Đao lan phuong.9 trang

  • 9 trang
  • file .pdf
Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch
HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÀI SẢN NGẮN HẠN
VÀ TÀI SẢN DÀI HẠN CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
TRONG LĨNH VỰC NÔNG LÂM NGHIỆP
Đào Lan Phương
ThS. Trường Đại học Lâm nghiệp
TÓM TẮT
Xác định giá trị doanh nghiệp trong đó có định giá tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn đóng vai trò quan
trọng và quyết định sự thành công của công tác cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Thực tiễn trong thời
gian vừa qua cho thấy quá trình áp dụng các phương pháp hiện hành để xác định giá trị tài sản trong các doanh
nghiệp nông lâm nghiệp nhà nước đang gặp khá nhiều khó khăn, lúng túng. Một trong những khó khăn đó là do
những tài sản này có những đặc thù riêng như thời gian hình thành tài sản kéo dài, chịu nhiều ảnh hưởng của
điều kiện tự nhiên, nhiều tài sản cũ, lạc hậu, ... Thông qua việc nghiên cứu quá trình định giá tài sản ngắn hạn,
tài sản dài hạn của doanh nghiệp nông lâm nghiệp theo Nghị định số 59/2011/NĐ - CP ngày 18/7/2011 của
Chính Phủ tác giả đã chỉ ra những thành công, những tồn tại khó khăn trong công tác này và đưa ra một số ý
kiến đề xuất góp phần hoàn thiện phương pháp và hoàn thiện việc vận dụng phương pháp xác định giá trị tài
sản ngắn hạn, tài sản dài hạn trong các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực nông lâm nghiệp.
Từ khóa: Doanh nghiệp nông lâm nghiệp, định giá, tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn
1. ĐẶT VẤN ĐỀ thiết cho công tác cổ phần hóa doanh nghiệp
nhà nước mà với sự ra đời của thị trường
Doanh nghiệp nhà nước trong nông lâm
chứng khoán, xác định giá trị doanh nghiệp
nghiệp có vai trò quan trọng trong nền kinh
sẽ là công việc thường xuyên diễn ra ở các
tế quốc dân. Các doanh nghiệp đã có những
doanh nghiệp. Do đó, nghiên cứu xác định
đóng góp không chỉ về mặt giá trị kinh tế, mà
quan trọng hơn là những giá trị về mặt xã hội, giá trị doanh nghiệp là hết sức cần thiết,
có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn đối với
môi trường, an ninh quốc phòng.... Tuy nhiên,
tiến trình đổi mới quản lý doanh nghiệp ở nước
đa số các doanh nghiệp nông lâm nghiệp ở
ta hiện nay cũng như trong tương lai.
nước ta hiện nay hoạt động không hiệu quả.
Chính phủ ban hành Nghị định
Một trong những nguyên nhân là do các doanh
số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 đã tháo gỡ
nghiệp phải đáp ứng quá nhiều mục tiêu của
một phần những khó khăn về phương pháp xác
Nhà nước, cơ chế quản lý, chính sách chưa phù
định giá trị cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên,
hợp. Mặt khác, trong doanh nghiệp nông lâm
đối với các doanh nghiệp nông lâm nghiệp có
nghiệp giá trị tài sản của doanh nghiệp
những đặc thù riêng so với các doanh nghiệp
chưa được xác định rõ ràng, chế độ phân phối
sản xuất kinh doanh thông thường nên đã gặp
thu nhập bất hợp lý, không phát huy được tính
phải không ít những bất cập trong quá trình
năng động, sáng tạo của người lao động. Cổ
vận dụng đặc biệt là phương pháp xác định giá
phần hóa các doanh nghiệp nhà nước nói
trị tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn. Vì vậy,
chung, cổ phần hóa các nông lâm trường quốc
việc nghiên cứu nhằm "Hoàn thiện phương
doanh nói riêng là một chủ trương đúng đắn
pháp xác định giá trị tài sản ngắn hạn, tài sản
của nhà nước nhằm góp phần nâng cao hiệu
dài hạn của doanh nghiệp nông lâm nghiệp
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các
nhà nước" là cần thiết với mục tiêu góp phần
doanh nghiệp.
