Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện đan phượng – hà tây

  • 55 trang
  • file .doc
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
Lêi nãi ®Çu
Đối với quốc gia, thất nghiệp thiếu việc làm là một sự lãng phí tài
nguyên sinh lực. Đối với gia đình và xã hội, thất nghiệp và thiếu việc
làm làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp và nóng bỏng, gây
ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sự phát triển con người. Do đó,
việc giải quyết việc làm và tạo mở việc làm trong giai đoạn Công
nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước hiện nay là một trong những vấn
đề quan tâm hàng đầu của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ
chức xã hội và mọi thành phần trong xã hội nhằm đưa đất nước đi lên
theo kịp sự phát triển chung của khu vực và của thế giới.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, qua thời gian
thực tập tại Phòng Nội vụ Lao động và Xã hội huyện Đan Phượng,
cùng với sự hướng dẫn của GS Mai Quốc Chánh, em đã lựa chọn đề
tài: “Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện
Đan Phượng – Hà Tây” để nghiên cứu cho bài báo cáo thực tập cuối
khoá của mình. Đồng thời cũng mong muốn được đóng góp những
kiến thức mà bản thân đã được học tập trong trường ĐH Kinh tế Quốc
dân làm cho công tác tạo mở việc làm của huyện được thực hiện ngày
càng tốt hơn.
Chuyên đề thực tập này được chia làm ba phần:
Phần I: Những lý luận chung về vấn đề việc làm
Phần II: Thực trạng về việc làm và công tác tạo mở việc làm
của huyện Đan Phượng trong những năm vừa qua.
Phần III: Kiến nghị và đề xuất.
Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cô chú cán bộ ở
phòng Nội vụ - Lao động và Xã hội huyện Đan Phượng đã nhiệt tình
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt thới gian thực tập và nghiên cứu.
Trong quá trình viết bài, không tránh khỏi những sai sót vì vậy rất
mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo trong khoa
Kinh tế và Quản lý nguồn nhân lực trường Đại học Kinh tế quốc dân
để bài viết này được hoàn thiện hơn.
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
PhÇn I: Nh÷ng lý luËn chung vÒ vÊn ®Ò viÖc lµm
I, Lao động và nguồn lao động:
1, Lao động:
Lao động theo triết học Mac-Lênin: là quá trình diễn ra giữa
con người với tự nhiên, trong đó con người bằng hoạt động của
chính mình làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất
giữa họ và tự nhiên.
Ngày nay khái niệm lao đã được mở rộng hơn, đó là là hoạt động
có mục đích, có ích của con người tác động lên giới tự nhiên, xã hội
nhằm mang lại của cải vật chất cho bản thân và xã hội. Lao động là
nguồn gốc và là động lực phát triển xã hội, xã hội càng văn minh thì tính
chất, hình thức và phương pháp tổ chức lao động ngày càng tiến bộ.
Đặt trong bối cảnh Việt Nam trong giai đoạn Công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước với nền kinh tế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước thì lao động được đánh giá ở nhiều khía cạnh mới, cụ thể là
Thứ nhất, lao động được coi là phương thức tồn tại của con
người nhưng coi trọng lợi ích của con người. Bởi vì lao động biểu hiện
bản chất của con người còn lợi ích của người lao động là vấn đề nhạy
cảm nhất, là nhân tố thấm sâu, phức tạp trong mối quan hệ giữa con
người với con người, quan hệ giữa cá nhân với xã hội.
Thứ hai, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với
phương thức sản xuất kinh doanh xã hội chủ nghĩa thì lao động được
xem xét trên khía cạnh năng suất, chất lượng và hiệu quả.
Thứ ba, là bất cứ một hình thức lao động nào của cá nhân nếu
đem lại lợi ích cho cá nhân, cộng đồng và xã hội thì được coi là lao
động có ích.
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
2, Nguồn nhân lực và nguồn lao động:
Nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số trong độ tuổi nhất
định theo quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động.
Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng.
* Về số lượng: là tổng số người trong độ tuổi lao động và thời
gian làm việc có thể huy động được của họ (Từ đủ 15-55 đối với nữ,
từ đủ 15-60 đối với nam). Việc quy định cụ thể độ tuổi lao động của
mỗi nước là khác nhau tuy thuộc và điều kiện và trình độ phát triển
của nền kinh tế xã hội trong từng giai đoạn. Ở Việt Nam, theo quy định
của Bộ luật Lao động, dân số trong độ tuổi lao động là những người
đủ từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ đủ 15 đến 55 tuổi đối với nữ.
