Cơ sở luật pháp và tình hình cứu trợ xã hội ở việt nam giai đoạn hiện nay

  • 17 trang
  • file .doc
1
A. Lời mở đầu
Cuộc sống của con người trên trái đất , dù ở bất kì giai đoạn phát triển nào, bất kì chế
độ xã hội nào cũng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và môi trường sống.
Những rui ro, bất hạnh, những khó khăn ngoài ý muốn đã luôn làm cho một bộ phận
dân cư rơi vào tình cảnh yếu thế trong xã hội. Để có thể tồn tại và phát triển, họ cần
được sự trợ giúp của xã hội mà trong đó Nhà nước đóng vai trò hết sưc quan trọng nhờ
có hệ thống ASXH của mình.
An sinh xã hội chỉ sự bảo vệ của xã hội đối với những thành viên của mình, bằng một
loạt những biện pháp công cộng, chống đỡ sự hẫng hụt về kinh tế và xã hội do bị mất
hoặc bị giảm đột ngột nguồn thu nhập vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh
nghề nghiệp, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và chết, kể cả sự bảo vệ chăm sóc y tế và trợ
cấp gia đình có con nhỏ. Trong đó, Cứu trợ xã hội là một loại hình quan trọng trong
lĩnh vực an sinh xã hội. Theo nghĩa thông thường, cứu trợ xã hội được hiểu là chế độ
đảm bảo xã hội đối với các thành viên trong cộng đồng nhằm giúp họ khắc phục
những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trong đời sống. Việc đảm bảo này thông
qua các hoạt động cung cấp tài chính, tiền bạc, vật phẩm, các điều kiện vật chất khác
trong một thời hạn hoặc trong suốt quá trình sống (suốt cuộc đời) của đối tượng. Cứu
trợ xã hội được coi như là "lưới đỡ cuối cùng" trong hệ thống các lưới đỡ an sinh xã
hội.
a. Khái niệm.
Cứu trợ xã hội là một loại hình quan trọng trong lĩnh vực an sinh xã hội. Theo
nghĩa thông thường, "cứu trợ xã hội được hiểu là chế độ đảm bảo xã hội đối với
các thành viên trong cộng đồng nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước
mắt cũng như lâu dài trong đời sống. Việc đảm bảo này thông qua các hoạt động
cung cấp tài chính, tiền bạc, vật phẩm, các điều kiện vật chất khác trong một
thời hạn hoặc trong suốt quá trình sống (suốt cuộc đời) của đối tượng"
Đối tượng của cứu trợ xã hội có thể là gia đình, có thể là cá nhân. Có những
2
trường hợp cứu trợ xã hội được áp dụng để giải quyết khó khăn cho cả vùng gặp
nạn hoặc cả một địa phương.
Cứu trợ xã hội được coi như là "lưới đỡ cuối cùng" trong hệ thống các lưới đỡ
an sinh xã hội. Vì vậy nó được coi là chế độ đảm bảo cộng đồng mang tính nhân
đạo, nhân văn rất cao, thể hiện tình người rõ rệt.
Tuy nhiên, hoạt động cứu trợ xã hội không chỉ là của cá nhân, tổ chức bất kỳ
trong xã hội mà trách nhiệm chính là của nhà nước. Nhà nước có trách nhiệm
cao nhất trong việc tổ chức các hoạt động cứu trợ xã hội, với tư cách là đại diện
của xã hội. Các chính sách, pháp luật về cứu trợ xã hội do nhà nước ban hành,
xây dựng là cơ sở quan trọng để các tổ chức, cơ quan, cá nhân tiến hành các hoạt
động cứu trợ xã hội, đồng thời là tiêu chuẩn đảm bảo sự công bằng, minh bạch,
đúng đắn và tính hợp pháp của cứu trợ xã hội.
Dưới các góc độ tiếp cận khác nhau, hiện nay có nhiều khái niệm về cứu trợ xã
hội. Nếu hiểu một cách bao quát nhất, cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của xã hội
bằng nguồn tài chính của nhà nước và của cộng đồng đối với các thành viên gặp
khó khăn, bất hạnh và gặp rủi ro trong cuộc sống như thiên tai, hỏa hoạn, bị tàn
tật, già yếu …dẫn đến mức sống quá thấp, lâm vào cảnh neo đơn túng quẫn
nhằm giúp họ đảm bảo được điều kiện sống tối thiểu, vượt qua cơn ngheo khốn
và vươn lên cuộc sống bình thường.
