Đề tài “hiện trạng và một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty may chiến thắng

  • 79 trang
  • file .doc
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
 ----  --- 
Khoá luận tốt nghiệp:
Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng May mặc-
Công ty May Chiến Thắng
( Tổng Công ty Dệt-May Việt nam)
Sinh viên : Đoàn Thị Hà Mai-A2-CN9
Giáo viên hướng dẫn : TH.S Đào Thu Giang
Hà nội năm 2003
--------------------------
LỜI NÓI ĐẦU
Trước đây trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, mọi hoạt động của
doanh nghiệp đều phải tuân theo kế hoạch của nhà nước giao. Ba vấn đề cơ bản
của sản xuất kinh doanh là sản xuất cái gì?, sản xuất cho ai? và sản xuất như thế
nào? đều do nhà nước chỉ định sẵn chứ doanh nghiệp không có quyền chủ động
xây dựng. Do vậy các doanh nghiệp thường không coi trọng hiệu quả kinh tế và
hạch toán kinh tế chỉ là hình thức.
Khi có chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của
nhà nước thì mọi doanh nghiệp phải tự chủ về mặt tài chính, tự xây dựng phương
án kinh doanh, tự tìm đầu vào và đầu ra, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp mình. Dưới tác động của quy luật kinh tế trong cơ
chế thị trường, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải sử dụng các
nguồn lực của mình một cách có hiệu quả nhất, coi hiệu quả kinh doanh là mục
tiêu hàng đầu, thực sự chú trọng hạch toán kinh tế, đảm bảo nguyên tắc lấy thu bù
chi và có lợi nhuận.
Duy trì con đường đổi mới cơ chế kinh tế hơn 10 năm qua, diện mạo nền kinh
tế nước ta đã có nhiều thay đổi. Những thành tựu và kết quả đạt được trong lĩnh
vực kinh tế đã ngày càng khẳng định đường lối chỉ đạo chuyển hướng của Đảng
sang nền kinh tế thị trường là đúng đắn và sáng suốt. Thị trường trong nước được
mở mang, các ách tắc trong sản xuất và lưu thông được giải quyết, các cơ hội học
hỏi bên ngoài, học tập kinh nghiệm lẫn nhau ngày càng nhiều, tạo điều kiện cho
sản xuất trong nước phát triển, sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả cao. Đảng
và Nhà nước xác định xây dựng sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá hướng về
xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu mở rộng
thị trường, tiếp thu công nghệ mới của các nước tiên tiến, tận dụng được lợi thế
kinh doanh mang lại hiệu quả kinh doanh lớn hơn nhiều so với thập niên trước.
Hiệu quả kinh doanh là kết quả của quá trình lao động của con người, là kết
quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp
có thể tồn tại và phát triển, là nguồn mang lại thu nhập cho người lao động đồng
thời là nguồn tích luỹ cơ bản để thực hiện tái sản xuất xã hội. Có thể nói hiệu quả
kinh doanh là việc tạo ra nhiều lợi nhuận có ý nghĩa rất quan trọng và thiết thực
đối với toàn xã hội, doanh nghiệp và với từng cá nhân người lao động.
Xuất phát từ những ý nghĩa đó mà cần phải tạo ra lợi nhuận và tìm mọi cách
để tăng lợi nhuận. Việc phấn đấu tăng lợi nhuận không chỉ là vấn đề quan tâm của
doanh nghiệp mà còn là của toàn xã hội cũng như các nhân mỗi người lao động.
Đó là một đòi hỏi tất yếu và bức thiết hiện nay.
Do vậy, hiện nay hơn bao giờ hết các doanh nghiệp phải giải quyết bằng
được vấn đề làm thế nào để không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh và có lợi
nhuận. Trước hết là để không bị phá sản và sau đó là để phát triển quy mô kinh
doanh, chiến thắng đối thủ cạnh tranh, nâng cao uy tín, thế lực của doanh nghiệp
trên thị trường.
Nhận thức được tầm quan trọng của hiệu quả kinh doanh đối với sự thành
công của doanh nghiệp, tôi đã chọn đề tài “Hiện trạng và một số biện pháp nâng
cao hiệu quả kinh doanh của công ty may Chiến Thắng" cho khoá luận tốt nghiệp
của mình.
Ngoài lời nói đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khoá luận được chia làm 3
phần chính sau :
Phần I : Những vấn đề lí luận về hiệu quả kinh doanh.
Phần II : Đánh giá hiệu quả kinh doanh ở công ty may Chiến thắng.
Phần III : Một số biện pháp nhằm góp phần tăng hiệu quả kinh doanh ở công
ty may Chiến thắng.
