Đề tài khoa học sự ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính đến việc làm đẹp báo cáo tài chính của các doanh nghiệp việt nam trong giai đoạn 2008 2012

  • 52 trang
  • file .pdf
Mã số: …………….
Sự ảnh hưởng của Đòn bẩy tài chính đến việc
làm đẹp Báo cáo tài chính của các doanh
nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2012
i
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH LÊN VIỆC LÀM ĐẸP
BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN 2008-2013
Tóm tắt
Bài nghiên cứu tìm hiểu về mức độ làm đẹp báo cáo tài chính của các công ty
niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam, nguyên nhân cũng như những động cơ thúc
đẩy các nhà quản lý thực hiện những thủ thuật trên những con số kế toán. Theo đó,
trọng tâm của bài sẽ phân tích thực tiễn của việc làm đẹp báo cáo như một hàm số bao
gồm các biến là những yếu tố bên trong của công ty như hiệu quả hoạt động, loại hình
hoạt động và yếu tố bên ngoài như vấn đề kiểm soát bởi các công ty kiểm toán.
Kết quả nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ ngược chiều rõ rệt giữa LEV và
REM hát hiện này nói lên rằng những công ty có mức vay nợ càng cao thì có mức
REM càng thấp.Điều này ủng hộ cho quan điểm đòn bẩy tài chính có tác dụng làm
hạn chế các hoạt động REM, kết qủa này phần nào làm ảnh hưởng đến chất lượng
doanh thuvà lợi nhuận của mỗi công ty được thể hiện trên báo cáo tài chính. Ngoài ra,
bài nghiên cứu còn cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô công ty và REM,
điều này chứng tỏ những công ty có quy mô càng lớn thì có độ biến động trong hoạt
động càng thấp, vì thế mà việc làm đẹp báo cáo tài chính sẽ có xu hướng ít hơn. Đặc
biệt, kết quả nghiên cứu cũng làm nổi bật hai luồng ý kiến đánh giá về mối quan hệ
giữa ROA và REM, kết quả chỉ ra rằng những công ty có quy mô lớn sẽ có khả năng
thực hiện REM thấp hơn hoặc cao hơn những công ty có quy mô nhỏ, điều này xảy ra
một phần nào đó phụ thuộc vào đường lối chính sách của bộ máy quản trị trong mỗi
công ty trong từng giai đoạn kinh tế.
ii
Mục lục:
1. Giới thiệu ........................................................................................................................................ 1
1.1 Lý do chọn đề tài .......................................................................................................................... 1
1.2 Vấn đề nghiên cứu........................................................................................................................ 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu..................................................................................................................... 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................................. 2
1.5 Phạm vi và đối tượng ................................................................................................................... 3
1.6 Nội dung nghiên cứu .................................................................................................................... 3
2. Cơ sở lý luận ................................................................................................................................... 3
2.1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây ........................................................................................... 3
2.1.1 Vì sao các công ty lại phù phép báo cáo tài chính .......................................................... 3
2.1.2 Việc lựa chọn giữa hai phương pháp AEM và REM...................................................... 5
2.1.3 Thủ thuật làm đẹp báo cáo tài chính bằng các giao dịch thực (REM ) ........................... 8
2.1.4 Ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính lên REM ................................................................. 10
2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc làm đẹp báo cáo tài chính .................................................. 11
2.2.1 Chi phí lãi ròng (INTEXP) ........................................................................................... 11
2.2.2 Lợi nhuận ròng trên tài sản ( ROA) .............................................................................. 12
2.2.3 Quy mô doanh nghiệp (SIZE) ...................................................................................... 12
2.2.4 Công ty kiểm toán ........................................................................................................ 12
3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu ............................................................................................ 13
3.1 Dữ liệu ........................................................................................................................................ 13
3.1.1 Biến phụ thuộc .............................................................................................................. 14
3.1.2 Biến giải thích............................................................................................................... 14
3.2 Phương pháp luận ...................................................................................................................... 15
3.2.1 Ba mô hình đại diện cho REM ..................................................................................... 15
3.2.2 Mô hình ước lượng ....................................................................................................... 16
4. Kết quả nghiên cứu....................................................................................................................... 18
4.1 Kết quả kiểm định việc lựa chọn phương pháp chạy mô hình hồi quy đối với ba mô hình
đại diện ................................................................................................................................................... 18
4.2 Kiểm tra và khắc phục hiện tượng “ Đa cộng tuyến” ................................................................. 23