* Về chất lượng: Là trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ
thuật, sức khoẻ và phẩm chất của người lao động.
Nguồn lao động (hay lực lượng lao động) là một bộ phận dân số
trong độ tuổi quy định thực tế có tham gia lao động (đang có việc làm)
và những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc
làm. Như vậy, theo khái niệm nguồn lao động thì có một số người
được tính vào nguồn nhân lực nhưng không phải là nguồn lao động.
Đó là những người lao động không có việc làm nhưng không tích cực
tìm việc làm; những người đang đi học; những người làm nội trợ trong
gia đình và những người thuộc tình trạng khác (người nghỉ hưu trước
tuổi quy định)…
Ở Việt Nam, khái niệm mở rộng dùng trong thống kê lao động
việc làm thì lực lượng lao động bao gồm cả những người ở ngoài độ
tuổi lao động thực tế đang làm việc trong các ngành kinh tế.
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
3, Vai trò của nguồn lao động đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
- xã hội:
Nguồn lao động là yếu tố hàng đầu, năng động và quyết định sự
phát triển của lực lượng sản xuất. Nhờ đó mà các tư liệu sản xuất
được hoàn thiện từng bước, phát huy được tác dụng, thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học công nghệ, con người được đặt vào một quá trình lao động
hết sức phức tạp, đòi hỏi năng lực sáng tạo, trình độ chuyên môn cao,
ý thức trách nhiệm lớn cả trong lao động cơ bắp, lao động kỹ thuật và
lao động quản lý. Có như vậy, lực lượng vật chất mới được sử dụng
một cách hợp lý, có hiệu quả, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội ngày
càng phát triển.
Lợi ích của nguồn lao động là động lực to lớn trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội.Vì lợi ích mà con người hoạt động, nó bao gồm
lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, trong đó lợi ích đóng vai trò quan
trọng. Người lao động dù làm ở đâu, dưới hình thức nào cũng đều
nhằm đạt được lợi ích của mình, như vậy lợi ích là nhu cầu trở thành
động cơ của hành động. Thoả mãn lợi ích chính đáng của người lao
động là động lực kinh tế trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển.
Nguồn lao động với tư cách lực lượng tiêu dùng luôn là mục đích
của sự phát triển kinh tế xã hội. Nguồn lao động với tư cách là một bộ
phận của dân số đồng thời là động lực tiêu dùng mạnh mẽ, luôn đóng vai
trò quyết định là mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở mọi thời đại.
Nhận thức đúng đắn về vấn đề lao động không chỉ giúp ta thấy
rõ hơn ý nghĩa và tầm quan trọng của nó mà còn có cơ sở phương
pháp luận để xem xét việc sử dụng lao động trong thời gian qua, trên
cơ sở đó đề ra phương hướng và giải pháp sử dụng, phát huy vai trò
của nguồn lao động trong giai đoạn mới.
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
II, Việc làm:
1, Việc làm:
a, Khái niệm việc làm:
Theo bộ luật lao động Việt Nam: Việc làm là mọi hoạt động lao
động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm. Như vậy
việc làm là:
+ Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc
hiện vật.
+ Những công việc tự làm để thu lợi cho bản thân hoặc thu nhập
cho gia đình mình nhưng không được trả công bằng tiền hoặc
hiện vật cho công việc đó.
Theo như quan niệm này thì không chỉ những người dang làm
việc trong các ngành của nền kinh tế quốc dân, mà nhiều người
khác cũng được coi là có việc làm nếu họ giám tiếp tạo ra thu
nhập miễn là không bị pháp luật ngăn cấm.
b, Các hình thức việc làm:
Hiện nay tồn tại nhiều hình thức việc làm như: Việc làm được
nhận tiền công, tiền lương; tự tạo việc làm…
2, Người có việc làm và người chưa có việc làm:
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “người có việc làm là người
làm một việc gì đó, có được trả công, lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật hoặc
tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì
thu nhập gia đình không nhận tiền công hay hiện vật”
Ở Việt Nam, người có việc làm là người đủ 15 tuổi trở lên đang làm
việc trong các ngành kinh tế quốc dân, với thời gian làm việc không ít hơn
mức chuẩn quy định cho cho người có việc làm trong tuần lễ tham khảo.
