Đề tài kh&cn cấp cơ sở nghiên cứu đặc điểm hệ thống đổi mới ngành ở việt nam (trường hợp ngành công nghiệp dược)

  • 42 trang
  • file .pdf
Bé khoa häc vµ c«ng nghÖ
viÖn chiÕn l−îc vµ chÝnh s¸ch KH&CN
b¸o c¸o tæng kÕt ®Ò tµi kh&cn cÊp c¬ së
nghiªn cøu ®Æc ®iÓm hÖ thèng
®æi míi ngµnh ë viÖt nam
(tr−êng hîp ngµnh c«ng nghiÖp d−îc)
chñ nhiÖm ®Ò tµi: ph¹m thÞ bÝch hµ
7092
13/02/2009
hµ néi - 2007
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Viện Chiến lược và Chínha sách Khoa học và Công nghệ
----------------------------------------------------------------------------------------------------
Báo cáo tóm tắt đề tài cấp cơ sở 2007
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG ĐỔI MỚI NGÀNH Ở VIỆT NAM -
TRƯỜNG HỢP NGÀNH CÔNG NGHIỆP DƯỢC PHẨM
Thành viên nghiên cứu chính
Phạm Thị Bích Hà (CNĐT)
Nguyễn Hồng Anh
Đoàn Thị Hoài Anh
Nguyễn Minh Hạnh
Hà Nội, 2007
MỤC LỤC
Nội dung Trang
MỞ ĐẦU 4
1. Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài 6
2. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 6
3. Vấn đề nghiên cứu và nội dung nghiên cứu 6
4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 6
5. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của đề tài 7
6. Cấu trúc của đề tài 7
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁCH TIẾP CẬN ĐỔI MỚI NGÀNH 8
1.1. Khái niệm hệ thống đổi mới ngành 8
1.2 Phân biệt giữa hệ thống đổi mới ngành với hệ thống đổi mới quốc gia, hệ 10
thống đổi mới vùng
1.3. Cấu trúc của hệ thống đổi mới ngành 13
1.4. Những đặc điểm cơ bản của hệ thống đổi mới ngành 16
CHƯƠNG II. KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ HỆ THỐNG ĐỔI MỚI 19
NGÀNH DƯỢC PHẨM
2.1 Kinh nghiệm của các nước phát triển về hệ thống đổi mới ngành dược 19
2.2 Kinh nghiệm của các nước đang phát triển về hệ thống đổi mới ngành 22
2.3 Các sự khác biệt về chính sách phát triển ngành dựa trên hệ thống đổi mới 27
ngành giữa các nước phát triển và đang phát triển
2.4 Kết luận về xây dựng và phát triển hệ thống đổi mới ngành từ kinh nghiệm 28
nước ngoài
CHƯƠNG III. HỆ THỐNG ĐỔI MỚI NGÀNH DƯỢC VIỆT NAM 29
3.1. Tổng quan về ngành dược phẩm Việt nam 29
3.2. Nền tảng tri thức và công nghệ của ngành dược phẩm Việt Nam 31
3.3. Các tác nhân chính trong ngành dược 33
3.4. Các hoạt động đổi mới trong ngành dược phẩm 39
3.5. Kết luận chung về ngành dược phẩm Việt Nam 55
CHƯƠNG IV. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỔI MỚI NGÀNH DƯỢC 57
4.1 Thay đổi về cơ cấu các doanh nghiệp và môi trường cạnh tranh 57
4.2 Thay đổi về thị trường và nhu cầu sản phẩm 59
4.3 Chính sách và các thay đổi theo xu thế hội nhập quốc tế 60
4.4 Xây dựng nền tảng tri thức và công nghệ 60
2
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 61
PHỤ LỤC 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Các ký hiệu viết tắt trong đề tài
TT Nội dung
GAP Thực hành tốt nuôi trồng và thu hái dược liệu
GACP Thực hành tốt nuôi trồng, thu hái và chế biến dược liệu
GCP Good clinical practics - Thực hành thử nghiệm lâm sàng thuốc tốt
GDP Good delivery practics - Thực hành phân phối thuốc tốt
GLP Good laboraory practics - Thực hành kiểm nghiệm thuốc tốt
GMP Good manufaturing practics - Thực hành sản xuất thuốc tốt
GSP Good storing practics - Thực hành bảo quản thuốc tốt
GPP Good prescribing practics Thực hành tốt quản lý phân phối thuốc tốt
NSI National system of innovation - Hệ thống đổi mới quốc gia
RSI Regional system of innovation - Hệ thống đổi mới vùng
SSI Sectoral system of innovation - Hệ thống đổi mới ngành
KH&CN Khoa học và công nghệ
3
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài
Các nghiên cứu về đổi mới ngày càng phổ biến, không chỉ riêng ở các nước phát triển mà
đang được lan rộng ở các nước đang và kém phát triển, như một công cụ hữu hiệu trong
việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế và xã hội nói chung. Trong đó đổi mới được
nhìn nhận như động lực của tăng trưởng kinh tế, bởi nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào
việc sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức. Cách tiếp cận hệ thống đổi mới được phân tích
ở các mức độ khác nhau bao gồm hệ thống đổi mới quốc gia, hệ thống đổi mới vùng (đa
quốc gia, khu vực hoặc đơn giản chỉ là một vùng trực thuộc một quốc gia), và hệ thống đổi
mới ngành và sản phẩm. Các mức độ của cách tiếp cận hệ thống đổi mới này có nhiều điểm
tương đồng nhưng cũng có nhiều đặc điểm riêng biệt, chúng hỗ trợ và bổ sung lẫn nhau
trong quá trình hoạch định chính sách. Khái niệm hệ thống đổi mới quốc gia được học giả
Freeman lần đầu tiên đưa ra vào năm 1982 khi ông là một chuyên gia của tổ chức OECD.
Ở đó ông chỉ ra sự quan trọng của chính phủ trong việc thúc đẩy cơ sở hạ tầng công nghệ
của một quốc gia. Năm 1987, Freeman đã đưa ra định nghĩa “hệ thống đổi mới quốc gia là
mạng lưới các tổ chức, thiết chế trong các khu vực tư nhân và công cộng cùng phối hợp
hoạt động với nhau trong quá trình nghiên cứu, nhập khẩu và phổ biến các công nghệ mới”.
Lundvall đưa ra sự phân biệt về hệ thống đổi mới quốc gia theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Hệ thống đổi mới theo nghĩa hẹp bao gồm “các tổ chức và thiết chế liên quan đến hoạt
động tìm tòi, khám phá như các tổ chức, thiết chế R&D và các trường đại học”. Theo
nghĩa rộng, hệ thống đổi mới quốc gia bao gồm “tất cả các những yếu tố và các mối quan
hệ tương tác trong hoạt đống sáng tạo, phổ biến và sử dụng những tri thức có lợi về kinh
tế...” (Lunvall, 1992). Trong những năm đầu 1990s, khái niệm hệ thống công nghệ
(technological system) được giới thiệu bởi Carlsson và được Franco Malerba phát triển
thành cách tiếp cận hệ thống đổi mới ngành (sectoral system of innovation). Dường như
các nghiên cứu về hệ thống đổi mới ngành và sản phẩm được nghiên cứu được thực hiện
phổ biến hơn các nước phát triển như Mỹ, Canada, EU với các học giả quen thuộc như
Richard Nelson, Charles Edquist, Pavitt K, Malerba Franco, Archibugi, Breschi, Mytelka
LK,.…đặc biệt có rất nhiều các nghiên cứu so sánh hệ thống đổi mới ngành, giữa các
ngành có nhiều điểm tương đồng trên cùng một quốc gia, hệ thống đổi mới của một ngành
giữa các quốc gia khác nhau. Các nghiên cứu này chỉ ra hệ thống đổi mới ngành bị tác
động lớn của hệ thống đổi mới quốc gia cũng như đặc điểm riêng biệt về nền tảng tri thức,
quá trình sáng tạo và truyền bá công nghệ và sản phẩm của mỗi ngành.
Ở Việt Nam, khái niệm về đổi mới và hệ thống đổi mới cũng đã được manh nha thực hiện
cuối những năm 1990s, đặc biệt từ năm 2000 đến nay, đã có các nghiên cứu về cách tiếp
cận hệ thống đổi mới quốc gia đã được thực hiện với mong muốn áp dụng cách tiếp cận
này trong phân tích và hoạch định chính sách KH&CN. Có thể nói khái niệm về đổi mới
và hệ thống đổi mới không còn xa lạ ở Việt Nam. Gần đây có các đề tài “Nghiên cứu ứng
dụng lý thuyết đổi mới (theory of innovation) trong đánh giá và dự báo công nghệ ở Việt
Nam”, 2005 của tác giả Nguyễn Mạnh Quân, trong nghiên cứu này tác giả đã làm rõ khái
niệm của lý thuyết đổi mới và các chỉ số thiết yếu để đánh giá năng lực đổi mới của tổ chức
và từ đó đưa ra các ứng dụng trong nghiên cứu dự báo. Năm 2006, tác giả Nguyễn Mạnh
Quân lại tiếp tục hướng nghiên cứu về hệ thống đổi mới với đề tài ‘Nghiên cứu nhận dạng
hệ thống đổi mới quốc gia của Việt Namtrong quá trình hội nhập”, trong nghiên cứu này,
tác giả đã tổng kết các khái niệm khác nhau về NSI của các học giả quốc tế như Freeman,
C., Richard N., Patel và Pavitt, Metcalf và đưa ra các đặc điểm chung và các yếu tố cấu
thành chung của một NSI. Tác giả Hoàng Văn Tuyên tiếp tục với nghiên cứu về kinh
4
nghiêm quốc tế về chính sách đổi mới với đề tài ”nghiên cứu quá trình phát triển chính
sách đổi mới (innovation policy) kinh nghiệm quốc tế và gợi suy cho Việt Nam. Tác giả
Nguyễn Thị Minh Nga nền tảng của hệ thống đổi mới trong mối liên hệ liên ngành với đề
tài: “Nghiên cứu chùm đổi mới: tổng quan kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”.
Đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về đặc điểm của hệ thống đổi mới ngành ở Việt Nam.
Để làm chủ cách tiếp cận hệ thống đổi mới và áp dụng nó trong việc hoạch định chính sách
cần có những nghiên cứu một cách cẩn thận, tỷ mỷ và công phu để tìm ra những điểm
mạnh của cách tiếp cận này và đưa ra phương thức áp dụng cách tiếp cận hệ thống đổi mới
ngành một cách phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Nghiên cứu về hệ thống đổi mới ngành, hay lĩnh vực, ngoài các điểm chung của hệ thống
đổi mới, còn có những đặc điểm riêng biệt cần thiết cho việc hoạch định chính sách phát
triển của một ngành, hoặc một lĩnh vực riêng, và đó chính là những điểm cần được nghiên
cứu và khai thác trong việc xây dựng kế hoạch phát triển ngành và tạo lập môi trường
chính sách phát triển ngành.
Ngành Công nghiệp dược phẩm ở Việt Nam đã được chính phủ coi trọng như một ngành
công nghệ mũi nhọn trong phát triển kinh tế đất nước cũng như đảm bảo sức khỏe cho
người dân. Ngành công nghiệp dược phẩm đã tạo ra nhiều hiệu quả đáng kể trong việc tạo
ra các chế phẩm sinh học làm thuốc bổ dưỡng, sản xuất vacxin, sản xuất các loại kháng
sinh thiết yếu, các loại thuốc từ các cây thuốc truyền thống… Tuy nhiên để tạo ra những
đột phá trong phát triển kinh tế và phục vụ xã hội, vẫn cần nhiều điều kiện bổ trợ. Hơn nữa
ngành công nghiệp dược phẩm của Việt Nam có nét đặc trưng riêng của mình với sự kết
hợp giữa cách bào chế dược phẩm truyền thống với công nghệ đơn giản và các ứng dụng
công nghệ sinh học hiện đại để sản xuất ra các loại thuốc, vaxcin và chế phẩm sinh học với
hàm lượng công nghệ cao, kết hợp giữa sử dụng số đông lao động phổ thông với sử dụng
cán bộ kỹ thuật có kiến thức chuyên sâu, có trình độ KH&CN. Vì thế chúng tôi đề xuất
nghiên cứu về hệ thống đổi mới ngành và áp dụng cách tiếp cận này để phân tích các tác
nhân cụ thể, các tương tác cụ thể và môi trường chính sách cho phát triển lĩnh vực công
nghiệp dược phẩm ở Việt Nam với mong muốn tìm ra những điểm chưa hợp lý trong phát
triển của ngành và đưa ra những khuyến nghị hữu ích.
2. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài bắt đầu bởi phương pháp nghiên cứu định tính, với các nghiên cứu trường hợp nhằm
mục đích tập trung chủ yếu vào việc tìm hiểu cách tiếp cận đổi mới nhành và bước đầu áp
dụng vào phân tích trong ngành công nghiệp dược phẩm để tìm hiểu các xu hướng đổi mới
chủ yếu của ngành dược và tìm ra các tác nhân chủ yếu tác động đến hoạt động đổi mới của
ngành. Do sự hạn hẹp về thời gian cũng như kinh phí, đề tài chưa thể điều tra một cách
tổng thể và phân tích cụ thể các chỉ sổ đổi mới với tất cả các tổ chức R&D, các doanh
nghiệp được phẩm trong toàn quốc.
3. Nội dung nghiên cứu
Nội dung cơ bản của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận về hệ thống đổi mới ngành (SSI- sectoral
system of innovation), khái niệm, đặc điểm, các tác nhân và nhân tố trong hệ thống đổi mới
ngành. Thông qua cơ sở lý luận về hệ thống đổi mới ngành đề tài bước đầu mô tả ngành
dược phẩm Việt Nam và tìm hiểu những xu hướng đổi mới chung trong ngành dược phẩm
và các yếu tố chính ảnh hưởng đến các xu hướng đổi mới đó. Từ đó đưa ra các khuyến nghị
trong xây dựng chính sách đổi mới ngành dược phẩm nói riêng và chính sách nói chung
trong phát triển ngành.
4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
5
4.1. Câu hỏi nghiên cứu
Hệ thống đổi mới ngành (SSI) được định nghĩa như thế nào? Cấu trúc của hệ thống đổi
mới ngành như thế nào và hệ thống đổi mới ngành có những đặc điểm gì? Có gì khác biệt
với hệ thống đổi mới quốc gia, hệ thống đổi mới vùng? Vai trò của cách tiếp cận hệ thống
đổi mới ngành trong việc hoạch định chính sách phát triển của ngành như thế nào?
Hệ thống đổi mới ngành trong lĩnh vực công nghiệp dược phẩm ở Việt Namnhư thế nào?
Có những điểm gì thuận lợi, điểm gì còn yếu, còn gây cản trở trong việc thúc đẩy đổi mới
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế? Cần có những yêu cầu gì về mặt chính sách để
thúc đẩy đổi mới đối với lĩnh vực dược phẩm
4.2. Giả thuyết nghiên cứu
Hệ thống đổi mới ngành có những đặc trưng nhất định thể hiện được động lực sáng tạo và
truyền bá trí thức công nghệ và sản phẩm của ngành, vì vậy hệ thống đổi mới ngành là một
công cụ hữu hiệu trong việc hoạch định chính sách và chiến lược phát triển của ngành.
Trong thực tế ngành dược phẩm các liên kết còn yếu, các thiết chế chính sách còn chưa đủ
mạnh để thúc đẩy các hoạt động đổi mới của ngành chưa đảm bảo thoả mãn được đặc điểm
của một ngành thuộc lĩnh vực công nghệ cao,với các đổi mới công nghệ một cách nhanh
chóng, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nambắt đầu hội nhập nền kinh tế quốc tế.
5. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Như đã đề cập ở trên, cơ sở lý thuyết của đề đề tài được dựa trên phân tích của lý thuyết về
đổi mới. Lý thuyết tiến hóa cho thấy sự tác động của môi trường bên ngoài đến sự lựa chọn
công nghệ và chiến lược phát triển của doanh nghiệp và của ngành. Cách tiếp cận đổi mới
cho thấy tác động của chính sách hay sự can thiệp của chính phủ tác động đến sự phát triển
của ngành. Đề tài chọn phương pháp nghiên cứu trưòng hợp và cách tiếp cận hệ thống đổi
mới. Phương pháp nghiên cứu tài liệu đựoc sử dụng để tìm hiểu cách tiếp cận hệ thống đổi
mới và xây dựng khung lý thuyết về hệ thống đổi mới ngành dựa trên các nghiên cứu của
các tác giả đi trước. Đề tài cũng sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu các nhà quản lý, các
đại diện của các tổ chức R&D, trường đại học trong ngành dược, hội Y học dân tọc cổ
truyền, tổ chức quốc tế, cơ quan quản lý nhà nước về dược phẩm và một số doanh nghiệp
dược phẩm.
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luân, đề tài gồn 4 chương, các phần của đề tài được cấu trúc
theo trật tự như sau:
Mở đầu
Chương 1. Cơ sở lý luận về cách tiếp cận hệ thống đổi mới ngành
Chương 2. Kinh nghiệm nước ngoài về hệ thống đổi mới ngành trong lĩnh vực dược phẩm
Chương 3. Hệ thống đổi mới ngành dược phẩm Việt Nam (mô tả ngành dược phẩm theo
cách tiếp cận hệ thống đổi mới ngành)
Chương 4. Các yếu tố tác động đến hoạt động đổi mới của ngành dược phẩm
Kết luận và khuyến nghị
6
Chương I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁCH TIẾP CẬN ĐỔI MỚI NGÀNH
1. 1. Khái niệm SSI
1.1.1. Quá trình ra đời và phát triển của khái niệm hệ thống đổi mới ngành
Cách tiếp cận hệ thống đổi mới ngành (sectoral system of innovation- SSI) được xây dựng
dựa trên quan điểm và nền tảng tri thức của các lý thuyết đi trước, đó là thuyết tiến hóa
công nghiệp (industrial evolutionary theory) và cách tiếp cận hệ thống đổi mới (innovation
system approach). Khởi đầu của cách tiếp cận hệ thống đổi mới ngành là thuyết tiến hóa
công nghiệp, với những đóng góp đầu tiên về việc chỉ ra tầm quan trọng và động lực của
biến đổi công nghệ đối với sự biến đổi và phát triển ngành, hay lĩnh vực. Theo lý thuyết
tiến hóa công nghiệp, sự biến đổi cấu trúc ngành được chú trọng trong phân tích so sánh để
tìm ra các yếu tố tạo nên sự biến đổi quỹ đạo công nghệ của ngành.