4.3 Kết quả nghiên cứu của mô hình ước lượng .............................................................................. 24
iii
4.3.1 Kết quả phân tích mô tả ................................................................................................ 24
4.3.2 Kết quả nghiên cứu với biến đại diện RES_CFO ......................................................... 25
4.3.3 Kết quả nghiên cứu với biến đại diện RES_PROD ...................................................... 26
4.3.4 Kết quả nghiên cứu của biến đại diện RES_DISXEPT ................................................ 28
4.3.5 Kết quả tổng hợp từ ba mô hình ................................................................................... 31
5. Kết luận......................................................................................................................................... 32
Phục lục
Tài liệu tham khảo
iv
Bảng 1: Tóm tắt ý nghĩa của các biến trong mô hình ước lượng ......................................................... 17
Bảng 2: : Kết quả kiểm định việc lựa chọn phương pháp chạy mô hình RES_ CFO........................... 19
Bảng 3: Kết quả kiểm định việc lựa chọn phương pháp chạy mô hình RES_PROD ........................... 21
Bảng 4: : Kết quả kiểm định việc lựa chọn phương pháp chạy mô hình RES_DISXEPT ................... 22
Bảng 5: Bảng mô tả “Đa cộng tuyến” đối với mô hình RES_CFO ...................................................... 23
Bảng 6: Bảng mô tả “Đa cộng tuyến” đối với mô hình RES_PRO ...................................................... 23
Bảng 7: Bảng mô tả “Đa cộng tuyến” đối với mô hình RES_DISXEPT ............................................. 24
Bảng 8: Thống kê mô tả ....................................................................................................................... 25
Bảng 9: Kết quả hồi quy của mô hình ước lượng đối với biến đại diện RES_CFO ............................. 26
Bảng 10: Kết quả hồi quy của mô hình ước lượng đối với biến đại diện RES_PROD ........................ 28
Bảng 11: Kết quả hồi quy của mô hình ước lượng đối với biến đại diện RES_DISEXPT .................. 30
1
1. Giới thiệu
1.1 Lý do chọn đề tài
Khởi đầu năm 2014, nền kinh tế Việt Nam tuy đã có những dấu hiệu phục hồi
về các chỉ số kinh tế vĩ mô, tuy nhiên các chuyên gia đánh giá nhận định rằng đất
nước vẫn đang trong giai đoạn khủng hoảng, trì trệ, và tăng trưởng dưới mức tiềm
năng, đồng thời nhiều yếu tố mang tính chất nền tảng khác vẫn chưa được giải quyết
triệt để. Nền kinh tế khó khăn với hệ lụy theo sau nó là sự sụp đổ của nhiều doanh
nghiệp trong nước. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê trong năm 2013 có khoảng
60.700 doanh nghiệp (DN) phải giải thể, ngừng hoạt động, tăng 11,9% so với 2012 và
tăng 12,5% so với 2011. Phần lớn những doanh nghiệp này đang trong tình cảnh “khát
vốn” để hoạt động kinh doanh thế nhưng hầu hết họ không thể tiếp cận được vốn vay
từ ngân hàng. Ngoài những nhân tố khách quan như lãi suất cho vay cao dẫn đến tình
trạng trên thì không thể phủ nhận là cũng có những nguyên nhân chủ quan từ chính
các doanh nghiệp. Nguyên nhân nằm ở chỗ khi quyết định cho một doanh nghiệp vay
vốn, ngân hàng thường quan tâm đến hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng sinh
lời của doanh nghiệp. Chính vì vậy, để làm đẹp thủ tục xin vay vốn, không ít doanh
nghiệp đã chỉnh sửa báo cáo tài chính theo đúng tiêu chuẩn quy định do ngân hàng đặt
ra. Ngoài ra, hiện nay, báo cáo tài chính định kỳ hàng quý, hàng năm là thông tin đầy
đủ nhất về doanh nghiệp mà nhà đầu tư có thể tiếp cận một cách chính thức. Báo cáo
tài chính có thể xem là bộ mặt của một doanh nghiệp. Việc "làm đẹp" do vậy cũng trở
nên cực kỳ cần thiết khi một doanh nghiệp muốn thu hút nhà đầu tư. Tuy nhiên,
không phải lúc nào việc sử dụng những thủ thuật làm đẹp này cũng mang lại kết quả
khả quan cho doanh nghiệp, ngược lại nếu sử dụng không có chiến lược, doanh
nghiệp có thể sẽ tự tay đẩy mình vào tình trạng khó khăn, bế tắc, đồng thời chịu sức
ép kiểm soát từ các công ty kiểm toán. Thực tế cho thấy, “làm đẹp” báo cáo tài chính
bằng các giao dịch thực (REM) đang trở thành lối đi khác an toàn và hiệu quả hơn
được các nhà quản lý sử dụng thay thế cho việc thay đổi các ước tính kế toán (AEM)
2
vốn được áp dụng từ trước đến nay. Vì vậy, việc lựa chọn phương pháp thay đổi báo
cáo tài chính đang trở thành chủ đề mà các doanh nghiệp đáng quan tâm hiện nay đặc
biệt đối với những doanh nghiệp mong muốn duy trì hoạt động kinh doanh bền vững.
1.2 Vấn đề nghiên cứu
Bài nghiên cứu tập trung vào việc giải quyết các vấn đề:
- Vì sao các doanh nghiệp lại làm đẹp BCTC?
- Những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện REM?
- Ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính lên REM của các công ty ở Việt Nam trong giai
đoạn từ 2008 đến 2012 như thế nào?
- Giải pháp kiến nghị đưa ra để giảm thiểu việc làm đẹp BCTC ở Việt Nam hiện
nay.
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu cơ bản của bài nghiên cứu là kiểm tra mối quan hệ giữa đòn bẩy tài
chính và vấn đề làm đẹp báo cáo tài chính bằng các giao dịch thực,ảnh hưởng của
đòn bẩy tài chính lên chiến lược “ làm đẹp” báo cáo tài chính (EM) như thế nào đối
với những doanh nghiệp đang sử dụng nợ. Bài nghiên cứu này sử dụng mô hình dòng
tiền hoạt động kinh doanh, mô hình chi phí sản xuất và mô hình chi phí hữu ích dựa
theo nghiên cứu của Roychowdhury 2006, thông qua việc kiểm định kết quả của ba
biến đại diện bằng phương pháp Likelihood và sử dụng mô hình hồi quy mảng và
chéo cho mỗi trường hợp. Kết quả cho thấy, rõ ràng việc làm đẹp báo cáo tài chính bị
ảnh hưởng bởi vấn đề vay nợ của doanh nghiệp.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sẽ sử dụng kiểm định Hausman hoặc Likelihood để lựa chọn
mô hình mô hình hiệu ứng cố định (fixed effects model) hoặc mô hình hiệu ứng ngẫu
nhiên (random effects model). Kết quả hồi quy của từng mô hình ở trên sẽ được lấy
làm đại diện cho REM để tiếp tục thực hiện việc hồi quy trong mô hình ước lượng
OLS.
