Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định về người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự việt nam

  • 77 trang
  • file .pdf
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC CAÀN THÔ
KHOA LUAÄT
LUAÄN VAÊN TOÁT NGHIEÄP CÖÛ NHAÂN LUAÄT
KHOAÙ 29 (2003 – 2007)
Ñeà taøi
CÔ SÔÛ LYÙ LUAÄN VAØ THÖÏC TIEÃN CUÛA CAÙC QUY
Trung tâm ÑÒNH VEÀ
Học liệu ĐH Cần IThơ
NGÖÔØ CHÖA liệuNH
THAØ
@ Tài NIEÂ
học tậpNvà
PHAÏ M TOÄ
nghiên I
cứu
TRONG LUAÄT HÌNH SÖÏ VIEÄT NAM
Giaùo vieân höôùng daãn Sinh vieân thöïc hieän
Th.S PHAÏM VAÊN BEO LYÙ THÒ BÍCH THÔ
MSSV: 5032090
Lôùp: Tö phaùp 2 - K29
Thaùng 7/2007
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 1 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
LỜI NÓI ðẦU
1. Lý do chọn ñề tài
Trong cuộc ñấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và phòng chống các
tội phạm do người chưa thành niên gây ra nói riêng, Luật Hình sự có vai trò ñặc biệt
quan trọng ñể bảo vệ người chưa thành niên phạm tội có hiệu quả và trừng trị
nghiêm khắc hành vi phạm tội của người chưa thành niên. Luật Hình sự cần có
những quy ñịnh riêng phù hợp với tính chất, mức ñộ nguy hiểm của hành vi phạm
tội.
Nghiên cứu Luật Hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự của người chưa
thành niên phạm tội, ñồng thời rút ra ñược những giá trị và hạn chế, qua ñó sẽ tạo ra
cơ sở ñể ñược sự ñánh giá ñúng ñắn thực trạng của pháp luật hình sự Việt Nam hiện
hành về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội cũng như kiến
nghị nhằm hoàn thiện các quy ñịnh ñó.
Việc ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999, các cơ quan có thẩm quyền cũng ñã
có nhiều văn bản hướng dẫn áp dụng Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, có một số quy
ñịnh về người chưa thành niên phạm tội còn chưa chuẩn xác và không phù hợp với
thực tế của tình hình tội phạm do người chưa thành niên gây ra. ðiều ñó ñã làm cho
một số quy ñịnh của pháp luật hình sự không ñáp ứng ñược yêu cầu làm cơ sở pháp
lý cho hoạt ñộng ñấu tranh phòng chống tội phạm, vì vậy việc sửa ñổi bổ sung các
quy ñịnh của pháp luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội là hết sức cần
thiết nó sẽ góp phần tạo cơ sở pháp lý vững chắc ñể hoạt ñộng ñấu tranh phòng
Trung tâmchống
Họctộiliệu
phạmĐH Cầnchưa
do người Thơ @niên
thành Tài liệu
thực hiệnhọc
có hiệu quảvà
tập cao nghiên
hơn. cứu
Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa ñang diễn ra mạnh mẽ, sự phát triển như vũ
bão của khoa học công nghệ làm thay ñổi các lĩnh vực của ñời sống xã hội, cuộc
sống vật chất – tinh thần không ngừng ñược nâng cao, tuy nhiên, chúng ta vẫn thấy
số thanh thiếu niên phạm tội ngày càng tăng hầu như có ñủ tất cả các loại tội danh,
kể cả tội phạm nghiêm trọng. Trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia ñình, ngược ñãi,
hành hạ, thô bạo ñang gây bức xúc cho xã hội, thách thức pháp luật và các giá trị
ñạo ñức truyền thống, tệ nạn trẻ em ñường phố, trẻ em phải lao ñộng sớm, trẻ em
lâm vào các tệ nạn xã hội như: ma túy, mại dâm…ñang trở thành vấn ñề nhức nhói
ñòi hỏi Nhà nước và toàn xã hội phải quan tâm hơn nữa.
Do vậy, việc hoàn thiện các quy ñịnh của pháp luật về người chưa thành niên
phạm tội là một yêu cầu nhất thiết phải làm ñặc biệt trong giai ñoạn hiện nay. Vì lẽ
ñó “cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm tội
trong Luật Hình sự Việt Nam” ñược sinh viên chọn làm ñề tài nghiên cứu nhằm tìm
thấy ưu ñiểm và hạn chế, thiếu sót của pháp luật hình sự liên quan ñến người chưa
thành niên phạm tội, ñồng thời có những ý kiến ñóng góp ñể hoàn thiện những ñiểm
còn hạn chế của pháp luật hình sự trong công tác phòng chống tội phạm là người
chưa thành niên.
2. Phạm vi nghiên cứu
Việt Nam là một nước từ lâu ñã có hệ thống pháp luật Hình sự riêng, trong ñó
có những quy ñịnh liên quan ñến người chưa thành niên phạm tội và các văn bản
pháp luật khác có liên quan, trong xu hướng phát triển hiện nay, thì việc ñổi mới hệ
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 2 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
thống pháp luật hình sự quy ñịnh về người chưa thành niên phạm tội là ñều cấp
thiết.
Trong phạm vi của một luận văn tốt nghiệp tác giả ñã cố gắng ñề cập ñến lý
luận và thực tiễn quy ñịnh về người chưa thành niên phạm tội trong Luật Hình sự
Việt Nam, vấn ñề về người chưa thành niên, nghiên cứu quyền trẻ em quy ñịnh
trong pháp luật quốc tế và quốc gia, lịch sử phát triển Luật Hình sự Việt Nam,
nguyên nhân và ñiều kiện phạm tội của người chưa thành niên, các quy ñịnh của
pháp luật hiện hành, ñảm bảo pháp lý cho việc áp dụng quy ñịnh của pháp luật về
người chưa thành niên phạm tội, nhằm ñể khắc phục những thiếu sót trong công tác
ñiều tra, truy tố, xét xử, ñồng thời cũng phân tích những bất cập của những quy ñịnh
pháp luật Hình sự hiện hành, nêu ra những phương hướng hoàn thiện nhằm nâng
cao việc phòng ngừa và xử lý người chưa thành niên phạm tội ñạt hiệu quả cao.
3. Cơ sở phương pháp luận và Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ñề tài là nền tản cơ bản
ñể xây dựng ñề tài với nội dung và hình thức một cách logic và khoa học. Cơ sở
phương pháp luận của việc nghiên cứu này là những quy luật, phạm trù ñã ñược các
nhà kinh ñiển của chủ nghĩa Mác – Lênin tìm tòi, khám phá, ñó là học thuyết duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử, cho nên, lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin về
nhà nước và pháp luật kết hợp với ñường lối, chính sách của ðảng và Nhà nước ta
là cơ sở ñịnh hướng lý luận của việc nghiên cứu.
ðể giải quyết những vấn ñề mà ñề tài ñặc ra, nội dung nghiên cứu của luận
văn ñược dựa trên các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích luật
Trung tâmviết,
Học phương ĐHthuCần
liệupháp thập Thơ phương
số liệu,@ Tài pháp
liệuthống phương
họckê,tập pháp ñối chiếu,
và nghiên cứu
so sánh…
4. Cơ cấu luận văn
Luận văn “cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành
niên phạm tội trong Luật Hình sự Việt Nam”
- Lời nói ñầu
- Chương I: Một số vấn ñề về người chưa thành niên
- Chương II: Thực trạng người chưa thành niên phạm tội và nguyên nhân tình
hình phạm tội của người chưa thành niên
- Chương III: Quy ñịnh của pháp luật hiện hành về người chưa thành niên
phạm tội và phương hướng hoàn thiện
ðề tài nghiên cứu “cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa
thành niên phạm tội trong Luật Hình sự Việt Nam” dù có cố gắng nhiều song người
thực hiện cũng gặp khó khăn do sự hạn chế về khả năng lý luận và kinh nghiệm
thực tiễn cũng như trong việc tìm kiếm, thu thập tài liệu có liên quan, vì vậy, ñề tài
này sẽ không tránh khỏi sự thiếu sót kính mong ñược sự thông cảm và ñóng góp ý
kiến của người ñọc.
Qua ñây, sinh viên thực hiện xin chân thành cảm ơn và chúc sức khỏe giáo viên
hướng dẫn cùng với thầy cô, bạn bè ñã giúp ñỡ nhiệt tình trongquá trình thực hiện
ñề tài!
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 3 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
Chương I
MỘT SỐ VẤN ðỀ VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.1 KHÁI NIỆM VỀ TRẺ EM VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.1.1 ðịnh nghĩa về trẻ em
Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm người trong xã hội thuộc về ñộ
tuổi nhất ñịnh trong giai ñoạn ñầu của sự phát triển con người. ðó là những người
chưa trưởng thành, chưa phát triển về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần ñược
bảo vệ và chăm sóc một cách ñặc biệt, kể cả sự bảo vệ về mặt pháp lý trước cũng
như sau khi ra ñời.
Theo ðiều 1 của Công ước Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em năm 1989: “trẻ
em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng ñối với trẻ em
ñó quy ñịnh tuổi thành niên sớm hơn”. Do ñó xuất phát từ quyền ñược quy ñịnh
khác Công ước, Việt Nam quy ñịnh trẻ em là người dưới 16 tuổi, xuất phát từ ñặc
thù của từng ngành luật và căn cứ vào quyền lợi và nghĩa vụ tốt nhất của trẻ em
ñược quy ñịnh trong văn bản có giá trị trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
- Hiến pháp 1992 (ñã ñược sửa ñổi bổ sung) ðiều 65: “trẻ em ñược gia ñình,
nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục".
