Đề tài công nghệ sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ lá lục bình, lá buông, bẹ chuối, lá dừa

  • 39 trang
  • file .pdf
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam vốn có truyền thống từ lâu đời, truyền
thống đó gắn liền với tên những làng nghề, phố nghề và được biểu hiện bằng những
sản phẩm thủ công với những nét tinh xảo, độc đáo, hoàn mỹ... Nhiều nghề và làng
nghề truyền thống của ta đã nổi bật lên trong lịch sử văn hoá, văn minh Việt Nam.
Ở đó không chỉ tập trung sản xuất lớn hoặc khá lớn, mà còn là nơi hội tụ các thợ và
nghệ nhân tài khéo tạo nên những sản phẩm có bản sắc riêng.
Nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ nói chung và sản xuất hàng thủ
công mỹ nghệ từ cây Lục bình, bẹ chuối, lá Buông,... cho đến nay vẫn là nghề
thủ công truyền thống, về bản chất nghệ thuật hàng thủ công mỹ nghệ là vô cùng
tinh tế và được truyền dạy rộng rãi. Các sản phẩm rất đa dạng được người tiêu
dùng trong nước ưa chuộng và xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới như Mỹ,
Nhật, Đức, Pháp,...... Hiện nay, những mặt hàng đang được ưa chuộng là: giỏ
sách, bàn ghế, lọ hoa, rèm cửa,...
Từ những yêu cầu trên, việc lựa chọn công nghệ và dây chuyền thiết bị
PTBV áp dụng cho các HTX sản xuất mặt hàng thủ công mỹ nghệ nói chung và
các HTX sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ lá lục bình, lá buông, bẹ chuối, lá
dừa là hết sức cần thiết.
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SẢN
PHẨM THỦ CÔNG MỸ NGHỆ TỪ LÁ LỤC BÌNH, LÁ BUÔNG, BẸ CHUỐI,
LÁ DỪA
I.1. Một số vấn đề về sản phẩm thủ công mỹ nghệ (TCMN)
1. Khái niệm về sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống là mặt
hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống là mặt hàng có quy trình sản xuất thủ công
là chủ yếu, được truyền từ đời này qua đời khác, vừa có giá trị sử dụng, vừa có
giá trị thẩm mỹ và thể hiện được nét văn hóa đặc sắc của dân tộc.
2. Một số yêu cầu đối với sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ:
Đối với mỗi sản phẩm, để được xếp vào“mặt hàng thủ công mỹ nghệ
truyền thống” cần mang những đặc điểm sau:
+ Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta:
Quá trình phát triển của các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống này
luôn gắn với những thăng trầm trong lịch sử của xã hội Việt Nam. Những kỹ
năng, kinh nghiệm sản xuất được đúc rút và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác và trở thành một nghề tồn tại độc lập, thậm chí thay thế cho nghề nông ở
những làng nghề này.
+ Được sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề:
Sự ra đời của các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống lúc đầu là để
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của từng gia đình, đồng thời giải quyết lao động dư
thừa, nhàn rỗi giữa các mùa vụ. Sau xuất hiện những gia đình chuyên làm nghề
thủ công và sản phẩm của họ phục vụ trực tiếp cho sản xuất và nhu cầu tiêu
dùng của dân trong làng. Song đa phần những gia đình này vẫn tham gia sản
xuất nông nghiệp ở mức độ nào đó. Tính tới năm 2005, cả nước có tới 2017 làng
nghề, trong đó làng nghề ở Bắc Bộ chiếm tới 63%, đặc biệt vùng châu thổ sông
Hồng chiếm tới 43% số làng nghề trên toàn quốc.
+ Có nhiều nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề:
Việc sản xuất mỗi mặt hàng thủ công truyền thống đều có các nghệ nhân
và đội ngũ thợ lành nghề, có kỹ thuật tinh xảo làm hạt nhân để phát triển. Mỗi
làng nghề thường có một ông Tổ nghề là người truyền bí quyết, kỹ thuật nghề.
2
Phương thức dạy nghề chủ yếu là truyền nghề, kèm cặp của người thợ cả đối với
thợ học việc.