3
1.5 Phạm vi và đối tượng
Mẫu bao gồm 100 công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán
TPHCM và Hà Nội, bao gồm 6 nhóm ngành kinh tế trong giai đoạn 2008-2013, trừ
các công ty cung cấp các dịch vụ tài chính ( ngân hàng thương mại, công ty tài chính,
công ty bảo hiểm, và công ty chứng khoán và những công ty có bộ dữ liệu không đầy
đủ hoặc bị mất dữ liệu).
1.6 Nội dung nghiên cứu
 Cơ sở lý luận về việc làm đẹp BCTC và ảnh hưởng của LEV đến REM.
 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện REM đối với các công ty
được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
2. Cơ sở lý luận
2.1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây
2.1.1 Vì sao các công ty lại phù phép báo cáo tài chính
2.1.1.1 Làm đẹp báo cáo tài chính nhằm thu hút các nhà đầu tư
Schipper,1989 trong nghiên cứu của mình đã tranh luận rằng (EM) là những
hành động can thiệp có mục đích vào tiến trình đưa báo cáo tài chính ra bên ngoài, với
mục đích đạt đươc các lợi ích cá nhân. Đồng quan điểm trên, Aini và các cộng sự,
2006, đã tìm thấy các bằng chứng cho thấy các nhà quản lý tham gia các hoạt động
EM nhằm cải thiện bức tranh tài chính được xây dựng bởi các báo cáo tài chính để thu
hút các nhà giao dịch chứng khoán và xây dựng niềm tin đầu tư. Tuy nhiên việc làm
đẹp báo cáo tài chính cũng gặp phải những ý kiến đánh giá tiêu cực, như theo
Yan,2006; Aini và các cộng sự, việc tiến hành EM mang tính cơ hội theo các bút toán
dồn tích có thể làm cho các báo cáo tài chính thiếu chính xác và sai lệch. Điều này
làm giảm chất lượng của các báo cáo tài chính. Khoản thu nhập được báo cáo trong
báo cáo tài chính không phải là một số tiền chính xác mà là một khoản tiền được lấy
từ một chuỗi liên tục các khoản thu được từ việc áp dụng các lựa chọn phương pháp
kế toán dồn tích khác nhau có thể chấp nhận được (Healy và Wahlen, 1999; Dechow
4
và Skinner, 2000). Các công ty có thể lựa chọn giữa những phương pháp kế toán được
cho phép hoặc có thể áp dụng những giả thiết hoặc những ước lượng trong một
phương pháp kế toán. Do đó vai trò của phương pháp kế toán dồn tích được tin rằng
đã gây ra những dạng làm đẹp báo cáo tài chính, chẳng hạn như làm mượt thu nhập,
những dạng này khó để phân biệt được đối với những phương pháp kế toán dồn tích
thích hợp. Việc làm đẹp báo cáo tài chính đã đi lệch với trọng tâm cơ bản của báo cáo
tài chính, cung cấp những thông tin về tình hình hoạt động của công ty được đo lường
bằng thu nhập và những thành phần của nó ( Dechow và Skinner, 2000). Áp lực làm
đẹp báo cáo tài chính không phải đến từ một bên. Các nhân tố như dự đoán của nhà
phân tích, việc tiếp cận thị trường nợ, vấn đề canh tranh, các nghĩa vụ hợp đồng, sự
bùng nổ của thị trường chứng khoán, các giao dịch tài chính mới, bỏ qua chi phí giao
dịch lớn, sức hấp dẫn của việc sáp nhập, chi phí quản lý, trọng tâm trong ngắn hạn,
những kế hoạch và ngân sách không thực tế, những yêu cầu cuối kỳ của cấp trên, giai
đoạn lợi nhuận quá mức theo sau đó là một đợt suy giảm, việc che giấu các giao dịch
bất hợp pháp, tiền thưởng cá nhân, các chương trình khuyến mãi, việc tập trung vào
nhóm và vấn đề duy trì việc làm là những nguyên nhận được đề cập trong bài nghiên
cứu ( Ducan, 2001). Ảnh hưởng của những biến này lên việc làm đẹp báo cáo tài
chính ở các quốc gia khác nhau có thể khác nhau. Ví dụ, lý thuyết nợ cho rằng công ty
có tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần lớn hơn thì được dự đoán sẽ lựa chọn bút toán dồn tích
làm gia tăng thu nhập. Tuy nhiên, ở các công ty Nhật thì thích sử dụng bút toán làm
giảm thu nhập hơn (Kesterm,1992; Phan và Yoshikawa,1996; Pourjalali và Hansen,
1996). Có bằng chứng cho rằng các nhà quản lý của cả các công ty ở Nhật và Mỹ đều
chọn bút toán dồn tích làm tăng thu nhập để làm gia tăng tiền thưởng của họ và số tiền
tài trợ từ bên ngoài. Việc lựa chọn bút toán làm tăng thu nhập của các công ty Nhật
cũng được tìm thấy có mối quan hệ cùng chiều với quyền sở hữu của các nhà đầu tư
cá nhân và các công ty uy tín nhưng lại có mối quan hệ ngược chiều với quyền sở hữu
của các tổ chức tài chính và các tập đoàn khác( Darrough, Pourjalali và Saudagaran,
5
1998). Việc lựa chọn các bút toán dồn tích của các nhà quản lý cũng bị ảnh hưởng
bởi sự khác biệt về kinh tế chính trị xã hội và môi trường ở các quốc gia khác nhau.