Người chưa có việc làm, là người có nhu cầu làm việc, hiện tại chưa
tìm được việc làm, hoặc trước đây đã từng có việc làm, nhưng do điều kiện
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
hoặc hoàn cảnh nào đó chưa tìm lại được việc làm. Trong số này chủ yếu là
số công nhân dôi ra do sự sắp xếp lại của các Doanh nghiệp Nhà nước,
những người hết hạn hợp đồng làm việc, người đi lao động ở nước ngoài
đã trở về.
Người thiếu việc làm, là người trong độ tuổi lao động đang có việc
làm nhưng thời gian làm việc ít hơn mức chuẩn quy định cho người đủ việc
làm trong tuần lễ tham khảo không làm việc vì lý do bất khả kháng, nhưng 4
tuần trước đó có thời gian làm việc ít hơn mức chuẩn quy định cho người
đủ việc làm và có nhu cầu làm thêm.
3, Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề việc làm:
3.1, Số lượng chất lượng nguồn lao động và cơ cấu đào tạo:
Đây là yếu tố thuộc về cung lao động, chất lượng lao động và cơ
cấu đào tạo đóng vai trò quyết định đối với tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ
thiếu việc làm của một quốc gia cao hay thấp. Số lượng lao động càng
lớn thì áp lực giải quyết việc làm càng lớn. Ngược lại, nếu một quốc
gia giảm dần được tốc độ tăng dân số quy mô lực lượng lao động sẽ
biến đổi với tốc độ chậm dần, số lao động dư thừa trong nền kinh tế
sẽ ít đi, khi đó tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm xuống.
Chất lượng lao động và cơ cấu đào tạo quyết định khả năng đáp
ứng nhu cầu của nền kinh tế mà cụ thể là các đơn vị kinh tế sử dụng
lao động, do vậy cần phải xây dựng một cơ cấu lao động hợp lý với
chất lượng cao.
3.2, Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng năng
suất lao động
Nền kinh tế tăng trưởng nhanh sẽ tạo ra nhiều chỗ làm việc cho
người lao động. Nhân tố này phụ thuộc vào việc tăng cường huy động
và sử dụng các nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài (như
FDI, ODA…) và sự phát triển của các ngành, các địa phương, các
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
thành phần kinh tế. Việc tăng chi tiêu của Chính phủ cũng góp phần
làm giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong xã hội.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế luôn gắn liền với sự chuyển dịch
cơ cấu lao động của ngành sẽ làm hoặc làm giảm nhu cầu việc làm.
Do vậy cần phải nghiên cứu xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
đồng thời với việc đưa ra các biện pháp giải quyết các vấn đề về lao
động việc làm.
3.3. Sự ổn định kinh tế chính trị:
Sự ổn định về kinh tế chính trị là điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển kinh tế, tạo mở việc làm. Khi nền kinh tế có sự biến động cũng có
những tác động đến việc làm theo hướng tích cực hoặc tiêu cực.
3.4. Sự di chuyển lao động:
Các dòng di chuyển lao động bao gồm sự di chuyển lao động từ
vùng này sang vùng khác, từ ngành này sang ngành khác, giữa các
thành phần kinh tế và từ nước này sang nước khác.
Có nhiều lý do khác nhau để xuất hiện tượng này (như tìm việc
làm có thu nhập cao hơn, định cư…) người lao động di chuyển từ
nông thôn ra thành thị, từ vùng đồng bằng đông dân lên vùng trung
du, miền núi; từ vùng kém phát triển này sang một vùng khác phát
triển hơn. Nhìn chung sự di chuyển lao động giữa các vùng sẽ làm
giảm sức ép về việc làm của một số vùng nhưng lai có thể gây ra tình
trạng quá tải về số lượng lao động ở các vùng khác. Tuy nhiên nó
cũng có tác dụng tích cực nâng cao thu nhập, giải quyết tình trạng
thiếu việc làm của người dân nông thôn và các vùng nghèo, việc di cư
đến các vùng thưa dân như miền núi, trung du sẽ góp phần giảm bớt
tình trạng dư thừa lao động tại các vùng đồng bằng.