hoàn thiện phương pháp xác định giá trị doanh
Xác định giá trị doanh nghiệp không chỉ cần
102 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 (KỲ I) - 2013
Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch
nghiệp nhà nước trong nông lâm nghiệp phục xác định giá trị doanh nghiệp trên
vụ cho cổ phần hóa hiện nay. cơ sở giá trị thực tế của toàn bộ tài sản hữu
hình, vô hình của doanh nghiệp tại thời điểm
II. MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
xác định giá trị doanh nghiệp.
1. Mục tiêu nghiên cứu Căn cứ để xác định giá trị tài sản ngắn hạn,
Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá thực trạng tài sản dài hạn của doanh nghiệp theo phương
việc áp dụng phương pháp định giá tài sản tại pháp tài sản theo quy định tại Điều 30
các Doanh nghiệp Nhà nước trong lĩnh vực Nghị định số 59/2011/NĐ - CP gồm:
nông lâm nghiệp, tác giả đề xuất một số giải + Báo cáo tài chính, số liệu theo sổ kế toán
pháp góp phần hoàn thiện phương pháp và của doanh nghiệp tại thời điểm xác định
hoàn thiện việc tổ chức vận dụng phương pháp giá trị doanh nghiệp.
định giá tài sản của các Doanh nghiệp Nhà + Tài liệu kiểm kê, phân loại và đánh
nước trong lĩnh vực nông lâm nghiệp. giá chất lượng tài sản của doanh nghiệp tại
2. Phương pháp nghiên cứu thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.
+ Giá thị trường của tài sản tại thời điểm
- Phương pháp thu thập số liệu: Tài liệu, số
tổ chức định giá.
liệu được sử dụng trong bài viết này chủ yếu
được kế thừa và tổng hợp từ các nghiên cứu từ III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
thực tiễn, các công trình đã được công bố trên 1. Thực trạng công tác xác định giá trị
sách, báo, tạp chí và các ý kiến của các chuyên doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hóa
gia trong lĩnh vực có liên quan. các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu trong nông lâm nghiệp
bài báo được xử lý bằng các phương pháp Công cuộc cổ phẩn hóa các doanh nghiệp
thống kê kinh tế, các phương pháp xác định giá nông lâm nghiệp nhà nước được thực hiện theo
trị tài sản. Bài báo cũng được tham vấn ý kiến Nghị quyết số 28/NQ-TW, ngày 16-6-2003 của
của các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính kế Bộ Chính trị về chủ trương thí điểm cổ phần
toán, nông nghiệp, nông thôn. hóa vườn cây, rừng trồng, đàn gia súc gắn với
- Phương pháp xác định giá trị tài sản ngắn cổ phần hóa cơ sở chế biến; Nghị định số
hạn, tài sản dài hạn theo Nghị định 170/2004/NĐ-CP, ngày 22-9-2004 và Nghị
số 59/2011/NĐ - CP ngày 18/7/2011. định số 200/2004/NĐ-CP, ngày 3-12-2004 của
Theo Nghị định số 59/2011/NĐ - CP ban Chính phủ về sắp xếp, đổi mới nông, lâm
hành ngày 18 tháng 7 năm 2011 thì có 2 trường quốc doanh đã thu được những thành
phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp đó tựu đáng kể. Đến nay, trên phạm vi cả nước đã
là phương pháp tài sản và phương pháp dòng có 26 nông, lâm trường thực hiện cổ phần hóa
tiền chiết khấu. Nếu doanh nghiệp được định vườn cây, rừng trồng gắn với cổ phần hóa cơ
giá theo phương pháp dòng tiền chiết khấu sở chế biến. Nếu tính cả các công ty đã cổ
thì không cần thiết phải xác định giá trị tài sản phần hóa trước đó thì cả nước hiện có 32 đơn
ngắn hạn, tài sản dài hạn của doanh nghiệp. Do vị đã cổ phần hóa, thuộc các ngành nghề khác
đó, các phương pháp xác định giá trị tài sản nhau của Trung ương và địa phương. Trong đó
ngắn hạn, tài sản dài hạn chỉ thực hiện trong có 12 đơn vị trồng và chế biến chè; 4 đơn vị
trường hợp doanh nghiệp được xác định trồng, chế biến cao su; 7 đơn vị chăn nuôi; 6
giá trị theo phương pháp tài sản. đơn vị trồng, chế biến rau quả và cây hàng
Phương pháp tài sản: là phương pháp năm; 2 đơn vị trồng rừng và chế biến lâm sản;
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 (KỲ I) - 2013 103
Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch
1 đơn vị giống nông, lâm nghiệp và 1 đơn vị sáp nhập 2 công ty đã hoàn thành theo kế
nuôi trồng thủy sản. hoạch, 2/3 số đơn vị thuộc diện tái cơ cấu tài
Theo kết quả khảo sát và báo cáo của 32 chính để chuyển thành công ty cổ phần chưa
nông, lâm trường quốc doanh đã thực hiện cổ đủ điều kiện tái cơ cấu.
