Công tác chi trả bảo hiểm xã hội ở huyện cẩm xuyên hà tĩnh giai đoạn 20002002 thực trạng và giải pháp

  • 45 trang
  • file .pdf
LUẬN VĂN:
Công tác chi trả Bảo hiểm xã hội ở huyện
Cẩm xuyên - Hà Tĩnh giai đoạn 2000-
2002 Thực trạng và giải pháp
Lời mở đầu
Chính sách bảo hiểm xã hội đã được Đảng, Nhà nước ta thực hiện từ năm 1960 của
thế kỉ XX. Kể từ đó đến nay, chính sánh bảo hiểm xã hội đã được phát huy, đóng vai trò
quan trọng trong cuộc sống của những người lao động. Bảo hiểm xã hội (BHXH) luôn
có mặt khi người lao động gặp những rủi ro: ốm đau, bệnh tật, tai nạn, tuổi già và những
khó khăn khác trong cuộc sống.
Từ khi Bộ luật lao động ra đời, BHXH được thực hiện theo điều lệ BHXH đã thực
sự đi vào đời sống x
ã hội, kinh tế và chính trị, có tác dụng tích cực trong mối quan hệ giữa người lao động
và người sử dụng lao động. Tổ chức BHXH đã khẳng định được hiệu quả hoạt động và
vị thế của mình trong nước, đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Bên cạnh những
thành tích đó BHXH Việt Nam vẫn còn có rất nhiều điểm chưa phù hợp đặc biệt là trong
giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước.
Trước thực tế đó, em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài : "Công tác chi trả Bảo hiểm
xã hội ở huyện Cẩm xuyên - Hà Tĩnh giai đoạn 2000-2002 Thực trạng và giải pháp"
làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Luận văn này được thực hiện với mục đích nêu lên sự cần thiết của BHXH đối với
người lao động làm rõ những vấn đề lý luận về công tác chi trả tại BHXH huyện, những
kết quả đạt được, và những tồn tại cần giải quyết để từ đó có những giải pháp nhằm thực
hiện tốt công tác chi trả BHXH tại BHXH huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh
Kết cấu luận văn ngoài lời nói đầu và kết luận gồm phần
Chương I : Lý luận chung về BHXH
Chương II : Công tác chi trả các chế độ BHXH tại huyện Cẩm Xuyên –Hà
Tỉnh giai đoạn 2000-2002.
Chương III : Một số kiến nghị.
Luận văn đề cập đến một số vấn đề trong công tác chi trả BHXH, đưa ra một số
kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác chi trả, đáp ứng được
yêu cầu của người lao động trong công cuộc đổi mới đất nước.
Chương I
Lý luận chung về Bảo hiểm Xã Hội
1. sự cần thiết, đặc trưng cơ bản và ý nghĩa của BHXH đối với sự phát triển kinh tế-
xã hội
1.1 Sự cần thiết của BHXH.
Nền sản xuất hàng hoá càng phát triển thì vấn đề thuê mướn nhân công diễn ra
càng phổ biến, mâu thuẫn giữa chủ và thợ ngày càng gia tăng. Đặc biệt khi người lao
động không may gặp rủi ro, sự cố như: ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động, mất việc
làm…phải nghỉ việc. Khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết không
những không mất đi mà còn tăng lên, thậm chí còn phát sinh ra nhiều nhu cầu mới như:
cần được khám chữa bệnh, điều trị khi ốm đau; cần người nuôi dưỡng, chăm sóc khi gặp
tai nạn, thương tật… Tổng thời gian nghỉ việc người chủ không trả lương, làm cho
người lao động càng gặp nhiều khó khăn hơn và không yên tâm làm việc. Vì vậy, lúc
đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động nhưng sau đó đã phải cam kết cả việc bảo
đảm cho người lao động có một số thu nhập nhất định để họ trang trải khi không may
gặp những khó khăn đó.
Trong thực tế, nhiều khi các rủi ro trên không xẩy ra và người chủ không phải chi
ra đồng nào nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ phải bỏ ra một khoản tiền rất
lớn mà họ không muốn. Do đó mâu thuẫn chủ thợ càng trở nên vô cùng gay gắt. Khi
những mâu thuẫn này kéo dài nhà nước phải đứng ra can thiệp bằng cách: buộc giới chủ
phải có trách nhiệm hơn đối với người lao động mà mình sử dụng, thể hiện ở việc phải
trích ra một phần thu nhập của mình để hình thành quỹ. Sau đó dùng nguồn quỹ này để
trợ cấp cho người lao động và gia đình họ, khi người lao động không may gặp những rủi
ro và sự cố bất ngờ. Đồng thời Nhà nước đứng ra bảo trợ cho quỹ. Bằng cách đó cả chủ
và thợ đều thấy mình có lợi và tự giác thực hiện, cuộc sống của người lao động được
đảm bảo.Người chủ được bảo vệ việc sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh
được những xáo trộn không cần thiết.
Mối quan hệ ba bên nêu trên được thế giới quan niệm là Bảo hiểm xã hội (BHXH)
cho người lao động. Như vậy BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ người lao động,
bằng cách thông qua việc tập trung nguồn tài chính được huy động từ sự đóng góp của
người lao động, người sử dụng lao động (nếu có), sự tài trợ của Nhà nước nhằm trợ cấp
vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu
nhập do gặp các rủi ro ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao
động theo quy định của pháp luật hoặc tử vong…
1.2 Đặc trưng cơ bản của BHXH.
BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động do
vậy BHXH có những đặc trưng cơ bản sau:
- BHXH đảm bảo cho người lao động trong và sau quá trình lao động.