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
Sự di chuyển lao động giữa các ngành kinh tế hoặc từ khu vực
Nhà nước sang khu vực ngoài quốc doanh, khu vực kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài sẽ tạo điều kiện phân bố hợp lý lực lượng lao động
trong từng ngành, từng khu vực, nhờ đó giảm bớt được số lượng lao
đông dôi dư.
Sự di chuyển của lao động ra khỏi lãnh thổ Quốc gia dưới dạng
xuất khẩu lao động hoặc xuất cảnh cũng góp phần điều chỉnh và làm
giảm bớt sức ép về việc làm trong nước. Đây là biện pháp mà các
quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam đã và đang thực hiện.
3.5. Cơ chế, chính sách và các biện pháp phát triển kinh tế xã hội:
Là các chủ trương, biện pháp ở tầm vĩ mô nhằm phát triển kinh
tế xã hội. Yếu tố này đóng vai trò hết sức quan trọng đối với vấn đề
lao động việc làm. Do vậy, khi ban hành các cơ chế chính sách mới,
Nhà nước cần nghiên cứu, phân tích đánh giá ảnh hưởng của chúng
đến vấn đề lao động việc làm, từ đó có những điều chỉnh kịp thời
nhằm duy trì và đảm bảo mối quan hệ hài hoà giữa phát triển kinh tế
xã hội và mục tiêu giải quyết việc làm của đất nước.
3.6. Hỗ trợ cộng đồng và dịch vụ việc làm:
Hỗ trợ cộng đồng bao gồm sự tham gia giải quyết việc làm của
cá đoàn thể quần chúng, sự tương trợ lẫn nhau về thông tin, vốn, kỹ
thuật để tạo mở và giải quyết việc làm trong xã hội.
Dich vụ việc làm là hoạt động hỗ trợ trực tiếp đối với người lao
động. Nó thường được thực hiện qua các trung tâm việc làm. Nhờ các
hoạt động này, người sử dụng lao động cũng được cung cấp dịch vụ
cần thiết theo hợp đồng.
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
Đây là các nhân tố tác động tích cực và đóng vai trò quan trọng
trong công tác giải quyết việc làm của quốc gia.
3.7. Trợ giúp Quốc tế và giải quyết việc làm:
Các quốc gia nhất là các nước đang phát triển thường nhận
được các khoản trợ cấp quốc tế để giải quyết các vấn đề xã hội, trong
đó có vấn đề lao động việc làm. Một số nước phát triển còn cung cấp
các khoản hỗ trợ song phương đối với lao động nước ngoài từng sinh
sống và làm việc tại các quốc gia đó nhưng hết hạn hợp đồng hoặc
phải trở về do có lý do về kinh tế hay chính trị, sự trợ giúp này là rất
cần thiết trong công tác giải quyết việc làm ở Việt Nam.
III, Ý nghĩa của vấn đề giả quyết và tạo việc làm đối với tăng
trưởng và phát triển kinh tế xã hội:
1.Về mặt kinh tế:
Giải quyết và tạo việc làm là vấn đề được đặt ra ở nhiều quốc
gia, kể cả các nước phát triển và đang phát triển. Điều này không chỉ
có ý nghĩa đối với một bộ phận dân cư, những người thiếu việc làm và
thất nghiệp mà quan trọng hơn, nó tác động đến sự tăng trưởng và
phát triển kinh tế. Ở Việt Nam hiện nay, giải quyết và tạo ra việc làm
mới cho người lao động trước hết sẽ tạo điều kiện để khai thác được
tối đa những nguồn lực quan trọng còn đang tiềm ẩn như tài nguyên
vốn, ngành nghề… thông qua lao động của con người. Khi người lao
động có việc làm sẽ mang lại thu nhập cho bản thân họ và từ đó tạo ra
tích luỹ. Nhà nước không những không phải chi trợ cấp cho những
người nghèo không có việc làm mà khi giải quyết việc làm cho họ, họ
có thể mang lại tích lũy cho nền kinh tế quốc dân. Tăng tích luỹ sẽ
giúp cho sản xuất được mở rộng, thu hút thêm nhiều lao động. Mặt
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
khác, khi người lao động có thu nhập, họ sẽ tăng tiêu dùng, từ đó làm
tăng sức mua của toàn xã hội. Tăng tích luỹ sẽ giúp cho sản xuất
được mở rộng, tức là tác động đến tổng cung, tăng tiêu dùng sẽ làm
cho tổng cầu của nền kinh tế tăng lên kích thích sự phát triển của sản
xuất, từ đó thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Nước ta luôn tồn tại tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm
nghiêm trọng, đại bộ phận dân cư có mức sống thấp, nhiều người lao
đông cần có việc làm hoặc việc làm có hiệu quả hơn. Giải quyết và tạo
việc làm ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa to lớn đối với
quá trình phát triển kinh tế, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và
nâng cao thu nhập quốc dân. Tạo việc làm là một trong những biện
pháp quan trọng để làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm. Đồng
thời, thông qua tạo việc làm mới cho người lao động còn tạo điều kiện
cho các thành phần kinh tế phát triển theo hướng tích cực, năng động
có nghĩa là càng tạo mở được nhiều việc làm mới cho xã hội, chứng
tỏ thành phần kinh tế đó hoạt động có hiệu quả, từ đó nâng cao vị thế
trên thị trường.