Hơn nữa, những thay đổi kinh tế bất thường ( chẳng hạn như sự tuột dốc bất thường
của thị trường hay sự tăng trường của thị trường) có thể gây ra những động lực khác
nhau cho việc làm đẹp báo cáo tài chính. Ví dụ, sự sụp đổ của thị trường năm 1990 ở
Nhật đã gây ra sự thay đổi trong các nhân tố kinh tế làm ảnh hưởng đến việc lựa chọn
phương pháp kế toán ( Darrough, Pourjalali, và Saudagaran,1998)
2.1.1.2 Làm đẹp báo cáo tài chính để đáp ứng các thay đổi thuế suất
Roubi và Richardson, (1998) cho rằng việc làm đẹp báo cáo tài chính của các
công ty phi sản xuất ở Malaysia, Singapore và Canada nhằm mục đích đáp ứng việc
thay đổi thuế suất. Phân tích của họ cung cấp những bằng chứng về việc làm đẹp báo
cáo tài chính thông qua các bút toán dồn tích theo ý mình của của các công ty Canada
và Singapore tương tự như các bằng chứng được tìm thấy ở Mỹ. Chúng không đóng
góp nhiều vào các nhân tố văn hóa được tìm thấy trong những kết quả của Malaysia.
Cụ thể, Crazy Eddie, một công ty bán lẻ thiết bị điện tử, đã trốn thuế trong
nhiều năm bằng cách báo cáo thu nhập thấp hơn thực tế. Những kết quả này ủng hộ
cho những bằng chứng trước đây khi cho rằng các công ty Mỹ tiến hành việc lựa
chọnphương pháp kế toán nhằm đạt được những mục đích kinh tế.
2.1.2 Việc lựa chọn giữa hai phương pháp AEM và REM
Theo nghiên cứu của Jeff Z. Chen: AEM đề cập đến sự linh hoạt của các nhà
quản lý trong việc sử dụng những ước tính kế toán nằm trong GAAP một cách cơ hội
nhằm thay đổi thu nhập được báo cáo mà không làm thay đổi dòng tiền cơ bản. REM
đề cập đến việc tạo ra một chu kỳ thời gian mớivà tái cấu trúc một hoạt động, một vụ
đầu tư và các giao dịch tài chính một cách thuận lợi nhằm làm ảnh hưởng đến thu
nhập báo cáo theo một hướng cụ thể, nó tạo ra hiệu quả gần tối ưu và áp đặt một chi
phí thực tế lên công ty. Trường hợp đầu tiên, khi kỳ vọng tốc độ tăng trưởng của công
ty tốt thì doanh nghiệp sẽ làm gia tăng thu nhập thông qua AEM không phải REM.
6
Đồng thời, điều này sẽ làm tăng mức đầu tư nhằm tạo ra thu nhập trong tương lai cao
hơn. Trường hợp thứ hai, khi độ nhạy cảm của các khoản bù đắp cho nhà quản lý đối
với giá chứng khoán và/hoặc giá cả thu nhập tăng lên, công ty sẽ sử dụng AEM không
phải REM, nhằm thổi phồng thu nhập trong giai đoạn hiện tại. Các nhà quản lý sẽ gia
tăng đầu tư trong giai đoạn đầu tiên nhằm thổi phồng thu nhập trong tương lai và làm
giảm tác động ngược lại của AEM trong giai đoạn thứ hai. Trường hợp thứ ba, khi chi
phí của AEM lớn nhà quản lý sẽ cắt giảm cơ hội tiếp cận với đầu tư. Thu nhập hiện tại
sẽ gia tăng như là kết quả của sự sụt giảm trong việc đầu tư quá mức. Điều này cho
thấy rằng các nhà quản lý đang cắt giảm chi phí đầu tư và thổi phồng thu nhập hiện tại
nhằm làm gia tăng thu nhập.
AEM gia tăng cùng với triển vọng tăng trưởng của một công ty, nhằm chỉ ra
rằng các công ty tăng trưởng sẽ có nhiều khả năng sử dụng AEM để thổi phồng thu
nhập. REM giảm cùng với triển vọng tăng trưởng của một công ty, cho thấy rằng các
công ty này ít có khả năng sử dụng REM và thích những tác động trong dài hạn của
việc đầu tư.
AEM gia tăng cùng với độ nhạy cảm liên quan đến giá chứng khoán của nhà
quản lý - dựa trên cơ sở cho rằng các khoản bù đắp ảnh hưởng đến giá chứng khoán
và giá cả thị trường của thu nhập. Nghiên cứu của Matsumoto (2002) cũng cho thấy
những kết quả tương tự, ngoại trừ việc tác giả chỉ tập trung vào hành vi của AEM
trong thiết lập MBE.Một số nghiêu cứu lại cho rằng không phát hiện thấy mối quan hệ
đáng kể giữa REM và chi phí sử dụng của nó.Burgstahler và Dichev (1997) cho thấy
rằng cả dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và những thay đổi trong phương pháp hạch
toán gần đây được quản lý nhằm làm gia tăng thu nhập. Burgstahler và Eames (2006)
nghiên cứu cho thấy dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và phương pháp hạch toán
tùy ý được kiểm soát nhằm tránh xảy ra kết quả thu nhập trong báo cáo thấp hơn so
với phân tích dư đoán.
7
Barton ( 2001) và Pincus, Rajgopal (2002) đưa ra những bằng chứng cho thấy rằng
các nhà quản lý sử dụng các công cụ phái sinh và các phương pháp hạch toán tùy ý
như việc thay thế một phần cho vấn đề làm mượt thu nhập. Áp dụng sớm hơn quyền
chọn cổ phiếu là một trong những bằng chứng cho phương pháp sử dụng công cụ phái
sinh, Doanh nghiệp tặng tặng nhân viên quyền chọn cổ phiếu được định ngày trước so
với ngày công ty thực sự tặng quyền chọn đó. Do đó, khoản tiền tăng thêm do chênh
lệch giá cổ phiếu sẽ không được tính vào thu nhập chịu thuế. Apple chính là ví dụ
điển hình cho thủ thuật này. Sau khi bị phát hiện, Steve Jobs và các lãnh đạo khác của
Apple đã phải nộp khoản tiền phạt trị giá 14 triệu USD cộng với phí luật sư.