- Các rủi ro của người lao động liên quan đến thu nhập của họ như : ốm đau, tai
nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu, chết…Do những rủi ro
này mà người lao động bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập, họ cần phải có khoản thu khác
bù vào để ổn định cuộc sống, thông qua BHXH nguồn thu nhập này được đảm bảo.
- Sự đóng góp của các bên tham gia BHXH: Người lao động muốn được quyền
hưởng trợ cấp BHXH phải có nghĩa vụ đóng BHXH; người sử dụng lao động cũng phải
có nghĩa vụ đóng BHXH cho người lao động mà mình thuê mướn. Quỹ BHXH dùng để
chi trả các trợ cấp khi có nhu cầu phát sinh về BHXH.
- Các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, các chế độ
BHXH cũng do luật định, Nhà nước bảo hộ các hoạt động của BHXH.
1.3 ý nghĩa của BHXH:
Ra đời và phát triển cùng với nền kinh tế thị trường, BHXH đã có mặt ở hầu hết
các nước trên thế giới. Trình độ phát triển của BHXH được quyết định bởi mức độ phát
triển của nền kinh tế, nền kinh tế càng phát triển thì mức độ hoàn thiện của BHXH ngày
càng cao và với những đặc trưng riêng có của mình BHXH đã có ý nghĩa thiết thực đối
với sự phát triển kinh tế xã hội như sau:
 Đối với người lao động:
Trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang ngày càng hoàn thiện quá trình công
nghiệp hoá- hiện đại hoá thì những "rủi ro" như ốm đau, tai nạn lao động- bệnh nghề
nghiệp, thai sản, mất việc làm…lại diễn ra một cách thường xuyên và ngày càng phổ
biến hơn, phức tạp hơn. Khi những rủi ro này xảy ra sẽ gây khó khăn cho người lao
động vế cả vật chất lẫn tinh thần, ảnh hưởng không tốt cho cả cộng đồng.
Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, BHXH sẽ
góp phần trợ giúp cho cá nhân những người lao động gặp phải rủi ro, bất hạnh bằng cách
tạo ra cho họ những thu nhập thay thế, những điều kiện lao động thuận lợi…giúp họ ổn
định cuộc sống, yên tâm công tác, tạo cho họ một niềm tin vào tương lai. Từ đó góp
phần quan trọng vào việc tăng năng suất lao động cũng như chất lượng công việc cho xí
nghiệp nói riêng và cho toàn xã hội nó chung.
• Đối với xã hội :
Quỹ BHXH là một nguồn tài chính độc lập ngoài ngân sách Nhà nước do các bên
tham gia BHXH đóng góp nhằm phân phối lại theo luật định cho mọi thành viên khi bị
ngừng hoặc giảm thu nhập gây ra do tạm thời hay vĩnh viễn mất khả năng lao động. Quỹ
BHXH không những tác động tới quá trình phát triển kinh tế của đất nước mà còn góp
phần tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanh mới, việc làm mới cho người lao động, từ
đó giải quyết tình trạng thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động … dưới nhiều
hình thức khác nhau như hình thức đầu tư phát triển phần "nhàn rỗi" của quỹ.
Như vậy, BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng không thể thiếu
của mỗi quốc gia nhằm ổn định đời sống kinh tế- xã hội và góp phần làm vững chắc thể
chế chính trị.
2. nội dung hoạt động của BHXH
2.1. quyền hạn và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH
2.1.1 Người lao động
* Quyền hạn
- Được nhận sổ BHXH.
- Được nhận lương hưu hoặc trợ cấp kịp thời, đầy đủ thuận tiện khi có đủ điều kiện
hưởng BHXH theo quy định tại điều lệ này.
- Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao động hoặc
tổ chức BHXH có hành vi vi phạm Điều lệ BHXH.
* Trách nhiệm
- Đóng BHXH theo đúng quy định.
- Thực hiện đúng các quy định về việc lập hồ sơ để hưởng chế độ BHXH.
- Bảo quản, sử dụng sổ BHXH và hồ sơ về BHXH đúng quy định.
2.1.2 Người sử dụng lao động
*Quyền hạn
- Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng với quy định của Điều lệ BHXH.
- Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi cơ quan BHXH có hành vi vi
phạm Điều lệ BHXH.
* Trách nhiệm
- Đóng BHXH theo đúng quy định.
- Trích tiền lương của người lao động để đóng BHXH đúng quy định.
- Xuất trình các tài liệu, hồ sơ và cung cấp thông tin liên quan khi có kiểm tra,
thanh tra về BHXH của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
2.1.3 cơ quan bảo hiểm xã hội
* Quyền hạn
- Trình thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy
định để quản lí việc thu, chi BHXH và để xác nhận đối tượng hưởng các chế độ BHXH
quy định tại Điều lệ này.
- Tổ chức phương thức quản lý quỹ BHXH để đảm bảo thực hiện các chế độ
BHXH có hiệu quả.
- Tuyên truyền, vận động để mọi người tham gia thực hiện BHXH.
- Từ chối việc chi trả chế độ BHXH cho các đối tượng được hưởng chế độ BHXH
khi có nghi vấn và có khi có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi
man trá, làm giả hồ sơ, tài liệu.
* Trách nhiệm
- Tổ chức thu, quản lý, sử dụng quỹ BHXH đúng quy định.
- Thực hiện các chế độ BHXH đúng quy định tại điều lệ này.
- Tổ chức việc chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH kịp thời, đầy đủ, thuận tiện.
- Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về BHXH.
- Thông báo định kỳ hàng năm về tình hình thực hiện BHXH đối với người sử
dụng lao động và người lao động.