2, Về mặt xã hội:
Giải quyết và tạo việc làm là một vấn đề mang tính xã hội. Mỗi
con người khi trưởng thành đều có nhu cầu và mong muốn làm việc,
đó là nhu cầu chính đáng và cũng là quyền lợi của người lao động.
Chính vì vậy, giải quyết việc làm đầy đủ cho người lao động có ý
nghĩa rất lớn đối với mỗi cá nhân và cả xã hội. Khi Chính phủ có chính
sách tạo việc làm thoả đáng, điều đó sẽ đem lại công bằng cho xã hội,
tạo công ăn việc làm cho tất cả lao động. từ đó mà mọi người lao
động đều có thu nhập, không phải lo ăn bám, hạn chế được sự phân
hoá giàu nghèo, tệ nạn xã hội có thể giảm bớt.
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
Ngược lại, nếu không giải quyết tốt việc làm cho người lao động,
hiện tượng thất nghiệp, thiếu việc làm sẽ tăng lên. Điều này luôn gắn
liền với sự gia tăng các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp, ma tuý…
làm rối loạn trật tự an ninh xã hội, tha hoá nhân phẩm người lao động.
Thất nghiệp ở mức cao còn gây ra sự bất ổn định về kinh tế và chính
trị, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước.
Giải quyết và tạo việc làm trên phạm vi rộng còn bao gồm cả
các vấn đề liên quan đến phát triển nguồn lực và sử dụng có hiệu
quả nguồn lao động. Trên giác độ này, công tác giải quyết và tạo
việc làm góp phần nâng cao chất lượng nguồn lao động nhằm đáp
ứng những yêu cầu của thị trường, đồng thời xây dựng nguồn lực
lâu dài cho đất nước.
Giải quyết và tạo việc làm gắn liền với quá trình phân công
lao động theo ngành và theo lãnh thổ. Nếu không có các biện pháp
tạo mở việc làm hợp lý cho khu vực nông thôn, nhiều người lao
động ở khu vực này sẽ ra thành thị để tìm việc làm, gây sức ép cho
khu vực thành thị trên tất cả các mặt như: nhà ở, điện nước, y tế,
phúc lợi xã hội…
Hàng năm, nước ta có hàng triệu người bước vào độ tuổi lao
động, do vậy tạo việc làm cho lực lượng lao động này có ý nghĩa cực
kỳ quan trọng trong việc giảm sức ép về việc làm của lực lượng lao
động trẻ, lực lượng có nhiều tiềm năng đóng góp vào sự phát triển
kinh tế xã hội lớn nhất cho đất nước.
IV, Vai trò của nhà nước và xã hội trong lĩnh vực giải quyết việc
làm:
Sự ra đời và phát triển của Nhà nước gắn liền với sự hình thành
và hoàn thiện các chức năng của mình. Giải quyết các vấn đề kinh tế -
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
xã hội là một chức năng bao trùm mà Nhà nước thường xuyên phải
thực hiện. Khi vấn đề thất nghiệp và thiếu việc làm nảy sinh, Nhà
nước phải đứng ra giải quyết nhằm ngăn chặn và giảm bớt các hậu
quả về kinh tế - xã hội mà nó có thể gây ra, đồng thời hướng những
tác động đó vào phát triển đất nước. Chính vì đó, khi tỷ lệ thất nghiệp
và thiếu việc làm càng cao thì vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực giải
quyết và tạo việc làm sẽ càng lớn.