Tiếp theo là cách tiếp cận hệ thống đổi mới, trong đó đổi mới được xem như một quá trình
tương tác giữa các tác nhân khác nhau và doanh nghiệp không thể đổi mới một cách biệt
lập. Đổi mới được coi là một quá trình có tính tích lũy, trong quá trình đổi mới, doanh
nghiệp tương tác với các doanh nghiệp và các tổ chức khác như trường đại học, viện nghiên
cứu, các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức hỗ trợ tài chính, các tổ chức tư vấn. Cách
tiếp cận hệ thống đổi mới nhấn mạnh vai trò của các liên kết, các tương tác giữa các tác
nhân và ranh giới của ngành. Sự bổ sung, hỗ trợ chức năng giữa các tác nhân và các hoạt
động sẽ đem lại cơ chế mạnh và khơi dậy sự đổi mới và tăng trưởng trong ngành. Đặc biệt
các liên kết dọc (vertical links) trong ngành được đặc biệt chú trọng bởi chúng tạo nên các
tương tác hố trợ đem lại động lực biến đổi và đổi mới cuả ngành.
Lý thuyết tiến hóa đã cung cấp một khung lý thuyết tương đối rộng cho khái niệm SSI. Lý
thuyết tiến hóa công nghiệp nhấn mạnh tầm quan trọng của động lực và quá trình biến đổi.
Học hỏi và tri thức là hai thành tố then chốt của quá trình biến đổi, cùng với đó các khía
cạnh nhận thức như niềm tin, mục tiêu, sự mong đợi…và các tác động trở lại của kinh
nghiệm và sự học hỏi trong bối cảnh mà tổ chức đó hoạt động trước đó (Nelson. 1995,
Dosi. 1997, và Metcalfe 1998). Trọng tâm của lý thuyết tiến hóa được thể hiện ở 3 qui
trình - động lực của sự biến đổi: qui trình sản sinh các công nghệ khác biệt, các sản phẩm,
doanh nghiệp và tổ chức; qui trình tái tạo bên trong và duy trì bên trong hệ thống; qui trình
lựa chọn, giảm sự khác biệt bên trong hệ thống.
1.1.2. Khái niệm hệ thống đổi mới
Theo Franco Malerbo (in Fangerbeg, the Handbook of innovation, 2005) hệ thống đổi mới
ngành là một tập hợp các nhân tố không đồng nhất cùng thực hiện các tương tác thị trường
và phi thị trường nhằm sản sinh, thông qua và sử dụng các công nghệ mới và công nghệ
đã có nhằm tạo ra, sản xuất và sử dụng các sản phẩm (mới và đã có) gắn liền với ngành.
Hệ thống đổi mới ngành bao gồm một nền tảng tri thức và công nghệ của ngành đó, các
nhân tố đầu vào và các nhu cầu đối với ngành; các tác nhân cấu thành một hệ thống đổi
mới ngành bao gồm các tổ chức (các tổ chức này bao gồm cả các doanh nghiệp và các tổ
chức phi doanh nghiệp) và các cá nhân (các cá nhân ví dụ như các doanh nhân, người tiêu
dùng, các nhà khoa học). Như vậy, một hệ thống đổi mới ngành được nhận dạng bởi các
thành tố cơ bản sau đây:
• Sản phẩm: (tất cả các sản phẩm của ngành)
• Tác nhân: bao gồm các doanh nghiệp và các tổ chức không phải doanh nghiệp
• Nền tảng tri thức và quá trình học hỏi: nền tảng tri thức cho các hoạt động sản xuất và
đổi mới khác nhau đối với các ngành khác nhau và có tác động lớn đến các hoạt động
7
đổi mới, các tổ chức và các hành vi của các doanh nghiệp và các tác nhân khác trong
ngành.
• Các công nghệ cơ bản, đầu vào, nhu cầu và các mối liên kết và các bổ sung liên quan.
Các liên kết và hỗ trợ ở mức độ công nghệ, đầu vào và nhu cầu có thể vừa là tình thế
vừa là động lực. Các cơ chế tác động trong mỗi doanh nghiệp và ngoài doanh nghiệp:
Các tác nhân được kiểm soát bởi sự liên quan đến các tương tác thị trường và phi thị
trường
• Các quá trình xây dựng năng lực của các doanh nghiệp trong ngành, trong đó các
doanh nghiệp sản sinh và nắm bắt các cơ hội kinh doanh.
• Các thiết chế, chẳng hạn như các qui định về chất lượng, qui định về sở hữu trí tụệ, các
qui định về nguồn nhân lực, thị trường lao động và các yếu tố chính sách khác.
Khái niệm về SSI cung cấp một cách nhìn đa chiều, thống nhất và chức năng với cách nhìn
cấu trúc một cách hệ thống dưới dạng sản phẩm, tác nhân, tri thức và các công nghệ và về
mặt động lực và biến động của ngành.
1.2. Phân biệt giữa hệ thống đổi mới ngành với hệ thống đổi mới quốc gia, hệ thống
đổi mới vùng
Hệ thống đổi mới ngành, hệ thống đổi mới quốc gia và hệ thống đổi mới vùng nhiều khi
cùng chung ranh giới địa lý có cùng chung một số thiết chế chính sách và điều kiện xã hội,
tuy vậy ranh giới địa lý vẫn là yếu tố cơ bản để phân tích trong hầu hết các hệ thống đổi
mới và mỗi hệ thống đổi mới đều cho các đặc trưng riêng để phân biệt.
1.2.1. Hệ thống đổi mới quốc gia (National innovation system- NSI)
Khái niệm cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia (NSI) được đưa ra lần đầu tiên bởi
Freeman, C., trong đó: “NSI là mạng lưới các thiết chế và tổ chức trong khu vực nhà nước
và tư nhân, cùng tương tác phối hợp thực hiện các hoạt động nghiên cứu, học hỏi, sao chép,
thay đổi và phổ biến các công nghệ mới” (Freeman, 1987). Sau đó, khái niệm NSI được
Lunvall tiếp tục phát triển với một đánh dấu độc đáo bằng cách đưa ra khái niệm NSI theo
nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, NSI bao gồm “các tổ chức và thiết chế liên
quan đến hoạt động tìm tòi và khám phá như các tổ chức R&D, thiết chế R&D và các
trường đại học”. Theo nghĩa rộng, hệ thống đổi mới quốc gia bao gồm “tất cả các những
yếu tố và các mối quan hệ tương tác trong hoạt đống sáng tạo, phổ biến và sử dụng những
tri thức có lợi về kinh tế...”. Cũng theo Lunvall, NSI được phân biệt bởi hai khía cạnh chính
là nền tảng văn hóa và thể chế chính trị quốc gia (Lunvall, 1992).
1.2.2. Hệ thống đổi mới vùng (Regional innovation system – RSI)
Hệ thống đổi mới vùng (RSI) là khái niệm được kế thừa từ hàng loạt các khái niệm như:
“khu vực công nghiệp” – industrial district của Marshall, developement block của Erick
Dahmen, khu vực đổi mới- innnovative milieu của Camagni.... Khái niệm RSI chú trọng
đến vai trò, tầm quan trong của văn hóa và địa lý trong một khu vực, một địa phương trong
việc cung cấp và tích lũy các kỹ năng quản lý, tri thức công nghệ và các kiến thức kinh
nghiệm. Tuy có có nguồn gốc ra đời khá đa dạng nhưng nhìn chung thì RSI chú trọng đến
sự phục thuộc của các tác nhân theo khía cạnh phi thương mại như khía cạnh văn hóa trong
chia sẻ tri thức kinh nghiệm, các thuận lợi địa lý đem lại các liên kết tri thức công nghệ...
1.2.3. Hệ thống đổi mới ngành
Ngoài các điểm tương đồng với hệ thống đổi mới quốc gia về thể chế chính tri và nền tảng
văn hóa, hệ thống đổi mới vùng về gianh giới, hệ thống đổi mới ngành nhấn mạnh về liên
kết tri thức giữa các tác nhân có mối quan hệ phụ thuộc về công nghệ. Hệ thống ngành chú
8
trọng đến động lực kinh tế để phát triển công nghệ và tầm quan trọng của dòng tri thức
công nghệ liên ngành. Có thể phân biệt hệ thống đổi mới ngành với các bởi các điểm khác
biệt như: Nền tảng tri thức và công nghệ của ngành; Ranh giới; Cấu trúc của ngành;
Tương tác dọc giữa các tác nhân trong ngành; Về động cơ đổi mới của hệ thống đổi mới
ngành; Khung phân tích chính sách cho ngành.