PHẦN I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH
1- KHÁI NIỆM VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH
Hiệu quả kinh doanh như chúng ta đã biết là kết quả của quá trình lao động
của con người. Trong quá trình lao động con người tạo ra được của cải xã hội mà
để vật hoá chúng, ta gọi là hàng hoá.Vậy ta phải xem xét cơ cấu giá trị hàng hoá
để tìm ra đâu là hiệu quả kinh doanh.
Theo Mác: Nếu gọi giá trị hàng hoá là G và G=C+V+m
Trong đó:
C : là chi phí lao động sống
V : là lao động vật hóa để sản xuất ra sản phẩm
m : là giá trị thặng dư.
Vậy khi quan niệm (C + V) là chi phí sản xuất sản phẩm thì số tiền nhà tư
bản thu được trội hơn so với chi phí đã bỏ ra (phần m) được gọi là lợi nhuận hay
đó chính là hiệu quả của hoạt động kinh doanh.
Giá trị hàng hoá = Chi phí + Lợi nhuận
Vậy nâng cao hiệu quả là nâng cao lợi nhuận, nó là giá trị thặng dư. Tuy
nhiên lợi nhuận thường không bằng giá trị thặng dư. Lợi nhuận thường cao hơn
hoặc thấp hơn tuỳ thuộc vào giá bán hàng hóa do quan hệ cung cầu trên thị trường
quyết định.
Trong cơ chế thị trường hiệu quả kinh doanh được xác định là mục tiêu cao
nhất, là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đứng trên góc độ của
doanh nghiệp, ta thấy hiệu quả kinh doanh là kết quả cuối cùng của hoạt động sản
xuất kinh doanh. Để cung cấp sản phẩm hàng hoá dịch vụ cho thị trường, các nhà
sản xuất phải bỏ vốn vào thực hiện quá trình sản xuất. Họ mong muốn tối đa hóa
hiệu quả (Chi phí cho các yếu tố đầu vào ít nhất và bán hàng hóa của họ với giá
cao nhất) để sau khi trừ đi các chi phí dư dôi không không những đủ cho tái sản
xuất giản đơn, mà còn cho tái sản xuất mở rộng, không ngừng tích lũy phát triển
sản xuất, củng cố tăng cường vị trí của doanh nghiệp trên thị trường. Theo đó lợi
nhuận được định nghĩa một cách khái quát là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu
và tổng chi phí:
Tổng lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình doanh nghiệp có thể tiến
hành nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau, do đó hiệu quả mang lại
cũng nhiều loại. Theo chế độ kế toán mới đã điều chỉnh, theo 4 chuẩn mực kế toán
đầu tiên hiện nay người ta chia làm 3 bộ phận cấu thành nên nội dung lợi nhuận
của doanh nghiệp là:
- Hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường tạo nên hiệu quả kinh doanh từ
hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Hoạt động tài chính doanh nghiệp tạo nên hiệu quả kinh doanh từ hoạt động tài
chính.
- Hoạt động khác của doanh nghiệp tạo nên hiệu quả kinh doanh từ hoạt động bất
thường.
Nếu quan niệm hoạt động SXKD chính của doanh nghiệp là hoạt động kinh
doanh thông thường, còn các hoạt động tài chính và bất thường là hoạt động khác,
thì ta có công thức xác định lợi nhuận như sau:
Kết quả kinh doanh Kết quả kinh doanh
= + Kết quả KD khác
của doanh nghiệp từ hoạt động SX
Kết quả kinh doanh Kết quả Kết quả KD
= +
khác từ hoạt động tài chính từ HĐ bất thường
Do Hiệu quả kinh doanh được xác định là một trọng điểm của công tác quản
lý nên để đáp ứng các yêu cầu quản trị doanh nghiệp nếu chỉ có các thông tin kết
quả kinh doanh nói chung (tổng lãi hoặc lỗ) của doanh nghiệp thì chưa đủ. Người
quản trị doanh nghiệp cần nắm chắc các thông tin chi tiết về kết quả sản xuất kinh
doanh của từng loại hoạt động, từ đó mới có cách đánh giá đúng nhất, đưa ra các
quyết sách hay nhất cho công tác quản lý điều hành doanh nghiệp nhằm mang lại
hiệu quả cao nhất. Vì vậy cần tiếp tục đi sâu vào các nội dung cụ thể của lợi nhuận
trong doanh nghiệp.
1.1 - Hiệu quả kinh doanh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường:
Lợi nhuận ròng hay thực lãi của đơn vị sản xuất kinh doanh là một phần của
thu nhập thuần tuý sau khi trừ thuế. Về nguyên tắc lợi nhuận được tính theo công
thức:
P = D - ( Z + Th  T0 ) 1
Trong đó:
P : Tổng lợi nhuận thu được từ SXKD
D : Doanh thu tiêu thụ sản phẩm (Hoặc được thực hiện dịch vụ)
Z : Giá thành toàn bộ khối lượng SP (hoặc dịch vụ)
Th : Thuế các loại
T0 : Tổn thất hoặc thu nhập ngoài hoạt động cơ bản.