Học
Trung tâmñộng - Bộ luậtĐH
liệu Cầnquy
Lao ñộng Thơñịnh:@ người
em làliệu
trẻTài học“chưatập 15 tuổi
ñủ và lao
là ngườicứu
nghiên
chưa thành niên”.
- Bộ luật Dân sự 2005 tại ðiều 18: “ người ñủ 18 tuổi trở lên là người thành
niên, người chưa ñủ 18 tuổi là người chưa thành niên”.
-Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (15/06/2004): trẻ em là công dân
Việt Nam dưới 16 tuổi.
Như vậy trong pháp luật Việt Nam “trẻ em và người chưa thành niên là hai
khái niêm khác nhau ñược xác ñịnh căn cứ vào ñộ tuổi, ñịnh nghĩa về trẻ em và
người chưa thành niên trong pháp luật Việt Nam rõ ràng và nhất quán.
- Trẻ em là người dưới 16 tuổi.
- Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi.
Khái niệm người chưa thành niên bao gồm cả khái niệm trẻ em, do giới hạn
của ñề tài một số ñại từ ñược sử dụng như trẻ em, người chưa thành niên, vị thành
niên, thanh thiếu niên ñược hiểu duy nhất là người chưa thành niên, có liên quan
mật thiết ñến người chưa thành niên phạm tội.
1.1.2 Trẻ em một ñối tượng bảo vệ ñặc biệt của pháp luật
Trẻ em là thành viên ñặc biệt trong xã hội, non nớt cả về trí tuệ lẫn thể chất, ở
lứa tuổi này các em tiếp thu các hiện tượng quá trình xã hội một cách thụ ñộng,
hoàn toàn chưa có sự hiểu biết về các mặt của cuộc sống xã hội nên việc lựa chọn
quyết ñịnh cách xử sự cho phù hợp với các chuẩn mực xã hội còn nhiều hạn chế.
ðặc biệt là trẻ ở lứa tuổi chuyển tiếp từ trẻ em thành người trưởng thành mà ta gọi
là lứa tuổi vị thành niên (từ 14 tuổi ñến dưới 18 tuổi).
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 4 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
ðây là giai ñoạn từng bước hoàn thiện nhân cách của con người, người chưa
thành niên có khả năng tự kiềm chế chưa cao, dễ bị kích ñộng lôi kéo vào những
hoạt ñộng không lành mạnh. Do vậy, ñây là lứa tuổi chịu sự chi phối của môi trường
xã hội mạnh nhất, ñể mọi trẻ em ñều trở thành công dân tốt của xã hội, ñòi hỏi trẻ
em phải ñược nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục thật chu ñáo, trách nhiệm ñó
không chỉ phụ thuộc vào gia ñình mà còn thuộc về nhà nước, xã hội và phải ñược
luật ñịnh.
- Quyền của trẻ em là một bộ phận của nhân quyền, do vậy nó là ñối tượng
bảo vệ của cả Hệ thống pháp luật Thế giới. Trong tuyên ngôn Thế giới về quyền con
người 1948, Liên Hiệp Quốc ñã công bố rằng: bên cạnh các quyền tự do của con
người theo văn kiện này, trẻ em còn có quyền ñược chăm sóc và giúp ñỡ ñặc biệt.
Trẻ em trên khắp thế giới, không có sự phân biệt ñối xử về chủng tộc, màu da, giới
tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc, xã hội, tài sản... ñều ñược chăm sóc, giáo dục
lý tưởng, ñược nêu ra trong Hiến chương Liện Hiệp Quốc và trong các văn kiện
Quốc tế có liên quan khác.
- Xét trong từng Hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, trẻ em là ñối tượng bảo
vệ của cả hệ thống pháp luật. Hiến pháp của các quốc gia luôn nhìn nhận trẻ em là
công dân ñặc biệt của quốc gia mình, ñược gia ñình, nhà nước và xã hội bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục và trong từng ngành luật của hệ thống pháp luật luôn có
những ñiều khoản hoặc chương ñưa ra những quy ñịnh riêng biệt áp dụng ñối với
trẻ em và người chưa thành niên, qua ñó hướng tới việc giáo dục, chăm sóc, hoàn
thiện nhân cách của trẻ em, bảo vệ trẻ em về mặt pháp lý.
Phải thấy rằng trẻ em là mối quan tâm của toàn nhân loại, trẻ em cho dù ở ñâu
Trung tâm Họcquốc
bất cứ liệugiaĐH
nào Cần
trên thếThơ
giới cũng ñều phải
@ Tài liệuhưởng
họccác quyền
tập bản của mình
và cơnghiên cứu
như ñịnh hướng của Công ước 1989, các quốc gia trong cộng ñồng quốc tế phải
hướng tới việc bảo vệ và tạo ñiều kiện ñể cho trẻ em ñược phát triển ñược toàn diện,
ngăn ngừa và ñấu tranh với các trường hợp xâm phạm quyền trẻ em và trẻ em phạm
pháp.
1.1.3 ðặc ñiểm tâm sinh lý người chưa thành niên
1.1.3.1 ðặc ñiểm sinh lý
Theo quy ñịnh của pháp luật, dù luật Quốc tế hay luật Việt Nam, người chưa
thành niên là người dưới 18 tuổi, ở lứa tuổi chưa thành niên là giai ñoạn phát triển
mạnh mẽ về tâm sinh lý, chính giai ñoạn ñó nó sẽ ảnh hưởng, chi phối, quyết ñịnh
rất lớn ñối với quá trình hình thành nhân cách. Từ thiếu niên là sự tăng trưởng dần
của cơ thể và sự biến ñổi bên trong cơ thể có khả năng hoàn thiện các nhiệm vụ của
tuổi trưởng thành ñó là sự phát triển của thể xác. Quá trình phát triển ñó trải qua
nhiều giai ñọan;
ðứa bé lúc ñầu lớn nhanh từ lúc sinh ra cho ñến 5 tuổi, thân thể của ñứa trẻ
tăng trưởng gấp ñôi sau ñó sự tăng trưởng giảm dần cho ñến 10 tuổi. Nhưng sau
ngưỡng ấy, sự tăng trưởng hồi phục lại lúc 12 tuổi, ñối với bé trai là sớm hơn 1 năm
so với bé gái, sự tăng trưởng xảy ra theo từng ñợt và nhịp ñộ của nó có liên hệ
không những với tâm trạng cá thể mà còn mọi ñiều kiện bên ngoài của môi trường
làm thay ñổi sâu sắc tỷ lệ của thân thể.
Bên cạnh những thay ñổi của cơ thể có liên quan ñến tầm vóc con người thì sự
biến ñổi gắn liền với sự tiến hóa của chủng hệ biểu hiện còn quan trọng hơn, ñó là
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 5 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
“tuổi dậy thì”, một trong các dấu hiệu của nó là xuất hiện các lông, ñăc biệt là trong
vùng sinh dục. Riêng ñối với nam, trên da có xuất hiện những chấm ñen, chất nhờn
tiết ra nhiều, sự vỡ tiếng, ở tuổi dậy thì của nữ ñược hoàn thành với sự phát triển
của vú và vùng chậu, chúng báo hiệu sự xuất hiện một hiện tượng rất quan trọng tạo
nên sự ñóng góp quan trọng của tuổi dậy thì, ñó là chức năng sinh sản ñược xác lập,
sự việc có ý nghĩa ñối với thiếu nữ là sự xuất hiện kinh nguyệt lần ñầu.
Như vậy, quá trình phát triển của tuổi thiếu niên dẫn ñến ñặc tính của hai sự
tăng trưởng, ñầu tiên nó rõ rệt ở tính chất tình dục, sự khác biệt giữa cơ thể nam và
nữ là sự phát triển của nữ giới sớm hơn và ngắn hơn so với nam, ở ñiểm thứ hai sự
tăng trưởng ở tuổi dậy thì có chiều hướng của một cuộc khủng hoảng ñối với chính
họ và gây ra lo lắng cho cha mẹ.
1.1.3.2 ðặc ñiểm tâm lý lứa tuổi vị thành niên
Tâm lý trẻ em giai ñoạn từ lúc mới sinh ra ñời ñến lúc trưởng thành là giai
ñoạn phát triển cực kỳ mãnh liệt, mỗi giai ñọan phát triển tâm lý có một nội dung
riêng. Nội dung cơ bản của lứa tuổi này là sự mất cân bằng giữa ý thức bên trong và
môi trường bên ngoài, cụ thể hơn ñây là thời kỳ quá ñộ các em sắp bước vào
ngưỡng cửa của người lớn, không còn trẻ em nữa nhưng cũng chưa phải là người
lớn.
Tuổi thơ là một sự kiện lịch sử, ngày xưa thời hái lượm các em dẫu còn bé
cũng tham gia hoạt ñộng sản xuất như người lớn vì phương thức sản xuất còn thô
sơ, ví dụ: hái lượm quả, lúc ấy các em không có tuổi thơ, ngày nay phương thức sản
xuất phát triển mạnh, ta có chỉ tiêu mới ñể phân biệt trẻ em và người lớn. Người lớn
là người liệu
Trung tâm Học ĐHvàoCần
ñã bước hoạt ñộng
Thơsản @xuất,
Tàitrẻliệu
em nghĩa ở thời
học làtập ñang lĩnhcứu
vàkỳnghiên hội.