+ Công nghệ sản xuất mang tính thủ công:
Việc sản xuất sản phẩm thủ công truyền thống chủ yếu dựa vào đôi bàn
tay khéo léo của người thợ. Cho tới nay vẫn chỉ có một số mặt hàng có khả năng
cơ giới hóa được một số công đoạn sản xuất. Nhưng có thể nói, chính đặc điểm
này đã đem lại sự quý hiếm cho các sản phẩm thủ công truyền thống. Đặc biệt là
thủ công mỹ nghệ chính là ở lao động thủ công, ở tâm hồn và sự sáng tạo của
người thợ được thể hiện trong chính mỗi sản phẩm.
+ Độc đáo và tiêu biểu của Việt Nam:
Mỗi sản phẩm thủ công là một tác phẩm nghệ thuật, vừa có giá trị sử
dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ, nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ tiêu dùng, vừa là
vật trang trí trong nhà, đền chùa, nơi công sở… Các sản phẩm đều là sự kết hợp
giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. Hàng thủ công
truyền thống đều mang tính cá biệt và có sắc thái riêng của mỗi làng nghề. Mang
vóc dáng dân tộc, quê hương và chứa đựng trong nó những ảnh hưởng văn hóa
tinh thần, quan niệm nhân văn, tín ngưỡng tôn giáo của dân tộc.
I.2. Một số vấn đề về nguyên liệu sản xuất sản phẩm TCMN
1. Lục Bình:
Cây bèo tây xuất xứ từ châu Nam Mỹ, du nhập Việt Nam khoảng năm
1905, do đó trong tiếng Việt mới có tên bèo tây. Còn tên bèo Nhật Bản vì có
người cho là mang từ Nhật về. Lộc bình do cuống lá phình lên giống lọ lộc bình.
Phù bình vì nó nổi trên mặt nước.
Cây bèo tây mọc cao khoảng 30 cm với dạng lá hình tròn, màu xanh lục,
láng và nhẵn mặt, gân lá hình cung dài, hẹp. Lá cuốn vào nhau như những cánh
hoa. Cuống lá nở phình ra như bong bóng xốp ruột giúp cây bèo nổi trên mặt
nước. Ba lá đài giống như ba cánh. Rễ bèo trông như lông vũ sắc đen buông rủ
xuống nước, dài đến 1m. Sang hè cây bèo nở hoa sắc tím nhạt, điểm chấm màu
lam, cánh hoa trên có 1 đốt vàng. Có 6 nhụy, gồm 3 dài 3 ngắn. Bầu thượng 3 ô
đựng nhiều noãn, quả nang. Dò hoa đứng thẳng đưa hoa vươn cao lên khỏi túm
3
lá. Cây bèo tây sinh sản rất nhanh nên dễ làm nghẽn ao hồ, kinh rạch. Một cây
mẹ có thể đẻ cây con, tăng số gấp đôi mỗi 2 tuần. Sống ở cả trên cạn và dưới
nước. Cây bèo tây có công dụng sản xuất sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ. Xơ
lục bình phơi khô có thể chế biến để dùng bện thành dây, thành thừng rồi dệt
thành chiếu, hàng thủ công, hay bàn ghế.
Hình 1.1: Cây lục bình sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
2. Bẹ Chuối:
Chuối là tên gọi các loài cây thuộc chi Musa; trái của nó là trái cây được
ăn rộng rãi nhất. Những cây này có gốc từ vùng nhiệt đới ở Đông Nam Á và Úc.
Ngày nay, nó được trồng khắp vùng nhiệt đới. Chuối được trồng ở ít nhất 107
quốc gia. Vì cây thường mọc lên cao, thẳng, và hơi vững, nó thường bị lầm lẫn
với thân cây thật, trong khi "thân" chính của nó là một "thân giả". Thân giả của
một số loài có thể cao tới 2–8 m, với lá kéo dài 3,5 m. Mỗi thân giả có thể ra 1
buồng chuối màu vàng, xanh, hay ngay cả màu đỏ, trước khi chết và bị thay
bằng thân giả mới. Quả của những cây chuối dại có nhiều hột lớn và cứng.