Nhà nước có thể đưa ra nhiều chính sách và biên pháp khác
nhau để giải quyết việc làm. Nhà nước tạo ra khuôn khổ pháp lý để
giải phóng sức lao động, khuyến khích toàn dân tham gia vào phát
triển sản xuất, tự tạo việc làm, khuyến khích các đơn vị kinh tế thu hút
thêm nhiều lao động. Nhà nước sử dụng công cụ tài chính, phát huy
vai trò của bộ máy Nhà nước, các đoàn thể xã hội để thực hiện các
chính sách, biện pháp đưa ra như cho các đối tượng vay vốn với lãi
suất thấp (hoặc ưu đãi), phát triển các dịch vụ việc làm và dạy nghề,
tạo chỗ làm mới trong các ngành, các địa phương, các thành phần
kinh tế…Kết quả giải quyết việc làm ở các quốc gia sẽ phụ thuộc rất
lớn vào mức độ quan tâm của Nhàn nước cũng như các chính sách
và biện pháp mà Nhà nước đã thực thi.
Việc làm có mối quan hệ mật thiết tới chất lượng cuộc sống của
người lao động và gia đình họ. Vì vậy, giải quyết và tạo việc làm
không những là nhiệm vụ cuả Nhà nước mà còn là trách nhiệm của
mọi người lao động và toàn xã hội. Trong đó các tổ chức kinh tế xã
hội, các đoàn thể quần chúng đóng vai trò tích cực trong việc hướng
dẫn giúp đỡ người lao động trang bị kiến thức nghề nghiệp, tìm việc
làm và tạo việc làm cho họ. Sự tham gia của các tổ chức, đoàn thể
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
này sẽ góp phần quan trọng cùng với Nhà nước giải quyết có hiệu quả
những vấn đề lao động, việc làm đang được đặt ra.
Đối với Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: Nền kinh
tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, do đó, Nhà nước và các
đoàn thể xã hội cần phát huy mạnh mẽ vai trò của mình trong lĩnh vực
giải quyết việc làm, một trong những vấn đề kinh tế xã hội cấp bách
hiện nay.
V, Sự cần thiết khách quan của tạo việc làm và giải quyết việc
làm trên địa bàn huyện Đan Phượng:
Sự phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc rất lớn vào việc khai
thác, quản lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực của đất
nước bao gồm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, trình
độ khoa học, kỹ thuật công nghệ và tiềm lực về con người hay
nguồn nhân lực.
Việc tạo việc làm nhằm khai thác có hiệu quả hơn các nguồn tài
nguyên sẵn có trên địa bàn huyện, đồng thời, góp phần làm giảm tỷ lệ
thất nghiệp và các tệ nạn xã hội hiên đang có xu hướng gia tăng do
hiện tượng thất nghiệp gây ra.
Trong khoảng 8-10 năm trở lại đây, huyện Đan Phượng đang
chuyển mình mạnh mẽ cùng hoà nhịp với quá trình Công nghiệp hoá -
Hiện đại hoá của đất nước. Cơ sở hạ tầng và điều kiện kinh tế của
huyện đang ngày càng được hiện đổi mới theo hướng hiện đại hoá,
trong khi đó trình độ nguồn nhân lực của huyện lại chưa theo kịp được
với yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội.
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
Để phục vụ cho quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá trên
địa bàn huyện, có một diện tích lớn đất sản xuất nông nghiệp được
chuyển thành khu công nghiệp, kéo theo nhiều lao động hoạt động
trong lĩnh vực này lâm vào tình trạng thất nghiệp hoặc thiếu việc làm.
Từ các nguyên nhân trên cho thấy công tác giải quyết việc làm
và tạo việc làm cho người lao động huyện Đan Phượng là một yêu
cầu cần thiết khách quan và đóng vâi trò hết sức quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội của huyện.