ðối với trẻ em lứa tuổi thanh thiếu niên, tuy các em chưa phải là người lớn, ñang
thời kỳ ñi học, nhưng ý thức về bản thân mình ñã phát triển mạnh ý thức ñặc trưng
của các em, cho rằng mình ñã lớn ñó là ý thức cơ bản của lứa tuổi này. Do vậy, nhu
cầu chính ñáng của các em ở tuổi này là ñòi hỏi mọi người phải ñối xử với mình
như người lớn, nghĩa là các em ñòi ñối xử công bằng bình ñẳng và khước từ mọi sự
áp ñặt của người lớn.
ðặc ñiểm tâm lý nổi bật ñặc trưng nhất mà ta thường thấy ở lứa tuổi này là sự
bộc lộ cá tính, nghĩa là bộc lộ cái riêng của mình, thể hiện mình là một thực thể tự
chủ và ñộc lập nên các em rất “kỵ” sự can thiệp thô bạo của người lớn, ñi cùng với
tinh thần này là lòng tự trọng, tinh thần tự lực, ước muốn tự lập... của các em.
Các em như cây non mới lớn, mọi sự can thiệp thô bạo sẽ là những tảng ñá
oằn thân cây, ñối với lứa tuổi này lòng tự trọng và tự ái của các em rất cao, mọi sự
xúc phạm vô tình hay cố ý nhân phẩm và tình cảm ñôi khi ñẩy cuộc ñời các em vào
những hướng ñi xấu, tình cảm quan hệ rất chặt với ñộng cơ hành ñộng, ñược thương
các em có thể làm tất cả, bị ghét các em cũng có thể làm tất cả.
Cùng với sự xuất hiện ý thức về bản thân rằng mình ñã lớn là xuất hiện nhóm
xã hội với tư cách là chủ thể cộng ñồng. Chính vì thế dễ thấy ở lứa tuổi này, quan hệ
bạn bè ñể tập hợp thành từng nhóm xã hội này có sức liên kết rất mạnh và có tác
ñộng ñến từng thành viên, sở dĩ các em thường liên kết với nhau theo nhóm vì các
em có cùng những nhu cầu những thắc mắc, những ước muốn cùng thông cảm với
nhau trong nhóm, các em thỏa mãn một cách ñầy ñủ hơn nhu cầu tự khẳng ñịnh
mình.
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 6 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
Trong lĩnh vực tình cảm ở lứa tuổi này của các em bắt ñầu xuất hiện tình yêu,
tuy nhiên, nếu không giáo dục giới tính, các em dễ rơi vào tình trạng xung khắc giới
tính, bởi cùng với sự phát triển về mặt sinh học, các em bắt ñầu có ý thức về giới
tính, các em có một thái ñộ, một cách nhìn với con mắt khác ñối với bạn khác giới,
nếu ñược giáo dục giới tính tốt thì sẽ tránh ñược tình trạng xung ñột giới tính ñể các
em có thể chuyển từ tình bạn hồn nhiên, từ lúc sắc thái giới tính chưa bộc lộ rõ ñến
tình bạn cũng tự nhiên lành mạnh có sắc thái giới tính.
Nhìn chung, ở lứa tuổi này ñã xảy ra hiện tượng mất cân bằng trong nhân
cách, ñây là sự mâu thuẫn giữa một bên là ý thức về bản thân mình với một bên
khác là hiện thực cuộc sống. Do tự ý thức về bản thân mình có một vị trí trong cộng
ñồng cho nên các em nhận thức về cuộc sống theo kiểu riêng của mình. Trong
trường hợp cách nhìn nhận ấy lệch lạc thì sẽ phạm tội. Sự nhâm nhi rượu chè, hút
xách, thậm chí cả sinh hoạt tình dục bừa bãi lúc ñầu trong ý thức các em cho là bình
thường, học theo người lớn, khi thấy hậu quả thì ñã muộn. Sự “ñua ñòi” cũng là một
biểu hiện của sự mất cân bằng nhân cách. Cần lưu ý rằng nói ñến ñặc ñiểm lứa tuổi
không thể tách rời ñặc ñiểm thời ñại, vì lứa tuổi nào cũng có ñặc ñiểm thời ñại của
nó, ñặc ñiểm thời ñại của chúng ta, nhìn ở góc ñộ hành ñộng thường vì lợi ích cá
nhân, nắm ñược ñiểm này chúng ta có hướng giáo dục tốt ñối với lứa tuổi vị thành
niên.
1.2 KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN TRẺ EM
1.2.1 Khái niệm quyền trẻ em
Trung tâm Học liệutrẻĐH
Quyền tất cảThơ
em làCần những@ Tài
gì mà trẻ liệu học
em cần có ñểtập
ñượcvà nghiên
cuộc sống an cứu
toàn,
quyền này ñảm bảo cho trẻ em không chỉ là người tiếp nhận thụ ñộng lòng nhân từ
của người lớn mà còn là thành viên tham gia tích cực vào quá trình phát triển. Trẻ
em có các nhóm quyền cơ bản sau:
- Quyền ñược sống còn: quyền trẻ em ñược sống bình thường và ñược ñáp
ứng những nhu cầu cơ bản nhất ñể tồn tại và phát triển thể chất, ñó là mức sống ñủ
có nơi ở, ăn uống ñủ chất, ñược chăm sóc sức khỏe. Trẻ em phải ñược khai sinh
ngay sau khi ra ñời.
- Quyền ñược phát triển: những ñiều kiện ñể trẻ em có thể phát triển ñầy ñủ
nhất cả tinh thần ñạo ñức, bao gồm quyền ñược học tập, vui chơi, tham gia các hoạt
ñộng văn hóa, tiếp nhận thông tin, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo, trẻ
em cần có sự yêu thương và cảm thông của cha mẹ ñể có thể phát triển hài hòa.
- Quyền ñược bảo vệ: bao gồm những qui ñịnh như trẻ em phải ñược bảo vệ
chống tất cả các hình thức bóc lột lao ñộng, bóc lột và xâm hại tình dục, lạm dụng
ma túy, sao nhãng và bị bỏ rơi, bị bắt cóc. Trẻ em cần ñược bảo vệ khỏi sự can thiệp
vô cớ vào thư tín và sự riêng tư.
- Quyền ñược bảo vệ bao gồm không bị tra tấn ñánh ñập và lạm dụng trong
trường hợp trẻ em làm trái pháp luật hay bị giam giữ.
- Quyền ñược tham gia: tạo mọi ñiều kiện cho trẻ em ñược tự do bày tỏ quan
ñiểm và ý kiến về những vấn ñề có liên quan ñến cuộc sống của mình, trẻ em có
quyền kết bạn, giao lưu và hội họp hòa bình ñược tạo ñiều kiện tiếp cận các nguồn
thông tin và chọn lựa thông tin phù hợp.
Như vậy, khái niệm cơ bản nhất về quyền trẻ em là quyền ñược chăm sóc và
giúp ñỡ ñặc biệt, có thể thấy rõ ñây là tập hợp các quyền mà quốc tế và pháp luật
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 7 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
quốc gia quy ñịnh cho trẻ em ñược hưởng, ñược làm, ñược ñòi hỏi, việc xây dựng
nên các quyền trẻ em là nhằm mục ñích tạo ñiều kiện tốt nhất ñể trẻ em ñược phát
triển ñầy ñủ và hài hòa nhân cách của mình.
1.2.2 Quyền trẻ em theo quy ñịnh của luật Quốc tế
1.2.2.1 Lịch sử hình thành quyền trẻ em
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” ñó là khẩu hiệu mà các quốc gia và cộng
ñồng quốc tế hướng tới nhằm mục ñích chăm sóc, bảo vệ tương lai của mỗi quốc
gia và nhân loại.
- Quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng ngày càng trở thành
vấn ñề quan tâm của cộng ñồng quốc tế. Trẻ em ở tất cả các nước trên thế giới vẫn
còn sống trong những ñiều kiện khó khăn và chúng cần quan tâm ñặc biệt. Do ñó,
sự hợp tác quốc tế ñối với việc cải thiện ñiều kiện của trẻ em ở mọi nước, ñặc biệt là
các nước ñang phát triển là yêu cầu bức thiết, cộng ñồng quốc tế mà trung tâm là
Liên Hiệp Quốc ñã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng các văn bản pháp luật cho
trẻ em cũng như nghĩa vụ, trách nhiệm của các quốc gia ñối với trẻ em.
- Trước khi Liên Hiệp Quốc ñược thành lập, các quốc gia ñã thông qua tuyên
ngôn Giơnevơ năm 1924 về quyền trẻ em khẳng ñịnh trẻ em cần ñược chăm sóc ñặc
biệt, ðiều 1: Hiến chương Liên Hiệp Quốc khẳng ñịnh: “Tôn trọng nhân quyền và
những quyền tự do cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn
ngữ tôn giáo”. Tuyên ngôn về các quyền của trẻ em do ðại hội ñồng Liên Hiệp
Trung tâmQuốc
Họcthông
liệuquaĐHnămCần Thơ ñịnh:
1959 khẳng @ Tài“Loàiliệu
ngườihọc tậpnhiệm
có trách trao cho trẻcứu
và nghiên em
ñiều tốt ñẹp nhất”. ðiều 24: Công ước về các quyền chính trị- quân sự năm 1966
(Việt Nam gia nhập năm 1982) nêu rõ “Mọi trẻ em...ñều có quyền ñược hưởng sự
bảo hộ của gia ñình, xã hội và nhà nước”. ðiều 10: Công ước về các quyền kinh tế-
xã hội và văn hóa 1966 (Việt Nam gia nhập năm 1982) quy ñịnh: “Thanh thiếu niên
cần ñược bảo vệ và không bị bóc lột về kinh tế- xã hội, cấm bóc lột lao ñộng trẻ
em”.