Những quyết định về vấn đề làm đẹp báo cáo tài chính chủ yếu xoay quanh vào kỳ
vọng tăng trưởng của một công ty, kinh phí đãi ngộ cấp quản lý, và chi phí của những
hoạt động mánh khóe thực sự. Những công ty nằm trong những vòng quay hoạt động
khác nhau thì có kỳ vọng về mặt tăng trưởng kinh tế khác nhau.Graham và các cộng
sự (2005) khi nói về các bằng chứng khảo sát cho rằng những nhà quản lý của các
công ty đang phát triển thìthích làm đẹp báo cáo tài chính bởi vì họ kỳ vọng vào tốc
độ tăng trưởng thu nhập trong tương lai sẽ bù đắp lại cho những quyết định về việc
làm đẹp báo cáo tài chính trong quá khứ. Họ cũng tin rằng nếu tình hình tài chính của
công ty tiếp tục xấu hơn, thì những quyết định về việc làm đẹp báo cáo tài chính nhỏ
cũng có thể tạo ra và dẫn đến những kết quả trái ngược lại trong những giai đoạn sau.
Nhiều nghiên cứu tranh luận rằng các nhà quản lý thực hiện những phương pháp hạch
toán theo chủ ý của mình nhằm làm tối đa hóa mức bù đắp cho mình (Cheng và
Warfield 2005, Bergstresser và Philippon 2006).Ngoài ra, một số bài nghiên cứu đưa
ra những bằng bằng chứng về mối quan hệ giữa kinh phí đãi ngộ và REM, tương tự
với AEM.Zang (2007) và Ewert, Wagenhofer (2005) cho rằng những mánh khóe về
mặt kế toán hay các giao dịch thực là những thay thế trong chi phí cho những mánh
khóe về kế toán.
8
2.1.3 Thủ thuật làm đẹp báo cáo tài chính bằng các giao dịch thực (REM )
REM là một hành động có mục đích của ban quản lý công ty nhằm làm thay
đổi thu nhập được báo cáo theo một hướng cụ thể, điều này đạt được bằng cách thay
đổi chu kỳ thời gian hoặt cơ cấu lại một hoạt động, một vụ đầu tư hoặc một giao dịch
tài chính với những tác động lên dòng tiền và mang lại những kết quả gần như tối ưu.
Định nghĩa này dựa trên những định nghĩa được thực hiện bởi Healy và Wahlen
(1999) và Zang (2007). Ví dụ, vào những ngày cuối năm, công ty có thể ghi nhận
doanh thu trước khi thực sự xuất hàng để đạt chỉ tiêu doanh thu. Việc hạch toán doanh
thu được thực hiện ngay khi xuất hóa đơn vào ngày cuối năm trong khi sang năm mới,
sau nhiều ngày, hàng mới được xuất đi. Đối với các công ty xuất khẩu, chênh lệch
thời gian nói trên thường rất lớn, đẩy doanh thu tăng lên đáng kể. Thủ thuật này cũng
có thể dễ dàng áp dụng đối với doanh thu cung cấp dịch vụ bằng cách thay đổi thời
gian và mức độ hoàn thành dịch vụ. Một hình thức khác là phân bổ chi phí hoặc thu
nhập cho nhiều kỳ, thay vì ghi nhận toàn bộ một lần hay ngược lại.
Theo Graham và các cộng sự 2005: Các CFO tin rằng các nhà đầu tư bên ngoài
quan tâm đến thu nhập hơn là dòng tiền. Hai tiêu chuẩn thu nhập quan trọng nhất là
thu nhập từng quý so với cùng quý năm trước và sự ước lượng tính đồng nhất. Các
giám đốc điều hành tin rằng việc đạt được các tiêu chuẩn về thu nhập sẽ tạo dựng nên
sự tin tưởng với thị trường và giúp hoặc duy trì hoặc làm gia tăng giá cổ phiếu của
công ty họ.Các nhà quản lý sẵn sàng đánh mất một khoản hy sinh nhỏ hoặc trung bình
trong giá trị kinh tế để đạt được những kỳ vọng thu nhập theo phân tích đồng thời
những nhà đầu tư thì tránh những tác động nặng nề của thị trường đối với vấn đề phân
phối dưới mức (under-delivering).Đại đa số các CFO thích nguồn thu nhập ổn định (
so với thu nhập biến động). Với việc nắm giữ dòng tiền chảy liên tục thì nguồn thu
nhập biến động được cho là rủi ro hơn so với nguồn thu nhập ổn định. Hơn nữa,
nguồn thu nhập ổn định làm giảm nhẹ công việc dự đoán dòng tiền trong tương lai
của nhà phân tích. Các giám đốc tài chính tin rằng nguồn thu nhập ít mang tính dự
9
đoán – được phản ánh trong việc bỏ lỡ những mục tiêu thu nhập hoặc sự biến động
trong thu nhập – yêu cầu một mức bảo hiểm rủi ro trên thi trường. Điều đáng ngạc
nhiên là 78% các giám đốc tài chính được khảo sát muốn từ bỏ giá trị kinh tế để đạt
được thu nhập ổn định.Các CFO tranh luận rằng hệ thống thị trường ( những sức ép
thị trường và các phản ứng quá mức) khuyến khích các quyết định hy sinh giá trị
trong dài hạn để đạt được những mục tiêu về thu nhập.
