Đặc điểm của các yêú tố cấu thành hệ thống quân chủ phong kiến việt nam

  • 14 trang
  • file .docx
Lời nói đầu
Xét về hình thức chính thể thì các nhà nước phong kiến nói chung đều có
một hình thức chính thể là Quân chủ phong kiến. Chính thể quân chủ ở các nhà
nước phong kiến Việt Nam trải qua hai giai đoạn phát triển.
Trong giai đoạn đầu từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XV (trước thời Lê sơ), sự tập
chung quyền lực nhà nước vào tay vua mới ở mức độ hạn chế. Tổ chức bộ máy
nhà nước của mấy triều đại đầu tiên còn rất đơn giản, với những vị vua còn
mang đậm dáng dấp của những vị thủ lĩnh và phong cách cai trị đậm màu dân
dã. Đến giai đoạn cuối thế kỉ XV trở đi, chính thể Quân chủ đã phát triển thành
Quân chủ chuyên chế. Từ đầu thời Lê sơ, cùng với việc Nho giáo trở thành nền
tảng lí luận của nhà nước Quân chủ chuyên chế, trở thành hệ tư tưởng chính
thống, giai cấp phong kiến đã bắt tay vào xây dựng chính thể Quân chủ chuyên
chế của mình. Với cuộc cải tổ thành công của Lê Thánh Tông, nhà nước Quân
chủ chuyên chế được hoàn thiện. Đến triều Nguyễn tính chuyên chế của nền
Quân chủ được tăng cường một bước mới.
Cùng với sự phát triển của nhà nước Quân chủ chuyên chế thì hệ thống Quân
chủ phong kiến Việt Nam càng ngày càng được hoàn thiện và mang những đặc
điểm rất khác biệt, và cũng chính là những đặc điểm của các yếu tố cấu thành
nên hệ thống Quân chủ ấy đó là: Vua – nhân vật trung tâm; Quan lại, quý tộc và
hệ thống pháp luật lễ nghi.
Cũng như nhà nước phong kiến khác, nhà nước phong kiến Việt Nam là thể
chế chính trị bảo vệ quyền lực và quyền lợi của giai cấp thống trị. Trong đó vua
là nguời nắm mọi quyền lực nhà nước, là chủ sở hữu tối cao ruộng đất công
trong cả nước. Trong thể chế chính trị đó có hai mối quan hệ cơ bản: Vua –bầy
tôi (quý tộc, quan lại); Vua – thần dân. Quyền lợi và quyền lực của giai cấp
phong kiến, của nhà nước và các vị quân vương được thể hiện và thực hiện bằng
quân đội, đội ngũ quý tộc quan liêu, lễ nghi và luật pháp. Để tìm hiểu thêm về
chế độ phong kiến Việt Nam em chọn đề tài “Đặc điểm của các yêú tố cấu
1
thành hệ thống Quân chủ phong kiến Việt Nam”. Các đặc điểm của từng yếu tố
em xin trình bày kĩ trong phần nội dung.
Bài làm của em còn nhiều thiếu xót. Rất mong các thầy cô trong tổ bộ môn
góp ý thêm.
Em xin chân thành cảm ơn!
Cấu trúc bài làm
I/ Vua _ nhân vật trung tâm của nền Quân chủ
1. Đặc điểm về tên gọi và các bậc của vua
2. Đặc điểm về địa vị và quyền lực của vua
3. Đặc điểm về phương thức truyền ngôi vua
II/ Quan lại quý tộc _ yếu tố giữ vai trò quan trọng sau vua
1. Đặc điểm về nguồn gốc quan lại, quý tộc
2. Đặc điểm về tước phẩm quan lại
3. Đặc điểm về vai trò, chức năng quan lại
III/ Pháp luật và lễ nghi
1. Lễ nghi là pháp luật
2. Đạo đức và pháp luật
3. Đặc điểm về quy trình, kĩ thuật làm luật
2
I/ Vua – là nhân vật trung tâm của nền Quân chủ
Trong chế độ Quân chủ phong kiến phương Tây cũng như phương Đông,
không có sự phân chia quyền lực nhà nước thành các quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp. Tất cả các cơ quan và quan lại chỉ giữ vai trò phụ tá thực thi
quyền lực của vua mà thôi. Các đặc điểm của vua- một nhân vật trung tâm trong
hệ thống được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
1. Các bậc vua và những tên gọi về vua khá cầu kì và trở thành
truyền thống, thể hiện vị trí độc tôn của vua trong xã hội.