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
PhÇn ii
thùc tr¹ng c«ng t¸c t¹o më viÖc lµm cña
huyÖn ®an phîng trong nh÷ng n¨m võa qua
I, Giới thiệu chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của
huyện Đan Phượng:
1, Đặc điểm về vị trí địa lý và các điều kiện tự nhiên của huyện:
Huyện Đan Phượng nằm về phía Tây Bắc tỉnh Hà Tây, phía Tây
của Thủ đô Hà Nội. Cách trung tâm tỉnh khoảng 20 km, là huyện đồng
bằng có diện tích tự nhiên khoảng 76.82 km 2; diện tích đất canh tác là
3.600 ha. Giáp với các huyện Phúc Thọ, Quốc Oai của tỉnh ở phía
Tây, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nội và huyện Hoài Đức ở phía Đông.
Với vị trí địa lý là cửa ngõ của thủ đô như vậy đã tạo cho huyện nhiều
cơ hội thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt là trong giai đoạn
công nghiệp hoá hiện đại hoá hiện nay.
2, Đặc điểm về kinh tế-xã hội, thành tựu đã đạt được và mục tiêu trong
những năm tới:
Trong những năm vừa qua (từ năm 2002-2007) các cấp uỷ Đảng,
chính quyền trong huyện Đan Phượng đã quán triệt, vận dụng sáng
tạo các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để
lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương,
tạo những bước tiến quan trọng, những khâu đột phá mang tính quyết
định, đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành nghề, cơ
cấu lao động; thu ngân sách khá và tăng dần hàng năm; giảm mạnh tỷ
trọng công nghiệp, dịch vụ, kết cấu hạ tầng được tăng cường, nhất là
hệ thống đường giao thông nông thôn và các công trình phúc lợi công
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
cộng, an ninh quốc phòng được giữ vững; đời sống vật chất tinh thần
của nhân dân ngày một nâng cao. Cụ thể như sau:
- Tổng sản phẩm GDP năm 2007 ước thực hiện 645 tỷ đồng
bằng 116.85% so với năm 2006.
- Tổng giá trị sản xuất ước thực hiện 1312 tỷ đồng bằng
112,33% năm 2006. Cơ cấu ngành: nông nghiệp thuỷ sản chiếm
21,4%; công nghiệp xây dựng chiếm 39,6% và dịch vụ chiếm 39%
- Giá trị sản xuất bình quân 1 hecta canh tác đạt 52 triệu đồng.
bình quân thu nhập đầu người năm 2007 là 7 triệu 610 nghìn đồng
trên một người bằng 126,35% so với năm 2006.
- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 138 tỷ 115
triệu đồng tăng 149,2% so với năm 2006.
Hiện nay trên địa bàn huyện có 19 khu công nghiệp vừa và nhỏ
thu hút hơn 160 dự án đầu tư trong nước và nước ngoài đang trong
quá trình hoạt động và đầu tư cơ sở hạ tầng đi vào hoạt động
Bên cạnh đó hệ thống điện đường trường trạm của huyện đang
được đầu tư xây dựng tạo cở sở vật chất tốt nhất phục vụ cho phát
triển kinh tế.
Hiện nay huyện Đan Phượng đang trong giai đoạn xây dựng cơ
sở hạ tầng để phát triển kinh tế: hệ thống đường xá được mở rộng và
hiện đại hoá, nhiều khu công nghiệp mới được thành lập ở các xã.
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp thu hẹp do bị thu hồi đất để xây
dựng các khu công nghiệp, các công trình kinh tế xã hội. Bộ mặt của
huyện hiện nay đang chuyển biến mạnh mẽ từng ngày theo hướng
hiện đại hoá nhằm khai thác tốt hơn các nguồn tiềm năng của huyện:
Đất đai, nguồn lao động, nguồn vốn đầu tư…Tuy nhiên, tốc độ tăng
tưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm so với lợi thế về điều
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
kiện tự nhiên và vị trí của huyện ven đô, tình trạng thiếu việc làm vẫn
còn là vấn đề nan giải ở địa phương.
II, Thực trạng lao động huyện Đan Phượng:
1, Về số lượng:
Theo tổng điều tra dân số ngày 01/07/2007 toàn huyện Đan
Phượng có 141.993 người với 31.966 hộ dân phân bố ở 15 xã và thị
trấn.Là một huyện đồng bằng đất chật người đông, diện tích tự nhiên
76.57 km2, mật độ dân số trung bình 1854 người/1km2.