Theo Roychowdhury, 2006, mặc dù (REM) có thể làm giảm giá trị của doanh
nghiệp nhưng các nhà quản lý vẫn sẵng sàng thực hiện những thủ thuật làm đẹp thu
nhập thông qua các hoạt động thực,cụ thể là các hoạt động không bị ảnh hưởng bởi
việc kiểm toán hoặc các hoạt động giám sát. Tác giả định nghĩa những thủ thuật sử
dụng các hoạt động thực là những hành động bắt nguồn từ những hoạt động vận hành
bình thường được thúc đẩy bởi kỳ vọng của các nhà quản lý để đánh lừa ít nhất một số
cổ đông tin tưởng vào mục tiêu của các báo cáo tài chính chắc chắn sẽ đạt được trong
một chu kỳ hoạt động nhất định. Những hành động này không đóng góp vào giá trị
của công ty mặc dù chúng giúp cho các nhà quản lý đạt được những mục tiêu báo cáo
của mình. Những phương pháp thực hiện các hoạt động thực, chẳng hạn như giảm giá
hoặc giảm chi phí tùy chỉnh, là những hành động tối ưu trong chu trình kinh doanh cố
định. Kết quả của Graham và các cộng sự (2005) đã tìm thấy rằng (a) các giám đốc tài
chính gắn hiệu quả hoạt động cao vào việc đạt được những mục tiêu thu nhập chẳng
hạn như thu nhập ở mức 0, thu nhập trong giai đoạn trước, dự đoán phân tích và (b)
họ sẵn sàng thực hiện những hoạt động thực để đạt được những mục tiêu này, thâm
chí việc cắt giảm giá trị tiềm năng của công ty. Việc thực hiện các hoạt động thực có
thể cắt giảm giá trị của công ty bởi vì những hoạt động thực hiện trong hiện tại nhằm
làm gia tăng thu nhập có tác động tiêu cực đố với dòng tiền trong tương lai. Healy và
Wahlen (1999), Fudenberg và Tirole (1995), Dechow và Skinner (2000) chỉ ra rằng
tăng tốc độ bán hàng, thay đổi trong lịch trình vận chuyển, trì hoãn việc nghiên cứu và
phát triển (R&D) và duy trì chi phí là những phương pháp làm đẹp báo cáo tài chính
10
hợp lý đối với các nhà quản lý.Bruns và Merchant (1990), Graham và các cộng sự
(2005) cho rằng các giám đốc tài chính thích thực hiện các thao tác thông qua các hoạt
động thực hơn là bằng các bút toán. Có ít nhất hai lý do cho điều này. Lý do thứ nhất,
các thao tác hạch toán thường bị kiểm soát bởi các công ty kiểm toán hoặc bị điều
chỉnh hơn các hoạt động thực về giá trị và sản xuất. Lý do thứ hai, việc dựa vào các
thao tác hạch toán đòi hỏi một rủi ro. Sự thiếu hụt cuối năm được nhận ra giữa thu
nhập thực tế và mức mong muốn có thể vượt quá một số lượng có thể điều chỉnh bằng
phương pháp hạch toán. Nếu điều này xảy ra, và thu nhập giảm xuống ngưỡng đề ra,
các hoạt động thực có thể không được thực hiện vào cuối năm
2.1.4 Ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính lên REM
2.1.4.1 Đòn bẩy tài chính làm tăng REM
Một số nhà phân tích và các nhà đầu tư tập trung vào dòng tiền hơn là thu nhập
của một công ty, điều này được xem như là kết quả về việc phân tích các vụ bê bối
của những công ty đã bị đánh mất lòng tin về những số liệu về thu nhập của mình.
Nguyên nhân là do công ty phải đối mặt với chi phí lãi suất tăng cao nhiều hơn, đây là
kết quả của việc gia tăng các khoản vay tài chính và gia tăng lãi suất. Dòng tiền hiệu
quả từ những hoạt động kinh doanh là cần thiết đối với những công ty này để giữ cho
công ty vẫn có lợi nhuận và tồn tại.việc thiếu hụt dòng tiền có thể dẫn đến kết quả là
sự sụp đổ hoặc công ty sẽ trở thành nạn nhân của một vụ thôn tính. Nhận thức được
các nhà đầu tư sẽ sử dụng báo cáo lưu chuyển dòng tiền để đưa ra các quyết định đầu
tư, các nhóm nhà quản lý thông minh và năng động sẽ có nhiều khả năng giải quyết
vấn đề bằng REM nhằm làm ảnh hưởng lên bức tranh dòng tiền từ hoạt động kinh
doanh thực chất của công ty ( CFO) và nhận được hoặc duy trì khả năng vay nợ bên
ngoài. Những công ty có đòn bẩy tài chính cao có thể thích dòng tiền từ hoạt động
kinh doanh hơn là nhờ vào các nguồn lực hỗ trợ tài chính cơ bản bởi vì một số nhà
phân tích tin rằng dòng tiền từ hoạt động kinh doanh là chỉ số minh bạch hơn về hiệu
quả hoạt động của công ty. Kết quả của bài nghiên cứu được trình bày bởi Nwaeze và
11
các cộng sự (2005), cho rằng đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng tích cực và đáng kể vào
vai trò của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh.