1.2.4. Phân biệt các hệ thống đổi mới
Hệ thống đổi mới quốc gia, hệ thống đổi mới vùng và hệ thống đổi mới ngành có thể được
phân biệt chủ yếu bởi các nhân tố liệt kê ở bảng sau:
Bảng 1. Các điểm phân biệt giữa NSI, RSI và SSI
NSI RSI SSI
Ranh giới địa lý biên giới quốc gia biên giới vùng (có thể trong biên giới ngành/công nghệ
một quốc gia, có thể liên quốc (không chỉ giới hạn trong 1
gia) quốc gia)
Các yếu tố cơ Nhân tố văn hóa, ngôn ngữ và Sự gần gũi về địa lý, văn hóa nền tảng tri thức và mạng
bản để nhận chính trị, các ngành công và tri thức bản địa lưới tri thức S&T, Sự chia sẻ
dạng SI nghiệp quan trọng về công nghệ và tri thức
khoa học
Liên kết tri thức Tương tác giữa chính phủ, các Chia sẻ tri thức kinh nghiệm và Liên kết bắt nguồn từ sự phụ
doanh nghiệp, ngành công mạng lưới xã hội thuộc công nghệ
nghiệp và các tổ chức R&D
(Viện, trường)
Các yếu tố hỗ trợ Ngôn ngữ, chuẩn mực văn hóa Sự gần gũi về địa lý, các học Các hỗ trợ và điều phối về
chuyển giao tri và thể chế chính trị chung hỏi trong cùng địa phương, công nghệ, các liên hệ về
thức cùng chia sẻ các dòng tri thức S&T
kinh nghiệm
1.3. Cấu trúc của hệ thống đổi mới ngành
Quan niệm về hệ thống đổi mới ngành của các học giả như Maberla, Archibugi, Breschi ...,
một hệ thống đổi mới ngành bao gồm một tập hợp các yếu tố cơ bản được chi tiết hóa như
sau:
1. 3.1 Nền tảng tri thức
Nền tảng tri thức giữ vai trò then chốt trong hoạt động sản xuất, đổi mới và phát triển của
một ngành, là điểm để phân biệt đặc tính riêng biệt của mỗi ngành. Tri thức cũng thể hiện
đặc tính riêng của mỗi doanh nghiệp và được tiếp thu bởi các doanh nghiệp thông qua khả
năng tích lũy liên tục khác nhau giữa các doanh nghiệp.
1. 3.2. Doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tác nhân cơ bản trong hệ thống đổi mới nói chung và đặc biệt là đối với hệ
thống đổi mới ngành. Doanh nghiệp liên quan đến tất cả các hoạt động sản xuất, đổi mới và
thương mại các sản phẩm của ngành như tiếp thu, chỉnh sửa và sử dụng các công nghệ mới.
Doanh nghiệp bao gồm cả doanh nghiệp sử dụng và doanh nghiệp cung cấp. Vai trò của
doanh nghiệp sử dụng cực kỳ quan trọng đối với một số ngành, thể hiện các vai trò của
nhu cầu. Trong hệ thống ngành, nhu cầu không chỉ được nhìn nhận như một tập hợp các
đối tượng mua, mà bao gồm các tác nhân không đồng nhất với các thuộc tính, tri thức và
năng lực riêng biệt, và có các tương tác khác nhau với các nhà sản xuất. Điều này cũng
tương tự đối với các doanh nghiệp cung cấp.
9
1. 3.3. Các tổ chức phi doanh nghiệp
Ngoài các doanh nghiệp, SSI còn bao gồm các tác nhân phi doanh nghiệp như các trường
đại học, các tổ chức R&D, các tổ chức tài chính, các cơ quan chính phủ, các tổ chức chính
quyền, hiệp hội, trung tâm tư vấn…. với các hình thức khác nhau chúng đều hỗ trợ hoạt
động hoạt động đổi mới, truyền bá tri thức công nghệ và sản xuất. Vai trò của các tác nhân
này cũng có nhiều điểm khác biệt giữa các hệ thống của các ngành khác nhau. Ví dụ như
vốn đầu tư mạo hiểm và trường đại học và các tổ chức R&D trong ngành công nghệ sinh
học, tổ chức nhà nước trong ngành công cụ cơ khí, quân đội trong thời gian đầu của ngành
bán dẫn và máy tính ...
1. 3.4. Các liên kết giữa các tác nhân
Hình thức và cấu trúc của mạng lưới liên kết khác nhau giữa các hệ thống ngành do đặc
tính khác biệt về nền tảng tri thức, công nghệ cơ bản, đặc điểm của nhu cầu, các liên kết
then chốt, và các chức năng bổ sung, các kết hợp động lực. Sự thay đổi đã tạo nên các hình
thức mạng lưới và các liên kết mới giữa các doanh nghiệp, các doanh nghiệp lớn và các
doanh nghiệp công nghệ mới. Giữa các doanh nghiệp, các tổ chức phi doanh nghiệp như
các trường đại học và các nhà đầu tư mạo hiểm, các thiết chế (các luật lệ, qui định). Có thể
nói rằng SSI bao gồm các mạng lưới những mối quan hệ giữa các tác nhân không đồng
nhất với các niềm tin khác nhau, các năng lực khác nhau và các hành vi khác nhau.
1.3.5. Thiết chế và chính sách
Nhận thức, hành động và sự tương tác của các tác nhân được quyết định bởi các thiết chế
và chính sách, bao gồm các chuẩn mực, thói quen thông thường, các lề thói thông thường,
các hoạt động được thiết lập, các luật, các qui định, .... Có nhiều thiết chế mang đặc điểm
của quốc gia, nhưng cũng có rất nhiều thiết chế mang đặc trưng ngành.
Mối liên hệ giữa thiết chế quốc gia và hệ thống ngành rất quan trọng. Thứ nhất, thiết chế
quốc gia có ảnh hưởng khác nhau đến hoạt động đổi mới của các ngành khác nhau. Thứ
hai, cùng một chính sách nhưng có thể có các đặc trưng khác nhau ở các quốc gia khác
nhau, vì thế có ảnh hưởng khác nhau đến hoạt động đổi mới. Thứ ba, các đặc điểm của các
thiết chế quốc gia thường có những ưu đãi đặc biệt với một số ngành, những ngành ưu tiên
của quốc gia đó. Có khi một số chính sách quốc gia cũng kiềm hãm sự phát triển và đổi
mới của một số ngành, đặc biệt do hậu quả của việc không phù hợp giữa chính sách quốc
gia với chính sách phát triển ngành và các tác nhân của ngành. Thứ tư, mối quan hệ của
chính sách quốc gia và hệ thống ngành đôi khi có thể phát triển từ mức độ ngành đến mức
độ quốc gia: các thiết chế của một ngành rất quan trọng với một quốc gia trong việc tuyển
dụng lao động, cạnh tranh và các chiến lược liên quan, và cuối cùng có thể phát triển thành
thiết chế quốc gia, bởi có thể chúng liên quan đến các ngành và lĩnh vực khác.
1.4. Những đặc điểm cơ bản của hệ thống đổi mới ngành
1.4.1. Đặc điểm về nền tảng tri thức và công nghệ của ngành
Nền tảng tri thức có thể giải thích cho các hoạt động đổi mới trong ngành bởi vì giữa các
ngành, các công nghệ có khác biệt lớn về mặt tri thức và qui trình học hỏi trong quá trình
đổi mới. Có sự khác nhau về mức độ tiếp cận tri thức, chẳng hạn như cơ hội thu nhận tri
thức có thể từ bên ngoài doanh nghiệp. Tri thức tiếp cận được có thể từ bên trong hoặc bên
ngoài ngành. Sự tiếp cận tri thức bên trong mạnh hơn còn ngụ ý sự thích hợp thấp, các đối
thủ cạnh tranh có thể tiếp thu được tri thức về các sản phẩm hoặc qui trình mới và rất có
thể sẽ mô phỏng, bắt chước hoặc sao chép các qui trình và sản phẩm đó. Sự tiếp cận với các
tri thức bên ngoài ngành có thể liên quan đến các cơ hội KH&CN (về mặt trình độ và
nguồn gốc). Ở đây môi trường bên ngoài có thể tác động đến doanh nghiệp thông qua
10
nguồn nhân lực với trình độ nhất định và loại hình tri thức nhất định qua việc phát triển các
tri thức KH&CN trong doanh nghiệp và ở trong các tổ chức phi doanh nghiệp như trường
đại học hoặc phòng thí nghiệm, các viện nghiên cứu…Nguồn gốc các cơ hội công nghệ
cũng rất khác nhau giữa các lĩnh vực. Ở một số lĩnh vực thì cơ hội công nghệ bắt nguồn từ
những đột phá trong nghiên cứu ở trường đại học và viện nghiên cứu, ở một số lĩnh vực
khác, cơ hội đổi mới lại bắt nguồn từ các điều kiện thuận lợi về R&D, máy móc và thiết bị.
1.4.2. Về quỹ đạo công nghệ (technological trajectors)
Quỹ đạo công nghệ liên quan đến quá trình tiến hóa của ngành, đến nhu cầu, công nghệ và
thiết chế của ngành cũng như chiến lược sản xuất, đổi mới và bán hàng của doanh nghiệp.
Quỹ đạo công nghệ thể hiện động lực phát triển và tiến hóa của hệ thống ngành.
