Chuyên đề tốt nghiệp hoạt động huy động vốn tại quỹ tín dụng nhân dân thị trấn triệu sơn

  • 62 trang
  • file .pdf
BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Giải thích
HTXTD Hợp tác xã tín dụng
LNST Lợi nhuận sau thuế
QTDND Quỹ tín dụng nhân dân
TGTKKKH Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
TGTKCKH Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
TGTKCKH NH Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn ngắn hạn
TGTKCKH DH Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dài hạn
TVHĐ Tổng vốn huy động
TNV Tổng nguồn vốn
VHĐ Vốn huy động
VHĐCKH Vốn huy động có kì hạn
VHĐKKH Vốn huy động không kì hạn
DANH MỤC BẢNG, BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức quản lý của Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Triệu Sơn
Hình 2.1: Sổ tiết kiệm có kỳ hạn.
Hình 2.2: Thẻ lưu sổ tiết kiệm có kỳ hạn.
Hình 2.3: Bảng kê các loại tiền chi.
Hình 2.4: Bảng kê các loại tiền nộp.
Hình 2.5: Phiếu chi.
Hình 2.6: Giâý rút tiền.
Hình 2.7: Giấy gửi tiền.
Bảng 2.2: Tình hình nguồn vốn của Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Triệu Sơn
giai đoạn 2012- 2014
Bảng 2.3: Tình hình vốn huy động của QTDND thị trấn Triệu Sơn giai
đoạn 2012 - 2014
Bảng 2.4: Tình hình huy động vốn theo kỳ hạn gửi của QTDND thị trấn Triệu
Sơn giai đoạn 2012- 2014
Bảng 2.5:Tỷ trọng các loại tiền gửi trong tổng nguồn vốn huy động của QTDND
thị trấn Triệu Sơn giai đoạn 2012- 2014.
Bảng 2.6: Chi phí huy động vốn năm 2012- 2014
Biểu đồ 2.1: Tình hình nguồn vốn của Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Triệu
Sơn giai đoạn 2012- 2014
Biểu đồ 2.2: Tình hình vốn huy động của QTDND thị trấn Triệu Sơn giai
đoạn 2012 – 2014
Biểu đồ 2.3: Tình hình HĐV theo kỳ hạn gửi của QTDND thị trấn Triệu Sơn
Biểu đồ 2.4: Tỷ trọng các loại tiền gửi trong tổng nguồn vốn huy động của
QTDND thị trấn Triệu Sơn năm 2012
Biểu đồ 2.5: Tỷ trọng các loại tiền gửi trong tổng nguồn vốn huy động của
QTDND thị trấn Triệu Sơn năm 2013.
Biểu đồ 2.6: Tỷ trọng các loại tiền gửi trong tổng nguồn vốn huy động của
QTDND thị trấn Triệu Sơn năm 2014
Bảng 2.7: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn tại QTDND thị trấn
Triệu Sơn giai đoạn 2012- 2014
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đảng ta luôn khẳng định vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn là vấn đề
chiến lược hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế
nước ta, là mục tiêu trước mắt và lâu dài vì khi kinh tế nông nghiệp ổn định sẽ làm
tiền đề cho công nghiệp và dịch vụ phát triển. Tuy nhiên một vấn đề đặt ra là muốn
phát triển sản xuất thì ngoài các điều kiện con người, đất đai, vật tư thì đòi hỏi
người nông dân phải có vốn. Mặt khác, lãi suất cho vay bên ngoài rất cao do vậy
người dân vay vốn từ Quỹ tín dụng nhân dân sẽ có lợi hơn nhiều, giảm được chi phí
cho quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy việc tạo ra một thị trường vốn để đáp ứng
cho nhu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp như Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở là
một vấn đề cấp thiết.
Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Triệu Sơn được thành lập nhằm mục đích huy
động và cung cấp vốn cho các hộ sản xuất trong thị trấn và các xã liền kề, trong quá
trình hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Triệu Sơn đã tổ chức thực hiện tốt
chính sách tín dụng của Nhà nước đối với kinh tế hộ sản xuất trên địa bàn xã. Chính
vì vậy việc huy động vốn là hết sức quan trọng trong hoạt động tín dụng, luôn luôn
đồng hành cùng với sự tồn tại và phát triển của quỹ. Với tầm quan trọng trên, cùng
với mong muốn học hỏi thêm kiến thức về hoạt động huy động vốn nên em đã chọn
đề tài: “Hoạt động huy động vốn tại Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Triệu Sơn ” làm
báo cáo tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về nguồn vốn và các nguồn vốn huy động
cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn của Quỹ tín dụng nhân dân
thị trấn Triệu Sơn.
- Phân tích hoạt động huy động vốn của Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Triệu
Sơn giai đoạn 2012- 2014. Từ đó rút ra đánh giá chung về những kết quả đã đạt được,
những hạn chế còn tồn tại trong việc huy động vốn của QTDND thị trấn Triệu Sơn.
- Đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn của Quỹ tín dụng nhân
dân thị trấn Triệu Sơn trong thời gian tới.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu hiệu quả nghiên cứu và phù hợp với nội dung nghiên
cứu, các phương pháp sau đây sẽ được sử dụng:
3.1. Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, thu thập số liệu thông qua việc tiếp xúc
thực tế tại Quỹ và xem thông tin trên báo đài, tạp chí,…
- Số liệu tình hình huy động vốn được thu thập tại phòng kế toán- ngân quỹ
của Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Triệu Sơn.