phần hóa, tuy còn có sự khác nhau về thời Do đó, để tháo gỡ khó khăn cho các doanh
điểm triển khai, về ngành nghề sản xuất, kinh nghiệp Chính phủ cần phê duyệt cơ chế đặc thù
doanh, nhưng kết quả đạt được đã khẳng định cho phép xử lý các khoản nợ ODA đối với các
chủ trương thí điểm cổ phần hóa vườn cây, doanh nghiệp thuộc Bộ để tạo điều kiện cho
rừng trồng, đàn gia súc gắn với cổ phần hóa cơ việc xác định giá trị doanh nghiệp, thực hiện lộ
sở chế biến, để tổng kết rút ra bài học và nhân trình cổ phần hóa cũng như tái cơ cấu tài chính
rộng là hoàn toàn đúng đắn. Trên thực tế, thực doanh nghiệp. Đồng thời Bộ Tài chính cần
hiện cổ phần hóa các nông, lâm trường đã đem sớm ban hành các quy định, cơ chế thuộc lĩnh
lại những kết quả đáng mừng, không chỉ duy vực tài chính theo Nghị định số 99/2012/NĐ-
trì mà còn phát triển sản xuất tốt; năng suất cây CP ngày 15/11/2012 của Chính phủ và trình
trồng, vật nuôi đều tăng qua các năm; vốn nhà Chính phủ sửa đổi một số điều của Nghị định
nước tại các doanh nghiệp được bảo toàn và 59 để tháo gỡ khó khăn về phương pháp xác
phát triển; hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng; định giá trị doanh nghiệp phục vụ cho cổ phần
quản trị doanh nghiệp từng bước thay đổi; lao hóa doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước và bán
động, việc làm và thu nhập tăng…. cổ phần lần đầu…
Bên cạnh những thành tựu đạt được như trên
2. Thực trạng áp dụng các phương pháp
thì tiến trình sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa các xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp
doanh nghiệp nông lâm nghiệp còn nhiều nhà nước trong sản xuất nông lâm nghiệp
vướng mắc về thoái vốn, quản lý đất đai, vốn 2.1.Thực trạng vận dụng phương pháp
vay ODA.... Đặc biệt, có nhiều doanh nghiệp xác định giá trị tài sản ngắn hạn của doanh
còn lúng túng khi lựa chọn và áp dụng phương nghiệp nhà nước trong sản xuất nông lâm
pháp xác định giá trị doanh nghiệp. Điều này nghiệp
đã gây ra những chậm chễ không nhỏ cho tiến Qua kết quả khảo sát, điều tra ở các nông
trình cổ phần hóa nông lâm trường. Nhưng bên lâm trường cho thấy các nông lâm trường
cạnh nguyên nhân khách quan còn có phần chủ chủ yếu xác định giá trị doanh nghiệp theo
quan, khi nhiều doanh nghiệp chưa thực sự chủ phương pháp tài sản
động và chỉ đạo quyết liệt cổ phần hóa, thậm Về giá trị tài sản ngắn hạn bao gồm tài sản
chí có tư tưởng chờ đợi. Vì vậy, sau 10 năm lưu động và đầu tư ngắn hạn. Số liệu chi tiết
đổi mới số lượng các doanh nghiệp nông lâm về giá trị tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
nghiệp đã cổ phần hóa chưa nhiều so với số tại các doanh nghiệp thường được tổng hợp
lượng gần 300 doanh nghiệp nông lâm nghiệp từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp cuối
trong cả nước.Theo Bộ Nông nghiệp và Phát niên độ kế toán theo mẫu số B01 - DN (Ban
