Đặc điểm truyện ngắn hiện thực macxim gorki

  • 83 trang
  • file .pdf
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN

TRƯƠNG THỊ MỸ DUNG
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN HIỆN THỰC
MACXIM GORKI
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS. GV TRẦN VĂN THỊNH
Cần Thơ, năm 2011
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT.
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chon đề tài.
2. Lịch sử vấn đề.
3. Mục đích yêu cầu.
4. Phạm vi nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu.
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THỜI ĐẠI, TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN.
1.1. Khái quát về bối cảnh lịch sử nước Nga nửa sau thế kỷ XIX:
1.1.1. Tình hình xã hội.
1.1.2. Tình hình văn học.
1.2. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của M.Gorki:
1.2.1. Cuộc đời của M.Gorki.
1.2.2. Sự nghiệp sáng tác của M.Gorki.
1.3. Vài nét về truyện ngắn hiện thực của M.Gorki.
1.4. Một số vấn đề lý luận.
1.4.1. Giới thuyết về chủ nghĩa hiện thực trong văn học và chủ
nghĩa hiện thực trong truyện ngắn M.Gorki.
1.4.2. Giới thuyết về khái niệm “nội dung” và “nghệ thuật” tác
phẩm.
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TRUYỆN NGẮN HIỆN THỰC
CỦA M.GORKI.
2.1. “Những người “du thủ, du thực” là đối tượng phản ánh của M.Gorki.
2.2. “Những người du thủ, du thực” sống “dưới đáy” xã hội được M.Gorki
miêu tả rất chân thực.
2.3. Giai cấp tư sản là đối tượng M.Gorki phê phán, đả kích, triệt để.
2.4. Khẳng định, ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người chân đất.
2.5. Quá trình thức tỉnh, sự tự ý thức của những kẻ “vô sản lưu manh”.
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN HIỆN
THỰC CỦA M.GORKI
3.1. Người kể chuyện.
3.2. Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật.
3.3. Kết hợp giữa yếu tố lãng mạn và yếu tố hiện thực.
3.4. Ngôn ngữ
C. KẾT LUẬN.
Luận văn tốt nghiệp. GVHD: Trần Văn Thịnh
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Văn học có vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống của chúng ta, là dòng
sữa ngọt ngào, mảnh đất màu mỡ bồi đắp tâm hồn của mỗi con người. Khi nói về
vai trò của văn học M.Gorki nhận xét: “Văn học là nhân học”. Thật vậy, văn học
có tác dụng làm nhân đạo hóa con người, từ đó con người sống tốt đẹp hơn nhân
ái hơn. Ngoài ra văn học còn là tài sản tinh thần vô giá của mỗi cộng đồng, tinh
hoa của mỗi dân tộc, chúng ta học tập nghiên cứu những giá trị tinh thần đó là
việc rất cần thiết và quan trọng để mở mang kiến thức và làm phong phú dồi dào
thêm mảnh đất tâm hồn. Đó là sự thanh lọc tự nhiên của trái tim nhiều yêu
thương, của khối óc giàu tư duy nhạy cảm.
Do yêu mến và say mê văn học Nga đặc biệt là nhà văn Gorki nên người
viết đã chọn đề tài “Đặc điểm truyện ngắn hiện thực của M.Gorki”.
Chúng tôi chọn đề tài này với các lý do sau:
Thứ nhất: M.Gorki là “người đại diện lớn nhất của văn học vô sản”. Cuộc
đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn gắn chặt với phong trào đấu tranh của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động nghèo khổ. Mặc dù tuổi thơ của Aliôsa (tên
thân mật của Gorki) chịu nhiều cay đắng và bất hạnh làm đủ mọi nghề để kiếm
(đi ở, phụ bếp, khuân vác...) nhưng bằng nghị lực phi thường, ý chí kiên cường,
tài năng nghệ thuật, nhà văn đã vượt lên chính mình, vượt lên số phận nghiệt ngã,
vinh dự trở thành “bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”, “cánh
chim báo bão” của cách mạng Nga thế kỷ XX. Những “công trình nghệ thuật do
chính bàn tay của người nghệ sỹ thiên tài sáng tạo nên” được nhiều nhà phê bình
đánh giá rất cao “thiếu đi những cái ấy chúng ta không sao hình dung được bộ
mặt ngày nay không những của nền văn học Nga mà cả nền văn học thế giới”
[15; tr.5]. Giở từng trang sách của Gorki, người đọc có thể thấy được từng chặng
đường phát triển của phong trào công nhân từ “buổi bình minh”, thời kỳ “phôi
thai” đến thắng lợi, đỉnh vinh quang. Nó chân thật sinh động như những gì đang
diễn ra từng ngày, từng giờ trong cuộc sống. Bởi những “đứa con tinh thần” được
viết ra từ kinh nghiệm từng trải, từ máu và nước mắt của nhà văn, từ tiếng rên
quằn quại trong đau đớn, đến tiếng thét nhói tận tâm can của quần chúng lao khổ.
SVTH: Trương Thị Mỹ Dung - 1-
Luận văn tốt nghiệp. GVHD: Trần Văn Thịnh
Thứ hai: hiện thực mà Gorki phản ánh vào trang viết của mình rất chân thực
sinh động, đó là “hình tượng nước Nga, nhân dân Nga đang trên đường phức
tạp, gian khổ để tìm một điểm tựa ngay trong bản thân, đang trên đường vươn
lên tự khẳng định.” [3; tr.522]. Đặc biệt bằng cả tấm lòng yêu thương bao la,
khối óc giàu tư duy, tâm hồn nhạy cảm của mình. “Những gì ta đã yêu, đến chết
vẫn còn yêu” [5; tr.322], tác giả đã phát hiện, khẳng định những mặt tốt đẹp
trong tính cách, “phần người” còn le lói, sót lại trong tâm hồn của những tên “vô
sản lưu manh”, những kẻ phá lĩnh, ả gái điếm, lão ăn mày. Đó là đặc điểm mới
mẻ của truyện ngắn hiện thực M.Gorki so với hiện thực của quá khứ. Đồng thời
tính chất hiện thực trong những truyện ngắn này đạt đến tính chất chân thực.