Theo quan niệm của phong kiến Trung Hoa vua có hai bậc là bậc Đế và bậc
Vương. Vua có nhiều tên gọi khác nhau:
*Tên huý: Là tên gọi của vua trước khi lên ngôi. Từ khi lên ngôi không ai còn
đựơc gọi tên ấy nữa. Ví như vua Lê Thái Tổ có tên huý là Lê Lợi.
*Tên hiệu: Là tên mỗi vị vua thường đặt cho mình khi lên ngôi. Như Lê Hoàn
khi lên ngôi lấy tên hiệu là Minh Kiều ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí Nhân
Quảng Hiếu hoàng đế.
*Tên thuỵ: là tên người con lên kế vị đặt cho vua. Đinh Bộ Lĩnh có tên thuỵ là
Tiên Hoàng Đế sử sách thường gọi là Đinh Tiên Hoàng.
*Miến hiệu : Là tên đặt ra sau khi vua chết, đây là tên nơi thờ vua. Sử sách sau
này thường gọi tên vua bằng Miến hiệu.
*Niên hiệu của vua: Là tên năm khi lên ngôi. Mỗi vua có thể có một niên hiệu
hoặc có nhiều niên hiệu kế tiếp nhau. Như Lê Thánh Tông đã đặt cho mình hai
niên hiệu: Quang Thuận (1460 – 169) và Hồng Đức (1470- 1497)
Từ thời Tây Sơn và nhà Nguyễn, mỗi vị vua đều chỉ đặt một niên hiệu nên sử
sách thường gọi những vị vua này bằng niên hiệu. Như Nguyễn Huệ gọi là vua
Quang Trung.
Như vậy, các bậc và tên gọi của vua thể hiện một phần quyền lực, và nó có ý
nghĩa liên quan đến từng giai đoạn lịch sử trị vì của vị vua ấy.
3
2. Địa vị và quyền của vua thể hiện sự tối cao của quyền lực,
vua là nguồn gốc của luật pháp, là người đứng đầu bộ máy
hành chính và là vị quan toà tối cao.
***Về địa vị của vua
Trong chế độ phong kiến, vua được coi là Thiên tử - là con trời, là đại diện
cho trời cai trị dân đồng thời là đaị diện cho nhân dân trước trời đất. Địa vị và
chức năng của vua do trời định, vua chỉ đứng dưới một người là trời và đứng
trên muôn dân. Nhà nước phong kiến nhiều khi được xem là của vua. Đây là đặc
điểm rất cơ bản của vua phong kiến. Trong thời kì Quân chủ, mọi quyền hành
đều tập trung trong tay hoàng đế, đó là đặc điểm mang tính dân tộc và tính
phương Đông truyền thống. Với địa vị như vậy thì nhà vua nắm trọn Vương
quyền và Thần quyền:
Việc nắm Vương quyền thể hiện: Chỉ có vua là người duy nhất có quyền đặt
ra luật pháp; Vua có toàn quyền bổ nhiệm, thăng giáng, thưởng phạt, thuyên
chuyển, quy định quyền hạn trách nhiệm và lương bổng đối vơí quan laị trong cả
nước; Vua là người có quyền quết định cuối cùng với tất cả các vụ án trong mọi
trường hợp…
Ngoài Vương quyền vua còn nắm Thần quyền được thể hiện: Chỉ có vua
mới có quyền tế trời vì chỉ có vua là con trời; Vua là người đứng đầu bách thần
trong cả nước, có quyền phong chức tước cho cả thần thánh, điều động thần
thánh.
Ngoài ra vua còn nắm quyền lực về kinh tế, có quyền sở hữu tối cao với
ruộng đất trong cả nước. Triều Nguyễn còn đặt ra lệ ‘Tứ bất’’ nhằm hạn chế sự
phân chia quền lực quân chủ: Bất lập Tể tướng (đã quy định từ thời Lê
ThánhTông); Bất lập Hoàng Hậu (Gia Long, Bảo Đại có lập hoàng hậu); Bất lập
Trạng Nguyên (thi Đình không lấy Trạng Nguyên); Bất lập Thái Tử (không
phong vương).