triển nông thôn, kế hoạch đặt ra cho ngành này hành theo QĐ số 15/2006/QĐ - BTC, ngày
trong năm 2012 là sắp xếp, đổi mới 16 đơn vị, 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC) gần nhất với
trong đó CPH 11 đơn vị, tái cơ cấu tài chính để thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp và một
chuyển thành công ty cổ phần 3 đơn vị, và sáp số doanh nghiệp có tính toán lại cho phù hợp
nhập 2 công ty vào Tổng công ty lâm nghiệp với Nghị định số 59/2011/NĐ-CP và điều kiện
Việt Nam. Nhưng trong năm vừa qua, ngoài cụ thể của từng doanh nghiệp:
104 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 (KỲ I) - 2013
Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch
- Đối với các khoản vốn bằng tiền và tương khai thác vào chỉ tiêu hàng tồn kho như vậy là
đương tiền không phù hợp vì rừng chưa đến tuổi khai thác
Vốn bằng tiền gồm tiền mặt, tiền gửi và các có những đặc thù khác so với các sản phẩm dở
giấy tờ có giá (tín phiếu, trái phiếu...) của dang, thành phẩm, hàng hóa tồn kho sản xuất
doanh nghiệp. Đối với tiền mặt và tiền gửi thông thường do thời gian đầu tư vào rừng trồng
ngân hàng thì căn cứ vào số dư nợ của tài kéo dài, phải đầu tư chi phí nhiều năm nên cần
khoản tiền mặt (TK 111) và tài khoản tiền gửi phải tách ra và theo dõi riêng. Mặt khác, doanh
ngân hàng (TK 112) để xác định giá trị tài sản nghiệp cũng phải phân loại và theo dõi riêng
là phù hợp. Tuy nhiên, đối với số dư các khoản diện tích rừng trồng đã đến tuổi khai thác và
ngoại tệ được đánh giá căn cứ vào tỷ giá cuối diện tích rừng trồng chưa đến tuổi khai thác để
niên độ sẽ không phản ánh đúng giá trị của các thực hiện các phương pháp tính toán và xác
tài sản là ngoại tệ nếu như thời điểm định giá định giá trị rừng trồng cho phù hợp.
doanh nghiệp không vào thời điểm cuối niên - Đối với các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn:
độ. Đối với các giấy tờ có giá theo quy định Nhìn chung các nông lâm trường không phát
phải được định giá theo giá trị thị trường tại sinh nhiều các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp nhưng nên cũng chưa chú trọng đến việc xác định giá
trên thực tế các doanh nghiệp lại dựa vào giá trị của các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
trị ghi sổ của các giấy tờ có giá. Giá trị này theo quy định của Nghị định số 59/2011/NĐ-
được xác định theo nguyên tắc giá gốc như vậy CP mà chủ yếu dựa vào số liệu theo dõi trên sổ
sẽ không phản ánh giá trị thực tế của các giấy kế toán để xác định giá trị của các khoản đầu
tờ có giá khi tại thời điểm xác định giá trị tư. Các doanh nghiệp chưa căn cứ vào giá trị
doanh nghiệp nếu giá trị thị trường của các thị trường cũng như khả năng thu hồi của các
giấy tờ có giá đó thay đổi so với giá trị ghi sổ. khoản đầu tư tại thời điểm định giá để định xác
- Các khoản phải thu ngắn hạn định lại giá trị của các khoản vốn đầu tư đó.