2.2. Nguồn quỹ BHXH
Quỹ BHXH tập trung những đóng góp bằng tiền của những người tham gia BHXH
hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho những người được hưởng BHXH và
gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc
mất việc làm.
Như vậy quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng; nó vừa
mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan
trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo khả năng giải quyết những rủi ro của tất
cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho việc giàn trải rủi ro được thực
hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian, đồng thời giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế
cho người sử dụng lao động, tiết kiệm chi cho cả Ngân sách nhà nướcvà ngân sách gia
đình.
Quỹ được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Trước hết đó là phần đóng góp của
người sử dụng lao động, người lao động và nhà nước, đây là nguồn chiếm tỉ trọng lớn
nhất và cơ bản của quỹ. Thứ hai là phần tăng thêm do bộ phận nhàn rỗi tương đối của
quỹ được tổ chức BHXH chuyên trách đưa vào hoạt động sinh lời. Thứ ba là phần nộp
phạt của những cá nhân và tổ chức kinh tế vi phạm luật lệ về BHXH. Phần lớn các nước
trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu trên. Tuy nhiên phương
thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia có khác nhau.
* Về phương thức đóng góp
BHXH của người lao động và người sử dụng lao động vẫn còn hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất: căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan đơn vị.
Quan điểm thứ hai: căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối
chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định mức đóng.
* Về mức đóng góp
Nhìn chung mức đóng góp BHXH ở các nước rất khác nhau, phụ thuộc vào sự
phát triển của xã hội và khả năng kinh tế. ở các nước phát triển thì tỉ lệ đóng cao, thường
từ 40-50% tổng quỹ tiền lương. ở các nước đang phát triển tổng mức đóng từ 15-25%
tổng quỹ tiền lương, trong đó người sử dụng lao động đóng khoảng 2/3 và người lao
động khoảng 1/3. Có một số nước mức đóng góp thấp từ 6-10% tổng quỹ tiền lương.
Nhà nước chỉ giảm thuế đối với các khoản đóng BHXH hoặc hỗ trợ về tiền lương
đối với người lao động khó khăn.
ở nước ta, theo quy định tại Điều 149 - Chương XII- BHXH của Bộ luật Lao động
và được cụ thể hoá ở Điều 36- chương III của Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị
định 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính phủ thì mức đóng góp tỉ lệ 20% tổng quỹ tiền
lương, trong đó :
- Người sử dụng lao động đóng 15% tổng quỹ tiền lương
- Người lao động đóng 5% tiền lương.
Quỹ BHXH càng phát triển thì gánh nặng chi trả BHXH từ ngân sách Nhà nước
hiện nay sẽ giảm dần, điều đó cũng có nghĩa là ngân sách Nhà nước có thêm nguồn để
thực hiện tăng quỹ lương cho người lao động, giúp họ chăm lo toàn diện đời sống của
mình và đầu tư xây dựng phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
2.3. Nội dung chi của quỹ BHXH
Tại hội nghị quốc tế về lao động hàng năm, tổ chức quốc tế về lao động (ILO) đã
thông qua công ước 102 (6/1952), công ước đầu tiên về những quy phạm tối thiểu của
BHXH gồm 9 chế độ trợ cấp như sau:
1. Chăm sóc y tế
2. Trợ cấp ốm đau
3. Trợ cấp tuổi già
4. Trợ cấp thất nghiệp
5. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
6. Trợ cấp gia đình
7. Trợ cấp thai sản
8. Trợ cấp tàn tật
9. Trợ cấp tử tuất.
Công tác BHXH đã hình thành và phát triển ở từng nước khác nhau, không phải
nước nào cũng thực hiện đủ 9 chế độ trên và không phải nước nào cũng có đủ đối tượng,
phạm vi áp dụng, nguồn hình thành quỹ giống nhau mà tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế,
chính trị - xã hội của từng nước để áp dụng cho phù hợp.
Nội dung chi trả quỹ BHXH ở nước ta hiện nay, theo điều 2 chương 1 - nguyên tắc
chung của điều lệ BHXH ban hành kèm theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính
phủ quy định các chế độ sau:
1. Chế độ trợ cấp ốm đau
2. Chế độ trợ cấp thai sản
3. Chế độ trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp
4. Chế độ hưu trí
5. Chế độ tử tuất.
2.4 Quản lý chi Bảo hiểm xã hội
Tổng giám đốc BHXH Việt Nam đã ban hành Quy định chung về Quản lý chi trả
các chế độ BHXH thuộc hệ thống BHXH Việt Nam kèm theo Quyết định số
2903/1999/QĐ-BHXH ngày 24/12/1999 như sau :
(1) BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là BHXH tỉnh),
BHXH các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là BHXH huyện) là cơ
quan tổ chức chi trả BHXH theo đúng chế độ, chính sách của Nhà nước, đảm bảo chi trả
kịp thời, đầy đủ cho các đối tượng hưởng BHXH.
(2) Việc chi trả các chế độ BHXH do BHXH tỉnh, huyện chi trả trực tiếp hoặc uỷ
quyền cho đại diện chi trả ở xã, phường và đơn vị sử dụng lao động phải đảm bảo đúng
nguyên tắc quản lý tài chính. Cơ quan BHXH có trách nhiệm quản lý chặt chẽ các đối
tượng hưởng BHXH, tình hình biến động tăng, giảm đối tượng, số tiền chi trả theo từng
tháng và đảm bảo an toàn nguồn tiền mặt trong quá trình chi trả. BHXH tỉnh huyện phía
chấp hành chế độ kế toán, thống kê theo quy định của Nhà nước, quy định của tổng giám
đốc BHXH Việt Nam.