2.1.4.2 Đòn bẩy tài chính làm hạn chế REM
Một nghiên cứu về các phương pháp phù phép thu nhập nhấn mạnh rằng đòn
bẩy tài chính làm hạn chế EM ( theo Jelinek, 2007; Wasimullah và các cộng sự,
2010). Trong nghiên cứu của Jelinek, 2007, tác giả cho rằng “ gia tăng đòn bẩy tài
chính‟ làm giảm EM. „ Tăng đòn bẩy‟ làm giảm những thủ thuật về thu nhập có tính
cơ hội vì một số lý do: 1) công ty sử dụng đòn bẩy tài chính yêu cầu phải trả nợ vay,
vì vậy làm giảm lượng tiền mặt sẵn có cho vấn đề quản lý đối với những chi tiêu
không tối ưu ( Jensen,1986); 2) Khi một công ty đi vay, nó phải thực hiện việc trả nợ
cho người cho vay, và thường gặp phải những giới hạn trong việc sử dụng tiền
(Jensen,1986).Vì vậy việc sử dụng nợ được xem là một trong những phương pháp
thúc đẩy hiệu quả làm việc của một tổ chức.
2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc làm đẹp báo cáo tài chính
2.2.1 Chi phí lãi ròng (INTEXP)
Nghiên cứu của Irina Zagers-Mamedova cho rằng các công ty muốn tồn tại
trong nền kinh tế hiện tại phải tham gia vào các vụ sáp nhập hoặc mua lại.Lợi thế
thương mại thể hiện giá trị những tài sản vô hình của công ty (thương hiệu, quan hệ
khách hàng …). Dưới áp lực từ phía nhà đầu tư, đặc biệt là trong các thương vụ mua
lại và sáp nhập, giá trị của lợi thế thương mại thường được đẩy lên cao hơn so với
thực tế. Green Mountain đã thực hiện thủ thuật này trong thương vụ mua lại Van
Houtte.Sau thương vụ này, giá trị tài sản của hãng tăng vọt. Kết quả của những gian
lận về thương mai là việc gia tăng trong nguồn vốn và giúp cho các công ty có thể vay
thêm nợ từ phía bên ngoài và hậu quả của điều này là làm gia tăng chi phí lãi vay, và
làm giảm nguồn thu nhập ròng. Jensen (1986) cho rằng chi phí lãi vay tăng lên có thể
là một trong những phương pháp nhằm kiểm soát những hành vi mang tính cơ hội của
các nhà quản lý.Việc phát hành một lượng nợ lớn để mua lại cổ phiếu có thể tạo ra
12
những động lực nhằm thúc đẩy các nhà quản lý vượt qua những kháng cự đến từ các
tổ chức thông thường về việc cắt giảm trong những khoản chi tiêu không cần
thiết.Mối đe dọa đến từ việc thất bại làm cho các khoản nợ phải trả đóng vai trò như
một sức ép có hiệu quả nhằm giúp cho các tổ chức hoạt động một cách hiệu quả
hơn.Vì vậy bài nghiên cứu này bao hàm cả biến INTEXP.
2.2.2 Lợi nhuận ròng trên tài sản ( ROA)
Nghiên cứu của Kothari và các cộng sự ( 2005) và Jiraporn và các cộng sự
(2007) cho thấy rằng có một mối quan hệ ngược chiều giữu EM và ROA. Kết quả chỉ
ra rằng các công ty có hiệu suất hoạt động thấp hơn thì khả năng tạo ra động lực để
công ty thực hiện các hoạt động EM càng cao.
2.2.3 Quy mô doanh nghiệp (SIZE)
Quy mô ảnh hưởng đến việc làm đẹp báo cáo tài chính bằng các ước tính kế
toán ( theo nghiên cứu của Gu và các cộng sự,2005 và Aini và các cộng sự 2006). Tuy
nhiên có hai luồng tranh luận trong mối quan hệ này. Một mặt, Gu và các cộng sự cho
rằng sự biến động trong việc thực hiện các ước tính kế toán giảm theo quy mô của
công ty, phù hợp với việc những công ty lớn thì có độ biến động trong hoạt động và
việc làm đẹp báo cáo tài chính ít hơn do chi phí chính trị cao hơn so với những công
ty nhỏ hơn. Mặt khác, Aini và các cộng sự 2006 cho rằng các công ty có quy mô lớn
hơn thì thích lựa chọn những phương pháp kế toán làm giảm thu nhập để tránh các chi
phí chính trị.
2.2.4 Công ty kiểm toán
Nghiên cứu của Charles E. Jordan trong tác phẩm “ Sự ảnh hưởng của chất
lượng kiểm toán đến việc làm đẹp báo cáo tài chính để đạt được những thành tựu
trong EPS” cho thấy mục đích chính của kiểm toán báo cáo tài chính là cung cấp cho
người sử dụng sử đảm bảo rằng các báo cáo tài chính được thực hiện theo những
chuẩn mực kế toán chung được chấp nhận, tức là cung cấp những thông tin có tính
trung thực. Viêc thực hiện làm đẹp báo cáo tài chính nhằm mục đích đạt được mục
13
tiêu về EPS dường như vi phạm trực tiếp đến tính trung thực đại diện do những kết
quả tài chính được thực hiện không phản ánh hiệu suất thực hiện để đặt được thu nhập
được xác định trước. Vì vậy, tác giả cho rằng chất lượng kiểm toán có mối tương
quan tỷ lệ nghịch với hình thức của việc làm đẹp báo cáo tài chính. Cùng lúc đó, theo
nghiên cứu của Ahmed Ebrahim trong “Auditing Quality, Auditor Tenure, Client
Importance, and Earnings Management: An Additional Evidence” cho rằng tiến trình
kiểm toán được giả định như một thiết bị quản lý sẽ giảm những động lực của các nhà
quản lý để làm đẹp báo cáo tài chính. Vì vậy tác giả cũng cho rằng chất lượng kiểm
toán cao hơn thì các nhà quản lý ít thực hiện những hoạt động làm đẹp báo cáo tài
chính hơn.