Thứ ba, M.Gorki thử bút qua nhiều thể loại: thơ, trường ca, truyện ngắn,
kịch, tiểu thuyết. Ông sáng tác qua nhiều giai đoạn, nhiều chặng đường khác
nhau, điểm nổi bật trong những sáng tác đó là sự đa dạng về phong cách “tính
chất nhiều tính cách và nhiều phong cách”. Ông vừa là nhà văn lãng mạn, vừa là
nhà văn hiện thực. Điều đó tạo nên sự độc đáo riêng biệt trong phong cách của
M.Gorki, đặc biệt truyện ngắn của M.Gorki thể hiện đầy đủ và đậm nét tính chất
đó. Những truyện ngắn đầu tay của nhà văn với bút danh cay đắng (Gorki) xuất
hiện và được đăng trên báo đã làm ngạc nhiên và tốn bao nhiêu giấy mực của các
nhà phê bình, nghiên cứu đương thời. Mọi người càng băn khoăn, ngạc nhiên về
bút pháp của nhà văn trẻ: có tác phẩm lãng mạn, rất lãng mạn; có tác phẩm lại rất
hiện thực; có tác phẩm lại xen kẻ giữa hai yếu tố lãng mạn và hiện thực. Vừa
lãng mạn, vừa hiện thực – quả là độc đáo và “bướng bỉnh” nữa.
Thứ tư, đóng góp quan trọng của M.Gorki ở thể loại truyện ngắn là sự kết
hợp đan xen “tính chất lãng mạn và tính chất hiện thực” rất độc đáo, “bướng
bỉnh” đều đó tạo nên phong cách riêng biệt, tiếng nói mới cho M.Gorki như một
ngôi sao lạ trên bầu trời văn, học bông hoa với hương mới trong vườn văn Nga
và thế giới.
Với đề tài này chúng tôi nghiên cứu với sự soi sáng của lý luận. Người viết
hy vọng từ sự say mê, yêu thích của mình sẽ hoàn thành tốt vấn đề đặt ra. Bên
cạnh đó, chúng tôi sẽ tích lũy được nhiều kinh nghiệm nghiên cứu khoa học, mở
mang thêm nhiều kiến thức, làm hành trang cho việc học tập và giảng dạy sau
này.
SVTH: Trương Thị Mỹ Dung - 2-
Luận văn tốt nghiệp. GVHD: Trần Văn Thịnh
2. Lịch sử vấn đề.
M.Gorki là con người vĩ đại về bản lĩnh sống, “cánh chim báo bão” của
cách mạng Nga. Cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với những biến đổi
thăng trầm của lịch sử Nga và cuộc sống của quần chúng nhân dân lao khổ. Với
quan niệm “tôi đến với cuộc đời để mà không thỏa thuận”, nhà văn nguyện suốt
đời chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, mang lại hạnh phúc tự do cho mọi
người, sự nghiệp văn học của nhà văn là đối tượng cho nhiều nhà phê bình,
nghiên cứu: “con người Gorki, tình yêu lớn đối với cuộc sống và lòng phẫn nộ
lớn đối với những gì trà đạp lên cuộc sống, tư tưởng cách mạng của ông, nghệ
thuật kỳ diệu của ông, đã đi vòng quanh thế giới, trở thành một phần tình cảm,
một phần suy nghĩ của nhân dân, trở thành một phần sự nghiệp giải phóng của
những người bị áp bức vì sự nghiệp xây dựng thế giới của những hôm qua còn là
nô lệ”.
Tuy nhiên, vấn đề “đặc điểm truyện ngắn hiện thực của M.Gorki” hầu như
chưa được ai bàn đến một cách cụ thể rõ ràng. Có chăng, nó chỉ là những bài viết
lẻ tẻ, những nhận định mang tính khái quát, chung chung khi bàn đến sự nghiệp
sáng tác và cuộc đời của Gorki, hoặc bàn đến vấn đề khái quát hơn như “tính chất
hiện thực và tính chất lãng mạn trong truyện ngắn của M.Gorki”, nhưng họ vẫn
còn nhập nhằng không thống nhất giữa các thuật ngữ, lúc này họ gọi là tính chất
khuynh hướng, yếu tố, cảm hứng, lúc kia lại là chủ nghĩa, phương pháp sáng tác
lãng mạn, phương pháp sáng tác hiện thực, ngay trong cả một bài viết của cùng
một tác giả. Cụ thể như sau: trong quyển “Lịch sử văn học Xô Viết” của S.O
Mêlich Nubarôp, tác giả chủ yếu đi vào trình bày sự nghiệp sáng tác của nhà văn
Nga thế kỷ XX như: Maaicôpxki, Ôxtơrôpxki, Fadêep, trong đó phần lớn nói về
Gorki. Mêlich Nubarôp phân chia sự nghiệp sáng tác của Gorki qua 5 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Gorki trên con đường đi tới chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ
nghĩa.
Giai đoạn 2: Gorki thời kỳ trước cách mạng Nga 1905 (1899 - 1904).
Giai đoạn 3: Hoạt động sáng tác của Gorki trong những năm cách mạng
Nga lần thứ nhất (1905 – 1907).
SVTH: Trương Thị Mỹ Dung - 3-
Luận văn tốt nghiệp. GVHD: Trần Văn Thịnh
Giai đoạn 4: M.Gorki trong những năm bọn phản động thắng thế ở nước
Nga có cao trào cách mạng mới và thời kỳ chiến tranh thế giới lần nhất (1907 -
1917).
Giai đoạn 5: M.Gorki sau cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng mười vĩ đại
(1917 – 1936).
Trong giai đoạn 1 Mêlich Nubarôp có vài ý kiến đề cập đến “tính chất lãng
mạn và tính chất hiện thực”, nhưng không thống nhất về cách gọi tên: khuynh
hướng, yếu tố, chủ nghĩa, tính chất.
Việc tác giả trình bày vấn đề này nhằm mục đích khẳng định sự đóng góp
của M.Gorki trong việc tìm ra phương pháp sáng tác mới – phương pháp sáng tác
hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tác giả viết: “khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa đã
chiếm địa vị chủ yếu trong các tác phẩm của M.Gorki thời trẻ, nhưng sẽ rất thiếu
sót nếu ta xét đến toàn bộ tác phẩm của M.Gorki trong thời kỳ này mà không nói
đến tác phẩm lãng mạn của ông” [15; tr.15]. Đồng thời ông còn lý giải nguồn
gốc hình thành “khuynh hướng lãng mạn và hiện thực” trong sáng tác của
M.Gorki: “Nguồn gốc của chủ nghĩa lãng mạn ở Gorki là tình hình cách mạng
hồi những năm 90, chính nó đã nuôi dưỡng Gorki, một nhà lãng mạn chủ nghĩa
và đồng thời cũng là một nhà hiện thực chủ nghĩa...yếu tố lãng mạn của M.Gorki
là sản phẩm của thời đại và đã phản ánh tính chất vĩ đại của sự dự cảm cuộc bão
táp cách mạng ngày mai” [15; tr.20] tác giả kết luận: “tính chất lãng mạn của
Gorki không mâu thuẫn với chủ nghĩa hiện thực mà hoàn toàn dựa trên mảnh đất
thực tại...sự xâm nhập của chủ nghĩa hiện thực vào truyện ngắn lãng mạn và yếu
tố lãng mạn trong các tác phẩm hiện thực chủ nghĩa là nét quan trọng chủ yếu
của nhà văn Gorki thời trẻ” [15; tr.25] các nhà phê bình gọi hiện tượng đó là:
“tính chất nhiều tính cách và nhiều phong cách” [15; tr.15]. Như vậy Mêlich
Nubarôp sử dụng quá nhiều thuật ngữ trong cùng một bài viết có thể gây khó
khăn cho người tiếp nhận và thiếu chính xác khách quan.