Quỹ đạo công nghệ bắt đầu biến đổi khi có gián đoạn công nghệ (technology
discontinuity). Gián đoạn công nghệ là một thách thức lớn cho doanh nghiệp và và dẫn đến
sự trì trệ trong ngành (industry stagnancy). Sự gián đoạn công nghệ là thời điểm thích hợp
để các công nghệ mới ra đời, vì khi đó các doanh nghiệp cũ, hiện thời phải đối mặt với sự
tồn tại và phát triển doanh nghiệp, họ cần đổi mới cả về sản phẩm và quy trình.
1.4.3. Thiết chế
SSI rất khác nhau bởi các thiết chế đặc thù. Thiết chế bao gồm các chuẩn mực, tiêu chuẩn,
luật lệ, lề thói, các thói quen chung, các qui định, luật lệ, …. tạo nên các nhận thức đối với
các tác nhân và các hành động và các tác động ảnh hưởng đến các tác nhân (Edquist, 1997).
Ngành bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các thiết chế ở mức quốc gia, chẳng hạn như hệ thống
patent, trong khi đó vẫn có những thiết chế riêng mang đặc trưng của hệ thống ngành,
chẳng hạn như thị trường lao động hoặc các thiết chế tài chính đặc biệt của ngành.
1.4.4. Động cơ và các biến đổi của hệ thống ngành
Động cơ của đổi mới và biến đổi là hai khía cạnh đặc biệt nhất để phân biệt của SSI, bao
gồm cả sự phát triển và biến động của ngành. Quá trình biến đổi trong hệ thống ngành có
thể xẩy ra trong thể thức công nghệ, phương thức học hỏi và các hình thức đổi mới. Trong
đó sự gián đoạn, ngắt quãng về thị trường và công nghệ các hình thức đổi mới với các
tương tác phụ thuộc giữa nhiều tác nhân. Hơn nữa nền tảng tri thức của các hoạt động đổi
mới có thể thay đổi theo hai cách khác nhau: một tiến triển theo các thiết kế trội và thay đổi
mạnh mẽ, trong trường hợp này, sự tăng trưởng tập trung, và các doanh nghiệp đi đầu, các
doanhh nghiệp vượt trội lớn có thể được thay thế (Utterback 1994); hai là quá trình đổi
mới sẽ đòi hỏi các dạng năng lực mới, sự chấn động công nghiệp chủ yếu của ngành đem
lại sự xuất hiện các doanh nghiệp mới và sự thay đổi trong vị trí đi đầu của ngành. Sự thay
đổi nhu cầu, thay đổi người sử dụng và các ứng dụng thể hiện sự thay đổi cơ bản có thể
thích hợp với các doanh nghiệp mới hơn là các doanh nghiệp đang tồn tại trước đó.
1.4.5. Các vấn đề về chính sách để phát triển ngành
Các vấn đề phát triển ngành có thể được nhận dạng và giải quyết bằng các chính sánh.
Nhận dạng vấn đề có thể thực hiện được thông qua sự phân tích so sách theo hệ thống
thông qua thời gian và không gian (Charles, 2006). Các chính sách phát triển ngành ngoài
việc dựa trên các chính sách phát triển chung của quốc gia và cùng còn cần chú ý đến đặc
trưng của ngành, chẳng hạn như nền tảng tri thức, các đặc điểm đặc biệt của công nghệ cơ
bản trong hệ thống ngành, đặc điểm của các sản phẩm ngành, đặc thù của thị trường lao
động của SSI, thiết chế tài chính và các mối quan hệ đặc biệt của ngành, đặc thù của cấu
trúc ngành, các tác nhân đầu đàn trong ngành, các động cơ biến đổi của ngành (Maberla,
2004).
11
Chương 2
KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ HỆ THỐNG ĐỔI MỚI NGÀNH DƯỢC PHẨM
2.1. Kinh nghiệm của các nước phát triển về hệ thống đổi mới ngành
2.1.1. Kinh nghiệm hệ thống đổi mới ngành công nghiệp dược của Nhật Bản
Ngành công nghiệp dược Nhật bản hiện nay chiếm một thị phần khá lớn trên thị trường
dược phẩm thế giới (15%) (Kazuyuki Motohashi, trang 2), mặc dù điều kiện cho phát triển
ngành công nghiệp dược không thuận lợi cho lắm ở Nhật bản do thị trường lao động cứng
nhắc, thị trường vốn đầu tư mạo hiểm còn kém phát triển, năng lực kinh doanh còn yếu….
Sự phát triển nhanh chóng của ngành dược phẩm Nhật bản có được là nhờ có một chiến
lược phát triển ngành và có chính sách hỗ đổi mới ngành ngành thích đáng.
• Hoạt động R&Dcủa nhà nhà nước: Các tổ chức R&D cho ngành dược phẩm ở Nhật Bản
khá mạnh. Hoạt động R&D được chú trọng rất nhiều, đặc biệt là chí phí cho hoạt động
R&D.
• Hệ thống kinh doanh (bussiness system): bao gồm các công ty mới, các công ty đang tồn
tại và liên doanh. Số lượng các doanh nghiệp dược phẩm của Nhật là 334 (năm 2003)
tăng gấp 3,5 lần so với năm 1994 (khoảng 90 DN)
• Các doanh nghiệp ngành dược phẩm có các liên kết/hợp tác với các đối tác khác nhau
dưới nhiều góc độ khác nhau: các đối tác hợp đồng, các đối tượng dự án, các giai đoạn
R&D…, Và các đối tác chủ yếu và có vẻ ngày càng gia tăng sự liên kết hợp tác là các
công ty mạo hiểm trong lĩnh vực công nghệ sinh học (bio-venture) và hầu hết các công ty
đầu tư mạo hiểm này nằm ở Mỹ.
• Chính sách và chiến lược phát triển ngành công nghệ sinh học. Nhật bản sử dung chính
sách dọc dành cho ngành dược kết hợp với các chính sách phát triển ngang và các chính
sách hỗ trợ xây dựng nền tảng tri thức. Đặc biệt Nhật Bản có ban chỉ đạo chiến lược phát
triển quốc gia riêng cho ngành dược. Một chính sách quan trọng cho đổi mới trong ngành
dược nữa là chính sách tài chính dành riêng cho ngành dược phẩm đó là chính chính thuế
ưu đãi cho R&D và tín dụng thuế là số phần trăm tất yếu (khoảng 8-12% của số chi phí
cho nghiên cứu và thử nghiệm) trong tổng số chi phí R&D. Chính sách hỗ trợ thương mại
hóa. Các chính sách kinh tế- xã hội và dân tộc hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp dược
phẩm.
2.1.2. Kinh nghiệm hệ thống đổi mới ngành dược phẩm của các nước EU
Ngành công nghiệp dược phẩm là một trong những ngành công nghiệp chiếm ưu thế của các
quốc gia Châu Âu, năm 1998, Châu Âu đã chiếm 40% tổng số thị phần dược phẩm thế giới.
Pháp, Đức và Anh là những quốc gia có sự phân phối đầu tư rất lớn cho các nghiên cứu thuộc
khu vực nhà nước, các trường đại học, các Viện nghiên cứu và số các sinh viên sau đại học
được đào tạo trong các lĩnh vực liên quan đến ngành dược. Các nước như Hà Lan, Tây Ban
Nha số đầu tư này ít hơn. Hầu hết các SMEs trong lĩnh vực công nghệ sinh học nằm ở các
nước Pháp, Đức và Anh, các quốc gia này là lãnh địa dành cho các công ty dược phẩm đa
quốc gia, và cùng với Hà Lan đã thu hút các công ty dược phẩm đa quốc gia thành lập các chi
nhánh nghiên cứu, các quốc gia này cũng có các quan tâm kinh doanh mạnh mẽ đối với các
tổ chức ngoài nhà nước theo ngành (BINGOs) để thể hiện quan tâm đến công đồng kinh
doanh. Các chi nhánh của các công ty dược phẩm đa quốc gia có hoạt động R&D cũng đã
thúc đẩy hoạt động của các quốc gia. tại Áo và Tây Ban Nha, các hoạt động này cũng được
tính đến cho hầu hết các hoạt động nghiên cứu công nghiệp công nghệ sinh học.
12
EU có qui định chung cho ngành dược phẩm dựa trên công nghệ sinh học. Đó là một chính
sách mạnh mẽ và ổn định để hỗ trợ cho việc phát triẻn các doanh nghiệp công nghệ sinh học
ở Anh, Đức và Ireland, kể cả cơ chế hỗ trợ chuyển giao công nghệ. Hiện nay chính sách thúc
đẩy đổi mới công nghệ sinh học và chuyển giao công nghệ còn yếu ở một số quốc gia Châu
Âu khác như Pháp, Hà Lan, Áo, Hy lạp, Tây Ban Nha. Hiện nay Pháp và Hà Lan đang thực
thi các chính sách hỗ trợ cho việc tạo lập các doanh nghiệp nhỏ. Với sự sẵn sàng của nguồn
vốn tài chính có thể tác động đến sự tạo dựng các doanh nghiệp start-up. Anh và Đức là hai
quốc gia có môi trường hỗ trợ mạnh cho đổi mới trong lĩnh vực dược phẩm dựa trên công
nghệ sinh học và không có một cản trở nào đối với sự phát triển của ngành. Áo và Ireland chỉ
có một vài yếu tố tích cực, yếu tố nhu cầu của thị trường là cơ hội cung cấp một bệ phóng
cho việc tiếp cận thị trường bên cạnh, và dường như cho phép hai quốc gia nhỏ bé này có vai
trò lớn hơn trong hoạt động đổi mới ngành dược phẩm. Tây Ban Nha có những thế mạnh tất
yếu về tri thức và ký năng và các cam kết trong việc hợp tác R&D giữa khu vực nhà nước và
tư nhân, tuy nhiên các tiềm năng cho đổi mới trong ngành dược phẩm còn hạn chế bởi các
yếu điểm bị lan rộng, đặc biệt về vấn đề quản lý giá cả dược phẩm. Hy Lạp đầu tư về đào tạo
khoa học, nhưng hầu hết các yếu tố tác động đến đổi mới ngành dược phẩm lại là từ các yếu
điểm và các cản trở từ hệ thống quốc
2.1.3. Hệ thống đổi mới ngành công nghiệp dược phẩm của Mỹ
Mỹ là một trong những quốc gia đầu tiên nhanh chóng nhận tầm quan trọng của nền tảng tri
thức khoa học về gene và phân tử trong việc điều trị bệnh và đây chính là cơ hội để họ phát
triển các loại thuốc.