Dưới đây là bảng tổng hợp về kết quả nghiên cứu của các tác giả về mối quan hệ giữa
các biến và REM.
Biến Tác giả Mối tương quan
Lãi vay Jensen (1986) Tương quan âm
ROA Kothari và các cộng sự ( 2005) Tương quan âm
Jiraporn và các cộng sự (2007)
SIZE Gu và các cộng sự (2005) Tương quan âm
Aini và các cộng sự (2006) Tương quan dương
AUDITOR Charles E. Jordan Tương quan âm
Ahmed Ebrahim
3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1 Dữ liệu
Mẫu bao gồm 100 công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán
TPHCM và Hà Nội, bao gồm 6 nhóm ngành kinh tế trong giai đoạn 2008-2013, trừ
các công ty cung cấp các dịch vụ tài chính ( ngân hàng thương mại, công ty tài chính,
14
công ty bảo hiểm, và công ty chứng khoán và những công ty có bộ dữ liệu không đầy
đủ hoặc bị mất dữ liệu). Trọng tâm của bảng số liệu là phác họa được tối đa các chỉ số
thể hiện kết quả hoạt động của các doanh nghiệp nhằm đưa ra được nhận định đáng
tin cậy cho mục tiêu của bài nghiên cứu. Dữ liệu được sử dụng trong quá trình đánh
giá được lấy từ nhiều nguồn thông tin có sẵn như báo cáo thường niên, hồ sơ tại Ủy
Ban Chứng Khoán và sàn giao dịch, trang web công ty.
3.1.1 Biến phụ thuộc
Theo những nhận định trong bài tổng quan nghiên cứu và mô hình, bài nghiên
cứu sử dụng biến RES_REM được đại diện bằng RES_CFO, RES_PROD và RES_
DISEXP là kết quả lần lượt trong ba mô hình khác nhau. Ba biến đại diện trên thể
hiện cho mức độ biến động trong dòng tiền hoạt động kinh doanh, chi phí sản xuất
chung và chi phí hữu ích của từng công ty. Nguồn dữ liệu để chạy ra ba biến này là
các chỉ số được lấy từ các bảng thuyết minh BCTC của các công ty được niêm yết
trên sàn chứng khoán Việt Nam như dòng tiền, giá vốn hàng bán, chi phí nghiên cứu
và phát triển, tài sản, doanh thu vàgiá vốn hàng bán của từng công ty quan sát.
3.1.2 Biến giải thích
 Biến đòn bẩy tài chính ( LEV), thể hiện mức sử dụng nợ của công ty i trong
năm t, được đo lường bằng tỷ lệ giữa tổng nợ trên tổng tài sản.
 Biến chi phí lãi vay ( INTEXP), thể hiện chi phí lãi ròng của tất cả các khoản
nợ mà công ty i đang gánh chịu trong năm t.
 Biến hiệu suất sử dụng tài sản ( ROA t-1) thể hiện khả năng sử dụng tài sản của
doanh nghiệp, được đo lường bằng tỷ lệ giữa thu nhập ròng và tổng tài sản của
công ty i trong năm t-1.
 Biến quy mô doanh nghiệp ( SIZE t ) thể hiện quy mô của doanh nghiệp, được
đo lường bằng cách lấy loga cơ số 10 của tài sản của công ty i trong năm t.
15
 Biến công ty kiểm toán (AUDITOR) là biến giả thể hiện loại hình công ty kiểm
toán đối với doanh nghiệp. Biến này bằng 1 nếu công ty i được kiểm toán bởi
Big 4 trong năm t và bằng 0 trong trường hợp còn lại.
 Biến loại hình công nghiệp (IND) là biến giả thứ hai thể hiện lĩnh vực hoạt
động kinh doanh của công ty i trong năm t, biến giả này có giá trị bằng 1 nếu
quan sát nằm trong lĩnh vực sản xuất thực phẩm và bằng 0 trong trường hợp
còn lại.
 Biến năm (YR) là biến giả cuối cùng thể hiện cho năm được phân tích trong bài
nghiên cứu đối với công ty i trong năm t, biến này nhận giá trị bằng 1 nếu quan
sát nằm trong 2010, và bằng 0 trong trường hợp còn lại
3.2 Phương pháp luận
3.2.1 Ba mô hình đại diện cho REM
Thực tế cho thấy những công ty đang có xu hướng gia tăng việc làm đẹp báo
cáo tài chính thường có một hoặc tất cả những hậu quả về mặt kế toán như : (i) dòng
tiền thấp bất thường từ hoạt động sản xuất kinh doanh do chính sách giảm giá hoặc
nới rộng kỳ hạn tín dụng nhằm làm gia tăng doanh thu cho giai đoạn hiện tại, (ii) chi
phí hữu ích thấp bất thường do việc cắt giảm chi phí R&D, quảng cáo, chi phí bán
hàng và quản lý doanh nghiệp nhằm giúp cải thiện thu nhập cho giai đoạn hiện tại, và
(iii) chi phí sản xuất cao bất thường do cắt giảm giá vốn hàng bán, chính điều này làm
tăng doanh thu biên cho giai đoạn hiện tại. Chính vì thế, có ba mô mình được sử dụng
để đại diện cho REM: mô hình dòng tiền bất thường: RES_CFO, mô hình chi phí sản
xuất bất thường: RES_PROD, mô hình chi phí hữu ích bất thường: RES_DISEXP
Mô hình RES_CFO
CFOit / Ait-1 = β1 [1/Ait-1] + β2 [Salesit /Ait-1] + β3 [ΔSalesit /Ait-1] + εit
CFOit : dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp i tại thời điểm t
Ait-1: tổng tài sản của doanh nghiệp i trong năm t-1
Salesit :doanh thu của doanh nghiệp i năm t