Việc không thống nhất về tên gọi, chúng ta còn bắt gặp trong quyển “Lịch
sử Văn học Nga” do tập thể tác giả biên soạn tiêu biểu là Nguyễn Kim Đính, Đỗ
Hồng Chung, Nguyễn Hải Hà...ta có thể tìm thấy các thuật ngữ như: bút pháp,
yếu tố, cảm hứng trữ tình lãng mạn. Tuy nhiên, quyển sách này vẫn có nhiều ưu
điểm khi nói về sáng tác của M.Gorki. Đó là trình bày các ý mạch lạc, rõ ràng, có
SVTH: Trương Thị Mỹ Dung - 4-
Luận văn tốt nghiệp. GVHD: Trần Văn Thịnh
nhiều nhận định, đánh giá chính xác về đóng góp của nhà văn đối với Văn học
Nga và văn chương thế giới: “mọi người càng ngạc nhiên, băn khoăn về bút
pháp của nhà văn trong đó có tác phẩm lãng mạn, rất lãng mạn; có tác phẩm lại
rất hiện thực, có tác phẩm xen kẽ cả hai yếu tố lãng mạn và hiện thực...vừa lãng
mạn vừa hiện thực – quả là độc đáo và bướng bỉnh nữa” [3; tr.514]. Nhưng bài
viết vẫn còn sơ lược, chỉ điểm qua về “tính chất lãng mạn và hiện thực”.
Với bài viết của Hồ Sĩ Vịnh “Nhân vật anh hùng của M.Gorki và truyền
thuyết văn học dân gian” trong quyển tuyển tập 40 năm tập chí văn học (1960 -
1994) tập 4, văn học nước ngoài, tác giả có viết: “để thực hiện luận điểm cơ bản
của cương lĩnh thẩm mỹ mới, thời đại cần dến chất anh hùng đã bắt đầu, để đáp
ứng lòng mong mỏi của công chúng mới, trong một loạt truyện Gorki đã thực
hiện lý tưởng cách mạng chân chính của mình không phải bằng phương pháp
hiện thực khách quan mà bằng phương pháp lãng mạn tích cực...” [18; tr.133].
Tác giả dẫn ra hàng loạt các tác phẩm được Gorki sáng tác bằng phương pháp
lãng mạn tích cực như: “Câu chuyện về Cô gái và người chăn cừu, Bài ca chim
ưng, Bài ca chim báo bão, Bà lão Idecghin, Cô gái và thần chết”. Phải chăng
người viết sử dụng sai thuật ngữ? Dù vô tình hay cố ý, tác giả đã đánh đồng giữa
tính chất lãng mạn và phương pháp sáng tác lãng mạn...nhưng Hồ Sĩ Vĩnh chỉ
dẫn ra chứ không phân tích đi sâu tìm hiểu. Mục đích chính của tác giả là bàn về
nhân vật anh hùng và những ảnh hưởng của truyền thống văn học dân gian đối
với chuyện lãng mạn của Gorki.
Bên cạnh đó, trong quyển “Văn học Nga trong nhà trường” Hà Thị Hòa đã
đi vào trình bày cuộc đời, sự nghiệp sáng tác và phân tích, bình giảng một số tác
phẩm của các tác giả được đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông như:
Puskin, Tôntôi, Sêkhôp, Exênhin, Sôlôkhôp. Trong đó, tác giả quyển sách này có
đề cập đến nhà văn M.Gorki và một số vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu, đồng
thời Hà Thị Hòa cũng có những nhận định khá chính xác và sâu sắc về truyện
ngắn của M.Gorki: “Truyện ngắn là thể loại được Gorki viết trong nhiều thời kỳ,
nhưng tiêu biểu hơn là thời đầu, chính hàng loạt truyện ngắn này đã làm Gorki
rất đa dạng về bút pháp, có tác phẩm được viết với bút pháp lãng mạn bay bổng,
có tác phẩm được viết với bút pháp hiện thực nghiêm ngặt. Nhưng cũng có tác
phẩm được viết với sự kết hợp đan xen cả hai bút pháp hiện thực và lãng mạn.
SVTH: Trương Thị Mỹ Dung - 5-
Luận văn tốt nghiệp. GVHD: Trần Văn Thịnh
Mặt dù được viết với nhiều bút pháp khác nhau nhưng toàn bộ truyện ngắn thời
kỳ này của ông đề chịu sự chi phối của một cảm hứng mãnh liệt, đó là khát vọng
đấu tranh quyền tự do con người” [9; tr.62]. Tuy nhiên, Hà Thị Hòa chỉ đi vào
phân tích, đánh giá những đặc sắc về nội dung, nghệ thuật trong những truyện
ngắn giai đoạn đầu của nhà văn với bút pháp cay đắng, chứ không đi sâu tìm hiểu
tính chất lãng mạn và tính chất hiện thực trong truyện ngắn M.Gorki. Sau cùng
chúng ta tìm thấy các quyển có những đánh giá về đóng góp của Gorki, ít nhiều
trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến đề tài như: M.Gorki của Nguyễn Kim Đính,
M.Gorki, Essenin, Aitmotov của Vũ Tiến Quỳnh và quyển tuyển tập truyện ngắn
của M.Gorki được nhà xuất bản Lao động tuyển chọn và giới thiệu những bài của
các dịch giả Việt Nam tiêu biểu như: Cao Xuân Hạo, Phạm Mạnh Hùng...trong
lời giới thiệu của quyển sách Đỗ Xuân Hà viết: “M.Gorki đồng thời sáng tác
những truyện hiện thực và truyện lãng mạn, vì thế không thể không có sự tác
động qua lại giữa hai hình thức phản ánh cuộc sống sự thâm nhập của bút pháp
lãng mạn vào các tác phẩm hiện thực và ngược lại...nhưng những truyện của
Gorki, dù lãng mạn hay hiện thực cùng đều đạt tới trình độ điêu luyện” [6;
tr.31]. Vì thế, những truyện ngắn đầu tay của Gorki vừa xuất hiện đã gây xôn xao
dư luận độc giả và làm tốn không ít giấy mực của các nhà phê bình, nghiên cứu
văn học: “nếu như năm 1897 trên báo chí chỉ có 10 bài phê bình nói về các tác
phẩm của ông thì năm 1899 đã có 45 bài, năm 1900 có 160 bài và 1901 con số
ấy đã tăng lên tới gần 300 bài” [6; tr.5]. Chính những truyện ngắn này đã giúp
nhà văn với bút danh cay đắng không những nổi tiếng ở nước Nga mà còn vang
xa cả thế giới: “vinh quang của Gorki đã nhanh vượt qua biên giới tổ quốc mình
sang Tây Âu, được dặt ngang hàng với những tên tuổi chói lội nhất của văn học
hiện thực Nga như: L.Tôntoi, Doxtoievxki, Tsekhov” [6; tr.5]. Đó là niềm hạnh
phúc đối với Gorki – người mới tập tành bước vào con đường văn nghiệp.