Giá thành toàn bộ khối lượng sản phẩm ( Z ) gồm:
- Giá vốn hàng hoá
- Chi phí bán hàng
- Chi phí quản lý doanh nghiệp
Kết quả từ hoạt động sản xuất kinh doanh là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong tổng lợi nhuận thực hiện của doanh nghiệp. Đây là yếu tố cơ bản nhất quyết
định số lãi (hay lỗ) của doanh nghiệp sau kỳ kinh doanh trong đó các chỉ tiêu của
công thức trên được giải thích cụ thể như sau:
- Tổng doanh thu (Doanh thu bán hàng): là trị giá sản phẩm hàng hóa, lao vụ,
dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất, chế biến và đem bán hoặc cung cấp cho
khách hàng và được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Số tiền
doanh nghiệp thu được hoặc số tiền ghi trên hóa đơn theo thoả thuận giữa
doanh nghiệp và khách hàng sau khi kết thúc việc mua bán hàng hóa đó được
gọi là doanh thu bán hàng.
1
Nguồn : Giáo trình Kinh tế và quản lý Công nghiệp NXB GD Tr. 149
- Giá vốn hàng bán : Là trị giá vốn của hàng hoá, sản phẩm dịch vụ đã tiêu thụ.
Có 4 phương pháp xác định giá vốn hàng hoá:
+ Nhập trước - xuất trước ( FI FO)
+ Nhập sau - xuất trước (LI FO)
+ Bình quân gia quyền
+ Giá trị đích danh
- Chi phí bán hàng: Là các chi phí mà doanh ngiệp đã chi ra phục vụ việc bán
sản phẩm hàng hóa của mình như:
+ Chi phí quảng cáo giới thiệu sản phẩm.
+ Chi phí bao gói hàng hóa.
+ Chi phí tiền lương trả công nhân viên bán hàng.
+ Chi phí mua sắm sửa chữa phương tiện vận chuyển phục vụ bán hàng.
+ Hoa hồng phí trả cho đại lý bán hàng.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí quản lý doanh nghiệp là toàn bộ chi phí
doanh nghiệp chi ra phục vụ cho quản lý toàn doanh nghiệp. Chi phí quản lý
doanh nghiệp, chi phí bán hàng và chi phí SX chung là các loại chi phí không
tính trực tiếp cho từng sản phẩm mà phải phân bổ cho từng kỳ. Cho nên trong
quản lý doanh nghiệp nói chung và quản lý lợi nhuận nói riêng việc quản lý tốt
các loại chi phí này chính là hướng cơ bản để tiết kiệm chi phí góp phần tăng
lợi nhuận, bởi trong điều kiện SXKD như hiện nay, khi các khoản mục chi phí
nhân công, chi phí vật liệu đã được tính toán chính xác theo các định mức thì
chỉ giảm thiểu các chi phí chung để tăng thu lợi nhuận cho doanh nghiệp. Chi
phí quản lý doanh nghiệp có thể gồm:
+ Chi phí tiền lương cho nhân viên quản lý.
+ Chi phí vật liệu dùng cho quản lý.
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định dùng cho quản lý doanh nghiệp.
+ Thuế, phí, lệ phí.
+ Các khoản dự phòng giảm giá tồn kho và dự phòng phải thu khó đòi.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài.
+ Chi phí khác bằng tiền.
- Thuế các loại: là các loại thuế đánh vào doanh nghiệp và sản phẩm của doanh
nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay các doanh nghiệp còn phải nộp thuế VAT. Đây là
khoản thuế gián thu và thuế này đánh vào người tiêu dùng. Doanh nghiệp chỉ là
người thu hộ nhà nước khi thực hiện tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa của mình,
cho nên khoản này thực tế không trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh
nghiệp. Tuy nhiên lại làm tăng giá bán của sản phẩm mà người tiêu dùng là
người phải chịu nên cũng ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp.
- Các loại giảm trừ khác:
+ Chiết khấu: là số tiền được tính trên tổng doanh thu mà doanh nghiệp cho
khách hàng được hưởng vì các lý do ưu đãi nào đó nhằm mục đích đẩy
mạnh tiêu thụ, đẩy mạnh công tác thu nợ. Vậy nếu chỉ xét biểu hiện bên
ngoài thì chiết khấu được xem như một khoản ghi giảm doanh thu, dẫn đến
giảm lợi nhuận, nhưng thực chất kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh gay
gắt như hiện nay, khi mà người mua đóng vai trò quyết định trên thị trường
thì việc áp dụng các hình thức chiết khấu một cách hợp lý được xem là một
trong các cách để tăng lợi nhuận. Tuy doanh nghiệp bị giảm bớt đi một
phần lợi nhỏ trước mắt, nhưng nhìn về tổng thể lâu dài việc tăng khối
lượng hàng bán ra được xem là hướng cơ bản nhất để tăng lợi nhuận.