3. Những quan điểm cơ bản trong cứu trợ xã hội:
a. Cứu trợ xã hội là hình thức dành cho tất cả những người cần được cứu trợ
Hay nói cách khác, mỗi người trong xã hội đều có quyền hưởng CTXH khi
cần thiết. Mỗi cá nhân đều có quyền sống , làm việc và hưởng thụ các thành quả
của xã hội như tất cả các thành viên khác. Tuy nhiên, có rất nhiều biến cố bất
3
ngờ khiến cho các cá nhân, hộ gia đình có thể rơi vào tình trạng cực kì vất vả
khó khăn, không tìm được phương cách để sinh sống. Nhà nước và toàn thể
cộng đồng thực hiện hoạt động cứu trợ để các quyền con người của các cá nhân
và các nhóm dân cư yếu thế luôn được đảm bảo. Hoạt động này không chỉ đơn
thuần là sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau mà còn thể hiện sự tôn trọng quyền con
người của toàn xã hội đối với mọi cá nhân, thể hiện được một thuộc tính của xã
hội văn minh
b. Các đối tượng cũng phải có trách nhiệm đối với bản thân và cộng đồng.
Theo quan điểm này, cứu trợ xã hội được thực hiện theo hướng đưa cần câu
chứ không phải đưa xâu cá. Những đối tượng được hưởng cứu trợ phải tự khẳng
định mình, tránh tư tưỏng ỷ lại, trông chờ vào sự giúp đỡ của xã hội, của cộng
đồng. Trước khi được cứu trợ, các đối tượng được cứu trợ cần phải cố gắng
bằng tiềm lực còn lại để lo liệu cải thiện khó khăn trong cuộc sống.
4
III. Cơ sở luật pháp và tình hình cứu trợ xã hội ở Việt Nam giai
đoạn hiện nay.
1. Cơ sở luật pháp.
Ở Việt Nam, dù thuật ngữ “An sinh xã hội” mới chỉ xuất hiện vào những năm
70 trong một số cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của một số học giả Sài Gòn
nhưng CTXH đã xuất hiện từ rất lâu đời, trong truyền thống đạo đức của dân tộc
Việt "lá lành đùm lá rách"..., và rất phong phú về hình thức. Hiện nay, CTXH
được Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm và là một trong những chính sách
lớn của Nhà nước, thề hiện qua Nghị định số 07/2000/ND-CP quy định rất rõ vể
đối tượng được hưởng, chế độ hưởng, cụ thể như sau:
a. Đối tượng được hưởng CTXH thường xuyên
Điều 6. Người thuộc diện cứu trợ xã hội thường xuyên tại xã, phường quản lý
gồm:
1. Trẻ em mồ côi là trẻ em dưới 16 tuổi, mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị
mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân thích để nương tựa; trẻ em mồ
côi cha hoặc mẹ, nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại
Điều 88 của Bộ Luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng
theo quy định của pháp luật;
2. Người già cô đơn không nơi nương tựa là người từ đủ 60 tuổi trở lên sống độc
thân. Người già còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người
thân thích để nương tựa, không có nguồn thu nhập. Trường hợp là phụ nữ cô
đơn không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập, từ đủ 55 tuổi trở lên, hiện
đang được hưởng trợ cấp cứu trợ xã hội vẫn tiếp tục được hưởng;
5
3. Người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không có nơi nương tựa;
người tàn tật nặng tuy có người thân thích nhưng họ già yếu hoặc gia đình nghèo
không đủ khả năng kinh tế để chăm sóc;
4. Người tâm thần mãn tính là người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần
phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị
nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm và có kết luận bệnh mãn tính, sống độc thân
không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện đói nghèo.
Điều 7. Người thuộc diện cứu trợ xã hội quy định tại Điều 6 của Nghị định này
thuộc diện đặc biệt khó khăn không tự lo được cuộc sống thì được xem xét tiếp
nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội.
Điều 8. Những người có hoàn cảnh như người thuộc diện cứu trợ xã hội nhưng
còn nơi nương tựa, có nguồn nuôi dưỡng mà gia đình làm đơn tự nguyện đưa
vào cơ sở bảo trợ xã hội, được cấp có thẩm quyền đồng ý thì gia đình phải chịu
mọi chi phí theo quy định.