Nói tóm lại, các tác giả của những quyển sách trên một lần nữa có thể
khẳng định, hầu như chưa ai đề cập đến đề tài mà chúng tôi nghiên cứu. Có
chăng là những nhận định mang tính khái quát chung chung khi bàn đến cuộc đời
và sự nghiệp sáng tác của Gorki. Vì vậy, người viết sẽ trình bày hệ thống, mạch
lạc, rõ ràng hơn để làm sáng tỏ vấn đề mà các tác giả trước còn bỏ ngỏ.
SVTH: Trương Thị Mỹ Dung - 6-
Luận văn tốt nghiệp. GVHD: Trần Văn Thịnh
3. Mục đích yêu cầu.
Nghiên cứu đề tài “đặc điểm truyện ngắn hiện thực của M.Gorki” người
viết đặt ra một số yêu cầu sau:
Thứ nhất, chúng tôi nghiên cứu thời đại, tác giả, tác phẩm và một số khái
niệm lý luận như: khái niệm về nội dung, khái niệm về nghệ thuật (các nguyên
tắc sáng tác) để làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài.
Thứ hai, người viết đi vào nghiên cứu những đặc điểm nổi bật về nội dung
và những đặc điểm nổi bật về nghệ thuật của truyện ngắn hiện thực M.Gorki. Cụ
thể như sau:
Về nội dung chúng tôi đi vào phân tích sâu đối tượng mà M.Gorki phản ánh
về: Đời sống của những người du thủ du thực; Phê phán lối sống ích kỷ nhỏ nhen
của giai cấp tư sản; Khẳng định, ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của những
người du thủ du thực; Quá trình thức tỉnh của những kẻ lưu manh hóa.
Về nghệ thuật người viết đi vào tìm hiểu những đăc điểm nổi bật của: Nghệ
thuật về nhân vật người kể chuyện; Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật; Sự kết
hợp giữa yếu tố lãng mạn và yếu tố hiện thực; Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ.
4. Phạm vi nghiên cứu.
Với đề tài: “Đặc điểm truyện ngắn hiện thực của M.Gorki”, người viết giới
hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
Về đối tượng, thứ nhất người viết đi vào tìm hiểu những biểu hiện của
truyện ngắn hiện thực trong những sáng tác của M.Gorki. Đồng thời có mở rộng
đối tượng nghiên cứu ở tiểu thuyết.
Về phạm vi, người viết đi sâu tìm hiểu về đặc điểm nội dung và đặc điểm
nghệ thuật. Trong đặc điểm nội dung, người viết sẽ tập trung tìm hiểu đối tượng
mà M.Gorki phản ánh, đời sống của những người du thủ du thực và thái độ của
nhà văn đối với xã hội kim tiền Nga. Trong đặc điểm về nghệ thuật người viết
chủ yếu tìm hiểu về nhân vật người kể chuyện, miêu tả tâm lý nhân vật, sự kết
hợp hài hòa giữa yếu tố lãng mạn và yếu tố hiện thực, ngôn ngữ. Những phần
nằm ngoài phạm vi đề tài chỉ được đưa vào luận văn nhằm mục đích so sánh, đối
chiếu mở rộng vấn đề.
SVTH: Trương Thị Mỹ Dung - 7-
Luận văn tốt nghiệp. GVHD: Trần Văn Thịnh
5. Phương pháp nghiên cứu
Đi vào nghiên cứu đề tài này, người viết sử dụng, phối hợp một số phương
pháp khác nhau. Thứ nhất, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê khi tập hợp
các tài liệu, bài viết có liên quan. Thứ hai, kết hợp hai phương pháp phân tích và
tổng hợp nghĩa là người viết đi sâu vào phân tích tìm hiểu những biểu hiện cụ thể
của vấn đề đặt ra, sau đó đúc kết lại đưa ra kết luận chung, đồng thời trong quá
trình, trình bày huy động tất cả các thao tác nghị luận như: giải thích, chứng
minh, bình luận và so sánh để làm nổi bật vấn đề. Sau cùng, người viết kết hợp
cả hai phương pháp diễn dịch và quy nạp để trình bày kết quả thu được thông qua
quá trình nghiên cứu.
SVTH: Trương Thị Mỹ Dung - 8-
Luận văn tốt nghiệp. GVHD: Trần Văn Thịnh
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ THỜI ĐẠI, TÁC GIẢ, TÁC PHẨM VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Khái quát về bối cảnh lịch sử nước Nga nửa sau thế kỷ XIX
1.1.1. Tình hình xã hội.
Sau khi thất bại trong cuộc chiến tranh Crưm (1854-1856) nước Nga càng
lún sâu vào cuộc khủng hoảng không thể cứu vãn. Những khó khăn do cuộc khởi
nghĩa của nông dân, do sự sụp đổ về kinh tế, do những thất bại về quân sự...đã
buộc Nga hoàng phải tiến hành cải cách từ trên xuống. Ngày 19/12/1861, Nga
hoàng ra sắc lệnh bãi bỏ chế độ nông nô, giải phóng hàng chục triệu người.
Tuy nhiên, thực chất đây là một cuộc cải cách không triệt để, chính giai cấp
thống trị đã cấu kết với giai cấp tư sản nhằm lẫn tránh các cuộc bạo động của
quần chúng. Sau cuộc cải cách, số phận hàng chục triệu người nông dân vẫn
không được cải thiện. Điều này đã dẫn đến sự bùng nổ của hàng chục ngàn cuộc
bạo động của nông dân trên khắp 90% các tỉnh nước Nga.
Tuy có những hạn chế như vậy, nhưng việc bãi bỏ chế độ nông nô vẫn là
một bước ngoặt trong quá trình phát triển xã hội Nga. Nó đã tạo cơ sở tốt cho nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển nhanh chống, đồng thời đưa nước Nga từ một
nước quân chủ phong kiến trở thành một nước quân chủ tư bản.