Như vậy, từ khi ñược thành lập ñến nay với vai trò là trung tâm của cộng ñồng
quốc tế, Liên Hiệp Quốc luôn bảo trợ cho việc kí kết ñiều ước quốc tế nói chung,
ñiều ước quốc tế về nhân quyền nói riêng cũng như thông qua các văn bản pháp lý
là cơ sở cho quá trình quốc tế hóa vấn ñề quyền con người và quyền trẻ em.
Có thể nói trước năm 1989, có rất nhiều văn bản pháp lý quốc tế về quyền con
người nói chung nhưng chưa có ñiều ước quốc tế riêng về quyền trẻ em, tình trạng
trẻ em bị xâm phạm, bị ngược ñãi, bị bóc lột về lao ñộng, bị mua bán,... xảy ra ở tất
cả các khu vực trên thế giới. Trẻ em cần ñược sống trong hòa bình, trong xã hội
nhân ái, cần phải ñược chăm sóc của nhà nước, xã hội, gia ñình và cần có sự bảo vệ
về mặt pháp lý, ñiều này ñặc biệt có ý nghĩa với các quốc gia ñang phát triển, vì vậy
cần phải có ñiều ước quốc tế ña phương ghi nhận và ñiều chỉnh lĩnh vực này, với sự
nỗ lực của các quốc gia, Công ước quyền trẻ em ñã ñược thông qua và kí ngày
20/11/1989 (Công ước quyền trẻ em 1989) và có hiệu lực từ ngày 2/9/1990. Có thể
nói Công ước là ñỉnh cao của nền luật pháp quốc tế trong việc xây dựng những chế
ñịnh về quyền trẻ em, Công ước có nội dung ñề cập một cách toàn diện các quyền
trẻ em theo hướng tiến bộ, trên cơ sở thừa nhận trẻ em có quyền ñược chăm sóc,
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 8 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
bảo vệ, giúp ñỡ ñặc biệt, kể từ ñây các quốc gia ñã có nền tảng pháp lý vững chắc
ñể bổ sung hoàn thiện pháp luật trẻ em của quốc gia mình.
1.2.2.2 Những quyền cơ bản của trẻ em theo công ước 1989 theo quyền của
trẻ em
Công ước quyền trẻ em năm 1989 ñã bao quát ñược tất cả các khía cạnh của
quyền trẻ em, Công ước ñề cập các biện pháp bảo vệ ñối với trẻ em tị nạn, trẻ em
trong khu vực xung ñột quân sự, trẻ em bị bóc lột và trẻ em thuộc dân tộc thiểu số.
Trong Công ước năm 1989 có thể chia thành bốn nhóm cơ bản sau:
* Quyền ñược sống còn
Mọi trẻ ñều có quyền cố hữu ñược sống, ñây chính là nội dung của nhân
quyền ñược khẳng ñịnh trong tuyên ngôn nhân quyền năm 1948, ðiều 6 Công ước
năm 1989 còn quy ñịnh “các quốc gia thành viên phải ñảm bảo ñến mức tối ña có
thể ñược sự sống còn và phát triển của trẻ em”, và ñể có ñược sự bảo hộ từ phía Nhà
nước như trên, khi trẻ em ra ñời nhất thiết phải ñược ñăng kí khai sinh và có quốc
tịch (ðiều 7 Công ước năm 1989), ñây là quyền nhân thân phải ñảm bảo cho mọi trẻ
em ñều có ñược ngay sau khi ra ñời.
Mọi trẻ em ñều có quyền tồn tại, sự tồn tại của trẻ em phải ñược ñảm bảo ở
mức cao nhất, mọi nhu cầu cho sự sống của trẻ cần phải ñược ñáp ứng ñầy ñủ, ñặc
biệt là nhu cầu ñược chăm sóc sức khỏe ðiều 24 quy ñịnh: trẻ em ñược chăm sóc về
Trung tâmy Học liệu
tế, ñược giáoĐH Cần
dục về sức Thơ @ Tài
khỏe, hướng tới liệu học
mục tiêu tập
cuối hạ thấp tỷ cứu
vàlà nghiên
cùng lệ tử
vong ở trẻ em, tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng, bên cạnh ñó các bà mẹ cũng cần phải
ñược chăm sóc sức khỏe phù hợp nhằm hạn chế ñến mức thấp nhất tỷ lệ tử vong trẻ
sơ sinh.
Nhu cầu cho sự tồn tại còn bao gồm nhu cầu ñược hưởng các loại phúc lợi xã
hội, an toàn xã hội và kể cả bảo hiểm xã hội (ðiều 26 Công ước 1989) các cơ quan
phúc lợi của nhà nước hoặc của tư nhân phải cố gắng ở mức cao nhất nhằm bảo
ñảm quyền sống của trẻ em.
* Quyền ñược phát triển:
ðiều 27 Công ước năm 1989 quy ñịnh: “Mọi trẻ em có quyền ñược có mức
sống thích hợp cho sự phát triển thể chất, trí tuệ, ñạo ñức, xã hội của mình”. Như
vậy, ñể ñảm bảo cho sự phát triển toàn diện của trẻ em cần thiết phải trao cho các
em một mức sống thích hợp, trách nhiệm hàng ñầu trong việc tạo ra mức sống ấy
thuộc về gia ñình, ñó là trách nhiệm trực tiếp của mọi người, ở ñây là gián tiếp qua
việc tạo ñiều kiện thuận lợi cho các bậc cha mẹ thực hiện trách nhiệm của mình,
trong ñó có thể bao gồm sự giúp ñỡ về mặt vật chất.
Nhằm ñảm bảo cho trẻ em ñiều kiện về mặt thể chất và trí tuệ, nhất thiết vấn
ñề giáo dục phải ñược quan tâm trước tiên ở mỗi quốc gia. ðiều 28 Công ước năm
1989 quy ñịnh: “trẻ em có quyền học tập và mọi người có nghĩa vụ bảo ñảm rằng
giáo dục tiểu học là bắt buộc và miễn phí”, giáo dục ñối với trẻ em mang tính chất
bình ñẳng tuyệt ñối, áp dụng ñối với tất cả mọi người.
Nhằm ñảm bảo cho trẻ ñược phát triển về mặt tinh thần, ðiều 30 Công ước
quy ñịnh: “Trẻ em có quyền nghỉ nghơi, ñược tiêu khiển, ñược tham gia vui chơi và
những hoạt ñộng giải trí phù hợp với lứa tuổi, ñược tự do tham gia phong trào văn
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 9 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
hóa, nghệ thuật, Gia ñình, Nhà nước, xã hội có trách nhiệm tạo ra môi trường xã hội
trong lành ñể trẻ có thể phát triển toàn diện và lành mạnh về mặt tinh thần.
* Quyền ñược bảo vệ
ðiều 16 Công ước năm 1989 quy ñịnh: “Trẻ em có quyền ñược bảo vệ chống
lại sự can thiệp vào ñời tư gia ñình, nơi ở và thư tín của các em, chống lại những
ñiều nói xấu và vu cáo”. Trẻ em cũng là con người, nên những gì mang tính riêng
tư, cá nhân các em cũng cần ñược bảo vệ, không ai có quyền nhân danh mình là
người lớn mà can thiệp vào ñời tư, xâm phạm thư tín của các em, kể cả các bậc cha
mẹ của trẻ.
Cũng trong nhóm quyền ñược bảo vệ, còn có một tập hợp các quyền bảo vệ
ñặc biệt ñối với trẻ em sống trong ñiều kiện khác thường, theo lời nói ñầu của Công
ước bao gồm:
+ Trẻ bị ngược ñãi (ðiều 19);
+ Trẻ vô gia cư (ðiều 22);
+ Trẻ em tị nạn (ðiều 22);
+ Trẻ em tàn tật (ðiều 23);
+ Trẻ bị bóc lột Lao ñộng (ðiều 32);
+ Trẻ bị lạm dụng tình dục (ðiều 34);
+ Trẻ em cầm súng (ðiều 38);
+ Trẻ em bị buôn bán, bị bắt cóc (ðiều 35);
+ Trẻ em bị tra tấn, bị tước ñoạt tự do (ðiều 37).
* Quyền ñược tham gia
Về thực chất ñây là nhóm quyền dân sự chính trị của trẻ em, bao gồm quyền
Trung tâmtựHọc liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
do diễn ñạt, tự do bày tỏ ý kiến quan ñiểm của mình về tất cả mọi vấn ñề liên
quan ñến mình (ðiều 12). Trẻ em có quyền tự do tìm kiếm, thu nhận và phổ biến
các thông tin, tư tưởng miễn là không phương hại ñến quyền và thanh danh người
khác, phương hại ñến an ninh quốc gia, trật tự công cộng hay ñạo ñức xã hội (ðiều
13), Tất cả tạo ñiều kiện cho trẻ phát triển toàn diện về tinh thần và ñạo ñức, sức
khỏe và thể chất, mở rộng và lành mạnh hóa tư duy của trẻ.