Ngoài việc trồng và bán chuối trái, những năm gần đây, người dân còn lột phơi
và bán bẹ chuối, cho thu nhập đáng kể. Sau khi chuối trổ, chặt buồng bán, bà
con tận dụng được cây chuối bằng cách lột thành từng bẹ, phơi khô rồi bán. Một
cây chuối bình quân lột được 15 đến 20 bẹ, những cây to có thể lên 25 bẹ.
Những nhà có diện tích chuối nhiều sẽ có thu nhập thêm vài triệu đồng từ nguồn
bẹ chuối khô. Được biết, sau khi mua gom được số lượng lớn, thương lái sẽ
4
dùng xe tải chở bẹ chuối bán cho các cơ sở sản xuất sản phẩm mỹ nghệ để đan
lát, chế biến thành sản phẩm mỹ nghệ rồi xuất khẩu.
Hình 1.2: Nguyên liệu bẹ chuối
3. Lá Buông:
Cây buông, còn gọi là cây sóng lá, thuộc họ cọ, phát triển tốt ở một số khu
vực với những điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp ở vùng Đông Nam Á.
Cây buông ưa nắng nhưng lại chỉ sống ở những nơi có độ ẩm tương đối cao (từ
80% trở lên) và rất khó nhân giống. Mặt khác, chu kỳ sinh trưởng của cây kéo
dài, từ khi quả chín đến khi nảy mầm có thể từ 4 - 5 năm. Vì vậy, ngay ở Việt
Nam, cây buông cũng chỉ mọc tập trung và phát triển tốt ở một số khu vực thuộc
các tỉnh như Gia Lai, Đắc Lắc, Bình Thuận và Khánh Hòa. Tuổi thọ trung bình
của cây buông thường kéo dài từ 15 - 25 năm. Hàng năm, mỗi cây buông có thể
cho từ 4 - 8 búp lá (đây là sản phẩm chính của cây). Giai đoạn cho sản phẩm
thường kéo dài từ 10 - 15 năm. Nếu bảo vệ và khai thác một cách hợp lý, thời
gian cho sản phẩm có thể kéo dài đến 20 năm. Mỗi búp buông của một cây
trưởng thành có thể nặng từ 10 - 20kg, dài từ 1 - 4m.
Hình 1.3: Cây buông
5
Cây buông cung cấp hai bộ phận có giá trị sử dụng độc đáo và giá trị kinh
tế cao, đó là bẹ lá và búp lá. Bẹ lá là hai phần mép của một tàu lá buông trưởng
thành, bề rộng từ 2 - 5cm, có độ cứng và độ đàn hồi tốt, bền với thời tiết, nhiệt
độ và rất bền về cơ học. Bẹ buông có thể sử dụng để chế tác một số sản phẩm
mỹ nghệ và gia dụng rất có giá trị như muỗng, đũa… Tuy nhiên, búp lá buông
mới là bộ phận tạo ra sản phẩm có giá trị nhất. Các tàu lá non mới ra khoảng 3 -
4 tháng, khi tươi có màu xanh nhạt nõn chuối, khi phơi khô có màu trắng sữa, là
nguyên liệu để sản xuất hàng trăm sản phẩm thủ công mỹ nghệ có giá trị tiêu thụ
nội địa và xuất khẩu cao như chiếu, giỏ xách, mũ, khay, thảm…
Hình 1.4: Lá buông
4. Lá Dừa:
Dừa nước là loài duy nhất trong họ Cau sinh sống trong đầm lầy. Loài dừa
nước, duy nhất trong chi Nypa, sinh trưởng tại miền nam châu Á và bắc Úc. Hoá
thạch của phấn hoa dừa nước đã được xác định niên đại đến 70 triệu năm về
trước. Thân cây dừa nước mọc ngang dưới lòng đất, chỉ có lá và cuống hoa mọc
lên trên mà thôi. Vì vậy, nó không được xem như một loại cây gỗ, mặc dù tán lá
có thể cao đến 9 mét. Hoa cái nở rộ thành chùm ở đầu cụm hoa hình cầu, hoa
đực màu đỏ hoặc vàng dạng đuôi sóc trên những nhánh kế sau. Khi hoa đã thụ
phấn, những trái nhỏ ép vào nhau lớn lên thành như một quả bóng đường kính
cỡ 25–30 cm trên mỗi đầu cuống (quài dừa). Hạt dừa nước khô già sẽ rơi rụng
và phân tán theo thuỷ triều, có khi mọc mầm ngay khi trôi nổi.