Nước Nga sau cuộc cải cách nông nô, bộc lộ hai đặc điểm nổi bật của nền
kinh tế tư bản. Đó là quyền đồng tiền và sự phân hóa nông dân. Nông dân lúc này
phân hóa thành hai bộ phận: giai cấp tư sản có số lượng ít nhưng lại vững mạnh
do tiềm lực kinh tế của nó và giai cấp vô sản nông thôn.
Cùng với hai đặc điểm nổi bật, lúc này nền đại sản xuất công nghiệp cũng
ra đời kéo theo sự xuất hiện và lớn dần của giai cấp vô sản công nghiệp. Đây là
một hiện tượng tiến bộ. Song giai cấp tư sản Nga không phải là giai cấp cách
mạng như ở các nước Phương Tây, mà nó cấu kết với giai cấp địa chủ, quý tộc
tiến hành bóc lột nông dân.
Như vậy, nước Nga nửa sau thế kỷ XIX vẫn là một nước nông nghiệp ở
Châu Âu. Nông dân vẫn chiếm 90% dân số, vẫn chìm trong đêm dài nô lệ, vẫn
SVTH: Trương Thị Mỹ Dung - 9-
Luận văn tốt nghiệp. GVHD: Trần Văn Thịnh
chịu sự bóc lột của bọn địa chủ- tư sản, quan lại, nhà thờ. Nước Nga trong nửa
đầu thế kỷ XIX đã rơi vào khủng hoảng đến bây giờ càng rơi vào bế tắc, không
lối thoát.
Trong suốt nửa sau thế kỷ XIX, nước Nga vẫn diễn ra mâu thuẫn sâu sắc
giữa giai cấp thống trị và quần chúng bị trị. Mâu thuẫn này đã tạo nên cơn khủng
hoảng gay gắt trầm trọng chỉ cần cơ hội là bùng nổ dữ dội. Lúc này, vấn đề giải
quyết ruộng đất cho nông dân trở thành vấn đề trung tâm của thời đại và có ảnh
hưởng trực tiếp đến đời sống tư tưởng và văn hạc nghệ thuật.
Cuộc cải cách nông nô 29/02/1861 đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử
nước Nga. Thời đại đã sản sinh ra hai trào lưu tư tưởng mới: một bên là phái tự
do chủ nghĩa nổi bật vào những năm 1860-1870, một bên là phái dân chủ cách
mạng. Hai phái này được xem là những người đại diện cho hai xu hướng lịch sử
quyết định trong cuộc giải phóng của nông dân Nga.
Phái tự do chủ nghĩa muốn giải phóng nước Nga ra khỏi tình trạng bế tắc,
khủng hoảng, nhưng họ không muốn hủy bỏ chế độ nông nô mà chỉ nhượng bộ
theo tinh thần thời đại. Thực chất đây là phái của những nhà tư tưởng thuộc giai
cấp tư sản. Họ không chấp nhận chế độ nông nô nhưng lại sợ cách mạng và
phong tròa của quần chúng lật đổ chế độ quân chủ. Đại biểu cho khuynh hướng
này trong văn học là: Tuôcghênhep, Ôxtrôpxki, Gônsarôp.
Phái dân chủ cách mạng phần lớn thuộc trí thức bình dân. Họ chủ trương
tiêu diệt chế độ nông nô, Nga hoàng bằng vũ lực, đưa xã hội Nga tiến lên chủ
nghĩa xã hội thông qua công xã nông thôn. Mặc dù họ chỉ dừng lại ở chủ nghĩa
xã hội không tưởng nhưng họ đã góp phần thức tỉnh, giáo dục tư tưởng cách
mạng cho nhân dân, đặc biệt là tầng lớp thanh niên lúc bấy giờ. Đại biểu cho
khuynh hướng này trong văn học là: Bêlinki, Secnưsepxki Nhêcraxôp, Xêđrin...
Song song với hai khuynh hướng trên, vào những năm 80 của thế kỷ XIX,
chủ nghĩa Mac được truyền vào Nga bên cạnh sự lớn mạnh của giai cấp công
nhân. Sang những năm 90, Lênin bắt đầu hướng đến việc thành lập chính đảng
kiểu mới. Lúc này, trong văn học xuất hiện những con người lao động mới -
những người vô sản. Một thời đại sắp bắt đầu.
Trong truyện ngăn M.Gorki bộc lộ niềm khao khát tự do và ca ngợi ý chí
hào hùng, bất khuất của con người, phơi bày tính chất tàn bạo của xã hội- chính
SVTH: Trương Thị Mỹ Dung - 10-
Luận văn tốt nghiệp. GVHD: Trần Văn Thịnh
trị trước cách mạng, cái chế độ giết chết sức sống trong con người; quá trình trăn
trở, tự ý thức đầy gian khổ của các tầng lớp “dưới đáy” xã hộ để vươn tới sự đổi
đời; thi vị hóa lao động; phê phán lối sống và tâm lý ươn hèn của tầng lớp trí
thức tiểu tư sản và tư sản.
1.1.2. Tình hình văn học.
Bức tranh văn học Nga những năm đầu thế kỷ XX trước cách mạng tháng
mười rất phức tạp. Cuộc đấu tranh diễn ra gay gắt trên văn đàn giữa nhiều
khuynh hướng văn học đối lập.
Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dòng văn học hiện thực tiếp tục
tồn tại và phát triển với các tác giả tiêu biểu A. Tônxtôi, Kôrôlenkô, Bunhin,
Kuprin,...dòng văn học này viết về nhiều đề tài: cuộc sống của giai cấp nông dân
và phê phán giai cấp thống trị.
Bên cạnh dòng văn học hiện thực là dòng văn học suy đồi với hai khuynh
hướng đối lập: tích cực và tiêu cực. Dòng văn học này phát triển ở cuối thế kỷ
XIX, được du nhập từ phương Tây và có ba trường phái: chủ nghĩa tượng trưng,
chủ nghĩa đỉnh cao và chủ nghĩa vị lai.
Trong bối cảnh tình hình chính trị xã hội văn chương như thế đã thúc đẩy
tạo ra một dòng văn học mới: dòng văn học vô sản. Dòng văn học này ra đòi
đáp ứng yêu cầu được đặt ra cấp thiết lúc bấy giờ. Văn học bây giờ không chỉ là
“vũ khí của sự phê bình” (C.Mac) mà phải là “vũ khí để cải tạo đời sống”. Nhà
văn lúc này cũng là nhà văn kiểu mới. Dòng văn học vô sản mang tính chất vô
sản chủ nghĩa và trở thành chủ đạo, có ý nghĩa quyết định đối với văn học Nga
sau đó. Dòng văn học vô sản ra đời tiếp thu văn học Nga thế kỷ XIX đặc biệt là
văn học hiện thực. Người đầu tiên khơi nguồn cho dòng văn học vô sản là
M.Gorki. ngoài ra còn có một số tên tuổi của các nhà văn, nhà thơ: Xêrafimôvits,
Đemian Betnưi, Maiakôpxki,...Lênin cũng có những bài báo quan trọng về văn
trương (các bà báo viết về Leptônxtôi, Gôgôn). Dòng văn học vô sản là tiền đề
cho dòng văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.