(3) BHXH các cấp có quyền ngừng hoặc từ chối chi trả cho đối tượng hưởng
BHXH khi có kết luận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về hành vi sai phạm để
hưởng BHXH.
(4) Đơn vị sử dụng lao động, đại diện chi trả ở xã, phường được cơ quan BHXH
uỷ quyền chi trả các chế độ BHXH cho người lao động đảm bảo chi trả kịp thời, đầy đủ.
Thực hiện thanh quyết toán với cơ quan BHXH, quản lý lưu giữ chứng từ kế toán theo
các quy định hiện hành của Nhà nước và của BHXH Việt Nam, có trách nhiệm cung cấp
đầy đủ hồ sơ, chứng từ chi trả BHXH khi có yêu cầu kiểm tra, phúc tra, thanh tra chi trả
BHXH của các cơ quan thuộc hệ thống BHXH Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền
của Nhà nước.
• Quy trình chi BHXH
Đảm bảo những quy định chung về quản lý chi, phòng Kế hoạch Tài chính đã
thực hiện chi BHXH như sau :
* Phân cấp chi trả :
- Chi lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng
+ BHXH tỉnh không trực tiếp chi trả.
+ BHXH huyện thực hiện theo 2 mô hình :
• Ký hợp đồng với phường, xã để chi trả lương hưu, mất sức lao động (MSLĐ), tai
nạn lao động- bệnh nghề nghiệp (TNLĐ-BNN), tử tuất, người phục vụ TNLĐ-BNN, cán
bộ xã phường (CBXP).
• BHXH huyện phải thực hiện tổng hợp những đối tượng chết, hết thời hạn hưởng
(chế độ tử tuất, MSLĐ), vi phạm pháp luật, vắng mặt quá thời gian quy định không rõ lý
do, gửi BHXH tỉnh lập danh sách cho tháng sau.
- Chi chế độ BHXH một lần
+ BHXH huyện trực tiếp chi trả trợ cấp một lần cho : Người đang làm việc trong
các đơn vị sử dụng lao động BHXH huyện quản lý và thân nhân của những đối tượng là
hưu công nhân viên chức, hưu quân đội đã qua đời.
+ BHXH tỉnh uỷ quyền cho BHXH huyện chi trả toàn bộ chế độ trợ cấp một lần,
cho các đối tượng đang làm việc trong các đơn vị sử dụng lao động do BHXH tỉnh trực
tiếp quản lý.
- Chi trợ cấp ốm đau, thai sản, dưỡng sức
+ BHXH tỉnh, huyện không trực tiếp chi cho đối tượng được hưởng trợ cấp ốm
đau, thai sản, dưỡng sức mà uỷ quyền thông qua đơn vị sử dụng lao động tổ chức chi trả.
Đơn vị sử dụng lao động có quyền quản lý chứng từ gốc.
+ Hàng quý, sau khi đã cấp tiền thanh toán cho đơn vị sử dụng lao động, BHXH
huyện lập báo cáo tổng hợp chi ốm đau, thai sản, dưỡng sức kèm theo danh sách lao
động nghỉ hưởng lương trợ cấp ốm đau, thai sản đã được thẩm định. Trên cơ sở báo cáo
của BHXH các huyện, thị và biểu tổng hợp chi ốm đau, thai sản, dưỡng sức đối với
những đơn vị sử dụng lao động tỉnh trực tiếp quản lý, BHXH tỉnh lập báo cáo tổng hợp
ốm đau, thai sản, dưỡng sức trên địa bàn toàn tỉnh để gửi về BHXH Việt Nam.
+ BHXH tỉnh chịu trách nhiệm chi đóng Bảo hiểm y tế vào tháng 1 hàng năm cho
các đối tượng hưởng chế độ BHXH hàng tháng, hàng quý căn cứ vào danh sách đối
tượng tăng, giảm đóng bổ sung hoặc giảm số thẻ Bảo hiểm y tế cho quý sau. Cuối năm,
căn cứ vào sổ đối tượng hàng tháng được cấp thẻ Bảo hiểm y tế của các quý trong năm
đối chiếu thanh lý hợp đồng. BHXH huyện thực hiện tiếp nhận và cấp thẻ Bảo hiểm y tế
theo danh sách của BHXH tỉnh:
+ Đối tượng là những người đã nghỉ việc hưởng hưu trí, MSLĐ, TNLĐ - BNN,
trước 01/01/1995 hay được giải quyết hưu và trợ cấp BHXH từ 01/01/1995 trở đi nhưng
do nguồn ngân sách cấp theo quy định, được tính bằng 3% tổng số tiền lương hưu, trợ
cấp (không tính phụ cấp khu vực).
+ Đối tượng là những người đã nghỉ việc hưởng hưu trí, TNLĐ -BNN từ
01/01/1995 trở đi do nguồn quỹ BHXH chi, được tính bằng 3% tổng số tiền lương hưu,
trợ cấp (không tính phụ cấp khu vực).
* Lập, xét duyệt dự toán chi BHXH:
Dự toán chi BHXH cho đối tượng hưởng BHXH được lập hàng năm phản ánh đầy đủ
nội dung từng khoản chi:
- Chi các chế độ BHXH từ nguồn ngân sách Nhà nước
+ Chi hàng tháng (thường xuyên): Lương hưu cho đối tượng là hưu quân đội và
hưu công nhân viên chức, trợ cấp BHXH cho đối tượng hưởng chế độ MSLĐ, trợ cấp
theo Quyết định số 91 TNLĐ - BNN, người phục vụ TNLĐ - BNN, người hưởng tuất
(tuất cơ bản và tuất nuôi dưỡng)
+ Trợ cấp một lần: Trợ cấp tuất đối với người hưởng chế độ hưu (quân đội, công
nhân viên chức), MSLĐ, TNLĐ - BNN, mai táng phí đối với người hưởng chế độ hưu
(quân đội, công nhân viên chức), MSLĐ, TNLĐ - BNN.