Tỷ lệ tăng dân số hàng năm là 1.36%, chủ yếu là tăng dân số tự
nhiên, tỷ lệ tăng dân số cơ học chỉ chiếm một con số rất nhỏ không
đáng kể, so với trung bình của cả nước là 1.3 % (năm 2007) là khá
cao, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc gia tăng nguồn nhân
lực trong những năm tới, đồng thời làm gia tăng sức ép về giải quyết
việc làm cho các cơ quan quản lý nhà nước.
Tính đến ngày 1/7/2007 dân số của huyện Đan Phượng là
141.993 người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là 77.085
người chiếm 56,7% so với tổng số dân của huyện trong đó lao động
nữ là 41048 người chiếm tỷ lệ 53.25% so với tổng số lao động. Số
người bước vào độ tuổi lao động hàng năm vào khoảng 2.115 người.
Lực lượng lao động phân bổ trong các lĩnh vực gồm 63.485 người,
trong đó:
+ Lao động nông nghiệp, thuỷ sản: 48.950 chiếm 77,1%
+ Lao động công nghiệp – xây dựng: 5.850 chiếm 9.2%
+ Lao động dịch vụ - thương mại: 5.855 chiếm 9,2%
+ Lao động hành chính sự nghiệp: 2.830 chiếm 4,5%
+ Lao động tại các xã không có việc làm: 4.500
+ Số đến tuổi lao động nhưng đang học ở các trường: 6500.
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
Sơ đồ thể hiện cơ cấu lao động theo ngành nghề
Như vậy, lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn
còn chiếm một tỷ lệ lớn nguyên nhân là do Đan Phượng là một huyện
thuần nông với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu (Chiếm tới 45%), hiện
nay đang trong giai đoạn chuyển đổi cơ cấu nên vẫn còn một số
lượng lớn lao động vẫn còn hoạt động trong lĩnh vực này. Nó cũng đặt
ra thách thức lớn về tạo việc làm và giải quyết việc làm cho số lượng
lao động này khi huyện thu hẹp dần diện tích đất sản xuất nông
nghiệp
Theo cuộc tổng điều tra dân số và lao động việc làm do phòng
Thống kê kết hợp với phòng Nội vụ - Lao động và Xã hội thực hiện và
tổng kết kết quả vào tháng 7/2007 thì toàn huyện có khoảng 46.254
người trong độ tuổi lao động có độ tuổi từ 18-35 tuổi (chiếm 60%), còn
lại có độ tuổi từ 35 – 60 tuổi chiếm khoảng 40%. Điều này cho thấy lực
lượng lao động của huyện rất trẻ, năng động và có tiềm năng đóng góp
công sức vào sự phát triển kinh tế xã hội của huyện là vô cùng to lớn. Lao
động trẻ là một trong những điều kiện thuận lợi của huyện, vì chỉ có lực
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại Học Kinh tế Quốc dân
lượng lao động trẻ mới có điều kiện về tri thức và sức khoẻ cần thiết để
nâng cao trình độ văn hoá chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng tiếp thu
khoa học công nghệ hiện đại, khả năng thích ứng với cơ chế thị trường
đầy biến động nếu được định hướng và quan tâm đúng mức của gia đình
và các cơ quan quản lý Nhà nước.
Bảng 1: Tốc độ tăng nguồn nhân lực của Đan Phượng giai
đoạn từ năm 2002-2007
Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Nguồn nhân lực(Người) 50.982 54.367 58.589 65.848 72.105 77.085
Tốc độ tăng NNL (%) 1.18 1.07 1.08 1.12 1.1 1.07
(Nguồn:PhòngThống kê huyện Đan Phượng)
Như vậy trong sáu năm qua nguồn nhân lực của huyện liên tục
tăng và tăng với tốc độ khá ổn định trung bình khoảng 1.1%/ 1năm.
Với quy mô nhân lực như hiện tại, cùng với tốc độ tăng của
nguồn nhân lực cho thấy Đan Phượng là một huyện có quy mô nguồn
nhân lực tương đối lớn. Do đó cần phải có chính sách ổn định dân số
bằng cách giảm tỷ lệ sinh, thực hiện kế hoạch hoá gia đình để hạn chế
tốc độ gia tăng nguồn nhân lực đảm bảo hoàn thành kế hoạch tăng
trưởng kinh tế.
2, Về chất lượng:
* Trình độ văn hóa:
Trong những năm gần đây, do mức sống của người dân trong
huyện được nâng cao nên sức khoẻ của nguồn nhân lực trong huyện
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực 7