4
Bên cạnh đó, vua còn có một số đặc điểm thể hiện ở những ưu quyền như:
Tên huý của vua không ai được nhắc tới; Những cái gì thuộc về vua khi nhắc tới
phải dùng những phụ từ đặc biệt như: Thánh ý, thánh chỉ, long thể, ngọc tỷ, ngự
thiện…; Vua là người duy nhất trong nước được mặc áo sắc vàng, mặc áo thêu
rồng, trâm cài búi tóc bằng vàng. Tất cả những đặc quyền trong phục sức thể
hiện vị trí độc tôn của nhà vua trong xã hội; Vua thường được thần thánh hoá
trong cuộc sống cũng như trong sử sách.
…vv…
Như vậy có thể nói đặc điểm rất cơ bản cua vua trong hệ thống Quân chủ
phong kiến đó là địa vị và quyền của vua là vô tận. Trong chế độ phong kiến
Việt Nam điều này thể hiện rõ nhất ở thời vua Lê Thánh Tông.
Tuy nhiên, nói như vậy nhưng quyền lực của vua cũng không thể là vô hạn
tuyệt đối, nó thường bị hạn chế bởi một số yếu tố như nhiều lúc vua cũng phải
quan tâm đến nhân dân trong một số chính sách bởi bổn phận của vua là phải
biết thương dân như con, quan tâm đến đời sống của nhân dân. Bên cạnh đó
những tập quán chính trị, những quy tắc sử xự truyền thống có sức sống lâu bền,
nên các vị vua khi hành động xử sự thì khó có thể trái nguyên tắc ấy. Mặt khác,
trong chế độ phong kiến có chế độ nghị đình, khi có quyết định quan trọng vua
phải tham khảo ý kiến quan lại lớn trong triều đình.
Để hợp lòng dân, ngoài dùng luật pháp cai trị, vua còn dùng đức trị, lấy nhân
đức nhân ái để cảm hoá giáo dục dân chúng. Mỗi lời nói, việc làm của vua đều
có mục tiêu răn dạy mọi người. Dân nổi loạn, mùa màng thất bát…các đế vương
tự cho mình là đức mỏng tài hèn, nên mặc dù uy quyền tuyệt đối và có luật pháp
trong tay vua vẫn tự kiềm chế mình.
Bên cạnh đó, chế độ khoa cử phải căn cứ vào sự đỗ đạt của nho sỹ để tuyển
bổ quan lại và còn tính tự quản của làng xã, vì thế nó đã hạn chế quyền lực của
vua khi lan xuống cấp cơ sở, như dân gian ta vẫn có nói “phép vua thua lệ làng”.
5
3. Phương thức truyền ngôi trong chế độ phong kiến xuất phát
từ quan niện nước là của vua, luôn thống nhất và vĩnh cửu:
Việc truyền ngôi vua tuy không được ghi thành văn, nhưng nó đã trở thành
tập quán chính trị tồn tại rất bền vững từ xưa, và cũng là đặc điểm cơ bản của
ngôi vua.
Việc truyền ngôi vua thường tuân theo ba quy tắc đó là: Chỉ truyền cho một
người, nguyên tắc trọng nam và trọng trưởng. Có thể hiểu ba nguyên tắc này
như sau: Quốc gia muốn thống nhất thì chỉ có một người làm vua mà thôi, ngôi
vua muốn không được truyền sang dòng họ khác thì chỉ truyền ngôi cho con trai
mà thôi. Bên cạnh đó còn quy định ngôi vua chỉ có thể truyền cho con trai
trưởng hoặc cháu trai trưởng. Như vậy, theo quan niệm và nguyên tắc trên thì
đất nước sẽ luôn thống nhất và trường tồn cùng sự cai trị của dòng họ đã được
trời định đoạt cho. Đây cũng là nguyên nhân của nhiều vụ biến chính trong
hoàng tộc khi có sự tranh giành quyền lực để được lên ngôi vua.
Tuy nhiên, ở chế độ phong kiến Viêt Nam, thì ba nguyên tắc này cũng không
được thực hiện triệt để. Như thái hậu Dương Vân Nga đã trao áo bào cho Lê
Hoàn lên ngôi khi biết chỉ có ông là có khả năng là người đứng đầu thiên hạ
trong hoàn cảnh đất nước như vậy. Rồi vào thời Lý, năm 1225, vua Lý Huệ
Tông đã truyền ngôi cho con gái là Chiêu Thánh rồi vào chùa đi tu. Đây có thể
nói là một sự đặc biệt chưa từng có trong chế độ phong kiến Việt Nam và cũng
trở thành duy nhất trong lịch sử.
II/ Quan lại và quý tộc - yếu tố giữ vai trò quan trọng sau vua.