Dừa nước mọc trong những vùng sình lầy dọc theo bờ sông, hay vùng ven
cửa biển có thủy triều lên xuống, có nước chảy chậm bồi đắp phù sa dinh dưỡng.
Nếu để tự nhiên, dừa nước sẽ phát tán sinh sôi nảy nở theo sự đưa đẩy của thủy
lưu. Dừa nước rất thường gặp dọc theo bờ biển và các cửa sông đổ vào Ấn Độ
6
Dương và Thái Bình Dương, từ Bangladesh tới các hải đảo Thái Bình Dương.
Loài dừa nước có thể sống còn qua một thời kỳ khô ráo ngắn hạn.
Lá dừa nước được dùng nhiều nhất vào việc chầm lá để lợp nhà, làm rổ rá, rất
phổ thông ở những vùng Nam Bộ Việt Nam và nhiều địa phương của các nước
lân cận. Lá dừa nước thật non còn dược dùng để làm giấy vấn thuốc lá. Ở Việt
Nam, nông dân ngày nay mới chỉ sử dụng trái dừa nước để ăn và lá để lợp nhà
hay làm củi. Phải đến năm thứ 4 hoặc thứ 5 cây mới đơm hoa cho trái. Thời gian
này sẽ kéo dài đến năm thứ 55 trở lên, nghĩa là mỗi cây dừa nước có thể khai
thác liên tục trên 50 năm.
Lá dừa: Mỗi cây trưởng thành thường mang 25-40 tàu lá. Mỗi tàu lá
trưởng thành có chiều dài trung bình 4-6m, được chia làm 2 phần:
- Phần cuống: Là phần không có lá chét, lồi ở mặt dưới, bằng hoặc hơi
lõm ở mặt trên. Phía đáy phình rộng và dẹt hơn ôm chắc lấy thân cây.
- Phần mang lá: Mang khoảng 90-200 lá chét mỗi bên, phần lá chét ở 2
bên không đối xứng nhau hoàn toàn (chênh nhau khoảng 5-10 lá chét). Khi tàu
lá rụng sẽ để lại sẹo trên thân cây trơn nhẵn. Đỉnh sinh trưởng liên tục sản xuất
lá, 14-18 lá/1 năm. ở những nơi đất đai cằn cỗi, việc sản xuất lá khó khăn và
chậm hơn. Tuổi thọ trung bình của mỗi tàu lá là 5 năm: 2.5 năm kể từ khi hình
thành đến khi xuất hiện, và 2.5 từ khi xuất hiện đến khi khô-rụng. Những tàu lá
khô sẽ mất thời gian rụng lâu hơn bình thường nếu cây bị khô hạn, thiếu nước.
7
I.3. Sản xuất sản phẩm TCMN tại một số nước
Tại một số nước như Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc.. đã xây dựng các
phong trào thi đua phát triển nghề thủ công truyền thống nói chung trong đó có
nghề thủ công mỹ nghệ từ nguyên liệu cây Lục Bình, Bẹ Chuối, ...... Hiện tại,
Nhật Bản và Thái Lan đã có phong trào “mỗi làng một sản phẩm”, đem lại nhiều
lợi thế cho người sản xuất và xuất khẩu ra thế giới. Tại Nhật Bản đang thúc đẩy
phát triển các sản phẩm thủ công đặc trưng của mỗi vùng. Tuy nhiên, trong quá
trình tiến hành công nghiệp hoá, ngành nghề thủ công truyền thống Nhật Bản bị
phân hoá và phát triển theo hai hướng: một số ngành tiểu thủ công nghiệp đi lên
CNH (chiếm ưu thế); một số khác tiếp tục theo hướng thủ công truyền thống.