+ Chi đóng Bảo hiểm y tế cho các đối tượng hưởng chế độ BHXH hàng tháng
(hưu trí, MSLĐ, TNLĐ -BNN).
+ Trang cấp dụng cụ phục hồi chức năng cho người bị tai nạn lao động
+ Lệ phí chi trả.
+ Chi khác (nếu có).
- Chi các chế độ BHXH từ nguồn quỹ BHXH
+ Chi hàng tháng: lương hưu (quân đội, công nhân viên chức), trợ cấp BHXH cho
đối tượng hưởng chế độ TNLĐ - BNN, người phục vụ TNLĐ - BNN, cán bộ xã phường
(CBXP), người hưởng tuất (tuất cơ bản và tuất nuôi dưỡng).
+ Trợ cấp một lần: Trợ cấp cho người lao động nghỉ việc nhưng chưa đủ tuổi
hưởng trợ cấp hàng tháng (theo Điều 28 Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số
12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ), trợ cấp cho người lao động có thời gian đóng
BHXH trên 30 năm, trợ cấp một lần cho cán bộ xã phường, trợ cấp TNLĐ - BNN, trợ
cấp tử tuất một lần đối với người đang lao động, người hưởng chế độ hưu (quân đội,
công nhân viên chức).
+ Mai táng phí đối với: người lao động, người hưởng chế độ hưu (quân đội, công
nhân viên chức), TNLĐ - BNN, cán bộ xã phường (CBXP) theo NĐ 09.
+ Chi trợ cấp ốm đau, thai sản, nghỉ dưỡng sức cho người lao động đang làm
việc.
+ Chi đóng bảo hiểm y tế cho đối tượng hưởng chế độ BHXH bằng tháng (hưu
trí,TNLĐ - BNN).
+ Trang cấp dụng cụ phục hồi chức năng cho người bị TNLĐ.
+ Lệ phí chi trả.
+ Chi khác (nếu có).
Dự toán phải kèm theo thuyết minh vế số lượng đối tượng đang hưởng dự kiến
đối tượng tăng, giảm và nhu cầu chi khác trong năm. Hàng năm, BHXH tỉnh lập dự toán
chi các chế độ BHXH trên địa bàn toàn tỉnh theo hướng dẫn của BHXH Việt Nam. Dự
toán chi hàng năm của BHXH tỉnh được lập trên cơ sở tổng hợp dự toán chi BHXH
được duyệt của BHXH huyện và số chi trực tiếp tại BHXH tỉnh, lập thành 4 bản : 1 bản
lưu tại tỉnh, 1 bản gửi kho bạc nhà nước tỉnh, 1 bản gửi Bộ Tài chính, 1 bản gửi BHXH
Việt Nam trước ngày 15/9 năm trước. Dự toán chi hàng năm của BHXH tỉnh là chính
thức khi được BHXH Việt Nam và Hội đồng quản lý BHXH Việt nam duyệt.
* Tổ chức chi trả BHXH:
Chi trả BHXH cũng được thực hiện bằng chuyển khoản. Hàng tháng, căn cứ vào
bản sao quyết định hưởng chế độ BHXH và danh sách của đối tượng tăng, giảm do
phòng Quản lý chế độ Chính sách chuyển sang và danh sách báo giảm do BHXH huyện
gửi đến, phòng Kế hoạch Tài chính kiểm tra lại số liệu (đối tượng, số tiền) để lập danh
sách chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH, tổng hợp danh sách chi trả, danh sách đối
tượng hưởng trợ cấp một lần và truy lĩnh, lập chi tiết cho từng đối tượng và tách riêng
thành 2 nguồn (ngân sách Nhà nước, Quỹ BHXH).
(1) BHXH huyện chi trả cho các đối tượng là người lao động đang làm việc gồm:
đối tượng hưởng trợ cấp một lần theo Điều 28 Điều lệ BHXH, người bị tai nạn lao động
bệnh nghề nghiệp hưởng chế độ 1 lần, mai táng phí, tuất một lần và trợ cấp một lần đối
với người nghỉ hưu có trên 30 năm đóng BHXH ở các đơn vị sử dụng lao động thuộc
BHXH tỉnh tổ chức quản lý thu và ghi sổ BHXH. Đồng thời BHXH huyện thực hiện uỷ
nhiệm chi cho kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng NN &PTNT huyện Cẩm Xuyên theo
yêu cầu.
(2) Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng NN & PTNT huyện Cẩm Xuyên thực
hiện lệnh chuyển tiền theo yêu cầu của BHXH tỉnh về kho bạc Nhà nước hoặc Ngân
hàng NN&PTNT của huyện.
(3) BHXH huyện có thể trực tiếp hoặc thông qua đại lý chi trả cho người lao
động đang làm việc được BHXH tỉnh uỷ quyền và các đối tượng hưởng trợ cấp BHXH
một lần thuộc các đơn vị BHXH huyện trực tiếp quản lý.
(4) Hoặc có thể uỷ nhiệm chi cho Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng
NN&PTNT các huyện chuyển tiền về tài khoản của đơn vị sử dụng lao động.
(5) Các đơn vị sử dụng lao động trực tiếp chi trả cho các đối tượng.
* Lập báo cáo thanh quyết toán chi :
- BHXH tỉnh chỉ đạo BHXH huyện thực hiện .