Bao gồm các khoản phải thu khách hàng,
2.2. Thực trạng vận dụng các phương
phải thu nội bộ, các khoản bồi thường về vật pháp xác định giá trị tài sản dài hạn của
chất do các cá nhân trong và ngoài doanh doanh nghiệp nhà nước trong sản xuất
nghiệp gây ra. Đối với các khoản phải thu qua nông lâm nghiệp
điều tra cho thấy các doanh nghiệp cũng chưa - Đối với tài sản cố định hữu hình là các tài
chú trọng đến việc phân loại các khoản nợ phải sản hiện vật:
thu để xác định các khoản phải thu ngắn hạn Đối với tài sản cố định hữu hình là các tài
cần phải thu hồi trước khi xác định giá trị sản hiện vật, các doanh nghiệp chưa
doanh nghiệp và các khoản phải thu không có có sự phân loại các tài sản này thành các tài
khả năng thu hồi để loại trừ khi xác định giá trị sản cố định chưa khấu hao hết và những tài
doanh nghiệp cho phù hợp với quy định. Mặt sản cố định đã khấu hao hết nhưng vẫn
khác, có những khoản nợ phải thu khó đòi đã sử dụng. Việc đánh giá lại tài sản cố định theo
được xin khoanh nợ vẫn không được một số giá thị trường ở hầu hết các doanh nghiệp cũng
nông lâm trường đưa vào để xác định giá trị không thực hiện được vì các tài sản cố
doanh nghiệp, là một khoản thất thoát, thiệt hại định sử dụng ở các nông lâm trường đa
cho ngân sách nhà nước. số là những tài sản cố định cũ đã được đầu
- Đối với chỉ tiêu hàng tồn kho: Hầu hết các tư nhiều năm, đến thời điểm đánh giá lại trên
lâm trường đều đưa giá trị rừng chưa đến tuổi thị trường không có tài sản cố định như vậy.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 (KỲ I) - 2013 105
Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch
Các doanh nghiệp vẫn chủ yếu sử dụng Bộ quản lý của các ngành kinh tế kỹ thuật.
giá trị ghi sổ của tài sản cố định để đánh giá. Trên thực tế, các Bộ, ngành kinh tế kỹ thuật
Vì vậy, có những tài sản cố định mặc dù đã thường có khung đánh giá cho tài sản
khấu hao hết nhưng vẫn còn sử dụng vào sản còn đủ điều kiện vận hành tham gia vào sản
xuất kinh doanh được doanh nghiệp đánh giá xuất cao hơn tỷ lệ 20%, như vậy thì chất
bằng không theo giá trị còn lại trên sổ sách lượng của tài sản dù thế nào khi được đưa vào
kế toán. Trong khi đó, nếu đánh giá lại những cổ phần hóa cũng không thấp hơn 20%. Đối
tài sản cố định này theo quy định của Nghị định với những doanh nghiệp có tài sản được hình
số 59/2011/NĐ-CP thì giá trị đánh giá lại không thành trong thời kỳ bao cấp, cách đây 15-20
năm, dây chuyền thiết bị đã cũ kỹ, lạc hậu
thấp hơn 20% giá trị tài sản mua mới.
nhưng khi tiến hành cổ phần hóa nếu loại ra
Việc sử dụng phương pháp tài sản để
hết tài sản sẽ không còn có thiết bị để đưa vào
xác định giá trị của hầu hết các nông lâm
cổ phần hóa.
trường là đúng theo quy định Nhà nước
Như vậy về chất lượng, các doanh nghiệp
và hướng dẫn của Bộ Tài chính đồng thời
phải chấp nhận chất lượng của các tài sản cũ kỹ,
nó phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất
lạc hậu; nhưng về nguyên giá lại phải sử dụng
kinh doanh của các doanh nghiệp khi cổ phần
giá trên sổ sách kế toán ở mức quá cao. Kết
hóa. Tuy nhiên, trên thực tế phương pháp này quả là giá trị của tài sản đánh giá theo phương
còn tồn tại một số vấn đề như sau: pháp tài sản là cao bất hợp lý, không phù hợp
Việc xác định giá trị tài sản là hiện vật (tài sản với giá trị thực tế hiện tại của tài sản.