Trong khi đó hàng thủ công TTCN truyền thống Nhật Bản mất dần khả năng
cạnh tranh so với hàng tiêu dùng sản xuất bằng công nghiệp, lại vấp phải hàng
loạt khó khăn về thông tin thị trường, tiêu thụ, nguồn nguyên vật liệu tự nhiên,
vấn đề ô nhiễm môi trường, nguồn nhân lực bị hút ra thành thị, vào các ngành
sản xuất hiện đại hoá ... Tại Thái Lan, Chính phủ hỗ trợ để mỗi làng làm ra một
sản phẩm tiêu biểu, đặc trưng và có chất lượng cao, chủ yếu hỗ trợ ở khâu tiếp
thị, xúc tiến bán hàng, huấn luyện và chuyển giao công nghệ cho nông dân.
Tại một số nước phát triển ở châu Á khác như Đài Loan, ...do có tiềm lực
về kinh tế, nên hầu hết các cơ sở sản xuất đều có điều kiện để đầu tư dây chuyền
công nghệ hiện đại và đồng bộ theo quy mô sản xuất công nghiệp để có thể tự
động kiểm soát các yếu tố kỹ thuật như thiết kế kiểu dáng, mẫu mã và đặc trưng
của từng loại hàng sản xuất truyền thống. Tuy nhiên, hiện nay các sản phẩm sản
xuất công nghiệp lại không được người tiêu dùng ưa chuộng. Theo xu thế hiện
nay, người tiêu dùng đang rất ưa chuộng các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được
sản xuất theo phương thức thủ công truyền thống do các sản phẩm này thường
có các họa tiết và mẫu mã tinh xảo, đây chính là điểm mạnh của công nghệ sản
xuất thủ công truyền thống.
I.4. Một số sản phẩm TCMN nghệ từ Lục bình, bẹ chuối, lá Buông
1. Túi bèo bồng làm từ cây Lục Bình, nguyên liệu tự nhiên, được làm thủ
công bằng tay:
8
Hình 1.6: Sản phẩm TCMN từ lục bình
2. Sản phẩm TCMN làm bằng bẹ chuối được làm thủ công bằng tay:
Hình 1.7: Đan bẹ chuối
3. Sản phẩm TCMN làm bằng lá buông được làm thủ công bằng tay:
9
Hình 1.8: Đan lá buông
Hình 1.9: sản phẩm từ buông
4. Sản phẩm TCMN làm bằng lá dừa được làm thủ công bằng tay:
Hình 1.10: Sản phẩm mỹ nghệ từ lá dừa
10
I.2. Quy trình công nghệ và thiết bị sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ cây
Lục Bình, Bẹ Chuối, Lá Buông,..
I.2.1. Quy trình công nghệ
Nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ cây Lục Bình, Bẹ Chuối, Lá
Buông là một nghề thủ công truyền thống, cha truyền con nối, học nghề từ gia
đình từ dòng họ vì vậy cho đến ngày nay quy trình công nghệ thực hiện chủ yếu
là thủ công nhưng cũng chính vì làm bằng tay nên hàng sản xuất của Việt nam
rất được các nước ưa chuộng, mỗi sản phẩm có những sắc thái riêng mang bản
sắc, sự khéo tay, óc thẩm mỹ của từng người làm ra nó, đó chính là kỹ thuật và
con người, chiếm 80% cấu thành của công nghệ.
Cho đến nay, tại các HTX và làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
từ cây Lục Bình, Bẹ Chuối, Lá Buông vẫn sản xuất các sản phẩm TCMN có chất
lượng, quy trình công nghệ như sau:
11
Chuẩn bị nguyên liệu
Xử lý nguyên liệu
Tạo khung, đan sản phẩm
Nhuộm màu
Phơi, sấy sản phẩm
Kiểm tra, xử lý sản
phẩm
Đóng thùng
Tiêu thụ sản phẩm
Sơ đồ 1.1: Quy trình công nghệ
Để có được sản phẩm có chất lượng cao thì chủ yếu lại nhờ kinh nghiệm
và sự khéo léo của người thợ đan lát, vì vậy các công đoạn còn lại chủ yếu là
thực hiện bằng phương pháp thủ công, phương pháp này chiếm tới 80% của
công nghệ.