+ Các khoản giảm giá, bớt giá hoặc hối xuất cho khách hàng: Đây cũng là
khoản ghi giảm doanh thu nhưng tính chất hoàn toàn khác với chiết khấu.
Thực chất giảm giá, bớt giá là việc doanh nghiệp buộc phải giảm cho
khách ngoài hóa đơn do nguyên nhân đặc biệt như hàng bị kém phẩm chất,
sai mẫu mã hoặc bị vi phạm hợp đồng (Thời gian, địa điểm...) mà lỗi đó
thuộc về phía doanh nghiệp. Đối với khoản này doanh nghiệp phải hạn chế
đến mức tối đa nhằm giữ uy tín của mình, đồng thời đó cũng là tránh việc
giảm lợi nhuận do phải chi cho những lý do không nên có.
+ Doanh thu hàng bán bị trả lại : Đây là khoản tiền đã thu được do bán hàng
nhưng phải hoàn trả lại cho khách hàng do hàng không đảm bảo chất lượng
và công dụng như khi bán, trong khoảng thời gian nhất định cho phép với
từng mặt hàng. Đây cũng là một khoản giảm trừ gây thiệt hại cho doanh
nghiệp, nhưng cũng là điều mà doanh nghiệp nào cũng phải lưu tâm khi
muốn đứng vững trên thương trường phải cung cấp hàng bảo đảo chất
lượng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, bảo vệ quyền lợi của khách
hàng.
1.2 -Kết quả kinh doanh từ hoạt động khác:
Ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường, các doanh nghiệp còn
tiến hành các hoạt động khác như hoạt động tài chính và hoạt động bất thường. Để
tiến hành các hoạt động này doanh nghiệp cũng phải bỏ ra các chi phí và phải đảm
bảo thu hồi lại và có lãi. Phần lãi đó được gọi là hiệu quả kinh doanh từ hoạt động
tài chính và hiệu quả kinh doanh từ hoạt động bất thường.
 Kết quả kinh doanh từ hoạt động tài chính được xác định là khoản chênh lệch
giữa thu nhập từ hoạt động tài chính và các chi phí của hoạt động tài chính của
doanh nghiệp. Nó được biểu diễn bằng công thức sau:
Kết quả KD Thu nhập Chi phí
= -
từ hoạt động tài chính từ hoạt động tài chính hoạt động tài chính
- Thu nhập từ hoạt động tài chính, bao gồm:
+ Thu nhập từ hoạt động tham gia góp vốn liên doanh.
+ Thu nhập từ việc doanh nghiệp cho thuê tài sản cố định.
+ Thu nhập từ hoạt động mua bán cổ phiếu, trái phiếu ngắn hạn và dài hạn.
+ Thu nhập từ lãi tiền gửi ngân hàng, lãi cho vay, lãi do bán ngoại tệ.
- Chi phí hoạt động tài chính phản ánh các khoản chi phí và các khoản liên quan
đến hoạt động về vốn như sau:
+ Chi phí do doanh nghiệp tham gia liên doanh
+ Chi phí cho việc đầu tư vào các hoạt động tài chính của doanh nghiệp
+ Chi phí liên quan đến vốn vay, mua bán ngoại tệ
+ Các khoản lỗ do tham gia liên doanh
 Kết quả từ hoạt động khác: là chệnh lệch giữa thu nhập từ hoạt động khác của
doanh nghiệp và các khoản chi phí cho các nghiệp vụ đó.
- Thu nhập khác của doanh nghiệp: là những khoản thu nhập không được xác
định là những thu nhập thường xuyên của doanh nghiệp, đó là những khoản thu
nhập không có sự xác định từ trước, như:
+ Thu về nhượng bán thanh lý tài sản cố định của doanh nghiệp
+ Thu về vi phạm hợp đồng kinh tế
+ Khoản nợ khó đòi xử lý vào lỗ kinh doanh nay bỗng dưng thu được...
Nhu vậy, ta xác định được chỉ tiêu tổng hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp (lợi nhuận trước thuế) theo công thức:
Tổng HQKD= HQKD từ hoạt động SXKD+HQKD từ hoạt động TC+
HĐKD từ hoạt động khác
Theo quy định về quản lý tài chính nhà nước thì mọi tổ chức, cá nhân có
hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc có thu nhập nhất định phải có nghĩa vụ đóng
một khoản nhất định vào ngân sách nhà nước, khoản đó gọi là thuế thu nhập doanh
nghiệp (trước đây là thuế lợi tức). Phần lợi nhuận còn lại sau khi doanh nghiệp nộp
thuế thu nhập doanh nghiệp được gọi là lợi nhuận ròng (lợi nhuận sau thuế), đây
mới là khoản mà doanh nghiệp thực sự được hưởng, doanh nghiệp có thể dùng để:
Bảo toàn vốn, lập các quỹ doanh nghiệp, chia lãi liên doanh, tái sản xuất giản đơn,
tái sản xuất mở rộng....