Trong chế độ phong kiến thì các đời vua dựng nước tất cả phải đặt các quan
để làm thay việc trời, sáng tỏ nghiệp chúa. Các đời đặt tên quan không giống
nhau nhưng trước sau đều đi đến thịnh trị.(lịch triều hiến chương loại chí)
1. Nguồn gốc quan lại quý tộc được sát hạch kĩ càng để chọn
người hiền tài. đây không phải là một đẳng cấp thuấn nhất ổn
6
định mà luôn phát triển mở rộng bổ xung về số lượng và chất
lượng, địa vị của họ gắn với mỗi triều đại.
Tuyển chọn và sử dụng quan lại là tiêu chí phản ánh trình độ tổ chức, tầm nhìn,
sự đổi mới hay bảo thủ của một thể chế (trước hết là người đứng đầu) với các
nhiệm vụ xây dựng đất nước theo từng thời kỳ.
Đi kèm với quan lại là quý tộc, đó là những người có quan hệ đặc biệt với
vua như họ hàng, có công lao lớn với đấy nước và với vua, hoặc có quan hệ gần
gũi thân thích với vua.
Nếu xét về tuyển bổ, thì quan lại có nguồn gốc như tiến cử người tài đức,
nhiệm cử con cháu quý tộc quan lại, khoa cử để chọn người đỗ đạt, và trong đó
có cả việc mua bán chức tước để làm quan. Tuy nhiên, ở các triều đại thịnh thì
phần đông quan được tuyển từ khoa cử như ở đời Lê thánh Tông và Minh Mạng.
Phan Huy Chú viết: “như thế thì các chức các ty ai cũng phải là phường nho
học, văn hoá do đó mà thịnh vậy”
Hiến Tông năm Cảnh Thống thứ nhất(1498) có sắc chỉ “Từ nay cấp sự trung
6 khoa và giám sát Ngự Sử có khuyết thì lại bộ chọn các quan trong ngoài, viên
nào do tiến sĩ xuất thân, thanh liêm, siêng năng, ngay thẳng có chính tích thì
tạm bổ vào. Sau một năm cấp sự trung 6 khoa cộng đồng xét lại việc làm của
viên ấy, tâu lên đội chỉ, có thể làm nổi việc thì cho lưu nhiệm, không làm nổi thì
đổi bổ chức khác”;… “ngự Sử đài sát hạch không công thì quan lục khoa lấy đủ
sự thực ra hặc, lại bộ bổ không được người xứng đáng, khoa đài che dấu đều
phải trị tội cả”.(lịch triều hiến chương loại chí)
Thánh Tông năm Hồng Đức thứ 8 đã khiến quan trong triều mỗi người đề cử
một viên huyện quan có tính cương trực hay chống kẻ gian tà.
Bên cạnh đó còn có lệ khảo khoá, cứ đến thời hạn văn võ quan ở trong kinh,
quan tỉnh ở ngoài đều chiếu sự trạng công lao, lầm lỗi trong chức sự, làm một
bản tự trình bày để làm căn cứ thưởng phạt thăng giáng. “ Bấy giờ các quan đều
7
làm việc giỏi gọi là đời thịnh trị, đó chẳng phải là hiệu quả của thưởng phạt
nghiêm minh sao”_Phan Huy Chú.
Tuy nhiên, có đội ngũ quan lại không phải là quý tộc,trong đội ngũ quan lại
không ít quan lại nộp thóc để được bổ dụng. Đây cũng là một đặc điểm của việc
tuyển bổ quan lại trong chế độ Quân chủ. Lê Thánh Tông năm Quang Trị thứ
nhất (1460) có chỉ dụ: “cho các hạng quan dân ở các động, sách, trang trong
huyện, phủ, lộ, trấn người nào chứa được nhiều thóc tình nguyện dâng lên, đến
trình với ty cai quản làm sổ tấu trình, tuỳ theo số thóc ít nhiều ban cho quan
tước”.
2. Tước phẩm quan lại rất phức tạp bao gồm nhiều loại tước vị
và thang bậc.
Trong chế độ phong kiến quan lại được ban tước phẩm, và đặc điểm nổi trội
ở đây là chế độ tước vị của quan lại rất phức tạp, tước phẩm quan lại ở Việt
Nam được mô phỏng như nhà nước phong kiến Trung Hoa.