Ngân sách Nhà nước không hỗ trợ kinh phí cho đối tượng nói tại Điều này.
Điều 9.
1. Trẻ em từ 13 tuổi trở lên thuộc các cơ sở bảo trợ xã hội không còn học văn
hóa thì được giới thiệu đến các trung tâm dạy nghề để học nghề theo quy định
hiện hành của Nhà nước.
2. Trẻ em đã trưởng thành, người tàn tật đã phục hồi chức năng, người bệnh tâm
thần đã ổn định, đang ở cơ sở bảo trợ xã hội thì được đưa trở về địa phương. ủy
ban nhân dân xã, phường, gia đình có trách nhiệm tiếp nhận và tạo điều kiện cho
họ có việc làm và hoà nhập với cộng đồng.
2 Mức trợ cấp đươc hưởng.
Điều 10.
6
1. Mức trợ cấp cứu trợ xã hội thường xuyên tối thiểu do xã, phường quản lý
bằng 45.000 đồng/người/tháng.
2. Mức trợ cấp sinh hoạt phí nuôi dưỡng tối thiểu tại cơ sở bảo trợ xã hội của
nhà nước bằng 100.000 đồng/người/tháng; riêng đối với trẻ em dưới 18 tháng
tuổi phải ăn thêm sữa, mức trợ cấp bằng 150.000 đồng/người/tháng.
Điều 11. Ngoài trợ cấp sinh hoạt phí nuôi dưỡng quy định tại khoản 2 Điều 10
của Nghị định này, các đối tượng ở cơ sở bảo trợ xã hội thuộc nhà nước quản lý
được hưởng thêm các khoản trợ cấp sau :
1. Trợ cấp để mua sắm tư trang, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt đời sống thường
ngày;
2. Trợ cấp mua thuốc chữa bệnh thông thường;
3. Trợ cấp mua sách giáo khoa và đồ dùng học tập đối với trẻ em đi học phổ
thông, bổ túc văn hóa;
4. Trợ cấp hàng tháng vệ sinh cá nhân đối với đối tượng nữ trong độ tuổi sinh
đẻ;
5. Trợ cấp mai táng phí.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định
mức trợ cấp phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương.
3 Nguồn tài chính.
Điều 12. Cơ sở bảo trợ xã hội được tiếp nhận, sử dụng và quản lý các nguồn
kinh phí và hiện vật (nếu có) do các tổ chức, cá nhân đóng góp và giúp đỡ từ
thiện; bảo đảm sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng và thanh quyết toán theo
chế độ tài chính hiện hành.
Điều 13. Nguồn kinh phí nuôi dưỡng, kinh phí hoạt động bộ máy và kinh phí
đầu tư xây dựng cơ bản của các cơ sở bảo trợ xã hội thuộc cấp nào quản lý do
7
ngân sách cấp đó bảo đảm theo quy định hiện hành của Luật Ngân sách Nhà
nước.
b. Cứu trợ xã hội đột xuất.
Cứu trợ xã hội đột xuất là sự giúp đỡ của nhà nước và hội về điều kiện
sinh sống cho các thành viên trong cộng đồng khi gặp rủi ro hoặc khó khăn bất
ngờ khiến cho cuộc sống của họ tạm thời bị đe dọa, nhằm giúp họ nhanh chóng
vượt qua sự hẫng hụt, ổn định cuộc sống và sớm hoà nhập cộng đồng. Cứu trợ
đột xuất thường được thực hiện trong các trường hớp có thiên tai, mất mùa hoặc
xảy ra các biến cố gây ra cho người dân các mối đe doạ về lương thực, nhà ở,
bệnh tật đình trệ sản xuất.
Đối tượng được hưởng cứu trợ đột xuất thường là những cá nhân, những
hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả của thiên tai hoặc các lý do bất khả kháng
khác. Cứu trợ xã hội đột xuất có tính tức thời khẩn cấp. Để cứu trợ xã hội đột
xuất đảm bảo được tính hiệu quả cao nhất đòi hỏi phải thực hiện cứu trợ đúng
thời điểm, kịp thời đúng đối tượng. Ngoài ra do đối tượng được ởng cứu trợ
thường rộng và có hoàn cảnh rủi ro khác nhau nên cần cân nhắc cho thứ tự ưu
tiên cứu giúp cho các đối tượng được hưởng. Đối tượng nào gặp khó khăn nhất
sẽ được ưu tiên trước nhất, với những đối tượng có hoàn cảnh kinh tế khác nhau
thì cách tợ giúp cụ thể cũng khác nhau.