Chính sách được cải cách để thúc đẩy nhanh sự phát triển của các loại thuốc mới cho các loại
bệnh quan trọng và nguy nan. Mỹ lại có truyền thống hợp tác và chia sẻ giữa khu vực nhà
nước và tư nhân trong R&D. Việc cấp bằng sáng chế và bảo hộ sáng chế với các mục tiêu về
dược phẩm dựa trên công nghệ sinh học như là một công cụ chính để thúc đẩy sự phát triển
của ngành. Hoạt động đổi mới thành công của ngành dược phẩm của Mỹ là nhờ vào sự quan
hệ chặt chẽ và mạnh mẽ giữa khu vực đại học, nghiên cứu hàn lâm với khu vực công nghiệp,
các liên kết hợp tác khác nhau giữa các hình thức nghiên cứu và thực hành. Cũng phải kể đến
cơ hội mới cho sự phát triển các loai thuốc, các mối liên kết hiện tại cũng đem đến các cơ hội
để thức đẩy việc sản xuất các loại thuốc. Mối quan tâm của công đồng và chiến lược phát
triển quốc gia cũng tác động đến sự phát triển các thế hệ thuốc. Mỹ cũng thúc đẩy việc bàn
bạc với dân chúng trong việc phát triển các loại thuốc mới và cố gắng thực hiện các chương
trình nghiên cứu đặt ra. Các thuốc mới được thực hiện qua các cuộc đánh giá thử nghiệm và
rất nhiều các hoạt động “ học hỏi bởi thực hành” được thực hiện ở các dịch vụ y tế đặc biệt
của Mỹ và có các phản hồi lại với các hoạt động R&D.
2.2. Kinh nghiệm của các nước đang phát triển và kém phát triển
2.2.1. Ấn Độ
Ngành công nghiệp dược là một trong những ngành đổi mới nhất trong các ngành sản xuất ở
Ấn Độ. Hệ thống đổi mới của ngành công nghiệp dược Ấn Độ có 3 thnàh tố trụ cột chính đó
là: một cơ chế chính sách nhà nước rất chủ động với sự tôn trọng IPR, các viện nghiên cứu
nhà nước mạnh và các doanh nghiệp tư nhân mạnh sẵn sàng đầu tư cho đổi mới.
Các giải pháp chính sách cho ngành dược phẩm Ấn Độ gồm có 3 giải pháp chính sau: Thúc
đẩy R&D ngành dược phẩm thông qua các khuyến khích về tài chính; Thúc đẩy phát triển
ngành thông qua các công ty dựa trên hoạt động R&D và Thành lập quỹ hỗ trợ R&D cho
ngành dược và phát triển các sản phẩm thuốc còn mới mẻ (non). Hơn nữa hệ thống đổi mới
ngành dược Ấn Độ còn có một loạt các chính sách hỗ trợ sau:
13
Quyền sở hữu trí tuệ và qui định về Patent: Ấn Độ chú trọng chế độ bản quyền và bảo hộ
phát minh. Luật Patent Ấn Độ ban hành năm 1970, Luật này đã không thừa nhận bảo hộ
phát minh về sản phẩm mà chỉ bảo hộ phát minh về qui trình. Điều này cho phép các công ty
dược phẩm Ấn Độ bảo vệ các kỹ sư và sản xuất thuốc ở giá thấp nhất. Tuy nhiên khi Ấn Độ
trở thành thành viên của WTO năm 1995, chế độ bản quyền và bảo hộ phát minh được tuân
theo hiệp định TRIPS.
Chính sách điều chính và quản lý về giá: Quy định về giá với các thuốc là một phần quan
trọng trong chính sách dược phẩm của Ấn Độ này. Giá thuốc Ấn Độ thấp nhất trên thế giới,
đó là ví một số lý do sau đây: Thứ nhất đó là do chỉ bảo hộ quyến quyền phát minh qui trình
, không bảo hộ phát minh sản phẩm lâu nay được công nhận tại luật pháp của Ấn Độ. Vì thế
các nhà sản xuất Ấn Độ có thể sản xuất khối lượng lớn thuốc và thực hiện “bảo hộ kỹ thuật”
của các loại dược phẩn bảo hộ của nước ngoài, như thế đã giảm được chi phí cho hoạt động
R&D và tránh được việc chi trả tiền bản quyền cho chủ phát minh. Thứ hai, chi phí lao động
ở Ấn Độ khá rẻ, thấp hơn một sỗ mức so với nước ngoài. Hầu hết các cơ sở sản xuất và thiết
bị cần thiết được sản xuất trong nước. Quan trọng nhất là công cụ điều khiển giá thuốc theo
luật cho số lượng lớn sản phẩm và việc thực hiện giải phẫu ở Ấn Độ.
Chính sách qui định về sản phẩm và chất lượng: Việc thực hiện các thử nghiệm lâm sàng -
ngày càng được coi trọng. Chính phủ ban hành các chính sách chú trọng vào sự hợp nhất các
thỏa thuận thực hành lâm sàng tốt và tạo cho nó sự trói buộc pháp luật để nhấn mạnh khía
cạnh an toàn của bệnh nhân và tạo sự phù hợp chặt chẽ với văb hóa các dân tộc trong nước.
Phòng thí nghiệm tốt cuả Ấn Độ tuân theo các chuẩn mực và qui định của OECD. Các thử
nghiệm, thiết bị, các phòng thí nghiệm đều trong chờ sự chấp thuận từ các nhà cầm quyền
trước khi đưa ra thị trường.
2.2.2 Kinh nghiệm xây dựng hệ thống đổi mới ngành dược của CuBa
Khác với các nước đang phát triển và có nhiều khó khăn về kinh tế và xã hội, Cu Ba đã
xây dựung và phát triển thành công một hệ thống đổi mới vững mạnh về lĩnh vực Y tế và
dược phẩm. Cu Ba có một chính sách hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ về hỗ trợ phát triển nền
tảng tri thức KH&CN vững chắc về lĩnh vực công nghệ sinh học, đặc biệt với sự chú trọng
ứng dụng vào ngành Y tế và công nghiệp dược bắt đầu từ những năm 1980. Chẳng hạn, Cu
Ba tạo dựng và phát triển một hệ thống viện nghiên cứu nhà nước và truờng đại học vững
mạnh, đồng thời chính phủ cũng có các biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân
lực cả trong và ngoài trường đại học và đầu tư thích hợp cho hệ thống giáo dục đại học.
Chính phủ Cu Ba có những ưu đãi đặc biệt về y tế cộng đồng, kết hợp với các dịch vụ ưu đãi
đặc biệt về y tế với các công nghệ tiên tiến.
Nhìn chung động lực để phát triển hệ thống ngành dược phẩm của Cu Ba là từ ý chí của
nhà nước với việc xây dựng các chính sách phù hợp và các đầu tư thích đáng đối với các viện
nghiên cứu và trường đại học thuộc khu vực nhà nước.
2.2.3. Kinh nghiệm các nước Châu Phi (Iran, Nigeria)
Các quốc gia Châu Phi không chú trọng xây dựng nền tảng KH&CN mà chú trọng đến việc
nhập công nghệ thông qua mua bán, họ ít chú trọng đến học hỏi và làm chủ công nghệ mà
chủ yếu quan tâm đến giá cả của thuốc mà họ có thể chi trả được.