hữu hình) chỉ xác định giá những tài sản mà công
- Đối với tài sản cố định là các cây trồng:
ty cổ phần tiếp tục sử dụng. Giá trị thực tế của tài
sản được tính theo công thức: Đối với các doanh nghiệp có tài sản cố định
Giá trị thực tế của tài sản = Nguyên giá tính là vườn cây cà phê, cây chè thì việc xác định
theo giá thị trường x Chất lượng còn lại của giá trị vườn cây vẫn còn nhiều khó khăn,
tài sản tại thời điểm thẩm định giá vướng mắc.
Về nguyên giá: Đối với tài sản là máy móc, Việc phân loại vườn cây thành vườn cây
xây dựng cơ bản và vườn cây kinh doanh còn
thiết bị, theo quy định bắt buộc phải đánh
khó thực hiện do diện tích của hai loại cây này
giá lại nguyên giá tại thời điểm xác định giá.
thường đan xen vào nhau. Vì trên thực tế, việc
Trong trường hợp tài sản là dây chuyền sản
trồng mới và thay thế diện tích vườn cây cũ
xuất rất lạc hậu về công nghệ, hiện tại không
được thực hiện đan xen và lần lượt khi vườn
còn được sản xuất, lưu thông trên thị trường
cây cũ cỗi đi và cho năng suất thấp. Mặt khác,
và cũng không có tài sản so sánh tương đương
thời gian bắt đầu đầu tư cũng như thời gian bắt
thì được xác định theo nguyên giá tài sản ghi
đầu đi vào khai thác vườn cây cũng diễn ra ở
trên sổ kế toán. Tuy nhiên, trong một số trường nhiều thời điểm khác nhau liên quan đến nhiều
hợp, giá trị tài sản trên sổ kế toán lại rất cao, diện tích vườn cây khác nhau. Vì vậy, việc
bất hợp lý do tài sản đã được đánh giá lại theo dõi trở nên khó khăn cho những doanh
nguyên giá nhiều lần bởi chênh lệch nghiệp có diện tích vườn cây lớn và được trồng
về tỷ giá theo quy định của Nhà nước trong cách đây nhiều năm.
chế độ kế toán trước đây. Trong số các tài sản của doanh nghiệp
Về chất lượng còn lại: Chất lượng còn lại thì vườn cây (cây chè, cà phê kinh doanh)
của tài sản được đánh giá theo hướng dẫn của là một tài sản cố định hữu hình đặc biệt, việc
106 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 (KỲ I) - 2013
Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch
xác định nguyên giá và giá trị hao mòn của biệt, việc xác định nguyên giá và giá trị hao
nó có sự khác biệt với các loại tài sản khác. mòn của nó có sự khác biệt với các loại tài sản
Theo quy định của Bộ Tài chính thì cây khác. Theo quy định của Bộ Tài chính, cây
chè kinh doanh được phân loại là tài sản cố định cà phê, cao su được phân loại là tài sản cố định
hữu hình, thời gian sử dụng từ 6 đến 40 năm hữu hình, thời gian sử dụng từ 4 đến 25 năm
và tính khấu hao đều theo số năm sử dụng. và tính khấu hao đều theo số năm sử dụng.
Để có thể xác định đúng giá trị vườn chè: Qua kết quả khảo sát ở một số nông lâm
cần thực hiện xác định chính xác thời gian trường cho thấy riêng khấu hao tài sản cố định
trồng và đưa vào sử dụng của từng ha chè; các đối với vườn cây cao su được thực hiện theo
diện tích chè khác nhau sẽ được trồng ở các Công văn số 1937/BTC-TCDN ngày
khu đất có điều kiện tự nhiên, đất đai khác 09/02/2010 của Cục Tài chính doanh nghiệp -
nhau nên chi phí, năng suất, sản lượng và Bộ Tài chính về việc: Trích khấu hao vườn
nhiều yếu tố khác sẽ có chênh lệch lớn; việc cây cao su và Quyết định số 221/QĐ - CSVN
xác định giá trị vườn chè ở một số doanh ngày 27/4/2010 của Tập đoàn Công nghiệp
nghiệp ví dụ như Công ty Cổ phần chè Văn Cao su Việt Nam về việc Ban hành tỷ lệ trích
Hưng - Yên Bái đã thực hiện thực chất là đánh khấu hao vườn cây cao su theo chu kỳ khai
giá giá trị một phần nhỏ diện tích chè và suy ra thác 20 năm.