Tại Việt Nam thi đối tượng được trợ cấp, mức trợ cấp và nguồn tài chính cho
cứu trợ đột xuất được quy định rất rõ tại Nghị định số 07/2000/ND_CP như sau:
Điều 14. Đối tượng được cứu trợ xã hội đột xuất (một lần) là những người hoặc
hộ gia đình khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng khác
gây ra, bao gồm:
1. Hộ gia đình có người bị chết, mất tích;
2. Hộ gia đình có nhà ở bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng;
8
3. Hộ gia đình mất phương tiện sản xuất, lâm vào cảnh bị thiếu đói;
4. Người bị thương nặng;
5. Người thiếu đói do giáp hạt;
6. Người gặp phải rủi ro ngoài vùng cư trú mà bị thương nặng hoặc chết, gia
đình không biết để chăm sóc hoặc mai táng;
7. Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú.
Điều 15. Mức trợ cấp cứu trợ xã hội đột xuất đối với từng nhóm đối tượng quy
định tại khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 14 của Nghị định này do Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định tuỳ mức độ thiệt hại
và khả năng huy động nguồn lực.
Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú được trợ
cấp 5.000 đồng/người/ngày, nhưng không quá 15 ngày.
Điều 16. Nguồn kinh phí để thực hiện cứu trợ đột xuất bao gồm:
1. Ngân sách Nhà nước cân đối hàng năm; Ngân sách tỉnh, huyện, xã tự cân đối;
2. Do các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ;
3. Trợ giúp của nước ngoài, tổ chức quốc tế hỗ trợ trực tiếp cho địa phương hoặc
thông qua Chính phủ, các đoàn thể xã hội.
Trường hợp các nguồn kinh phí trên không đủ để thực hiện cứu trợ đột xuất thì
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo Thủ
tướng Chính phủ xem xét, quyết định
9
c. Về tài chính cứu hộ và tổ chức thực hiện được quy định trong những điều
sau:
Điều 17. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giúp Chính phủ quản lý Nhà
nước về công tác cứu trợ xã hội; chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành có liên
quan hướng dẫn thực hiện Nghị định này.
Điều 18.
1. Bộ Tài chính có trách nhiệm đảm bảo kinh phí cứu trợ xã hội theo quy định
hiện hành và phù hợp với Luật Ngân sách Nhà nước.
2. Bộ Y tế có trách nhiệm hướng dẫn việc phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh
cho người thuộc diện cứu trợ xã hội và giám định tình trạng bệnh tật của người
tâm thần, người tàn tật.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm hướng dẫn việc tổ chức học văn hóa;
miễn, giảm học phí và các khoản đóng góp khác cho học sinh là người thuộc
diện cứu trợ xã hội theo chế độ hiện hành.
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm phối hợp với Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội xác định mức độ hậu quả thiên tai, mất mùa và
đói giáp hạt để có biện pháp và hướng dẫn tổ chức thực hiện việc cứu trợ xã hội
đột xuất.
Điều 19. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách
nhiệm:
1. Quản lý người thuộc diện cứu trợ xã hội và cơ sở bảo trợ xã hội thuộc địa
phương;
2. Tổ chức thực hiện chế độ cứu trợ xã hội đối với từng nhóm người thuộc diện
cứu trợ xã hội được quy định tại Nghị định này;
10
3. Chỉ đạo việc xây dựng, quản lý các cơ sở bảo trợ xã hội thuộc địa phương;
4. Chỉ đạo cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, các ngành chức năng
hướng dẫn các tổ chức và cá nhân hỗ trợ người thuộc diện cứu trợ xã hội;
5. Hàng năm lập dự toán kinh phí cứu trợ xã hội thường xuyên, cứu trợ xã hội
đột xuất theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn
hiện hành; hướng dẫn ủy ban nhân dân cấp dưới, cơ quan Lao động - Thương
binh và Xã hội và các ngành chức năng xây dựng và tổng hợp kế hoạch kinh phí
cứu trợ xã hội thường xuyên, cứu trợ xã hội đột xuất.