Tước phẩm của quan lại và quý tộc chỉ có vua mới có quyền được ban, điều
này càng thể hiện sự độc tôn của vua trong nền Quân chủ. Tuy nhiên, sự ban
tước được xem xét rất kĩ lưỡng trước khi có chỉ dụ. Ví như tước Vương chỉ ban
cho những người có công lao thật đặc biệt hoặc họ hàng thân thích của vua.
Tước phẩm thì phức tạp bao gồn nhiều tước vị, mỗi loại gồn nhiều thang
bậc, có hai loại chủ yếu là phẩm và tước.
Tước gồm nhiều bậc như vương, hầu, bá,tử, nam. Trong mỗi tước lại có
nhiều bậc nhỏ như tước công có quốc công, quận công…
Phẩm gồm 9 bậc (cửu phẩm), mỗi bậc lại chia thành hai bậc nhỏ là chánh và
tòng.
Trong chế độ phong kiến Việt Nam, do chính quyền trung ương mạnh nên
các tước vị không được cha truyền con nối, khi phạm lỗi lầm có thể bị tước
phẩm. Và thường thì các bậc minh quân vẫn có phương thức để tuyển được
những nhân tài cho đất nước từ khoa cử và tiến cử.
8
3. Vai trò và chức năng quan lại đều nhằm thực thi quyền lực
và nền cai trị của vua, tạo nên một trật tự quan liêu, một trật tự
chính trị cơ bản của chế độ quân chủ.
Bộ máy quan lại chính là công cụ để thực hiện quyền lục của vua. Chức năng
quan lại là tư vấn, phụ tá và thực thi quyền lực.
Chức năng tư vấn cho vua vẫn thể hiện rõ nét ở phương thức nghị đình, quan
lại giúp vua giải quyết công việc được giao, có thể nhân danh vua để thực thi
pháp luật, rồi tấu trình kết quả với vua… Nhìn chung bộ máy quan lại với nhiều
thứ bậc đã tạo nên một trật tự quan liêu, một trật tự chính trị cơ bản của chế độ
quân chủ, tất cả đề để thực thi quyền lực và nền cai trị của vua.
Tuy nhiên, không phải như vậy mà quan lại có mọi quyền hành hách dịch,
mà chế độ Quân chủ phong kiến rất coi trọng tới khả năng và sự trung thành
trong tâm và cách làm việc của quan lại.
Trong lịch triều hiến chương loại chí có viết: Năm 1832, Minh Mạng lập Đô
Sát viện để có lời nói thẳng. Chức năng là: Phàm hoàng thân quốc thích, quan
viên lớn nhỏ có làm điều bất công, bất pháp, thực trạng tham nhũng hay liêm
khiết, hay hoặc dở của quan chức trong ngoài, cùng các chương tấu có ý kiến
không theo công lý đều được tham hặc.
Thi hương, thi hội nếu có sự ngấm ngầm, chạy vạy, đút lót, gửi gắm cũng
phải hặc, phàm các hặc tâu đều phải rõ sự thật, không phải nghe bơi bắt bóng vì
hiềm riêng mà làm bậy, bới chuyện. Như vậy Đô Sát viện là cơ quan giám sát
cao nhất của triều Nguyễn tạo nên hệ thống giám sát chặt chẽ, tăng cường được
hiệu lực cơ chế Quân chủ tập quyền.
Tầng lớp quý tộc quan liêu được hưởng nhiều quyền, đặc lợi, được phong
chức, ban tước phẩm, được hưởng lương hằng năm, được cấp bổng lộc bằng
ruộng đất để hưởng thuế.
III/ Pháp luật và lễ nghi
9
Trong chế độ Quân chủ phong kiến do ảnh hưởng của đạo Nho mà lễ nghi và
luật pháp đã trở thành hai yếu tố cơ bản kết dính các yếu tố của nền Quân chủ,
bao gồm quan hệ vua - tôi, vua quan - dân chúng, cơ cấu bộ máy nhà nước, điều
chỉnh các quan hệ xã hội tạo nên trật tự quan liêu, trật tự đẳng cấp, trật tự gia
trưởng.
Nói tới luật pháp của chính thể Quân chủ phong kiến, phải nói tới vai trò của
Hoàng đế. Những lời phái, chiếu chỉ của vua đếu có giá trị pháp lý tối cao.