Dưới sức lan tỏa của Công ước năm 1989 ñịa vị của trẻ em trong xã hội ñược
nâng lên tầm cao mới, thông qua các quyền của mình, trẻ em có thể tự biểu hiện
mình trong mọi mặt của hoạt ñộng xã hội. Công ước ñã chính thức xác lập nên một
tập hợp các nghĩa vụ ràng buộc bằng những cam kết, bảo ñảm các quốc gia thành
viên trong việc bảo vệ quyền trẻ em, kể từ thời ñiểm này trẻ em trên Thế giới mới
ñược chính thức nhìn nhận là thế giới của ngày mai.
1.2.3 Quyền trẻ em trong pháp luật về trẻ em của Việt Nam
1.2.3.1 Lịch sử hình thành quyền trẻ em và người chưa thành niên
Việt Nam vốn coi gia ñình là tế bào của xã hội, trong ñó ông bà, bố mẹ có
trách nhiệm chăm lo cho con cháu. Theo truyền thống này, trẻ em ñược dạy dỗ ñể
“làm rạng danh giống nồi” với truyền thống tốt ñẹp thấm nhuần lời dạy của Chủ
Tịch Hồ Chí Minh “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng
người”. Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn quan tâm ñến việc bảo vệ chăm sóc
trẻ em, coi ñây là sự nghiệp cao quí, trách nhiệm to lớn ñối với tương lai của dân
tộc và ñất nước.
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 10 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
Tổ chức của trẻ em ñầu tiên ñược thành lập vào ngày 15/5/1991 (nay là ñội
thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh). Tháng 5/1961: Uỷ ban Thiếu niên Nhi ñồng
Việt Nam ñược thành lập Tháng 2/1972; Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ñã phát ñộng
phong trào bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em theo khẩu hiệu: “tất cả vì con em
chúng ta”. Năm 1979, ñể phối hợp với Uỷ ban năm quốc tế trẻ em của Liên Hiệp
Quốc, Ủy ban năm Quốc tế Thiếu nhi của Việt Nam ñược thành lập và Uỷ ban
Thường vụ Quốc Hội ñã thông qua pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Năm 1989-1990 ñược coi là năm Thiếu nhi Việt Nam ñồng thời trong chiến
lược ổn ñịnh và phát triển kinh tế- xã hội giai ñoạn 1991-2000, vấn ñề trẻ em ñã
ñược ñề cập với tinh thần bảo vệ và chăm sóc nhằm phát triển thế hệ tương lai của
dân tộc. Ngày 26/1/1990 Việt Nam ñã ký Công ước về quyền trẻ em và phê chuẩn
ngày 20/2/1990 (không có bảo lưu nào) Việt Nam là quốc gia ñầu tiên của châu Á
và quốc gia thứ hai trên Thế giới phê chuẩn Công ước (ngày 20-12-2001) Việt Nam
phê chuẩn hai nghị ñịnh thư bổ sung Công ước ñó là: nghị ñịnh thư (không bắt
buộc) về buôn bán trẻ em, nghị ñịnh thư (không bắt buộc) về sử dụng trẻ em trong
xung ñột vũ trang, mại dâm trẻ em và văn hoá khiêu dâm trẻ em.
Như vậy, Việt Nam phê chuẩn Công ước quyền trẻ em 1989 ñã tạo cơ sở pháp
lý quốc tế cho việc bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam, ñồng thời làm thay ñổi nhiều
hoạt ñộng ñảm bảo có hiệu quả quyền của trẻ em.
Sau khi phê chuẩn Công ước năm 1989, cơ quan lập pháp tiếp tục pháp ñiển
hoá các quy ñịnh pháp luật về quyền trẻ em có căn cứ cho phù hợp với Công ước
1989. Vì vậy, 12-9-1991 Quốc Hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ñã
thông qua luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Do hoàn cảnh ñất nước có
Trung tâm Họcthay
những ñổiĐH
liệu nhiều lĩnh
trongCần Thơ @Luật
vực, TàiBảo vệ, chăm
liệu họcsóctập giáonghiên
và và năm
dục trẻ emcứu
1991 chưa ñáp ứng những nhu cầu cấp thiết ñặt ra, trong khi vấn ñề quyền và lợi ích
hợp pháp của trẻ em không thể không quan tâm, không thể sao nhãng, Vì lẽ ñó ngày
15-6-2004 Quốc hội nước ta ñã thông qua luật Bảo vệ, chăm sóc và giaó dục trẻ em
thay cho Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991.
1.2.3.2 Quyền cơ bản của trẻ em và người chưa thành niên trong pháp luật
Việt Nam
1.2.3.2.1Quyền trẻ em ñược ghi nhận trong Hiến pháp 1992
Sau ngày ðất Nước hoàn toàn thống nhất (30-4-1975) với sự ra ñời của Hiến
pháp 1980, một lần nữa ñã khẳng ñịnh tầm quan trọng của việc chăm sóc, giáo dục
trẻ em. ðiều 65 Hiến pháp 1980 ñã khẳng ñịnh: “Nhà nước và xã hội chú trọng bảo
vệ, chăm sóc, giáo dục thiếu niên nhi ñồng, mở rộng việc ñảm nhận nuôi dạy trẻ
em, làm cho sinh hoạt, học tập và trưởng thành của trẻ em ñược bảo ñảm...”
Sau khi ðất Nước ñi vào thời kì ñổi mới, cùng với sự mở rộng với các quan
hệ quốc tế, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, quốc gia trên thế giới.
Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em và sự ra ñời
của luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 12-8-1991 cho thấy Việt Nam luôn coi
trọng việc chăm sóc và giáo dục trẻ em xem ñó là trách nhiệm của Nhà nước và xã
hội. Bên cạnh ñó Việt Nam mong muốn tăng cường hơn nữa trong việc hợp tác
quốc tế ở lĩnh vực này. Hiến pháp năm 1992 ñược xây dựng trên cơ sở ñịnh hướng
theo Công ước về quyền trẻ em năm 1989, ðiều 65 Hiến pháp năm 1992 quy ñịnh:
“Trẻ em ñược gia ñình, nhà nước, xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”. Như vậy,
trách nhiệm chăm sóc và giáo dục trẻ em trước hết thuộc gia ñình, bởi vì gia ñình là
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 11 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
tế bào của xã hội. Hiến pháp cũng quy ñịnh: “cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con
thành những công nhân tốt và không ñược phân biệt giữa các con. Về phía Nhà
nước và xã hội có trách nhiệm tôn trọng ñạo ñiều kiện thuận lợi cho trẻ em thực
hiện các quyền của mình, ñặc biệt ñối với trẻ em có hoàn cãnh ñặc biệt như trẻ tàn
tật, trẻ mồ côi ñều ñược Nhà nước và xã hội giúp ñỡ, ñược học văn hoá và học nghề
phù hợp ñể các em có thể dễ dàng hoà nhập vào xã hội (ðiều 59, 67 Hiến pháp năm
1992). Như vậy các quyền Hiến ñịnh của trẻ em bao gồm: quyền ñược chăm sóc và
quyền ñược nuôi dưỡng và quyền ñược học tập.
1.2.3.2.2 Quyền của trẻ em trong luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
năm 2004
- Quyền ñược chăm sóc, nuôi dưỡng (ðiều 12)
Trẻ em có quyền ñược chăm sóc nuôi dưỡng ñể phát triển thể chất, trí tuệ, tinh
thần và ñạo ñức.
- Quyền sống chung với cha mẹ (ðiều 13)
Trẻ em có quyền sống chung với cha mẹ, không ai có quyền buộc trẻ em
cách ly cha mẹ, trừ trường hợp vì lợi ích của trẻ em.
- Quyền ñược tôn trọng và bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự
(ðiều 14)
- Quyền chăm sóc sức khoẻ (ðiều 15)
Trẻ em từ dưới 6 tuổi ñược chăm sóc sức khỏe ban ñầu, ñược khám chữa bệnh
không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập.
- Quyền ñược học tập (ðiều 16)
Trẻ em học bậc tiểu học trong các cơ sở công lập không cần phải ñóng tiền
Trung tâmhọc
Học phí. liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Quyền ñược phát triển năng khiếu (ðiều 17)
- Quyền có tài sản (ðiều 18)
- Quyền ñược tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt ñộng xã hội
(ðiều 19)
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có quy ñịnh việc ñảm bảo những
quyền cơ bản của trẻ em ñược thực hiện: “các quyền trẻ em ñược tôn trọng và thực
hiện, mọi hành vi vi phạm quyền trẻ em, làm tổn hại ñến sự phát triển bình thường
của trẻ em ñều bị nghiêm trị theo quy ñịnh của pháp luật”.
Ngoài ra luật còn quy ñịnh các hành vi nghiêm cấm (ðiều 7) những người
khác thực hiện ñối với trẻ em:
- Cha mẹ bỏ rơi con, người Giám hộ bỏ rơi trẻ em ñược mình giám hộ.
- Dụ dỗ lôi kéo trẻ em ñi lang thang, lợi dụng trẻ em ñể trục lợi.
- Dụ dỗ, lừa dối, dẫn dắt, chứa chấp, ép buộc trẻ em hoạt ñộng mại dâm; xâm
hại tình dục trẻ em.
- Lợi dụng, dụ dỗ ép buộc trẻ em mua bán sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma
tuý, văn hoá phẩm ñòi truỵ, bạo lực và các loại rượu, bia, thuốc lá...