1.3 - Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh:
Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh toàn bộ hiệu
quả của quá trình kinh doanh kể từ lúc bắt đầu tìm kiếm nhu cầu thị trường, chuẩn
bị và tổ chức quá trình sản xuất - kinh doanh đến khâu tổ chức bán hàng và dịch
vụ cho thị trường. Hiệu quả kinh doanh là thước đo phản ánh cả mặt lượng và mặt
chất. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chịu tác động hỗn hợp của nhiều
nhân tố:
Nhân tố thứ nhất là nhân tố quy mô sản xuất hàng hóa của doanh nghiệp tức là
nhân tố sản lượng hàng hóa tiêu thụ. Nếu trong điều kiện giá bán đơn vị sản phẩm
không thay đổi thì khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ tăng lên, doanh thu
của doanh nghiệp tăng lên, điều đó có thể tạo điều kiện cho lợi nhuận cũng tăng
lên.
Như chúng ta đã biết quan hệ cung cầu về hàng hóa trên thị trường thay đổi
sẽ làm cho giá cả sản phẩm thay đổi. Mặt khác nhu cầu thị trường là có hạn. Nếu
như cung sản phẩm của doanh nghiệp lớn hơn cầu sản phẩm của thị trường, buộc
doanh nghiệp phải hạ giá bán dẫn đến giảm doanh thu, doanh thu không bù đắp chi
phí, tức là lỗ hoặc là không có lợi nhuận.
Vậy đối với nhân tố sản lượng, doanh nghiệp cần nắm thông tin thị trường
một cách chính xác về nhu cầu sản phẩm thì mới có thể tăng được lợi nhuận của
doanh nghiệp lên.
Nhân tố thứ hai là nhân tố giá thành sản xuất: Giá thành sản phẩm là biểu hiện
bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh nghiệp để hoàn thành việc sản xuất ra sản
phẩm mang tiêu thụ. Giá cả và chất lượng các yếu tố đầu vào gồm: Lao động,
nguyên vật liệu, máy móc thiết bị... và phương tiện kết hợp các yếu tố đầu vào
trong quá trình sản xuất kinh doanh sẽ quyết định trực tiếp đến chi phí sản xuất
doanh nghiệp phải chi ra. Do đó có tác dụng trực tiếp đến lợi nhuận cuả doanh
nghiệp và có tác động ngược chiều. Nếu giá thành càng tăng, lợi nhuận càng giảm.
Nhân tố thứ ba là nhân tố giá bán hàng hóa dịch vụ cùng toàn bộ các hoạt động
nhằm thúc đầy quá trình bán hàng, tiêu thụ sản phẩm và thu hồi vốn, đặc biệt là
hoạt động marketing và công tác tài chính doanh nghiệp. Do giá bán đơn vị sản
phẩm chính là doanh thu tiêu thụ đơn vị sản phẩm nên trong điều kiện giá thành và
chất lượng đơn vị sản phẩm không đổi, giá bán tăng sẽ làm doanh thu tăng từ đó
làm tăng hiệu quả kinh doanh. Nhưng trên thực tế, doanh nghiệp không nên và
không thể đưa giá bán sản phẩm của mình lên trên giá chung của thị trường mà
trái lại xu hướng hiện nay là: Lấy giá bán làm chiến lược để chiến thắng trong
cạnh tranh, bằng cách hạ giá bán trên cơ sở tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành,
đẩy mạnh tiêu thụ, nhằm tăng doanh thu dẫn đến tăng hiệu quả kinh doanh. Đó là
một chính sách hết sức tiến bộ, đúng đắn, cũng là một trong những hướng cơ bản
để giả bài toán “hiệu quả kinh doanh” cho nhà quản trị doanh nghiệp.
Nhân tố thứ tư là nhân tố kết cấu mặt hàng: Trong điều kiện kinh tế thị trường,
sản xuất cái gì và sản xuất bao nhiêu là do thị trường quyết định. Do đó kết cấu
mặt hàng của doanh nghiệp phải thay đổi thường xuyên theo yêu cầu của thị
trường, nhằm đảm bảo việc sản xuất, tiêu thụ, thực hiện lợi nhuận được ổn định.
Và nếu doanh nghiệp tăng được các mặt hàng có tỷ suất lợi nhuận cao, giảm các
mặt hàng có tỷ suất lợi nhuận thấp sẽ tăng được lợi nhuận của doanh nghiệp.
Nhân tố thứ năm là những nhân tố về nguồn lực ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu
quả kinh doanh đó là đầu tư phát triển: nhân lực, thiết bị, công nghệ là những vấn
đề mà doanh nghiệp luôn luôn cần chú trọng và rà soát để có hướng kịp thơì với
kinh tế thị trường nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh.
