
Công nghiệp nông thôn có một vị trí quan trọng trong kinh tế nông thôn, sự
phát triển công nghiệp nông thôn là một tất yếu khách quan. Tính quy luật của sự
phát triển đó trước hết bắt nguồn từ vai trò của CNNT trong quá trình CNH, HĐH
nông nghiệp nông thôn.
1.2.1 Vai trò của công nghiệp nông thôn.
Thứ nhất: Công nghiệp nông thôn đóng vai trò quan trọng đối với việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội nông thôn.
Công nghiệp nông thôn ra đời đã làm biến đổi cơ cấu kinh tế ở nông thôn. Có
thể khẳng định sự thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn bắt đầu từ khi xuất hiện các
nghề thủ công độc lập. Trong quá trình vận động của kinh tế nông nghiệp, nông
thôn, công nghiệp nông thôn ra đời với các bộ phận hợp thành, các quy mô, loại
hình sản phẩm khác nhau đã bổ sung, hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp có năng suất
và hiệu quả hơn, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp.
Khi năng suất, hiệu quả kinh tế trồng trọt cao, lương thực dồi dào, người
nông dân chế biến lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đa dạng,
gia tăng giá trị cho nông sản hàng hoá của mình. Năng suất hiệu quả trồng trọt cao,
nông dân còn nghĩ tới đa dạng hoá nghề nông bằng mở rộng chăn nuôi, trồng cây ăn
quả để tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá, chính nhu cầu tạo ra nhiều sản phẩm hàng
hoá và làm giàu ở nông thôn đã thúc đẩy công nghiệp nông thôn ra đời. Với tư cách
là một lĩnh vực mới, công nghiệp nông thôn hỗ trợ cho phát triển kinh tế nông
nghiệp, là một khởi điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn góp phần tạo ra
nhiều hàng hoá ở nông thôn.
Sự đa dạng của sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp nông thôn khiến cho
sự trao đổi sản phẩm giữa hai khu vực phong phú đa dạng, nhu cầu thoả mãn các
điều kiện sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của mỗi khu vực cũng phức tạp hơn mà bản
thân mỗi khu vực không thể tự mình đảm đương được. Tất yếu nông thôn phải hình
thành khu vực dịch vụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, cho công nghiệp nông
thôn và dân cư nông thôn. Khi nông thôn chuyển sang sản xuất hàng hoá, công
nghiệp nông thôn phát triển là bước chuyển về chất trong quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn. Tỷ trọng nông nghiệp ngày một giảm, tỷ trọng công nghiệp
và dịch vụ ngày một tăng trong GDP của khu vực nông thôn.
15
Tóm lại, sự ra đời công nghiệp nông thôn làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn
chuyển dịch theo các bước:
+ Chuyển biến cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp, tạo ra nền nông
nghiệp đa dạng, phong phú (cả trong trồng trọt, chăn nuôi) có hiệu quả cao hơn.
+ Công nghiệp nông thôn trở thành lĩnh vực độc lập làm cho cơ cấu kinh tế
nông nghiệp nông thôn thoát khỏi thế thuần nông.
+ Kích thích lĩnh vực dịch vụ hình thành và phát triển tạo ra cơ cấu kinh tế
có tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng, tỷ trọng nông nghiệp ngày càng
giảm.
Thứ hai: Phát triển công nghiệp nông thôn thúc đẩy quá trình công nghiệp
hoá nông thôn góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá được Đảng ta coi là nhiệm vụ mang tính chiến
lược, phải được thực hiện trong phạm vi cả nước và ở tất cả các lĩnh vực trong đó
có nông nghiệp và nông thôn. Nhưng nếu chỉ có nông nghiệp, dựa vào nông nghiệp
để công nghiệp hoá nông thôn thường dẫn đến nông nghiệp bị khai thác quá mức.
Công nghiệp nông thôn hình thành, phát triển cùng với nông nghiệp, góp phần vào
việc tạo vốn, tích luỹ vốn cho công nghiệp hoá và thực hiện công nghiệp hoá có
hiệu quả ở nông thôn và trên phạm vi cả nước.
Phát triển công nghiệp nông thôn tạo ra những cơ sở sản xuất với hệ thống
công nghệ riêng, mở, động có nghĩa là dễ thay đổi, nâng cấp khi có điều kiện. Quá
trình hiện đại hoá phù hợp ở nông thôn có thể thực hiện nhanh chóng, hiệu quả hơn
do đã có những cơ sở sản xuất có nhu cầu và có khả năng để tiếp thu công nghệ mới
tiên tiến.
Thứ ba: Phát triển công nghiệp nông thôn làm tăng giá trị sử dụng và tăng
giá trị sản phẩm nông nghiệp.
Mỗi sản phẩm tuỳ theo tính chất tự nhiên của nó có ít hay nhiều giá trị sử
dụng. Về cơ bản tác động của sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ là yếu tố
quan trọng nhất làm tăng giá trị sử dụng cho các sản phẩm. Công nghiệp nông thôn
với những đặc thù riêng về kỹ thuật công nghệ đã đóng vai trò quan trọng trong việc
16