- Áp dụng biện pháp có tính chất xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân phẩm hoặc
dùng nhục hình ñối với trẻ em vi phạm pháp luật...
- ðể ñảm bảo quyền và lợi ích của trẻ em ñược thực hiện nghiêm chỉnh, luật
còn quy ñịnh trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (của các cá nhân, cơ
quan, tổ chức liên quan)
1.2.3.2.3 Quyền của trẻ em trong pháp luật Dân sự
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 12 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
Cũng như các ngành Luật khác, pháp luật Dân sự cũng hướng tới việc bảo vệ
trẻ em trong các mối quan hệ dân sự, ñiều ñó thể hiện ở việc pháp luật Dân sự
không nhìn nhận trẻ em (hay người chưa thành niên nói chung) là những người có
năng lực hành vi dân sự ñầy ñủ, họ bị hạn chế quyền tham gia vào các mối giao lưu
dân sự. Sự hạn chế quyền ở ñây là nhằm mục ñích bảo vệ, vì trẻ em với mức ñộ
nhận thức và ñiều khiển hành vi của mình sẽ rất dễ bị nhầm lẫn, bị cưỡng ép hoặc bị
ñe dọa mà xác lập nên mối quan hệ dân sự. ðể bảo vệ trẻ em tránh khỏi việc bị lợi
dụng, pháp luật Dân sự quy ñịnh trong một số trường hợp trẻ em khi xác lập, tham
gia vào các quan hệ dân sự, cần thiết phải thông qua người ñại diện theo pháp luật.
- Xuất phát từ ñặc ñiểm tâm sinh lý của người chưa thành niên, Bộ luật Dân
sự căn cứ trên ñộ tuổi ñể quy ñịnh năng lực trách nhiệm dân sự cho người chưa
thành niên “người ñủ 18 tuổi trở lên là người thành niên, người chưa ñủ 18 tuổi là
người chưa thành niên” (ðiều18 Bộ luật Dân sự năm 2005).
- Bộ luật Dân sự cũng quy ñịnh những hạn chế ñối với người chưa thành niên
(ðiều 20)
+ Người từ ñủ 6 tuổi ñến chưa ñủ 18 tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân
sự phải ñược người ñại diện theo pháp luật ñồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ sinh
hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy ñịnh khác.
+ Trong trường hợp người từ ñủ 15 tuổi ñến chưa ñủ 18 tuổi có tài sản riêng
bảo ñảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
mà không cần có sự ñồng ý của người ñại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp
luật có quy ñịnh khác.
Việc quy ñịnh như thế suy cho cùng mục ñích chính của pháp luật nước ta
Trung tâmxuất
Học phátliệu
từ tinh
ĐH thần
Cần ñạo muốn
nhân Thơ bảo vệliệu
@ Tài trẻ em
họctránh
tập vàsựnghiên
khỏi các
xâm hại từcứu
mối quan hệ xã hội bất lợi, bất chính ñối với các trẻ em chứ không phải hạn chế khả
năng, quyền hạn của các em tham gia vào các mối quan hệ xã hội.
- Pháp luật Dân sự còn có chế ñịnh “Giám hộ” ñối với người chưa thành niên:
+ Người ñược giám hộ bao gồm: người chưa thành niên không còn cha, mẹ
hoặc cha mẹ ñều mất năng lực dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án
hạn chế quyền của cha mẹ hoặc cha mẹ không có ñiều kiện chăm sóc gia ñình người
chưa thành niên ñó và nếu cha mẹ có yêu cầu, người chưa ñủ 15 tuổi bao gồm
những người nói trên.
+ Người giám hộ ñối với người chưa thành niên có nghĩa vụ theo ðiều 65 Bộ
luật Dân sự, nghĩa vụ của người giám hộ ñồng thời là quyền của người ñược giám
hộ:
 Chăm sóc giáo dục người ñựợc giám hộ;
 ðại diện cho người ñược giám hộ trong các giao dịch dân sự trừ trường
hợp pháp luật quy ñịnh người chưa ñủ 15 tuổi có thể tự mình xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự;
 Quản lý tài sản của người ñược giám hộ;
 Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người ñược giám hộ.
1.2.3.2.4 Quyền trẻ em trong pháp luật Hình sự
Bộ luật Hình sự năm 1999 ñã xác ñịnh rõ trẻ em cần phải ñược bảo vệ ñặc biệt
khỏi sự tấn công của các hình thức tội phạm, việc quy ñịnh hình phạt rất nghiêm
khắc nhằm hạn chế ñến mức thấp nhất các tội xâm phạm trẻ em, thể hiện tính răn ñe
của pháp luật rất cao. Ngay trong các ñiều luật cũng xác ñịnh rõ xâm phạm trẻ em là
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 13 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
những tình tiết ñịnh khung tăng nặng, thường ở khung có mức hình phạt cao nhất cụ
thể:
- Giết trẻ em, giết phụ nữ có thai là tình tiết ñịnh khung tăng nặng của tội giết
người, với khung hình phạt từ 12 ñến 20 năm tù, chung thân hoặc tử hình (ñiểm b, c
khoản 1, ðiều 93 BLHS);
- ðe dọa giết trẻ em là tình tiết ñịnh khung tăng nặng của tội ñe dọa giết người
(ñiểm c, khoản 2, ðiều 103 BLHS);
- Cố ý gây thương tích cho trẻ em, phụ nữ có thai là tình tiết ñịnh khung tăng
nặng của tội cố ý gây thương tích (ñiểm d, khoản 1, ðiều 10 4 BLHS);
- Ngoài ra, ñối tượng xâm phạm trẻ em là tình tiết ñịnh khung tăng nặng của
các tội như: hành hạ người khác (ðiều 110), tội lây truyền HIV, cố ý truyền HIV
cho người khác (ðiều 117, 118), tội truyền bá văn hoá phẩm ñòi truỵ (ðiều 253).
Bên cạnh còn quy ñịnh một số tội phạm ñặc biệt mà ñối tượng tấn công của
tội phạm là trẻ em: tội hiếp dâm hoặc hiếp dâm trẻ em (ðiều 111, 112)...các tội xâm
phạm người chưa thành niên bao gồm:
Nhóm xâm hại tính mạng sức khoẻ trẻ em:
 Tội giết con mới ñẻ (ðiều 94)
 Tội mua bán ñánh tráo hoặc chiếm ñoạt trẻ em (ðiều 120)
 Tội ngược ñãi hoặc hành hạ con cháu (ðiều 151)
 Tội từ chối hoặc chốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (ðiều 152)
 Tội vi phạm quy ñịnh về sử dụng lao ñộng là trẻ em (ðiều 228)
ðây là những quy ñịnh mới của BLHS 1999 thể hiện sự cố gắng của Nhà
nước trong việc hạn chế sử dụng lao ñộng trẻ em bất hợp pháp, làm hại sự phát triển
Trung tâmtoàn
Họcdiệnliệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
của trẻ.
Nhóm tội xâm phạm danh dự nhân phẩm trẻ em:
 Tội hiếp dâm trẻ em (ðiều 112): phân hoá thành hai nhóm tuổi
Trẻ em dưới 13 tuổi: mọi trường hợp giao cấu với trẻ em dưới 13 tuổi ñều cấu
thành tội hiếp dâm.
Trẻ em từ ñủ 13 tuổi ñến dưới 16 tuổi: các yếu tố cấu thành tội phạm như
ðiều 111 Bộ luật Hình sự.
 Tội cưỡng dâm trẻ em (ðiều 114);
 Tội giao cấu với trẻ em (ðiều 115);
 Tội mua dâm người chưa thành niên (ðiều 256);
 Tội dụ dỗ ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm tội (ðiều
188).
Tóm lại: các quy ñịnh của pháp luật Hình sự luôn hướng ñến việc bảo vệ trẻ
em chống lại các hình thức của tội phạm, bằng việc quy ñịnh một hệ thống các hình
phạt hết sức nghiêm khắc, thể hiện chính sách khoan hồng và nhân ñạo ñặc biệt khi
xử lý các trường hợp người chưa thành niên phạm pháp, phạm tội.
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 14 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH PHẠM TỘI CỦA NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN
2.1 THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN TỘI PHẠM DO NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.1.1 Khái quát chung tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực
hiện ở một số nước trên thế giới
Theo báo cáo tổng kết của một số cơ quan tổ chức trên thế giới, tình hình
người chưa thành niên phạm tội ñang diễn biến phức tạp và có xu hướng tăng lên
một cách nghiêm trọng về số lượng và tính chất nguy hiểm của tội phạm, trước
những biến ñổi sâu sắc của thế giới trong nhiều mặt như: kinh tế, chính trị, văn hoá,
xã hội và khi những vấn ñề ñó vượt ra phạm vi của mỗi quốc gia trước xu hướng
hợp tác, quốc tế hoá ngày càng cao, càng sâu rộng. Tội phạm do những người chưa
thành niên từ 14-17 tuổi tăng lên 23% trong khoảng thời gian từ 1995-2005 so với
khoảng thời gian từ 1985-1995. Và ở lứa tuổi từ 16-17 tuổi là ñỉnh cao của tội
phạm bất chấp nền văn hoá và ñịa lý. Theo dự báo, tỷ lệ gia tăng tội phạm người
chưa thành niên rất có khả năng sẽ tăng lên ñến 50% ñến 2010 với những tội phạm
vốn sẵn có và những tội phạm xưa nay chưa từng có. Con số thống kê ở một số
Trung tâmnước
Học phátliệu là có Cần
triểnĐH 30-40%Thơcon trai các thành
@ở Tài liệuphốhọc bắt về
sẽ bị và
lớntập hành vi phạm
nghiên cứu
tội của mình trước 18 tuổi. Người chưa thành niên thưc hiện một số tội phạm phổ
biến như: tội trộm cắp tài sản, tội cướp giật, tội tấn công người khác, tội buôn bán
ma tuý, tội giết người, tội hiếp dâm…
Những kẻ phạm tội này thường xuất hiện ở những thành phố lớn, thực hiện
việc phạm tội bằng những công cụ cực kỳ tinh vi với những tên gọi chung như:
súng, dao, roi ñiện, chất gây mê, máy tính, các thiết bị ñiều khiển, liên lạc từ xa
cùng với những phương tiện vận chuyển hiện ñại như: ô tô, tàu cao tốc và thậm chí
có cả trực thăng, nguy hiểm hơn, những người chưa thành niên phạm tội có ý thức
liên kết thành tổ chức phạm tội, họ trông có vẻ lạnh lùng và tàn nhẫn như những kẻ
phạm tội ñã trưởng thành, chuyên nghiệp.