Ở các quốc gia này, các doanh nghiệp nước ngoài không có vai trò quan trọng gì cả trong
nền kinh tế và cung cấp tri thức công nghệ, và gần như vắng mặt ở ngành dược phẩm, đặc
biệt là ở Iran. Họ chú trọng chủ yếu về mặt nhu cầu sử dụng thuốc và hỗ trợ chăm sóc sức
khỏe và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dược phẩm địa phương nổi lên. Ngoài ra, tạo
dựng không gian cho các liên kết và tương tác giữa người tiêu dùng và người sản xuất cung
cấp cũn là một trong những bí quyết góp phần thành công trong việc xây dựng hệ thống đổi
14
mới ngành. Ở Nigeria, nhà nước chú ý đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân địa
phương và tạo dựng một không gian mới cho các doanh nghiệp địa phương có ý thức thực
hiện việc sản sinh tri thức và sử dụng tri thức một cách tích cực. Cùng với sự chú trọng về
nhu cầu, chính phủ Nigeria đã chú trọng đến việc xây dựng năng lực nội sinh, chính sách
“nội địa hóa” được đưa ra đầu những băm 1990s với yêu cầu nhượng lại cổ phần cho người
Nigerian trong các công ty nước ngoài và kết quả là người dân Nigerian đã thu nhận được
các tri thức kinh doanh tuy họ đã phái đối mặt với không ít khó kahưn từ chính sách này, và
điều này cũng đã có vai trò chủ động hỗ trợ cho việc phát triển ngành dược phẩm. Đồng thời
chính phủ cũng đã xây dựng một số các viện nghiên cứu nhà nước, trong đó có một số viện
nghiên cứu chuyên về giải quyết các vấn đề trong nứơcvà sử dụng các nguyên liệu thô của
địa phương.
2.3.Các sự khác biệt về chính sách phát triển ngành dựa trên hệ thống đổi mới ngành
giữa các nước phát triển và đang phát triển
Các quốc gia khác nhau có các hệ thống đổi mới quốc gia khác nhau tác động đến sự phát
triển và hệ thổng đổi mới ngành dược khác nhau
Về nền tảng tri thức: các quốc gia khác nhau có nền tảng tri thức của ngành dược phẩm khác
nhau, các nước phát triển hầu hết có lợi thế về nền tảng công nghệ sinh học tuy nhiên một số
nước đang phát triển với sự hỗ trợ của chính phủ và các luật lệ qui định cũng đã xây dựng
cho mình một nền tảng tri thức tốt về KH&CN cho ngành dược phẩm như Ấn Độ, Cu Ba
Các liên kết và tương tác giữa các tác nhân SSI (doanh nghiệp, tô chức R&D) rất khác nhau
tùy theo điều kiện chính sách của chính phủ, tuy nhiên lĩnh vực dược phẩm dựa trên công
nghệ sinh học đã làm mạnh mẽ hơn các mối liên kết giữa các tác nhân do đòi hỏi về an toàn
và các thử nghiệm lâm sàng chặt chẽ nghiêm ngặt trước khi đưa sản phẩm ra thị trường.
Các thiết chế chính sách điều chỉnh quan trong trong SSI ngành dược bao gồm chính sách về
sở hữu trí tuệ, chính sách khuyến khích hoạt động R&D, chính sách thuế ưu đãi, chính sách
thương mại hóa và giá cả về mua bán thuốc, về tiêu chuẩn chất lượng…
Đa số các quốc gia kém phát triển khi xây dựng SSI dược phẩm chú trọng đến việc giải quyết
các nhu cầu chăm sóc sức khỏe của địa phương và nhu cầu sử dụng thuốc. Như vậy, khi xây
dựng và phát triển SSI ngành dược, các quốc gia đều chú trọng đến xây dựng nền tảng tri
thức công nghệ, thiết chế và các liên kết đổi mới tuy nhiên các quốc gia có các phương thức
khác nhau tùy theo tình hình cụ thể của mỗi quốc gia.
2.4. Kết luận về xây dựng và phát triển SSI ngành dược từ kinh nghiệm nước ngoài
Kinh nghiệm của các nước nói chung đều cố gắng xây dựng những nhân tố sau đây để phát
triển hệ thống đổi mới ngành:
• Tạo dựng nền tảng tri thức: vấn đề tạo ra, truyền bá và sử dụng các công nghệ trong ngành.
• Tạo điều kiện cho các nhân tố tạo động lực cho đổi mới
• Về các tác nhân trong hệ thống đổi mới ngành (doanh nghiệp, tổ chức R&D, các hiệp hội,
các cơ sở kinh doanh thuốc..)
• Thiết lập các liên kết và tương tác giữa các tác nhân
• Xây dựng hệ thống các thiết chế như điều chỉnh về sở hữu trí tuệ, về mua bán thuốc, về tiêu
chuẩn chất lượng…
Ngoài các biện pháp khuyến khích đổi mới, cũng cần có có biện pháp hạn chế các nhân tố
làm cản trở đổi mới: chẳng hạn như chính sách điều chỉnh và quản lý giá thuốc có thể mang
lại lợi ích cho người dân nghèo, tuy nhiên lại đem lại tác động tiêu cực lớn đến việc thúc đẩy
các doanh nghiệp sản xuất các loại biệt dược quan trọng cho các bệnh nan y.
15
Chương3 . HỆ THỐNG ĐỔI MỚI NGÀNH DƯỢC VIỆT NAM
3.1. Tổng quan về ngành công nghiệp dược Việt Nam
Đến nay ngành Dược Việt Nam đã trải qua hơn 60 nǎm xây dựng và trưởng thành. Bước vào
thời kỳ hội nhập, ngành Dược cũng như các ngành kinh tế khác đang đứng trước rất nhiều
những thuận lợi và khó khăn. Mạng lưới cơ sở sản xuất và lưu thông dược phẩm cũng đã
được củng cố dần nhất là từ sau khi thực hiện chính sách đổi mới, ngành y tế trong đó có hệ
thống dược đã đạt được nhiều thành tích khích lệ, được sự tín nhiệm của nhân dân và có uy
tín đối với các nước trong khu vực.
Sản phẩm chủ yếu của ngành dược phẩm Việt Nam bao gồm: thuốc chữa bệnh (kháng sinh,
các thuốc chuyên khoa, đặc trị, các thuốc thảo dược), một số loại vacxin và chế phẩm sinh
học, các thực phẩm chức năng và một số mỹ phẩm được sản xuất từ dược liệu. Gần đây sự
thay đổi mẫu mã của các lọai thuốc của Việt nam hiện nay khá đa dạng, được thể hiện dưới
dạng viên nang, dang matrix, màng bao không tan, thuốc bột....Ngành dược phẩm Việt Nam
được coi là một ngành non trẻ nhưng đã có những bước tiến nhất định, trong vòng 10 năm
(1995-2005), tổng giá trị thị trường dược phẩm Việt Nam đã tăng gấp 2,9 lần, từ 280 triệu
USD lên đến 817 triệu USD (xem thêm biểu đồ 3.1).
Biểu đồ 3.1: Doanh Thu sản xuất dược phẩm trong nước
Tuy nhiên một vấn đề lớn đang đặt ra trước mắt là bước vào thế kỷ 21, trong tình hình thực tế
của đất nước mặc dù đã đạt được nhiều thành tích đáng kể (xem them bảng 2 và biểu đồ 3.2)
nhưng đi sâu vào từng lãnh vực thì công nghệ còn nhiều sút kém so với các nước khu vực
chung quanh, đầu tư của ta còn ít do khả năng thực tế của đất nước, công tác qui hoạch, tổ
chức và quản lý của ta còn nhiều vấn đề bất cập làm trở ngại không ít cho sự phát triển kinh
tế và xã hội.
Bảng 2: Kết quả sản xuất dược phẩm trong nước
Năm
Tổng trị giátiền Thuốc sản xuất trong nước
thuốc sử dụng
Trị giá Tỉ lệ (%) so với Tăng Trưởng
(1000USD)
tổng trịgiá (%)
2001 472.356 170.39 36,10 100,00
2002 525.807 200.29 38,10 117,55
2003 608.699 241.87 39,74 120,76
2004 707.535 305.95 43,24 126,48
2005 817.396 395.157 48,34 129,16
Nguồn: TS.Cao Minh Quang, Cục Quản lý dược phẩm Việt nam
16
Ngành dược Việt Nam đã có sự phát triển và tăng truởng rõ rệt từ năm 2001 đến nay 2007.
Năm 2006 tổng doanh thu đạt 12.000 tỷ đồng, bằng 127,3% kế hoạch năm, tăng 27,1% so
với năm 2005. Lợi nhuận đạt 293,112 tỷ đồng đạt 136,7% kế hoạch năm, tăng 40,7% so với
năm 2005, tạo được tích luỹ vốn để tăng quy mô vốn và làm đà phát triển doanh nghiệp
(xem biểu đồ 3.2 sau)
Biểu đồ 3.2. Tốc độ tăng trửơng, sản xuất, kinh doanh qua các năm
Nguồn: TS. CAo Minh Quang, Cục Quản lý dựợc phẩm
3.2. Thực trạng nền tảng tri thức và công nghệ được sử dụng trong ngành công
nghiệp dược phẩm
Ngành dược với đặc trưng vè nền tảng tri thức và công nghệ cao, hàm lượng chất xám lớn.