Lê Thái Tổ – người sáng lập ra triều hậu Lê mặc dù chỉ ở ngôi có 5 năm
ngắn ngủi nhưng ông đã đặt nền móng vững chắc cho triều đại của mình. Ông đề
cao vai trò của pháp luật trong đạo trị nước. Ngay năm đầu tiên lên ngôi ông đã
lệnh cho các tướng và các quan: ‘’Từ xưa đến nay, trị nước phải có pháp luật,
người mà không có pháp để trị thì loạn. Cho nên, bắt trước đời xưa đặt ra pháp
luật để dạy các quan, dưới đến nhân dân cho biết thế nào là thiện ác, điều thiện
thì làm, điều ác thì lánh, chớ có phạm pháp’’.
Nho giáo từng bước đưa vào đời sống chính, và trở thành hệ tư tưởng chính
trị pháp lí của giai cấp phong kiến. Từ đó, nhà nước phong kiến lấy Nho giáo
làm mẫu mực cho việc dựng nước trị dân, làm khuôn vàng thước ngọc để xây
dựng các thiết chế chính trị và luật pháp vì mục tiêu cơ bản của Nho giáo là bảo
vệ chính thể Quân chủ phong kiến. Nho giáo đề cao nguyên tắc Tôn quân quyền
để xây dựng nhà nước tập quyền với quyền lực vô hạn của vua.
Pháp luật phong kiến có các đặc điểm chung là pháp luật đẳng cấp và đẳng
quyền; Là pháp luật của kẻ mạnh; Và mang tính chất hà khắc, dã man, tuy nhiên
cũng mang tính đạo đức Nho giáo.
1. Lễ nghi được coi như là luật pháp, vi phạm lễ nghi là vi
phạm pháp luật.
Lễ nghi trong chế độ phong kiến như quy chế về các loại phẩm phục của đế
vương, quý tộc quan lại như quần áo, mũ, xe, kiệu, người hầu…Bên cạnh đó còn
có nghi lễ tín ngưỡng: Các lễ tế trời đất, lễ tế bốn mùa, lễ thờ tôn miếu, lễ giỗ
10
thái miếu, lễ quốc tang…và các nghi lễ lên ngôi, tấn phong như tấn phong thái
thượng hoàng, hoàng thái hậu, lập hoàng hậu.
Trong pháp luật của chế độ phong kiến thì hương ước và pháp luật có sự
đồng hợp tạo ra trật tự ổn định xã hội. Nhà nước phong kiến chấp nhận hương
ước tức là chấp nhận những hạt nhân hợp lý và những mặt tích cực của nó. Dùng
nó để cam thiệp vào làng và nắm làng, đưa luật pháp và chính sách của nhà nước
cùng hệ tư thưởng Nho giáo vào hương ước; Tạo sự dung hoà giữa luật pháp và
hương ước; Giữa phép nước và lệ làng.
2. Đạo đức và pháp luật trong chế độ Quân chủ phong kiến
hoà đồng với nhau.
Khi Nho giáo đi vào đời sống, những lễ nghi của Nho giáo, các quy phạm
pháp luật và các quy tắc đạo đức dần hoà trộn với nhau tạo nên mạng lưới vô
hình và hữu hình điều chỉnh hành vi xử sự của con người trong xã hội theo một
trật tự gia trưởng phong kiến, trong đó, hàng đầu là nguyên tắc Tôn Quân quyền,
tư tưởng trung quân bắt buộc với thời Quân chủ.
Trong chế độ Quân chủ phong kiến thì đạo đức rất được coi trọng, thậm chí
bất cứ hành vi nào mà vi phạm đạo đức thì nhà nước đều cho là vi phạm pháp
luật. Trong các bộ luật nổi tiếng thời Quân chủ đều có những quy định thể hiện
sự coi trọng đạo đức, đặc biệt là đạo đức trong gia đình về quan hệ giữa ông bà -
cháu chắt, giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ chồng. Luật Gia Long có quy định
như: Con cháu có nghĩa vụ vâng lời dạy bảo của ông bà cha mẹ, phụng dưỡng
ông bà cha mẹ, vi phạm nghĩa vụ này là bị coi là mắc tội thập ác (điều 2, 17, 76,
161 bộ luật Gia Long). Rồi con cháu còn có quyền và nghĩa vụ bảo vệ ông bà
cha mẹ, có quyền che giấu tội cho ông bà cha mẹ. Quy định này không trái với
nguyên tắc tố cáo tội phạm mà thể hiện sự tôn trọng của pháp luật đối với ân
nghĩa gia đình theo đạo đức Nho giáo. Ngoài ra còn có những hình phạt rất nặng
cho tội trái đạo đức như: Con cháu đánh, mắng nhiếc ông bà cha mẹ xử đồ lưu,
11