giá trị của toàn bộ diện tích do doanh nghiệp Đối với vườn cây cao su các doanh nghiệp
quản lý dựa trên những tiêu chí đơn giản và vẫn chưa thực hiện tốt việc kiểm kê phân loại
chưa đầy đủ nên sẽ thiếu chính xác. vườn cây thành vườn cây xây dựng cơ bản và
Đối với vườn chè xây dựng cơ bản ở một số vườn cây kinh doanh theo diện tích và độ tuổi
doanh nghiệp như công ty chè Sông Lô - của vườn cây.
Tuyên Quang đã căn cứ vào suất đầu tư ban Do đó, đối với vườn cây cao su xây dựng
đầu theo giá trị tại thời điểm định giá để xác cơ bản thì suất đầu tư vào vườn cây vẫn được
định nguyên giá vườn chè và có sự phân biệt các doanh nghiệp tính đều cho tất cả diện tích
vườn chè trồng bằng hạt và vườn chè trồng vườn cây xây dựng cơ bản như vậy là chưa
bằng cành. Khi vườn chè đi vào kinh doanh thì phù hợp với quy định cũng như thực tế đầu tư.
giá trị vườn chè được xác định căn cứ vào số Nếu đầu tư vào vườn cây bằng các hình thức
năm đã sử dụng kinh doanh thu hoạch chè, hệ khác nhau như đầu tư trồng mới và đầu tư tái
số phân loại chè, hệ số phân loại đất, hệ số vị canh thì suất đầu tư vào cây cao su xây dựng
trí địa lý và hệ số chu kỳ khai thác. cơ bản cũng khác nhau. Mặt khác, chi phí đầu
Qua tìm hiểu thực tế ở một số nông lâm tư vào vườn cây cao su hiện nay vẫn được các
trường cho thấy giá trị vườn chè phụ thuộc vào doanh nghiệp theo dõi trên TK241 theo dõi
rất nhiều yếu tố không phải cứ vườn chè trồng chung với chi phí đầu tư xây dựng cơ bản các
lâu năm thì có giá trị ít cũng không phải tài sản khác là chưa hợp lý vì vườn cây xây
cứ vườn chè có diện tích lớn thì có giá trị cao dựng cơ bản nói chung và vườn cây cao su xây
mà nó còn phụ thuộc vào năng suất, mật độ, dựng cơ bản có nhiều đặc thù riêng cần
vị trí địa lý. Như vậy, muốn xác định phải được theo dõi riêng với các tài sản khác,
giá trị vườn chè cần phải xác định rất nhiều có như vậy giá trị đầu tư vào vườn cây
yếu tố nên rất khó khăn và phức tạp. mới được tính vào giá trị doanh nghiệp một
Tương tự vườn cây chè, vườn cây cao su, cách chính xác.
cây cà phê là một tài sản cố định hữu hình đặc Trước khi Thông tư 132/2011/TT -BTC
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 (KỲ I) - 2013 107
Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch
ngày 29/9/2011 ra đời thì các doanh nghiệp lý, đánh giá độ tin cậy của từng khoản phải thu
gặp không ít những khó khăn vướng mắc khi để thực hiện:
xác định giá trị vườn cây. Thông Phân loại các khoản nợ thành nợ có khả năng
tư 132/2011/TT -BTC ra đời đã tháo gỡ những thu hồi, không có khả năng thu hồi, nợ khó đòi
vướng mắc trong thúc đẩy tiến trình cổ phần đã được khoanh tính đến thời điểm định giá
hóa, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp khi tiến doanh nghiệp .