Thời gian nghiên cứu để có thể cho ra đời một thuốc mới, dạng thuốc mới thường rất lâu;
chi phí cho nghiên cứu rất lớn; đòi hỏi công nghệ sản xuất tiên tiến v.v . Công nghệ sử
dụng trong ngành dược phẩm ở Việt Nam khá phong phú bao gồm cả công nghệ có hàm
lượng tri thức trung bình và công nghệ có hàm lựong cao. Công nghệ có hàm lượng tri thức
cao là các công nghệ được sử dụng để sản xuất văcxin và các sinh phẩm và các công nghệ
để kiểm tra chất lượng các loại sản phẩm này, công nghệ và kỹ thuật gene trong sản xuất
văxcin tái tổ hợp và các dạng sinh phẩm chẩn đoán; công nghệ màng tinh lọc chế (T.F.F,
Isoprime ...) cho các sản phẩm có độ sạch và hiệu suất lớn; công nghệ đông khô tiến đến hệ
đông khô đóng ống, hoặc đóng lọ khép kín các dạng sản phẩm đông khô; các loại công
nghệ về hóa miễn dịch trong kiểm định và sản xuất. Công nghệ dược phẩm có hàm lượng
tri thức trung bình và thấp bao gồm: công nghệ bào chế thuốc, bao gồm công nghệ sản xuất
các laọi thuốc dạng Matrix, màng bao không thấm, công nghệ Pellet và vi nang, viên nang
mềm, công nghệ bột siêu mịn, siêu nhỏ (micromet), kỹ thuật và công nghệ nhũ tương và vi
nhũ tương. công nghệ sản suất thuốc dạng bào chế giải phóng hoạt chất, đưa hoạt chất đến
cơ quan hay tế bào đích; công nghệ sàng lọc dược liệu, tuyển chọn cây thuốc, công nghệ
bào chế đông dược theo y học cổ truyền, chiết tách, tinh chế nguyên liệu làm thuốc....
Hiện nay chúng ta đã sản xuất được 8 trong số 10 loại văcxin được sử dụng trong Chương
trình Tiêm chủng mở rộng đó là văcxin phòng chống viêm gan B, văcxin phòng chống
bệnh bại liệt, đậu mùa, văcxin phòng dịch tả, vắc xin phòng chống ho gà, bạch hầu, uốn
ván, lao và kết quả là chúng ta đã hạn chế đáng kể số văcxin phải nhập khẩu.Tuy nhiên,
hầu hết cơ sở sản xuất của ngành công nghiệp dược với trang thiết bị lạc hậu, cũ kỹ có từ
những nǎm 70. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp sản xuất thuốc trong nước mới chỉ tập
trung vào công nghiệp bào chế, chưa chú trọng đầu tư vào các loại thuốc chuyên khoa đặc
trị, các dạng bào chế đặc biệt..., trong khi theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
17
thì năng lực của ngành dược Việt Nam đang ở mức độ phát triển từ 2,5 đến 3 (trong thang
phân loại từ 1 đến 4), tức là có khả năng sản xuất một số thuốc gốc và xuất khẩu một số
dược phẩm (xem phụ lục 1,2). Chưa chú trọng phát triển nguồn dược liệu để sản xuất
thuốc, còn đầu tư trùng lắp của các nhà máy đạt GMP. Tuy nhiên, công nghệ bào chế dược
phẩm của Việt Nam mới bước vào thời kỳ phát triển, chủ yếu mới sản xuất thuốc generic,
phần lớn các DN chưa nghiên cứu, chưa sản xuất được các loại thuốc chuyên khoa đặc trị,
thuốc có kỹ thuật công nghệ cao. Còn công nghiệp hóa dược trong nước cũng chưa phát
triển do phụ thuộc nhiều vào các ngành công nghiệp hóa chất, công nghiệp hóa dầu cũng
đang trong trình độ tương tự. Những hạn chế này đã dẫn đến việc chúng ta chưa chủ động
được nguyên phụ liệu, chúng ta vẫn đang phải nhập khẩu khoảng 90% nguyên phụ liệu,
50% giá trị thuốc thành phẩm, đặc biệt với nhóm thuốc đặc trị, thuốc có công nghệ cao.
Biểu đồ 3.3. So sánh tổng giá trị tiền sử dụng thuốc và tổng giá trị sản xuất thuốc
Nguồn: TS.Cao Minh Quang, Cục Quản lý dược phẩm Việt nam
Trong 5 năm gần đây (2000-2005), sản lượng thuốc trong nước đã có tăng trưởng vượt
bậc. Sản lượng thuốc nội địa đã tăng từ 2.280 tỷ đồng, tương được 152 triệu USD (2000)
lên đến 6.300 tỷ đồng, chiếm gần 48% thị trường dược phẩm năm 2005, năm 2007, các
doanh nghiệp trong nước đã cung ứng được gần 55% thị trường thuốc. Tốc độ tăng
trưởng sản xuất dược phẩm trong nước đạt bình quân 19% năm, gấp 2,2 lần so với tỷ lệ
tăng trưởng bình quân nhập khẩu thuốc (8,4%) trong thời kỳ này. Chủ yếu đầu tư sản
xuất các loại thuốc thông thường, đơn giản, có nhiều trùng lắp, chưa chú ý đầu tư sản
xuất các loại thuốc chuyên khoa, đặc trị, các dạng bào chế đặc biệt.
3.3. Các tác nhân trong hệ thống ngành dược phẩm Việt nam
3.3.1. Các tác nhân cung cấp trang thiết bị sản xuất và tri thức khoa học
Về mạng lưới các cơ quan cung cấp tri thức khoa học và công nghệ trong lĩnh vực dược
phẩm bao gồm các trường đại học, Trung học dược, các Viện nghiên cứu thuộc lĩnh vực
dược phẩm, các khoa dược tại một số bệnh viện lớn. Các cơ quan cung cấp tri thức và công
nghệ dược phẩm chủ yếu nằm ở Hà Nội và TP HCM, rải rác các đơn vị nghiên cứu và phát
triển nằm miền Trung, Tây Nguyên, Quy Nhơn và các tỉnh lân cận hà nội, miền núi phía
bắc. Số các đơn vị cung cấp tri thức KH&CN ngành dược phẩm không nhiều, có thể điểm
tên như sau: Trường Đại học Dược Hà Nội, Đại học Y Hà Nội (với thế mạnh về nghiên
cứu thuốc kháng sinh) và Đại học Y - Dược TP Hồ Chí Minh, Đại học Y-Dược Huế, Đại
học Y dược Thái Nguyên, Trường trung học Dược Bộ Y tế ở Hải Dương, Viện Dược liệu,
Viện Vệ sinh Dịch tễ ở Hà Nội, Tây Nguyên, Viện sốt rét-Côn trùng - ký sinh trùng Hà
Nội, Phân Viện sốt rét-Côn trùng - ký sinh trùng Quy Nhơn, Viện Paseur TPHCM, Viện
18
Paseur Nha Trang. Tham gia vào cung cấp công nghệ và tri thức cho sản xuất ngành dược
phẩm còn có các doanh nghiệp sản xuất máy móc, thiết bị cho sản xuất thuốc, sản xuất các
trang thiết bị, vật tư Y tế của Việt nam và nước ngoài
3.3.2. Các doanh nghiệp
Về cơ sở dược, đến cuối năm 2007 ngành dược phẩm đã có 274 doanh nghiệp trong nước
sản xuất và kinh doanh dược phẩm rải rác trên 64 tỉnh, chiếm 44% số doanh nghiệp kinh
doanh và sản xuất thuốc tại Việt Nam, trong đó có 7 xí nghiệp bào chế thuốc theo y học cổ
truyền. Hiện nay, tính đến năm 2006, có 266 doanh nghiệp nước ngoài đăng ký hoạt động
(sản xuất hoặc kinh doanh) dược phẩm tại Việt Nam, chiếm tới gần 60% tổng giá trị thuốc
phục vụ phòng và chữa bệnh của người dân. Đó là những doanh nghiệp đến từ Ấn Độ,
Pháp, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật bản, Thụy Sĩ, Thái Lan, Singapore, Đức, Hồng Kông,
Hungary, Mỹ, Anh.
Biểu đồ 3.4: Các doanh nghiệp dược dẫn đầu thị trường Việt Nam
Nguồn:
Do lịch sử để lại, tổ chức các xí nghiệp dược phẩm của ta quá phân tán. Sự phân tán này là
nguồn gốc của bế tắc trong đầu tư; trong phân công sản phẩm; trong việc hoàn chỉnh GMP
vì quá tải và bế tắc trong việc sử dụng hết công sức máy móc.Dẫn đầu các doanh nghiệp
trong nước của ngành dược phẩm Việt Nam có thể kể đến Traphaco, Dựoc phẩm Hậu giang,
Domesco, Imexpharm, Mekophar, Bidiphar, Vidipha, Dược phẩm Nam Hà....nhưng nhìn
chung có một doanh nghiệp nào có thể gọi là lớn đủ sức đương đầu, cạnh tranh với các đại lý
công ty ở nước ngoài. Đã vậy mà lại hoạt động riêng lẻ, thiếu sự phối hợp.
3.3.3. Hiệp hội
Hiệp hội sản xuất - kinh doanh dược Việt Nam là một tổ chức tập hợp các doanh nghiệp
sản xuất - kinh doanh dược phẩm, dược liệu thuộc các thành phần kinh tế và thể nhân sản
xuất chế biến, kinh doanh, dịch vụ cung ứng xuất nhập khẩu tự nguyện tham gia Hiệp hội
nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động sản xuất - kinh doanh thuốc, nguyên liệu làm thuốc,
sản phẩm gần thuốc trên thị trường trong nước và nước ngoài vì lợi ích chung của ngành
dược; hỗ trợ và bảo vệ lẫn nhau, đẩy mạnh các hoạt động sản xuất - kinh doanh, nghiên cứu
19