+ Hàng tháng lập 2 bộ gồm : báo cáo chi lương hưu và trợ cấp BHXH, danh sách
thu hồi kinh phí chi quản BHXH, danh sách đối tượng chưa nhận hưu và trợ cấp BHXH,
danh sách không phải trả lương hưu và trợ cấp BHXH, danh sách báo giảm hưởng
BHXH. Trong đó một 1 gửi BHXH tỉnh trước ngày 30 hàng tháng, một bộ lưu lại huyện.
+ Hàng quý căn cứ để chi trợ cấp ốm đau, thai sản, dưỡng sức ; lập 2 bản báo cáo
chi ốm đau, thai sản, dưỡng sức kèm theo danh sách đối tượng nghỉ hưởng chế độ tính
đến tháng cuối quý trên địa bàn huyện quản lý. Một bản lưu lại huyện, bản còn lại gửi
BHXH tỉnh trước ngày 5 đầu tháng sau.
BHXH tỉnh lập báo cáo quyết toán trên cơ sở tổng hợp quyết toán của BHXH các
huyện, thị và việc chi thực tế của BHXH tỉnh :
+ Lập 2 bộ báo cáo chi lương hưu và trợ cấp BHXH tách nguồn đảm bảo, kèm
theo biểu thuyết minh đối tượng tăng (giảm) hưởng BHXH do 2 nguồn đảm bảo. Một bộ
gửi ban quản lý chi BHXH Việt Nam, một bộ lưu lại tỉnh.
+ Hàng tháng, căn cứ vào danh sách không phải trả lương hưu và trợ cấp BHXH
của BHXH các huyện, thị lập biểu tổng hợp không phải trả lương hưu và trợ cấp BHXH
toàn tỉnh và lưu lại tỉnh.
+ Hàng quý, tổ chức xét duyệt báo cáo chi ốm đau, thai sản, dưỡng sức do BHXH
huyện duyệt chi báo cáo chi trả trực tiếp cho các đối tượng BHXH tỉnh quản lý để lập : 2
bản báo cáo tổng hợp chi ốm đau, thai sản, dưỡng sức ; 2 bản báo cáo thu hồi kinh phí
(nếu có) và biểu thống kê số chi trả trợ cấp ốm đau, thai sản, dưỡng sức, một bản lưu lại
BHXH tỉnh, một bản gửi ban quản lý chi BHXH Việt Nam trước ngày 15 tháng đầu của
quý sau.
+ Hàng quý BHXH tỉnh lập báo cáo tổng hợp đóng Bảo hiểm y tế cho đối tượng
hưởng BHXH theo quy định, để làm căn cứ thanh toán và cuối năm thanh lý hợp đồng
Bảo hiểm y tế.
* Thẩm định, xét duyệt chi các chế độ BHXH :
Hàng tháng hoặc quý, BHXH tỉnh xét duyệt, quyết toán chi các chế độ BHXH
cho BHXH huyện theo các chế độ kế toán quy định. Đồng thời căn cứ vào kết quả thẩm
định của các đối tượng hưởng chế độ, chính sách BHXH do phòng chế độ chính sách
chuyển đến, Phòng Kế hoạch Tài chính có trách nhiệm kiểm tra trước khi chuyển tiền
cho BHXH huyện hoặc chủ sử dụng lao động chi trực tiếp cho đối tượng hưởng BHXH.
Chương II
Thực trạng công tác chi trả BHXH
ở Huyện cẩm xuyên từ năm 2000 - 2002
I. Vài nét khái quát về BHXH ở Huyện Cẩm xuyên
1. Quá trình hình thành và phát triển BHXH huyện Cẩm xuyên
Chính sách BHXH đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và tổ chức thực hiện
ngay từ khi thành lập nước, trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà, Chính phủ đã ban hành sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 quy định về các chế độ
trợ cấp ốm đau, tai nạn lao động, hưu trí cho công nhân viên chức Nhà nước. Giai đoạn
này (1945), đất nước trong hoàn cảnh kháng chiến, kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn,
thiếu thốn nên BHXH mới thực hiện được một số chế độ cơ bản với mức trợ cấp thấp,
mức hưởng còn mang tính bình quân, chưa có tính chất lâu dài. Chính sách BHXH chưa
có quỹ riêng để thực hiện, 100% nguồn quỹ lấy từ ngân sách. Tuy vậy, trong suốt những
năm kháng chiến chống xâm lược, chính sách BHXH nước ta cũng đã góp phần ổn định
về mặt thu nhập ổn định cuộc sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ,
góp phần rất lớn trong việc động viên sức người sức của cho thắng lợi của cuộc kháng
chiến chống xâm lược thống nhất đất nước. Và khi Bộ luật lao động được quốc hội nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15/7/1995 cho các đối tượng
hưởng BHXH là công nhân viên chức và lực lượng vũ trang. Nhưng kể từ ngày 1/1/1995
các chế độ BHXH được thực hiện theo quy định của Bộ lao động và được cụ thể hoá
bằng Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính
phủ. Nhưng nghị định này được bổ sung bằng NĐ số 01/2003/NĐ - CP ngày 09/01/2003
của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ Bảo Hiểm Xã Hội ban
hành.
Hệ thống BHXH Việt Nam ra đời có 61 cơ quan tại 61 tỉnh, thành trong cả nước.
Ngày 11/7/1995, BHXH huyện Cẩm Xuyên chính thức được thành lập theo quyết
định của BHXH tỉnh Hà Tĩnh và BHXH Việt Nam, cơ sở biên chế từ công đoàn Lao
động và Phòng thương binh xã hội chuyển sang, chịu sự quản lý theo ngành dọc:
• Bảo hiểm xã hội Việt Nam
• Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
• Bảo hiểm xã hội huyện thị, thành phố thuộc tỉnh.