hành cổ phần hóa mà còn nâng cao giá trị tài Đối với các khoản nợ không có khả năng
sản từ cây cao su. Giá bán gỗ thanh lý vườn thu hồi thì không được tính vào giá trị doanh
cây cao su 6 tháng đầu năm 2011 đạt trên 250 nghiệp.
triệu đồng/ha, trong khi suất đầu tư Nhà nước Các khoản nợ khó đòi đã được xin khoanh
đối với vườn cây cao su là 80 triệu đồng/ha. nợ cần phải được tính vào giá trị doanh
Do đó, quy định xác định giá trị thực tế vườn nghiệp.
cây đang kinh doanh là tính thêm giá trị thanh Cần rà soát các hợp đồng kinh tế để
lý khi hết thời gian khai thác là để khắc phục xác định các khoản đã trả trước cho người
thất thoát tài sản nhà nước khi cổ phần hóa cung cấp hàng hóa dịch vụ nhưng đã hạch toán
doanh nghiệp. toàn bộ giá trị trả trước vào chi phí kinh doanh
Tuy nhiên, do thông tư 132/2011/TT -BTC như: tiền thuê nhà, tiền thuê đất, tiền mua
mới ra đời nên trên thực tế ở hầu hết các hàng, tiền mua bảo hiểm dài hạn, tiền lương,
doanh nghiệp đã thực hiện định giá doanh tiền công…
nghiệp thì khi xác định giá trị vườn cây cao su - Đối với hàng tồn kho:
đều không đưa giá trị thanh lý vườn cây Cần phải thực hiện phân loại và tổ chức
vào để xác định giá trị của vườn cây kinh theo dõi riêng (bằng cách mở tài khoản mới để
doanh. Như vậy, sẽ làm giảm giá trị doanh theo dõi) đối với hàng tồn kho là thành phẩm,
nghiệp và gây thất thoát vốn ngân sách nhà các sản phẩm dở dang đặc thù của sản xuất
nước do chưa tính đến giá trị tận thu từ việc nông nghiệp như cây giống, cây trồng đang
thanh lý cây cao su vào giá trị doanh nghiệp. trong giai đoạn gây giống, đầu tư chăm sóc
chưa đến kỳ thu hoạch để có thể áp dụng các
3. Một số ý kiến đề xuất góp phần hoàn
thiện phương pháp xác định giá trị tài sản phương pháp xác định trị giá vốn hàng tồn kho
của doanh nghiệp nhà nước trong sản xuất thích hợp.
nông lâm nghiệp Đối với hàng tồn kho là các sản phẩm dở
- Đối với các khoản vốn bằng tiền: dang như rừng trồng đang trong giai đoạn đầu
Đối với tiền mặt tại quỹ và tiền gửi ngân hàng tư xây dựng cơ bản thì doanh nghiệp phải thực
bằng ngoại tệ các doanh nghiệp phải thực hiện hiện việc phân loại vườn cây theo nhiều tiêu
đánh giá giá trị các khoản ngoại tệ theo tỷ giá chí như độ tuổi, vị trí địa lý, chất lượng và phải
bình quân liên ngân hàng tại thời điểm định giá. định giá căn cứ vào suất đầu tư. Để làm tốt
Đối với các chứng từ có giá phải thực hiện điều này thì các doanh nghiệp cần phải theo
đánh giá lại giá trị của các chứng từ này theo dõi và xác định được chi phí đầu tư cho từng
quy định. loại rừng trồng theo thời gian. Sau đó, căn cứ
- Đối với các khoản phải thu: vào những quy định hiện hành như Nghị định
Do khả năng đòi nợ các khoản này có thể ở 59/2011/NĐ-CP và căn cứ vào hệ số phân loại
nhiều mức độ khác nhau. Vì vậy, doanh nghiệp vườn cây do cơ quan có thẩm quyền ban hành
cần phải đối chiếu công nợ, xác minh tính pháp để xác định giá trị rừng trồng cho phù hợp. Đối
108 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 (KỲ I) - 2013