Các nguồn tài chính huy động cho hoạt động cứu trợ xã hội sẽ được sử dụng
để chi cho các khoản trợ cấp cứu trợ và chi tiêu cho công tác quản lý hoạt động
cứu trợ. Cứu trợ xã hội là hoạt động mang tính nhân đạo nhân văn cao, đồng
thơi có đặc điểm vừa có thể cứu trợ bằng tiền vừa có thể cứu trợ bằng hiện vật.
Vì thế, khi sử dụng các nguồn tài chính cho hoạt động cứu trợ cần chú ý một số
nguyên tắc: thứ nhất , việc sử dụng nguồn tài chính cần đảm bảo đúng đối
tượng, đúng thời điểm, đáp ứng được mong mỏi của đối tượng cấn được cứu trợ;
thứ hai, các nguồn lực lực tài chính phải đảm bảo tính hài hòa; thứ ba, việc xác
định chi tiêu cho cứu trợ xã hội cần bao hàm cả giá trị thành tiền lien quan tới
các khoản cứu trợ bằng hiện vật.
Ngoài ra, Chính phủ còn thường xuyên ban các nghị định sửa đổi, bổ xung các
chính sách về cứu trợ xã hội cho phù hợp với tình hình hiện tại. Ví dụ: Nghị
định 168/2004/NĐ-CP của chính phủ ban hành ngày 20/9/2004 có sửa đổi một
số điều trong nghị định 07/2000/NĐ-CP như sau:
"Điều 10.
1. Mức trợ cấp cứu trợ xã hội thường xuyên thấp nhất do xã, phường quản lý
bằng 65.000 đồng/người/tháng.
11
2. Mức trợ cấp sinh hoạt phí nuôi dưỡng thấp nhất tại cơ sở Bảo trợ xã hội của
Nhà nước bằng 140.000 đồng/người/tháng; riêng đối với trẻ em dưới 18 tháng
tuổi phải ăn thêm sữa và trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS mức trợ cấp sinh hoạt phí
nuôi dưỡng thấp nhất bằng 210.000 đồng/trẻ em/tháng.
3. Mức trợ cấp sinh hoạt phí nuôi dưỡng thấp nhất đối với người tâm thần mãn
tính tại các cơ sở Bảo trợ xã hội của Nhà nước bằng 160.000 đồng/người/tháng.
4. Các đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 của Điều này được cấp thẻ bảo
hiểm y tế hoặc khám, chữa bệnh miễn phí theo quy định hiện hành."
"Điều 15.
1. Mức trợ cấp cứu trợ xã hội đối với từng nhóm đối tượng quy định tại khoản 1,
2, 3, 4, 5 và 6 Điều 14 của Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm
2000 của Chính phủ về chính sách cứu trợ xã hội do Chủ tịch ủy ban nhân dân
cấp tỉnh quyết định tuỳ mức độ thiệt hại và khả năng huy động nguồn lực.
2. Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú được
trợ cấp 7.000 đồng/người/ngày, nhưng không quá 15 ngày."
2. Tình hình pháp luật CTXH nước ta hiện nay.
Ở nước ta, do hoàn cảnh địa lý khí hậu, lịch sử, xã hội, cứu trợ xã hội có vai trò
quan trọng không thể thiếu trong chính sách xã hội quốc gia. Nước ta nằm trong
khu vực địa lý nhiệt đới gió mùa, thuận tiện cho việc sản xuất nông nghiệp.
Song điều kiện khí hậu thời tiết cũng rất khắc nghiệt. Có những năm thiên tai
bão lụt xảy ra lien tục làm cho không ít người dân rơi vào cảnh mất nhà cửa tài
sản, thất thu mùa màng. Lịch sử đất nươc trải qua hang chục năm chiến tranh và
hậu quả để lại còn rất nặng nề. Cùng với đó, mặt trái của nền kinh tế thị trường
ngày càng bộ lỗ rõ khiến cho bộ phận người nghèo càng lúc càng khốn khổ hơn.