BHXH tỉnh nói chung và BHXH Huyện Cẩm Xuyên nói riêng là đơn vị dự toán
cấp 3 của hệ thống BHXH Việt Nam, chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của BHXH tỉnh
Hà Tĩnh.
2. Cơ cấu tổ chức của BHXH Huyện Cẩm Xuyên.
BHXH huyện Cẩm Xuyên có cơ cấu tổ chức theo sơ đồ sau:
Sơ đồ tổ chức của BHXH Huyện Cẩm Xuyên
BHXH Tỉnh
BHXH Huyện
Giám đốc BHXH
Huyện
Bộ phận phụ Bộ phận chi Bộ phận thu
trách kế toán
Giám đốc BHXH
- Làm việc theo chế độ thủ trưởng, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Là người chịu trách nhiệm trước nhà nước và cơ quan cấp trên về việc tổ chức
thực hiện nhiệm vụ kế hoạch được giao.
- Tổ chức, chỉ đạo và đề ra các biện pháp cụ thể nhằm hoàn thiện kế hoạch được
giao.
 Bộ phận phụ trách kế toán, có chức năng:
Tiếp nhận chuyển đến, chuyển đi của các đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH.
- Duyệt chế độ ốm đau, thai sản
- Duyệt hồ sơ hưu trí
- Duyệt chế độ tử tuất.
 Bộ phận kế toán chi:
- Lập dự toán chi hàng năm tích duyệt cấp trên
- Tổ chức chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH, chế độ thai sản, nghỉ dưỡng
sức
- Đầu mối ngân hàng để tiền mặt chi trả hàng tháng theo kế hoạch cụ thể và
thực hiện thanh quyết toán với BHXH cấp trên.
 Bộ phận kế toán thu:
Thu BHXH các đơn vị trực thuộc thành phố, tổ chức thực hiện để hoàn thành kế
hoạch hàng năm và phấn đấu thu năm sau cao hơn năm trước, tận thu các đơn vị tồn
đọng nợ…
3. Nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của BHXH huyện Cẩm Xuyên.
Huyện Cẩm Xuyên có địa bàn gồm 27 xã có đối tượng hưởng lương hưu và trợ
cấp BHXH hàng tháng hơn 11.555 người, trên 85 đơn vị tham gia BHXH.
 Nhiệm vụ:
BHXH huyện Cẩm Xuyên là cơ quan trực thuộc BHXH tỉnh Hà Tĩnh, thực hiện
nhiệm vụ do BHXH tỉnh giao, bao gồm:
- Tiếp nhận đăng ký hưởng chế độ BHXH do BHXH tỉnh chuyển đến.
- Thực hiện việc đôn đốc, theo dõi nộp BHXH đối với người sử dụng lao động và
người lao động trên địa bàn huyện.
- Tổ chức mạng lưới hoặc trực tiếp chi trả các chế độ BHXH cho người được
hưởng trên địa bàn huyện.
 Quyền hạn:
- Tạm ngừng hoặc từ chối chi trả cho đối tượng hưởng BHXH khi có kết luận của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi sai phạm để hưởng chế độ BHXH.
- Uỷ quyền cho đơn vị sử dụng lao động chi trả trợ cấp ốm đau, thai sản.
4. Khó khăn, thuận lợi
 Khó khăn:
– Là đơn vị có đông đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng (hơn 15.579
người) lại thường xuyên biến động.
– BHXH của huyện chưa nắm chắc tình hình tăng , giảm đối tượng, nhất là khi đối
tượng hết hạn hưởng chế độ hoặc khi đã chết. Các trường hợp sai, hưởng khống.
– Việc chi trả cho các chế độ ngắn hạn đang diễn ra tràn lan do chưa có các quy
định cần thiết.
– Quá trình chi trả cũng có nhiều bất cập, một số địa phương mới chú tâm đến việc
chi trả cho đối tượng mà chưa quan tâm đến các yếu tố khác để quản lí đối tượng. Như
vậy BHXH vẫn chưa đi sâu đi sát thực tế.
 Thuận lợi:
– Được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của BHXH tỉnh Hà Tĩnh, huyện ủy, hội đồng
nhân dân, ủy ban nhân dân huyện .
– Sự phối hợp của các ban ngành hữu quan các đơn vị sử dụng lao động, các
phường xã trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
– Sự nổ lực phấn đấu của tập thể cán bộ công chức khắc phục khó khăn hoàn thành
kế hoạch được giao.
5. Những kết quả đạt được
Qua những năm thực hiện chính sách BHXH đổi mới, đến nay có thể khẳng định
rằng những quan điểm, nội dung và phương pháp đổi mới chính sách BHXH của Đảng
và Nhà nước ta đã hoàn toàn đúng đắn phù hợp với mục tiêu đổi mới toàn diện đất nước.
Công tác BHXH đã từng bước khẳng định tầm quan trọng và vị thế của mình đối với việc
phát triển kinh tế – xã hội của đất nước nói chung và BHXH huyện Cẩm Xuyên nói
riêng, cũng như việc đảm bảo quyền lợi về BHXH cho người lao động bằng những kết
quả cụ thể. Trong những năm vừa qua, BHXH huyện Cẩm Xuyên đã đạt được những
thành tích chủ yếu sau :
Về đối tượng tham gia BHXH.