SVTH: Trương Thị Mỹ Dung - 11-
Luận văn tốt nghiệp. GVHD: Trần Văn Thịnh
1.2. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của M.Gorki:
1.2.1. Cuộc đời của M.Gorki:
M.Gorki sinh ngày 28/03/1868 ở thành phố Nhigiơnhi NôPgôrôt trong một
gia đình lao động. Tên thật là Alêchxây Măcximôvich Pêscôp. Bố là một thợ mộc
giỏi, gan dạ, sôi nổi nhưng không may mất sớm khi chú bé Aliôsa mới được ba
tuổi. Vài năm sau mẹ cũng qua đời. Aliôsa trải qua thời thơ ấu nhiều nước mắt và
roi đòn trong căn nhà của ông ngoại Vasili Kasirin, một ông già keo kiệt, nóng
tính. Nhưng để bù đắp lại, bà ngoại Aculina Ivanôpna lại rất mực nhân ái, hiền
từ, chính bà, qua những truyện cổ tích, truyền thuyết dân gian Nga, đã sớm khơi
dậy trong tâm hồn thơ dại của Aliôsa niềm yêu quí những gì chính nghĩa, anh
hùng, cao thượng và nổi căm ghét những gì phi nghĩa, tàn ác, thấp hèn. Chính
người bà đôn hậu đó đã sớm nuôi dưỡng tâm hồn sáng tạo của nhà văn vĩ đại
tương lai bằng những nguồn sữa lành mạnh của sáng tác dân gian. Nhưng chẳng
bao lâu cái xưởng của ông ngoại bị phá sản. Aliôsa mới hơn mười tuổi đầu đã bị
ném ra ngoài đời, tự lực kiếm sống, vất vả, gian khổ. Bới rác, làm phụ bếp,
khuân vác,...Aliôsa trải qua nhiều nghề lao động nên có điều kiện tiếp xúc với
nhân dân mọi tầng lớp trong xã hội.
Aliôsa sớm say mê văn học, tìm đến văn học nghệ thuật, sôi nổi, đọc sách
từ lúc nhỏ: đọc Puskin, Lecmôtôp Gôgôn, Bazăc...
Năm mười sáu tuổi, Alêchxây pêscôp đến Cadan với hy vọng thi vào đại
học nhưng vì nghèo nên không được. Năm 1888 – 1889 và 1892 - 1892 là
chuyến đi nhiều ngày trên đất nước Nga để kiếm sống và để hiểu thêm đất nước
Nga, làm giàu thêm cái vốn sống phong phú của cây bút nghệ thuật thiên tài này.
Cuối năm 1892, Alêchxây đến Tiphơlix vào làm trong một xưởng máy xe
lửa, Alêchxây sáng tác bài thơ “thơ dài, theo lối văn xuôi có nhịp điệu”, “bài ca
cây sồi già” một bài thơ dở chẳng có giá trị gì lắm. Gorki sau này cũng chỉ còn
nhớ ở “cái vật bằng gỗ” đó có một câu lý thú: “tôi đến với cuộc đời để mà không
thỏa thuận”. Không hề nản chí, Alêchxây nghiền ngẫm suy nghĩ, xây dựng tác
phẩm khác được nhà văn Côrôlencô nhiệt tình giúp đỡ.
Ngày 12/09/1892, truyện ngắn Makarsudra được đăng trên báo “Capcadơ”
ở thành phố Tiphơlix với bút danh M.Gorki, cuộc đời sáng tác vĩ đại gần nửa thế
kỷ của M.Gorki bắt đầu từ ngày bình thường đó, cái bút danh “cay đắng” (Gorki
SVTH: Trương Thị Mỹ Dung - 12-
Luận văn tốt nghiệp. GVHD: Trần Văn Thịnh
– tiếng Nga nghĩa là cay đắng) nay đã trở thành thân yêu, gần gũi với hàng triệu
người trên thế giới.
Sau một loạt truyện ngắn của Gorki ra đời: “Êmêlian, Bà lão Iderghin, Trên
đồng muối”...làm đông đảo mọi người băn khoăn và bình luận về cây bút trẻ
“cay đắng” mọi người ngạc nhiên: “có tác phẩm lãng mạn, rất lãng mạn, có tác
phẩm rất hiện thực, có tác phẩm xen kẻ cả hai yếu tố lãng mạn và hiện thực”.
Vừa lãng mạn vừa hiện thực – quả là độc đáo và “bướng bỉnh” nữa.
Gorki xuất hiện với “Makarsuđra” đó là tác phẩm mở đầu tuyến những tác
phẩm lãng mạn của nhà văn trong thời kỳ đầu: “cô gái và thần chết, bài ca chim
ưng”...Gorki kế thừa được truyền thống lãng mạn tiến bộ của những nhà văn Nga
nổi tiếng như Puskin, Lecmôntôp, Gorki đã tiếp thu một cách sâu sắc sức sống
bất khuất vương dậy mãnh liệt của nhân dân biểu hiện trọng những truyền thuyết
cổ tích. Gorki khẳng định chính những cảm hứng lãng mạn trong những sáng tác
nhân gian là động lực thúc đảy mình viết những tác phẩm lãng mạn.
Gắn liền với cảm hứng trữ tình lãng mạn của mình với những truyền thống
tốt đẹp tiềm tàng trong nhân dân lao động đó là đặc điểm nổi bật của những tác
phẩm lãng mạn của Gorki thời kỳ đầu. Truyện “Bà lão Iderghin” chính tác giả
đánh giá là một trong những tác phẩm xuất sắc của mình. Tập trung biểu dương
người anh hùng xuất thân từ nhân dân chiến đấu vì tự do, hạnh phúc của nhân
dân.
Cảm hứng trữ tình toát ra từ những tác phẩm lãng mạn của Gorki không
phải đưa con người rời xa thực tế xã hội đương thời mà trái lại “gợi mở cho độc
giả suy nghĩ sâu vào những vấn đề xã hội, chính trị đương thời”.
Những tác phẩm lãng mạn thời kỳ đầu của Gorki biểu hiện những quan
điểm về sứ mệnh nghệ thuật, những quan điểm về nhân dân, qua những tác phẩm
nghệ thuật, nhắc nhở mọi người hãy nhìn kỹ, nhìn sâu vào những truyền thống
tốt đẹp của nhân dân và giải đáp những vấn đề hiện tại để đi tới tương lai, hãy
làm nên những “truyền thuyết” những “cổ tích” mới trong hiện tại.