Tuy đất nước còn nghèo, nhưng hoạt động cứu trợ xã hội ở nước ta vấn ngày
càng phát triển và đi vào ổn định. Theo đánh giá chung , Việt Nam được coi là
12
nước luôn có cam kết mạnh mẽ về sự phát triển xã hội. So với các nước trong
khu vực , Việt Nam là nước có chương trình cứu trợ xã hội khá toàn diện. với sự
quan tâm và trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, của xã hội, cơ chế cứu trợ xã
hội nước ta luôn được củng cố và tăng cường, góp phần tạo điều kiện giúp
những người nghèo , yếu thế có thể vượt qua những khó khăn trong cuộc sống,
hạn chế những mặc cảm và tự vươn lên hòa nhập với cộng đồng. Tuy nhiên,
trong thực tế tình hình thực hiện các chính sách CTXH vẫn còn rất nhiều những
bất cập cần được giải quyết:
Hệ thống an sinh xã hội có ảnh hưởng không đồng đều lên toàn bộ dân số.
Theo báo cáo của chương trình phát triển LHQ (UNDP), sự phát triển kinh tế
của Việt Nam đã kéo theo sự mất cân bằng trong hệ thống ASXH khi những
người giàu được hưởng nhiều lợi ích từ ASXH hơn những người nghèo. Các hộ
trong nhóm 20% giàu nhất nhận được 40% lợi ích ASXH trong khi con số này
với các hộ trong nhóm 20% nghèo nhất chỉ là 7%. Người dân sống ở thành phố
được hưởng lợi ích từ ASXH hơn ở nông thôn, người dân tộc kinh, hoa được
hưởng nhiều lợi ích hơn người dân tộc thiểu số, người miền Bắc được ưu đãi
nhiều hơn miền Nam.
Chi phí người nghèo phải chi trả cho các hoạt động y tế, giáo dục còn cao khiến
cho thực chất lợi ích họ nhận được từ các hoạt động ASXH là rất thấp.
Đặc biệt trong những năm gần đây, do tình hình bão lũ, thiên tai nghiêm trọng
nhà nước ta đã có những chính sách hỗ trợ thiết thực với người dân vùng thiên
tai, vùng lũ. Cùng với những quỹ vì người nghèo, mỗi địa phương đều có những
quỹ hỗ trợ người dân trong điều kiện thiên tai xảy ra. Tuy nhiên, việc thực thi
những chính sách này còn nhiều bất cập, đặc biệt là tình hình tham nhũng, ăn
chặn tiền hỗ trợ của người dân nghèo, người dân vùng thiên tai vẫn là quốc nạn
của nhà nước. Mỗi năm có hàng nghìn tỉ đồng tiền cứu trợ không đến được với
người dân nghèo. Cũng theo UNDP, có đến hơn 70% tiền cứu trợ không thực sự
13
đến được tay người dân. Đây quả là một con số đáng báo động đòi hỏi những
biện pháp mạnh tay, kịp thời của nhà nước để chấn chỉnh
X.phần mở đầu
Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải có điều kiện bảo đảm về
ăn, mặc, ở v.v... Để thoả mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm
ra những sản phẩm cần thiết. Khi của cải xã hội càng có nhiều thì mức độ thoả
mãn nhu cầu ngày càng tăng, nghĩa là việc thoả mãn nhu cầu cho cuộc sống phụ
thuộc vào khả năng lao động của con người. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời
không phải lúc nào con người cũng có thể lao động tạo ra thu nhập, trái lại có
nhiều trường hợp xảy ra gây cho con người bị giảm hoặc mất khả năng lao động
như ốm đau, tai nạn, già yếu, thất nghiệp... Đồng thời cuộc sống của con người
còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội. Những điều
kiện này không phải lúc nào ở đâu cũng thuận lợi. Những rủi ro, bất hạnh do
thiên tai hoặc môi trường gây ra cho con người là không thể tránh khỏi.
Khi gặp phải những trường hợp rủi ro, thiếu nguồn thu nhập để sinh sống con
người đã giải quyết bằng nhiều cách khác nhau. Từ xa xưa con người đã có sự
san sẻ, đùm bọc của cộng đồng. Lòng nhân ái, sự bao bọc đã hình thành những
hoạt động cứu tế của các tổ chức tôn giáo, phường hội, giúp con người giảm đi
những k.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT CỨU TRỢ XÃ HỘI
1. Khái niệm pháp luật cứu trợ xã hội
a. Khái niệm cứu trợ xã hội
Có thể nói, cứu trợ xã hội là