Nhân tố thứ sáu mang tính khách quan nhưng cũng có ảnh hưởng không nhỏ
đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đó là thuế phải nộp cho ngân sách Nhà
nước. Nếu cố định các yếu tố khác mà thuế tăng thì tất yếu lợi nhuận giảm và
ngược lại.
Tóm lại: do tính chất tổng hợp của hiệu quả kinh doanh, cho nên doanh
nghiệp muốn có lợi nhuận cao phải luôn có chiến lược và phương án kinh doanh
tổng hợp, đồng bộ để không ngừng phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế
những ảnh hưởng tiêu cực của các nhân tố trên, nhằm đạt được mục tiêu kinh
doanh là hiệu quả kinh doanh và tối đa hoá lợi nhuận.
1.4 Ý nghĩa của Hiệu quả kinh doanh
Đối với xã hội: Hiệu quả kinh doanh là động lực phát triển đối với toàn bộ nền
kinh tế nói chung. Nhà nước thông qua chỉ tiêu lợi nhuận để đánh giá hiệu quả sản
xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp và quản lý doanh nghiệp bằng nhiều công
cụ, trong đó có công cụ thuế. Thông qua việc thu thuế lợi tức (nay là thuế thu nhập
doanh nghiệp) Nhà nước tạo lập được quỹ ngân sách Nhà nước - một khâu quan
trọng trong hệ thống tài chính - đóng vai trò là một nguồn vốn trong xã hội, từ đó
Nhà nước có thể thực hiện vai trò quản lý tài chính nhà nước của mình như đầu tư
vào các ngành mũi nhọn, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (xây dựng đường xá, cầu
cống, điện nước...) góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện cho các
ngành kinh tế khác phát triển, thực hiện chức năng quản lý đất nước, giữ vững an
ninh trật tự an toàn xã hội, tăng cường phúc lợi xã hội...
Đối với doanh nghiệp: Hiệu quả là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Hiệu quả giữ một vị trí hết sức quan trọng trong điều kiện hạch toán kinh
doanh theo cơ chế “lấy thu bù chi và đảm bảo có lãi” thì doanh nghiệp có tồn tại
và phát triển được hay không điều đó phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có tạo ra
được lợi nhuận và nhiệu lợi nhuận hay không? Với ý nghĩa và kết quả , mục đích,
động lực, đòn bẩy của sản xuất - kinh doanh, lợi nhuận được xem là thước đo cơ
bản và quan trọng nhất, đánh giá hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp. Hiệu quả có
tác động đến tất cả các hoạt động, quyết định trực tiếp đến tình hình tài chính của
doanh nghiệp. Thực hiện tốt chỉ tiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo
cho tình hình tài chính của doanh nghiệp lành mạnh, vững chắc bởi mức lợi nhuận
thực hiện cao hay thấp sẽ quyết định khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt hay
không tốt, trên cơ sở đó tăng thêm uy tín của doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi
cho các kỳ kinh doanh tiếp theo. Vậy có thể kết luận đối với doanh nghiệp phấn
đấu cải tiến hoạt động sản xuất, quản lý tốt các yếu tố chi phí làm cho giá thành
sản phẩm của doanh nghiệp hạ, doanh nghiệp có điều kiện hạ giá bán, tăng sức
cạnh tranh cho sản phẩm hàng hóa của mình dẫn đến đẩy mạnh tiêu thụ, tăng thu
lợi nhuận một cách trực tiếp. Ngược lại, nếu giá thành tăng sẽ làm giảm lợi nhuận
của doanh nghiệp. Cho nên có thể nói, lợi nhuận có vai trò phản ánh chất lượng
hoạt động sản xuất - kinh doanh, là một căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xem
xét điều chỉnh hoạt động của mình đi đúng hướng. Ngoài ra lợi nhuận còn có vai
trò là nguồn tích luỹ để doanh nghiệp bổ sung vốn vào quá trình sản xuất, trích lập
các quỹ doanh nghiêp theo quy định như: Quỹ phát triển kinh doanh, quỹ dự trữ,
quỹ khen thường, phúc lợi... từ các quỹ này giúp doanh nghiệp có điều kiện bổ
sung vốn, thực hiện tái sản xuất mở rộng, đầu tư chiều sâu, đổi mới hiện đại hoá
máy móc thiết bị, tăng quy mô sản xuất, cũng như nâng cao đời sống cho cán bộ
công nhân viên trong doanh nghiệp...vv.
Đối với cá nhân người lao động: Việc tăng được lợi nhuận của doanh nghiệp
sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp bổ sung vào các quỹ doanh nghiệp, tăng quỹ
khen thưởng phúc lợi, trợ cấp mất việc làm...vv từ đó giúp việc tái sản xuất sức
lao động được tốt hơn, tăng được năng suất lao động cũng như tạo điều kiện nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.
2. - CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
2.1 - Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp nhằm đạt kết quả cao nhất trong quá
trình kinh doanh với tổng chi phí thấp nhất.
Để đánh giá chính xác, có cơ sở khoa học hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp
và các chỉ tiêu bộ phận. Các chỉ tiêu đó phải phản ánh được sức sản xuất, suất hao
phí cũng như sức sinh lời của từng yếu tố, từng loại vốn.
Kết quả đầu ra
Hiệu quả kinh doanh =
Yếu tố đầu vào
Trong tổ chức hạch toán kế toán doanh nghiệp cần phân biệt 3 chỉ tiêu lợi
nhuận trong kinh doanh sau:
- Lợi nhuận gộp (LG)
- Lợi nhuận thuần trước thuế (LT)
- Lợi nhuận thuần sau thuế hay lãi ròng (L)
 Lợi nhuận gộp (LG): là tổng lãi chưa trừ đi các khoản chi phí bán hàng, chi
phí quản lý doanh nghiệp:
LG = G - GT - CZ 2 (1)
Trong đó:
2
Nguồn : Giáo trình Phân tích hoạt động kinh tế-Trường ĐHKTQD-NXB GD-1997 Tr.191
G : Tổng doanh thu bán hàng
GT : Các khoản giảm trừ (GT)
CZ : Tổng giá vốn hạch toán
Hoặc: LG = DT - CZ (2)
Trong đó:
DT : Tổng doanh thu thuần
Mà:
Tổng doanh thu thuần = Tổng doanh thu bán hàng - Các khoản giảm trừ
Trong thực tế có 4 khoản giảm trừ:
- Chiết khấu thương mại:Là tiền thưởng cho người mua do trong một lần mua đã
mua một khối lượng hàng lớn của doanh nghiệp. Khoản tiền này tính trên giá
đơn vị hàng bán ra trong thời gian này.
- Giảm giá hàng ngoài hóa đơn: là khoản tiền giảm giá do một số nguyên nhân
như giao hàng không đúng tiến độ, không đúng địa điểm, không đúng quy cách
phẩm chất.
- Hàng bán bị trả lại.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu.
Từ công thức (1) ta có:
Lợi nhuận gộp có thể tính theo công thức:
LG = Q’i(Pi - GTi - Zi) (3)
Trong đó:
Q’i : Tổng lượng sản phẩm tiêu thụ của sản phẩm i
Zi : Giá vốn tính trên 1 đơn vị sản phẩm tiêu thụ của sản phẩm i
GTi : Khoản giảm trừ tính trên 1 đơn vị sản phẩm của sản phẩm i
Pi : Giá bán 1 đơn vị sản phẩm của sản phẩm i
Từ công thức (2) ta có:
Lợi nhuận gộp có thể tính theo công thức:
LG = Q’i(DTi - Zi) (4)
Trong đó:
DTi : là doanh thu thuần của 1 đơn vị sản phẩm i
Chú ý: Khi phân tích lãi người ta thường hay áp dụng công thức (3) và (4)
 Lợi nhuận thuần trước thuế (LT): là chỉ tiêu lãi sau khi đã trừ chi phí các
khoản chi phí bán hàng và chi phí quản lý hay là chỉ tiêu lãi sau khi trừ đi chi
phí tiêu thụ:
LT = G - GT - CZ - C 3 (5)
Trong đó:
C : là tổng chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Hay: LT = DT - CZ - C (6)
LT = Q’i(Pi - GTi - Zi - Ci) (7)
LT = Q’i(DTi - Zi - Ci) (8)
 Lợi nhuận thuần (L): là chỉ tiêu lãi sau khi đã trừ đi thuế lợi tức hay thuế thu
nhập doanh nghiệp nộp ngân sách nhà nước:
L = G - GT - Cz - C -T (9)
Trong đó:
T : là tổng thuế lợi tức nộp ngân sách nhà nước trong kỳ
3
Nguồn : Giáo trình Phân tích hoạt động kinh tế-Trường ĐHKTQD-NXB GD-1997 Tr.210
Mà: DT = G - GT
Nên: L = DT - CZ - C -T (10)
L = Q’i(Pi - GTi - Zi - Ci - Ti) (11)
L = Q’i(DTi- Zi - Ci - Ti) (12)
Chú ý: Người ta thường phân tích lãi theo công thức (11) và (12)
2.2 - Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận
 Hiệu quả sử dụng vốn
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có một
lượng vốn nhất định bao gồm vốn cố định, vốn lưu động và vốn chuyên dùng khác
(quỹ công ty, vốn xây dựng cơ bản,...). Doanh nghiệp có nhiệm vụ tổ chức, huy
động các loại vốn cần thiết cho nhu cầu kinh doanh của mình. Đồng thời, tiến hành
phân phối, quản lý và sử dụng số vốn hiện có một cách hợp lý, có hiệu quả nhất
trên cơ sở chấp hành các chế độ chính sách quản lý kinh tế tài chính và kỷ luật
thanh toán của nhà nước.