Kế thừa truyền thống lãng mạn tiến bộ của văn học trong quá khứ, phản ánh
những khác vọng của nhân dân khi phong trào cách mạng vô sản đang dâng dậy,
cảm hứng lãng mạn của Gorki tràn đầy tính cách mạng tươi trẻ, mạnh mẽ.
SVTH: Trương Thị Mỹ Dung - 13-
Luận văn tốt nghiệp. GVHD: Trần Văn Thịnh
Là cây bút lãng mạn có sức rung cảm mạnh mẽ, ngay ở thời kỳ đầu Gorki là
một cây bút hiện thực lỗi lạc, trong những năm tháng tự lực lao động trước mắt
Aliôsa bày ra cảnh hỗn độn hoang dã, sự sôi sục của những mâu thuẩn nhiều vô
số và không hòa hoãn được, nhỏ có lớn có và cả cái khối mâu thuẫn đó tạo thành
một tấn bi hài kịch quái gở trong đó lòng tham của con người đóng vai trò chính.
Cái khối mâu thuẫn đó đã để lại trong tâm trí nhà văn những day dứt và là động
cơ thúc đẩy Gorki viết hàng loạt truyện ngắn hiện thực sinh động.
Trong tuyến những tác phẩm hiện thực thời kỳ đầu chúng ta dễ dàng nhận
thấy hai lớp tác phẩm - một lớp tập trung vào phê phán đả kích cái “thế giới
trưởng giả đang lực lưỡng, cường tráng”, đang phè phỡn trên xương máu của
nhân dân và lớp tác phẩm miêu tả cuộc sống của nhân dân những người cùng cực
trong xã hội.
Quá trình thức tỉnh sự tự ý thức của nhân dân trong giai đoạn lịch sử mới
của đất nước Nga – đó là tiếng nói mới của Gorki trong nền văn học hiện thực
Nga đưa văn học phát triển ra một bước mới.
Ngoài ra, M.Gorki còn viết trường ca.
Năm 1901, Gorki tham gia nhóm Tia lửa của đảng công nhân dân chủ - xã
hội Nga ở Maxcơva sau đó tích cực hoạt động trong nhóm Tia lửa ở quê hương.
Phôma Gorđêep cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Gorki là móc quan trọng trên
con đường sáng tác, đánh dấu một giai đoạn mới trong sự nghiệp lao động nghệ
thuật của nhà văn vô sản. Gorki khẳng định tương lai là thuộc về những người
lao động trung thực, thuộc về giai cấp vô sản. Năm 1901, Gorki chiếm lĩnh một
lĩnh vực mới đó là nghệ thuật viết kịch. Gorki đã đưa nghệ thuật viết kịch gắn
chặt với những xung đột xã hội chính trị nóng bỏng đương thời.
Ngày 23/11/1905, trong hội nghị ban chấp hành trung ương đảng
Bônsêvich, Gorki gặp Lênin, sau hội nghị Gorki đến Maxcơva nơi bùng nổ cuộc
vũ trang khởi nghĩa mở đàu cho bão táp quật khởi của giai cấp vô sản và nhân
dân lao động Nga.
Tháng 01/1966, theo chỉ thị của Đảng Gorki đi Đức, Pháp, Anh, Mỹ để
tuyên truyền, giải thích, kêu gọi nhân dân thế giới ủng hộ cách mạng Nga.
SVTH: Trương Thị Mỹ Dung - 14-
Luận văn tốt nghiệp. GVHD: Trần Văn Thịnh
Tác phẩm kết thúc đợt viết kịch của Gorki từ 1901–1906 tiểu thuyết “Người
mẹ” ra đời đã đưa Gorki lên vị trí xứng đáng, Gorki hoàn toàn xứng đáng với vai
trò người đánh trống trung thực và dũng cảm.
Năm 1921, nhà văn viết miệt mài trong hai năm viết xong tập “Những
trường đại học của tôi”.
“Thời thơ ấu, Kiếm sống” (viết 1912-1915) hợp nhất với “Những trường
đại học của tôi” thành một tác phẩm hoàn chỉnh. Qua bộ tiểu thuyết – tự thuật
của mình Gorki miêu tả “quá trình phức tạp, gian khổ của một đứa con ruột thịt
của nhân dân lao động nỗ lực không ngừng vươn lên, nhằm đạt tới đỉnh cao về
văn hóa, tư tưởng, trở thành con người chân chính, ưu tú của thời đại mới”.
Năm 1924-1925, Gorki đã hoàn thành tốt đẹp sự nghiệp gia đình
Actamônôp.
Năm 1932, được tặng huân chương Lênin.
Năm 1934, đại hội các nhà văn Xô Viết đầu tiên, Gorki được bầu làm chủ
tịch.
Ngày 18/06/1936, Gorki qua đời ở Maxcơva, sau bốn mươi bốn năm sáng
tác không ngừng nghỉ, nhà văn vô sản vĩ đại đã để lại cho văn học Nga một di
sản lớn: truyền thống Gorki.
1.2.2. Sự nghiệp sáng tác của M.Gorki
Chia làm ba giai đoạn:
Giai đoạn 1892 – 1904: Đây là giai đoạn tìm hướng xác định mục đích sáng
tác. Tác phẩm trong giai đoạn này chủ yếu là truyện ngắn và một số tiểu thuyết.
Những tác phẩm thời kỳ đầu của M.Gorki bao gồm cả hai bút pháp lãng mạn và
hiện thực.
Giai đoạn 1905 -1916: Thời gian ông tham gia hoạt động cách mạng sôi nổi
và sáng tác những tác phẩm có giá trị mở đầu cho nền văn học hiện thực xã hội
chủ nghĩa ở Nga. Đây là thời kỳ tài năng chín muồi với nhiều truyện ngắn, bút
ký, tiểu thuyết, kịch.
Giai đoạn 1917 -1936: Đây là thời gian sáng tác rất sôi nổi của M.Gorki.
ông viết rất nhiều và ở nhiều thể loại. Đặc biệt phải kể đến hai tiểu thuyết lớn
“Sự nghiệp gia đình Actamônôp” và “Cuộc đời của Clim Xamghin”. Hai tiểu
thuyết này có giá trị tổng kết mấy chục năm lao động của nhà văn. Trong những
SVTH: Trương Thị Mỹ Dung - 15-
Luận văn tốt nghiệp. GVHD: Trần Văn Thịnh
năm tháng lao động cật lực cuối đời, M.Gorki còn chỉ đạo xây dựng một số chân
dung văn học như Lênin, Seekhôp, Leptônxtôi, Êxênhin,...chỉ đạo xây dựng bộ
sách “cuộc đời của những danh nhân” và “tủ sách nhà thơ”. Nói về đóng góp
của M.Gorki trong lĩnh vực lý luận và phê bình văn học trước hết phải kể đến bộ
“M.Gorki bàn về văn học” và nhiều bài phê bình nghiên cứu đăng trên các tạp
chí...