12
Quá trình thực hiện, để tạo mẫu chỉ có một số hộ có kỹ thuật và có vốn là
thực hiện được, khâu kiểm tra đóng gói là do các đơn vị bao tiêu thực hiện, HTX và
người làm nghề chỉ làm công đoạn sản xuất ra các sản phẩm theo đơn đặt hàng.
I.2.2. Dây chuyền thiết bị
Do đặc thù là nghề sản xuất thủ công truyền thống, vì vậy các thiết bị sản
xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ cây Lục Bình, Bẹ Chuối, Lá Buông bao gồm:
- Máy cắt nguyên liệu;
- Máy ép nguyên liệu;
- Lò xử lý(nếu có);
- Thiết bị vi tính để tạo mẫu hoặc vẽ bằng tay trên giấy;
- Khung (khuôn tạo hình sản phẩm);
- Kim đan, kim móc;
- Dao, kéo;
- Đóng thùng,…..
I.2.3. Quy mô và phương thức sản xuất
Hiện nay, do hạn chế về tài chính nên hầu hết các HTX sản xuất hàng thủ
công mỹ nghệ đều có quy mô sản xuất nhỏ lẻ theo từng phường, xã và theo từng địa
phương. Công nghệ và thiết bị sản xuất vẫn chủ yếu là công truyền thống, hiệu suất
sử dụng thấp. Kỹ thuật và phương thức sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm là
chính vì vậy không đáp ứng được những hợp đồng có số lượng lớn. Chưa quan tâm
đúng mức đến đầu tư, cải tiến thiết bị sản xuất nhằm tăng hiệu quả cho việc sản xuất,
tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao tạo thế cạnh tranh trong xuất khẩu.
I.2.4. Đánh giá chung
Do tiềm lực về kinh tế còn hạn chế, mặt khác chưa nhận được sự hỗ trợ từ
các cơ quan, ban ngành, công nghệ sản xuất của HTX sản xuất hàng thủ công mỹ
nghệ từ cây Lục Bình, Bẹ Chuối, Lá Buông vẫn chủ yếu là công nghệ thủ công,
quy mô sản xuất nhỏ, năng suất thấp. Đây là một tồn tại lớn đối với các HTX hiện
nay, vì trong khu vực này có lực lượng lao động dồi dào, nhưng quy mô sản xuất
lại rất nhỏ, tổng giá trị sản phẩm thấp, vì vậy mà hầu hết các HTX chưa có điều
13
kiện để phát triển. Tuy nhiên, hiện nay cũng đã có một số HTX sản xuất hàng thủ
công mỹ nghệ từ những nguyên liệu này đã có những bước phát triển mạnh, tạo
thêm nhiều công ăn việc làm cho xã viên, từng bước phát triển mở rộng thị trường
xuất khẩu ra thế giới.
II. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SẢN PHẨM THỦ CÔNG MỸ
NGHỆ TỪ LÁ LỤC BÌNH, LÁ BUÔNG, BẸ CHUỐI, LÁ DỪA
II.1. Chuẩn bị nguyên liệu
Phần lớn nguyên liệu sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ cây Lục
bình, bẹ Chuối, lá Buông, .... được thu mua từ nhiều địa phương khác nhau.
Nguyên liệu tươi sau khi cắt được đem đi phơi nắng từ 2 đến 3 ngày, sau đó được bó
nhỏ lại để đem đi xông hưu huỳnh. Quá trình xông hưu huỳnh được thực hiện trong
thời gian khoảng 12 giờ. Nguyên liệu sau khi xông Lưu Huỳnh lại được đem đi phơi
nắng hoặc đưa vào buồng sấy để sấy rồi mới đưa vào để đan.