Để nắm được hiệu quả sử dụng vốn, người phân tích phải sử dụng rất nhiều
tài liệu khác nhau, trong đó chủ yếu là các báo cáo tài chính của doanh nghiệp
gồm :
- Bảng cân đối kế toán (Bảng tổng kết tài sản) bao gồm 2 phần: Tài sản và nguồn
vốn
+ Phần "tài sản" cho phép đánh giá tổng quát năng lực và trình độ sử dụng tài
sản. Nó thể hiện số tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền quản lý, sử dụng lâu
dài gắn với mục đích thu được các khoản lợi ích trong tương lai.
+ Phẩn "Nguồn vốn" cho ta thấy được thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
Nó thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh
doanh với nhà nước.
- Báo cáo kết quả kinh doanh tóm lược các khoản doanh thu, chi phí và kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Các chỉ tiêu chủ yếu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp:
- Doanh thu theo vốn: là chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất của vốn sản xuất kinh
doanh.
Tổng doanh thu
Doanh thu theo vốn =
Tổng vốn sản xuất kinh doanh
Doanh thu theo vốn có thể chia làm doanh thu theo vốn cố định và doanh thu
theo vốn lưu động:
+ Doanh thu theo vốn cố định: là chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất của tài sản cố định
(một đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định đem lại mấy đồng doanh thu thuần). Chỉ
tiêu này có thể tính theo cách sau:
Tổng doanh thu thuần
Doanh thu theo vốn
(Hoặc giá trị tổng sản lượng)
cố định =
Nguyên giá bình quân tài sản cố định
+ Doanh thu theo vốn lưu động: là chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất của vốn lưu động
(một đồng vốn lưu động bình quân đem lại mấy đồng doanh thu thuần). Chỉ tiêu này có
thể tính theo cách sau:
Tổng doanh thu thuần
Doanh thu theo vốn
(Hoặc giá trị tổng sản lượng)
lưu động =
Vốn lưu động bình quân
+Tỉ lệ lợi nhuận theo vốn : là chỉ tiêu phản ánh sức sinh lợi của vốn sản xuất kinh
doanh
Tỉ lệ lợi nhuận theo Tổng lợi nhuận thuần (Hay lãi gộp)
=
vốn Tổng vốn kinh doanh sản xuất
Lợi nhuận theo vốn có thể chia làm lợi nhuận theo vốn cố định và lợi nhuận
theo vốn lưu động:
+ Lợi nhuận theo vốn cố định: là chỉ tiêu phản ánh sức sinh lợi của tài sản cố
định (một đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định đem lại mấy đồng lợi
nhuận). Chỉ tiêu này có thể tính theo cách sau:
Lợi nhuận theo vốn Tổng lợi nhuận thuần (Hay lãi gộp)
=
cố định Nguyên giá bình quân tài sản cố định
+ Lợi nhuận theo vốn lưu động: là chỉ tiêu phản ánh sức sinh lợi của vốn lưu động
(một đồng vốn lưu động bình quân đem lại mấy đồng lợi nhuận thuần). Chỉ tiêu này có
thể tính theo cách sau:
Lợi nhuận theo vốn Tổng lợi nhuận thuần (Hay lãi gộp)
=
lưu động Vốn lưu động bình quân
- Số vòng quay của vốn lưu động (Hệ số luân chuyển): là chỉ tiêu cho biết
vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ. Nếu số vòng quay tăng,
chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại. Hệ số này được tính theo
công thức:
Số vòng quay của Tổng doanh thu thuần
=
vốn lưu động Vốn lưu động bình quân
Thời gian của một vòng luân chuyển thể hiện số ngày cần thiết cho vốn
lưu động quay được một vòng. Thời gian của 1 vòng luân chuyển càng
nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn:
Thời gian của một Thời gian của kỳ phân tích
=
vòng luân chuyển Số vòng quay của vốn lưu dộng trong kỳ
- Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động: là chỉ tiêu cho biết để có một đồng
luân chuyển thì cần mấy đồng vốn lưu động:
Hệ số đảm nhiệm Vốn lưu động bình quân
=
vốn lưu động Tổng doanh thu thuần
 Hiệu quả sử dụng lao động:
Số lượng và chất lượng lao động là một trong những yếu tố cơ bản quyết định
quy mô kết quả sản xuất kinh doanh. Sử dụng tốt nguồn lao động, biểu hiện trên
các mặt số lượng và thời gian lao động, tận dụng hết khả năng lao động kỹ thuật
của người lao động là một yếu tố hết sức quan trọng làm tăng khối lượng sản