1.3. Vài nét về truyện ngắn hiện thực của M.Gorki:
Ở đây chúng tôi xin giới thiệu đôi nét về lĩnh vực mà chúng tôi cho là thành
công nhất của Gorki, đó là truyện ngắn. Ông bắt đầu sáng tác nghệ thuật với tư
cách là một nhà thơ, nhưng lại mau chóng nổi tiếng với tư cách là một nhà văn
chuyên viết truyện ngắn. M.Gorki sáng tác truyện ngắn với hai mảng lãng mạn
và hiện thực, nhưng các tác phẩm hiện thực hầu như đã bao trùm cả sáng tác của
Gorki với các tác phẩm: Lão Arkhiv và Bé Lionca, Làm muối, Tsencas, Emelien,
Lenka…Đến với mảng truyện ngắn hiện thực của Gorki ta sẽ thấy cả một xã hội
hiện thực Nga đầy bất công, nhơ nhuốc được phơi bày trước mắt. Như hai thế
giới đối lập nhau cả về quyền lợi và địa vị, giai cấp tư sản thống trị và những
người thuộc tầng lớp “dưới đáy” xã hội tạo nên “một khối mâu thuẫn” khổng lồ
làm thành “tấn bi kịch quái gỡ mà trong đó lòng tham của con người đóng vai
trò chính”. Từ trong gian khổ, M.Gorki đã phát hiện ra những phẩm chất cao quý
vẫn tiềm tàng trong những người khốn khổ và cũng từ đây người đời luôn ca tụng
tính nhân văn sâu sắc từ trong tâm hồn đến trang viết của ông. Trong truyện nhắn
hiện thực của Gorki, chúng ta có thể thấy nổi bật lên với hai đề tài với hai lớp
nhân vật chính: Một là đề tài về lối sống xa hoa, bất chính của tầng lớp trưởng
giả thượng lưu tư sản, hai là đề tài về cuộc sống nghèo khổ của những người “du
thủ du thực”.
Ở đề tài thứ nhất, ta dễ dàng bắt gặp lớp nhân vật là những kẻ trưởng giả, tiểu
tư sản với lối sống xa hoa, phù phiếm. Đó là những kẻ giàu có, chủ yếu sống vì
tiền vì lợi ích cá nhân, sống sung sướng trên sự đau khổ và bất hạnh của người
khác. Họ cho mình hơn đời hơn người, song bản chỉ là những kẻ “rỗng tuếch” về
tài năng, kiến thức, nhân phẩm. Đến với tác phẩm “Kẻ phá bĩnh” (1879), ta sẽ
thấy cả một thế giới trưởng giả được ngụy trang bởi những triết lý sống giả tạo
rằng “chúng ta không được trộm cắp”, răn dạy người ta “đừng bóc lột”, mọi
SVTH: Trương Thị Mỹ Dung - 16-
Luận văn tốt nghiệp. GVHD: Trần Văn Thịnh
người hãy có lòng nhân ái “yêu thương lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau”. Tất cả là lời
lẽ của sự ngụy biện, sự lếu láo hết sức điên rồ. Chính trong cái xưởng in này vào
tuần lễ trước anh Kirykôp làm việc được ba ngày rồi bệnh, tiền lương của anh ta
là ba mươi tám hào thế mà lúc vợ anh ta tới lãnh thì người quản lý nói không
được lãnh mà còn phải nộp thêm một đồng hai tiền phạt. Anh chàng “phá bĩnh”
Nikôlai Gvôzđiep đã lên tiếng buộc tội sự bóc lột tàn nhẫn và sự giả dối của báo
chí nằm duới tay bọn tư sản, họ thuật lại “Những chuyện dã man đâu ở bên Thổ
Nhĩ Kỳ một cách tường tận”, còn những chuyện bạo ngược trước mắt “một quản
lí mắng nhiếc anh em tập sự, róc họ tận xương tủy vì những điều nhỏ mọn” thì
không ai đoái hoài tới.
M.Gorki thể hiện rõ sự khinh bỉ của mình có lúc nhà văn mỉa mai, lúc phẫn
nộ, khi lên án gay gắt…sự áp bức bóc lột, tàn nhẫn của bọn thực dân phong kiến.
Mọi lý lẽ cho cái lợi của tri thức, cái lợi của việc mọi người sống tương ái với
nhau của nhân vật Macxim đều bị tan thành cát bụi, khi va vào cái thế giới quan
vững chắc như bức tường thành của Sacrô, đó là “thằng nào mạnh thằng đó làm
ra luật lệ cho mình! Kẻ mạnh không cần học, dù hắn có mù hắn cũng tìm được
đường đi”. Hắn cho rằng cuộc đời hiện tại là hợp lý và chân chính, kẻ có tiền thì
có quyền, đa số người bần cùng thấp hèn phải phục tùng thiểu số thống trị “đấy
là luật của chúa”. Xuất phát từ tư tưởng này tên tư sản Sacrô hám ăn, vụ lợi đã
phớt lờ đi mọi sự, xa lạ với tất thảy, không mảy may cảm xúc gì trước cảnh
những người nông dân lao động quần quật, lo âu mệt mỏi. Hắn không có ước mơ
gì chỉ mong sớm trở lại quê hương để tận hưởng cuộc sống xa hoa của cá nhân.
Hắn lợi dụng lòng tốt của Macxim đã giúp đỡ mình ăn hết thức ăn và hứa hẹn
đền ơn nhưng cuối cùng hắn đã để lộ rõ bản chất của một tên xảo trá, hắn lao
nhanh vào hẻm tăm tối và biến mất mãi mãi.
Ở đề tài thứ hai khi viết về những người chân đất chịu nhiều đau khổ, đói
rách. Gorki như đã đau cùng nỗi đau của họ, khổ cùng nỗi khổ của họ, suy tư trăn
trở trước những số phận của con người bất hạnh, nhà văn đã phê phán, tố cáo bộ
mặt xấu xa, đê tiện của chế độ tư sản Nga Hoàng, mọi quyền hành nằm trong tầm
tay của kể thống trị, bằng tiền bạc chúng đã cướp đi mọi quyền, quyền làm người
của nhân dân lao động, chúng đẩy người lao động vào cảnh bần cùng thành công
nhân, ăn xin,… Chế độ áp bức đã làm con người trở nên độc ác, đã cướp đi phần
SVTH: Trương Thị Mỹ Dung - 17-