Hình 2.1: Chuẩn bị nguyên liệu lục bình
14
Hình 2.2: Phơi nguyên liệu tươi
Hình 2.3: Nguyên liệu khô
Hình 2.4: Nguyên liệu lá buông
Hình 2.5: Lá dừa
15
II.2. Xử lý nguyên liệu
Để có được những sản phẩm có độ tinh xảo, đẹp mắt, công đoạn xử lý
nguyên liệu là quan trọng nhất. Lục bình vớt từ dưới sông lên hoặc trồng phải có
độ dài tối thiểu 50cm, gốc phải trắng, không dính phèn. Trước khi đem phơi khô
phải cắt bỏ toàn bộ rễ, lá sau đó mới sơ chế.
Ngoài việc sử dụng nguyên liệu chọn lọc từ những cọng lục bình bảo đảm
chất lượng để làm nên những mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu có giá trị,
toàn bộ gốc, thân, rễ, lá của cây lục bình còn được sử dụng để làm vật liệu trồng
nấm, làm phân bón hữu cơ rất tốt. Quy trình công nghệ:
Máy cắt( cắt Buộc bó nhỏ đem
Nguyên liệu gốc, lá ngọn,..) phơi, sấy
Sản phẩm
Sơ đồ 2.2: Quy trình công nghệ xử lý lục bình
Hình 2.6: Nguyên liệu sau khi xử lý
16
Hình 2.7: Nguyên liệu
Đối với lá buông, bẹ chuối cũng được xử lý tương tự như lục bình để tạo
nguyên liệu cho các quy trình tiếp theo. Đối với là dừa thì không phơi sấy, lá để
tươi có độ dẻo để tạo hình sản phẩm.
Tách lá nhỏ Buộc bó nhỏ
Nguyên liệu
Sản phẩm
Sơ đồ 2.3: Quy trình công nghệ xử lý lá dừa
17
II.3. Tạo khung, đan sản phẩm
- Tạo khuôn đan: Khuôn đan được làm bằng tre, trúc hoặc bằng thép và
được đưa qua hệ thống sơn tĩnh điện để sơn. Tùy theo đơn đặt hàng mà khuôn
đan sản phẩm có hình dáng khác nhau.
Uốn, tạo hình Sơn tĩnh điện
Nguyên liệu (thép,
sắt,..)
Khung đan
Sơ đồ 2.4: Quy trình công nghệ tạo khuôn đan
Hình 2.8: Khung thép
18
Hình 2.9: Đan bẹ chuối
Máy trẻ trúc, Nan trúc, tre
Nguyên liệu(tre, tre
trúc,..)
Khuôn đan
Sơ đồ 2.5: Quy trình công nghệ tạo khuôn đan trúc, tre
- Đan sản phẩm: Nguyên liệu sau khi đã được xử lý được người thợ đan
thành nhiều các sản phẩm khác nhau tùy theo từng đơn đặt hàng.
Kỹ thuật đan lục bình thường đa dạng, có ba kiểu đan cơ bản. Kiểu thứ
nhất là đan hạt gạo, hay còn gọi là đan mắt na, kiểu thứ hai là đan xương cá và
kiểu thứ ba là đan rối, hay còn gọi là đan nhện. Mỗi kiểu đan thích hợp với mỗi
loại sản phẩm khác nhau. Thí dụ như kiểu xương cá thường được ứng dụng để
đan thảm, còn đan kệ để báo và tạp chí, người ta chỉ sử dụng kiểu đan hạt gạo.
19
Riêng đối với các loại sản phẩm đan khung, người ta có thể đan theo kiểu hạt
gạo hay đan rối đều được, trong đó, kiểu đan rối có vẻ đẹp hơn nhưng cũng khó
thực hiện hơn. Đến nay, kiểu đan này mới chỉ phổ biến ở vùng Cái Bè của Tiền
giang, còn ở các địa phương của Vĩnh Long chủ yếu ứng dụng hai kiểu đan hạt
gạo và đan xương cá.
Hình 2.10: Đan bẹ chuối
Hình 2.11: Đan lục bình
Hình 2.12: Đan lát các sản phẩm từ cây Lục Bình
20