Bảng 1 : Số lao động đóng BHXH ở huyện Cẩm Xuyên 2000-2002
Năm 2000 2001 2002
Số lao động(người) 3.196 3.260 3300
(Nguồn số liệu : BHXH huyện Cẩm Xuyên)
Dựa vào bảng số liệu trên có thể thấy, số lao động tham gia BHXH ở huyện Cẩm
Xuyên tăng dần qua các năm. Năm 2001 tăng 64 người so với năm 2000 tương ứng với
tỷ lệ tăng là 2%, còn năm 2002 tăng 40 người so với năm 2001 tức là tăng 1.2%. Nguyên
nhân của sự tăng thêm này là do nền kinh tế xã hội phát triển. Mặt khác do sự tuyên
truyền hướng dẫn tận tình của cán bộ trong cơ quan mà mọi người lao động cũng như
người sử dụng lao động hiểu rõ tầm quan trọng của BHXH và sẵn sàng tham gia đóng
BHXH.
Về đối tượng được hưởng BHXH.
Từ khi mới thành lập, BHXH Cẩm Xuyên được tỉnh Hà tĩnh giao cho quản lý gần
7000 lao động thuộc địa bàn huyện Cẩm Xuyên. Và tính đến nay số đối tượng hưởng
BHXH thường xuyên trên địa bàn huyện được thể hiện dưới bảng thống kê sau :
Bảng 2 : Số lao động hưởng BHXH ở huyện cẩm Xuyên 2000-2002
Năm 2000 2001 2002
Số lao động (người) 10.681 10. 940 11.555
(Nguồn số liệu : BHXH huyện Cẩm Xuyên)
Dựa vào bảng số liệu trên ta thấy, số lượng đối tượng hưởng BHXH ở huyện Cẩm
Xuyên biến đổi qua các năm. Sự biến đổi không ngừng của số lượng đối tượng hưởng
BHXH do những nguyên nhân chính sau :
- Hàng năm, có những người trong độ tuổi lao động đến tuổi nghỉ hưu do quy định
của Bộ luật lao động (nam : 60, nữ : 55 ) về hưu và hưởng trợ cấp hưu trí.
- Có những người đang trong độ tuổi lao động có tham gia BHXH không may gặp
phải những tai nạn rủi ro trong qua trình lao động, làm giảm hoặc mất khả năng lao động
cũng được hưởng trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp theo điều lệ BHXH Việt
Nam....
Nhìn chung, sự biến đổi này là không nhiều lắm và tăng dần qua các năm.
Công tác thu BHXH
Từ tháng 1/1995 đến tháng 9/1995, nhiệm vụ thu BHXH do ngành thuế và tài chính
thu, chỉ đến tháng 10/1995 BHXH huyện Cẩm Xuyên mới trực tiếp thu. Theo điều lệ
BHXH, bộ phận thu phải theo nghi chép đóng của từng đơn vị chính xác đến từng người,
từng tháng. Đây là nghiệp vụ mới đặt ra mà trước đây chưa có nên bước đầu thực hiện
gặp rất nhiều khó khăn. Nhận thức được nhiệm vụ quan trọng đó BHXH huyện Cẩm
Xuyên đã đề ra những biện pháp sau :
- Cử cán bộ thường xuyên bám sát cơ sở, nắm vững chắc tình hình lao động- quỹ
lương, tình hình sản xuất kinh doanh, tận tình hướng dẫn các chế độ và các biểu mẫu
mới.
- Đối chiếu thu hàng quý cũng như thanh toán chế độ ốm đau, thai sản kịp thời,
chính xác được cơ sở ghi nhận.
- Kết hợp chặt chẽ với phòng Lao động- Thương binh và Xã hội huyện, Công đoàn
lao động huyện và uỷ ban nhân dân các xã trong việc vận động hướng dẫn cơ sở tư nhân
có sử dụng từ 10 lao động trở lên thực hiện chế độ BHXH theo qui định của pháp luật.
Nhờ những biện pháp trên, BHXH đã xác định tương đối đầy đủ số đơn vị đóng
trên địa bàn huyện cùng với số lao động và tổng quỹ tiền lương để xác định được số thu
BHXH. Nhìn chung, công tác thu đạt được kết quả tốt, tổng thu BHXH năm sau cao hơn
năm trước. Số đơn vị và số lao động tham gia BHXH tăng lên cũng là một nguyên nhân
cơ bản làm cho số thu của huyện Cẩm xuyên tăng lên. Thực tế, số thu của BHXH huyện
Cẩm xuyên trong những năm qua như sau :
Bảng 3 : Công tác thu BHXH ở huyện Cẩm Xuyên 2000-2002
Năm Kế hoạch thu Số tiền thu được
(đơn vị : triệu VNĐ) (đơn vị : triệu VNĐ)
2000 3.017 3.014
2001 3.610 3.613
2002 3.660 3.590
(Nguồn số liệu : BHXH huyện Cẩm Xuyên)
Bằng những cố gắng, BHXH huyện Cẩm xuyên đã thực hiện công tác thu với một
kết quả khả quan. Hàng năm, tổng thu luôn xấp xỉ bằng chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra. Cụ
thể, năm 2000, số tiền thu BHXH là hơn 3 tỉ đồng, đạt tỉ lệ 99,90% so với kế hoạch đã
đề ra.Năm 2002, con số này lên tới gần 3,6 tỉ đồng, đạt 98,09% so với kế hoạch đã đề ra.
Đặc biệt năm 2001, số tiền thu được là hơn 3,6 tỉ, vượt mức kế hoạch đã đề ra là 0,08%.
Công tác chi trả các chế độ BHXH.
Đây là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của ngành BHXH. Trong 3 năm qua,
mặc dù gặp rất nhiều khó khăn nhưng cơ quan vẫn không ngừng phấn đấu để hoàn thành
tốt nhiệm vụ được giao.