2.1.2 Nguyên nhân phạm tội của người chưa thành niên ở một số nước
trên thế giới
Nguyên nhân phạm tội của người chưa thành niên ở các quốc gia, nhìn chung
có những ñiểm tương ñồng, ñi kèm với những thành tựu xã hội là những vấn nạn
mà chính xã hội phải gánh lấy, mặt trái của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh khốc
liệt, tỷ lệ ly hôn ngày càng cao, tỷ lệ thất nghiệp cũng gia tăng, văn hoá phẩm ñòi
truỵ lan tràn khắp nơi, áp lực học tập, những chuẩn mực nhân cách sống tha hoá,
suy ñồi…tác ñộng ñến tâm lý non nớt của trẻ em, biến họ trở thành nạn nhân của
các mặt tiêu cực ñó và chính từ ñó lại cho ra ñời những kẻ phạm tội là người chưa
thành niên. Tuy nhiên, bên cạnh ñó cũng có những nguyên nhân khác nhau xuất
phát từ những quy ñịnh của pháp luật, cơ chế quản lý nhà nước của quốc gia ñó, cụ
thể như ở Mỹ việc tự do sử dụng của công dân là một nguyên nhân trọng yếu bên
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 15 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
cạnh hàng loạt các lý do khác. Tuy pháp luật Mỹ có quy ñịnh về giới hạn ñộ tuổi có
quyền sử dụng (trên 20 tuổi) nhưng việc quản lý chưa nghiêm chỉnh, chặt chẽ dẫn
ñến việc sử dụng súng một cách thoái hoá, bừa bãi. ðiều ñó nó lý giải tại sao tội
phạm người chưa thành niên ở Mỹ liên tục gia tăng và tăng rất nhanh trong nhiều
năm qua (1955-2005) với tỷ lệ là 56%. Trẻ em vị thành niên ở các nước phát triển
tiếp xúc với nguồn văn hoá, thông tin hiện ñại hơn, phong phú hơn những nước kém
phát triển và ñang phát triển mà gia ñình và xã hội không thể nào kiểm soát ñược
việc các em xem phim bạo lực, phim sex và áp dụng chúng là ñiều rất bình thường,
công khai. Những ñiểm vui chơi, giải trí dành cho những người ñã thành niên là
những nơi ñể các em lui tới thường xuyên, giao lưu, kết bè phái với những thành
phần xấu, bị lôi kéo, dụ dỗ rồi dần trở thành kẻ phạm tội. Ngoài ra, gia ñình vì
những nguyên nhân kinh tế, tập quán sinh sống các nơi, người chưa thành niên sớm
rời khỏi gia ñình, có quan hệ thiếu gắn kết, mật thiết giữa cha mẹ ñối với các con và
giữa anh chị, em trong gia ñình với nhau. Các nhà nghiên cứu gọi hiện tượng này là
“rối loạn chức năng gia ñình” khi chức năng gia ñình bị rối loạn thì gia ñình khó có
thể trở thành ñiểm tựa quan trọng trong quá trình hình thành, phát triển nhân cách
của người chưa thành niên. Vì thế gia ñình không ñảm bảo ñược vai trò thiêng liêng
vốn có, thì cũng góp phần ñẩy những người chưa thành niên bước vào con ñường
phạm tội do không có sự chăm sóc, yêu thương, giáo dục, quản lý chặt chẽ và ñúng
mực. Nạn sử dụng chất gây nghiện, chất kích thích, rượu bia…ở một số nước không
ñược quản lý nghiêm ngặt và nó cũng trở thành tác nhân nguy hiểm ñể xô ñẩy
người chưa thành niên trở thành những kẻ buôn bán, sử dụng chúng một cách trái
phép do bản thân bị dụ dỗ, do túng thiếu hoặc không ý thức hết ñược sự nguy hiểm
ở những ñất nước phát triển là những nơi ñược gọi là “ổ chuột” do có sự phân
Trung tâmñó,
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
hoá rõ nét, sâu sắc về giai cấp, về giàu nghèo, về sắc tộc…trẻ em ñược sinh ra trong
hoàn cảnh như thế, thiếu thốn những ñiều kiện phát triển từ thể chất ñến tinh thần
cũng sẽ dễ dàng ñưa các em ñến tình trạng phạm tội. Trước những tác ñộng của các
nguyên nhân ñó ñã dẫn ñến hiện tượng thanh thiếu niên bị rối loạn hành vi ngày
càng tăng: ở Mỹ là 21%, Hàn Quốc là 14%, Nhật Bản là 16%...các biểu hiện của rối
loạn hành vi, rất ña dạng xuất hiện lập ñi lập lại và kéo dài ít nhất sáu tháng, ñe doạ,
uy hiếp người khác bằng phương tiện vũ khí có thể gây thương tích, ñộc ác với
người khác. Trẻ em thích vi phạm nghiêm trọng luật lệ ñi qua ñêm mặc dù bố mẹ
cấm ñoán, những rối loạn này có xu hướng tăng cao trở thành mãn tính. Hậu quả tất
yếu là các em sẽ thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật vốn tiềm ẩn trong bản
thân.
2.2 THỰC TRẠNG, ðẶC ðIỂM VÀ DIỄN BIẾN TÌNH HÌNH TỘI
PHẠM DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM
2.2.1Thực trạng và diễn biến của tình hình tội phạm do người chưa thành
niên thực hiện
Tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện nói riêng ñều là hiện tượng xã hội và chịu sự tác ñộng chi phối của các
hiện tượng, quá trình xã hội khác. Do vậy, tình hình tội phạm luôn có sự thay ñổi
theo từng ñịa ñiểm và theo từng khoản thời gian.
Trong khoảng thời gian từ sau khi miềm Nam hoàn toàn giải phóng (1975)
cho ñến trước thời kỳ ñổi mới (1985), tội phạm do người chưa thành niên thực hiện
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 16 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
chiếm tỉ trọng trung bình từ 8- 8,87% trong tổng số các tội phạm xảy ra hàng năm
ñã ñược phát hiện và ñưa vào con số thống kê hình sự, nếu lấy năm 1975 làm gốc
ñể so sánh với các năm sau thì ñến năm 1985, tỉ lệ gia tăng trung bình hàng năm về
số người chưa thành niên bị ñưa ra xét xử tương ñối thấp (từ 1- 2%/năm). Trong
thời kỳ ñổi mới (1986- 1996), theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân Tối
cao thì tổng số người chưa thành niên bị phát hiện là 83.522 người; trung bình mỗi
năm số người chưa thành niên bị phát hiện là 7.593 người. Tội phạm do người chưa
thành niên thực hiện diễn ra phức tạp, nhìn chung có chiều hướng gia tăng cả về
quy mô số lượng vụ và người chưa thành niên phạm tội cũng như tính chất, mức ñộ
nguy hiểm cho xã hội của các tội phạm do người chưa thành niên thực hiện, cá biệt
có những năm tăng ñột biến. Nếu lấy năm 1986 là năm Bộ luật Hình sự năm 1985
có hiệu lực làm mốc ñể so sánh với các năm sau thì ñến năm 1996, bình quân hàng
năm tội phạm do người chưa thành niên thực hiện tăng 7,38%. Từ năm 1990 ñến
1996, tốc ñộ tăng các tội phạm do người chưa thành niên thực hiện tăng nhanh và
liên tục, bình quân tăng 9%/năm.
Trong những năm gần ñây, tội phạm do người chưa thành niên thực hiện diễn
ra rất phức tạp. Theo số liệu thống kê Tòa án nhân dân Tối cao thì số người chưa
thành niên phạm tội có xu hướng tăng với tốc ñộ chậm từ năm 1997 ñến năm 1999,
sau ñó có chiều hướng giảm chậm (xem Bảng 1).
Bảng 1: ðộng thái của tình hình tội phạm người chưa thành niên và so sánh
với tổng số bị cáo
Năm Số bị cáo là Tỉ lệ % Tỉ lệ %
Trung tâm Học liệu ĐH Cần
ngườiThơ @ Tài liệu
chưa thành học
(so với năm (songhiên
tập và cứu
với tổng số bị
niên 1997) cáo)
1997 3.303 100,00% 5,00%
1998 4.082 123,50% 5,40%
1999 4.212 128,00% 5,90%
2000 3.605 109,00% 5,88%
2001 3.427 104,00% 5,56%
2002 3104 104,00% 5,14%
2003 3994 120,92% 5,84%
2004 2540 76,90% 3,37%
2005 5305 160,61% 6,69%
Nguồn: Số liệu thống kê của TANDTC
Ở Việt Nam, từ sau ngày miền Nam giải phóng, cả nước ñi lên chủ nghĩa xã
hội cho ñến nay, tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện có diễn biến
theo chiều hướng tăng lên liên tục về số vụ cũng như số người. Tốc ñộ gia tăng lớn
nhất ñạt ñược là vào những năm của thập kỷ 90.Từ năm 2000 trở lại ñây, tình hình
tội phạm do người chưa thành niên thực hiện lại có chiều hướng giảm về số lượng
trong cơ cấu tình hình tội phạm nói chung vẫn chiếm tỷ trọng tương ñối ổn ñịnh,
trung bình chiếm trên 5.5%/năm, ñiều này ảnh hưởng chủ yếu từ việc thay ñổi chính
sách hình sự ñối với người chưa thành niên phạm tội trong BLHS năm 1999.
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 17 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
2.2.2 Cơ cấu và tính chất tình hình tội phạm do người chưa thành
niên thực hiện
2.2.2.1 Cơ cấu của tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện
Cơ cấu tội phạm do người chưa thành niên thực hiện có những nét ñặc thù phù
hợp với ñặc ñiểm của lứa tuổi cũng như vị trí, vai trò xã hội của người chưa thành
niên. Trên phương diện lý luận, người chưa thành niên có thể tham gia thực hiện
hầu hết các tội phạm ñược quy ñịnh trong Bộ luật Hình sự, tuy nhiên trên thực tế thì
người chưa thành niên thực hiện chủ yếu là các tội xâm phạm sở hữu và các tội
phạm có sử dụng bạo lực. Trong ñó các tội phạm do người chưa thành niên thực
hiện, loại tội chiếm tỷ trọng cao nhất là tội trộm cắp tài sản chiếm 45,16% (39,14%
là xâm phạm sở hữu công dân và 6,02% là xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa); loại
tội chiếm tỷ trọng cao thứ hai là tội cố ý gây thương tích, chiếm 12,47%; loại tội
chiếm tỷ trọng cao thứ ba là tội cướp tài sản, chiếm 12,08%: tiếp ñó phải kể ñến các
tội: cưỡng ñoạt tài sản chiếm 3,45%, hiếp dâm chiếm 3,64%, giết người chiếm
2,91%, chống người thi hành công vụ chiếm 1,49%: còn lại là các tội phạm khác
chiếm 18,8%.
Biểu ñồ 1: Cơ cấu tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện
Tội cố ý gây thương tích
18.80%
Tội cướp tài sản
1.49%
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học
2.91% tập và nghiên cứu
Tội cưỡng ñoạt tài sản
3.64%
45.16%
Tội hiếp dâm
3.45%
Tội giết người
12.08%
12.47% Tội chống người thi hành công
vụ
Các tội phạm khác
Tội trộm cắp tài sản
Trong giai ñoạn hiện nay (2003-2005) cơ cấu tội phạm do người chưa thành
niên thực hiện ñược tính theo số liệu thống kê của phòng tổng hợp văn phòng Toà
án nhân dân Tối cao sau:
- Các tội xậm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người
chiếm 20,66% trong tổng số bị cáo là người chưa thành niên ñã xét xử;
- Các tội xâm phạm sở hữu chiếm 63,86%;
- Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng chiếm 8,46%;
- Các tội phạm về ma tuý chiếm 1,66%;
Cơ cấu tội phạm do người chưa thành niên thực hiện tính theo nhóm tội ở Việt
Nam hiện nay ñược minh họa bằng biểu ñồ sau:
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 18 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
Biểu ñồ 2: Cơ cấu tội phạm do người chưa thành niên thực hiện (theo nhóm
tội) từ năm 2003-2005
5.36% 1.66%
8.46% Các tội xâm phạm sở
20.66%
hữu
Các tội phạm về ma tuý
Các tội xâm phạm an
toàn, trật tự công cộng
Các tội phạm khác
63.86% Các tội xâm phạm tính
mạng,.. Danh dự của
con người
Cũng trong khoảng thời gian trên cơ cấu tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện tính theo từng tội danh cụ thể kết quả như sau:
-Tội giết người chiếm 4.79% trong tổng số bị cáo ñã xét xử là người chưa
thành niên;
-Tội cố ý gây thương tích chiếm 10.89%;
-Tội hiếp dâm và hiếp dâm trẻ em chiếm 4.26%;
-Tội cướp tài sản chiếm 25.03%;
-Tội cưỡng ñoạt tài sản chiếm 2.28%;
-Tội cướp giật tài sản chiếm 6.24%;
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
-Tội trộm cắp tài sản chiếm 26.24%;
-Tội lừa ñảo chiếm ñoạt tài sản chiếm 1.91%;
-Tội lạm dụng tính nhiệm chiếm ñoạt tài sản 0.87%;
-Tội huỷ hoại hoặc làm hư hỏng tài sản chiếm 0.90%;
-Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm ñoạt chất ma tuý
4.66%;
-Tội vi phạm an toàn giao thông ñường bộ 2.59%;
-Tội phá hủy công trình an ninh quốc gia 1.26%;
-Tội gây rối trật tự công cộng 1.36%;
-Tội ñánh bạc, tổ chức và gá bạc 1.57%;
-Tội chống người thi hành công vụ 0.39%;
-Các tội phạm khác 4.76%.
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 19 SVTH: Lý Thị Bích Thơ
Cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy ñịnh về người chưa thành niên phạm
tội trong Luật Hình sự Việt Nam
Biểu ñồ 3: Cơ cấu tội phạm do người chưa thành niên thực hiện (theo tội
phạm cụ thể) từ năm 2003-2005
Tội giết người
15.30% 4.79% Tội cố ý gây thương
10.89% tích
2.59% 4.26% Tội hiếp dâm, hiếp
4.66% dâm trẻ em
Tội cướp tài sản
Tội cướp giật tài sản
25.03% Tội trộm cắp tài sản
26.24%
6.24% Tội tàng trữ,…chiếm
ñoạt chất ma tuý
Tội vi phạm an toàn
giao thông ñường bộ
Các tội pham khác
Qua con số thống kê có thể khẳng ñịnh rằng tội trộm cắp tài sản là phổ biến
nhất trong cơ cấu tội phạm do người chưa thành niên thực niện ở Việt Nam hiện
nay; thứ hai là tội cướp tài sản; thứ ba là tội cố ý gây thương tích. Còn các tội phạm
chức vụ và các tội phạm an ninh quốc gia do người chưa thành niên ít thực hiện.
Trung tâmðiều
Học nàyliệu ĐH
có thể Cần
lý giải Thơ
do ñặc @thểTài
ñiểm chấtliệu học
và tâm tậplứavà
lý của nghiên
tuổi, cũng nhưcứu
ảnh
hưởng của vị trí vai trò của người chưa thành niên trong xã hội.
2.2.2.2 Tính chất của tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực
hiện
Theo số liệu thống kê nêu trên, phần lớn các tội phạm do người chưa thành
niên thực hiện ñều là tội phạm ñơn giản, mang tính chất cơ hội; không ñề ra kế
hoạch cụ thể, chi tiết trước khi hành ñộng; ñộng cơ phạm tội chủ yếu là vụ lợi hoặc
do thù ghét, ñôi khi do tính hiếu ñộng, trò nghịch ngợm của trẻ con; sau khi phạm
tội thường không có ý thức che dấu tội phạm hoặc không có các thủ ñoạn nhằm
ñánh lạc hướng cơ quan ñiều tra. Tuy nhiên, trong những năm gần ñây, tính chất của
các tội phạm do người chưa thành niên thực hiện ngày càng nguy hiểm hơn, thể
hiện trước hết ở xu hướng tăng nhanh số lượng người chưa thành niên thực hiện các
tội phạm có sử dụng bạo lực và có tính công khai, gây nguy hại lớn cho xã hội; các
tội phạm có ñộng cơ, mục ñích phạm tội rõ ràng và có cả sự chuẩn bị ñể dễ dàng
thực hiện và che giấu tội phạm. ðiều này thể hiện rõ nét trong cơ cấu tội phạm do
người chưa thành niên thực hiện: có xu hướng gia tăng các loại tội phạm có tính
chất nguy hiểm cao như giết người, cố ý gây thương tích, hiếp dâm. Ví dụ, trong
năm 2003, trong phạm vi toàn quốc, Toà án ñã xét xử 156 là người chưa thành niên
phạm tội giết người, chiếm 8.46% số bị cáo giết người nói chung. ðến năm 2005,
Toà án ñã xét xử 247 bị cáo chưa thành niên thực hiện tội phạm giết người, chiếm
ñến 11.36% tổng số bị cáo ñã xét xử về tội giết người trong cả nước. Tội cố ý gây
thương tích: năm 2003 có 263 bị cáo là người chưa thành niên, chiếm 4,72% tổng
số bị cáo bị xét xử về tội cố ý gây thương tích trên toàn quốc; năm 2005 ñã xét xử
GVHD: Thạc sỹ Phạm Văn Beo 20 SVTH: Lý Thị Bích Thơ