3.2. Phương pháp phân tích
* Phân tích tổng hợp để thấy được tổng quan tình hình hoạt động của Quỹ tín
dụng nhân dân thị trấn Triệu Sơn.
* Phương pháp so sánh sự biến động của số liệu qua các năm.
- So sánh số tuyệt đối cho thấy sự biến động về số lượng của các chỉ tiêu
- So sánh số tương đối để tính tốc độ phát triển các chỉ tiêu năm sau so với
năm trước.
* Phương pháp đánh giá theo tốc độ gia tăng thông qua các tỷ số để đánh giá
hiệu quả hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Triệu Sơn. Và đánh giá sự
biến động trong hoạt động huy động vốn của Quỹ tín dụng, xem xét tốc độ gia tăng
qua các năm để xác định xu hướng phát triển của nó, đồng thời xác định được sự
thay đổi trong hoạt động huy động vốn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Triệu
Sơn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Triệu Sơn là một trong những Quỹ tín dụng
nhân cơ sở có mạng lưới hoạt động khá rộng rãi so với các Quỹ tín dụng khác trong
cùng địa bàn Tỉnh. Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Triệu Sơn đã hoạt động được 10
năm nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung vào phân tích hoạt động của Quỹ
3 năm gần đây nhất đó là năm 2012, năm 201 và năm 2014.
5. Kết cấu của bài
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn của Quỹ tín dụng nhân dân cơ
sở
Chương 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn
Triệu Sơn
Chương 3:Đánh giá nội dung thực tập và gợi ý một số vấn đề
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN CƠ SỞ
1.1 Vốn của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.
1.1.1 Khái quát về QTDND cơ sở.
Lịch sử hình thành và phát triển của QTDND luôn gắn liền với lịch sử phát
triển của nền kinh tế sản xuất hàng hoá. Sự phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi
sự phát triển của các QTDND và sự phát triển của hệ thống các QTDND là động
lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hoạt động của hệ thống các TCTD ngay từ khi
ra đời không chỉ giữ vai trò quan trọng là huyết mạch mà còn là thước đo sự hưng
thịnh, suy thoái trì trệ của một nền kinh tế.
Theo Luật Các Tổ chức tín dụng 2010 của Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam: QTDND là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự
nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân
hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là
tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống.
QTDND là một loại hình kinh tế hợp tác trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng.
QTDND thuộc sở hữu tập thể, được hình thành theo nguyên tắc góp vốn cổ phần và
hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt
động, hợp tác, bình đẳng và cùng có lợi; nhằm thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương
trợ giữa các thành viên về vốn, giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện cuộc sống. Hoạt động của QTDND là phải
đảm bảo bù đắp chi phí và có tích luỹ.
Hệ thống QTDND hiện nay chia làm 2 cấp độc lập:
- QTDND cơ sở;
- QTDND Trung ương (nay là ngân hàng Hợp Tác Xã). Hội sở chính đặt tại
Hà Nội, các chi nhánh đặt tại các tỉnh Thành phố.
- QTDND đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà, cung cấp vốn cho nền
kinh tế.
1.1.2 Khái niệm về vốn.
Bất cứ một TCTD nào muốn tồn tại và phát triển đều phải có những khoản
tiền ban đầu để làm phương tiện hoạt động như mua sắm, đầu tư vào tài sản cố định,
trang thiết bị phục vụ kinh doanh, cho vay và làm các dịch vụ ngân hàng khác. Vốn
ban đầu của QTDND cơ sở do các thành viên đóng góp, đó là vốn điều lệ. Gọi theo
tính chất sở hữu vốn điều lệ là vốn riêng, thuộc quyền sở hữu của QTD. Khi có
nguồn này đủ mức quy định thì QTD mới được phép triển khai hoạt động.
Trong quá trình hoạt động, QTDND cơ sở phải huy động vốn dưới hình thức
nhận tiền gửi của thành viên, các tổ chức cá nhân trong và ngoài địa bàn hoạt động
để cho vay. Đồng thời để đảm bảo khả năng chi trả, thanh toán và mở rộng tín dụng
đáp ứng nhu cầu vay vốn của thành viên, QTD phải tạo thêm nguồn vốn bằng cách
đi vay của Ngân hàng hợp tác và đi vay của các tổ chức tín dụng khác… Như vậy,
vốn của QTD là những giá trị tiền tệ do QTD tạo lập và huy động được. Vốn được
dùng để đầu tư, mua sắm tài sản cố định, trang thiết bị phục vụ kinh doanh, cho vay
và thực hiện các nghiệp vụ khác trong hoạt động kinh doanh.
1.1.3 Cơ cấu nguồn vốn hoạt động của QTDND cơ sở.
a. Vốn tự có.
Vốn tự có của QTDND cơ sở là những giá trị tiền tệ do Quỹ tạo lập được,
thuộc sở hữu của Quỹ. Vốn tự có chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn nhưng
có tính chất thường xuyên ổn định. Quy mô và sự tăng trưởng của vốn tự có sẽ
quyết định đến năng lực và vị thế phát triển của QTD. Vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ
sung vốn điều lệ giữ vai trò quan trọng trong nguồn vốn tự có.
* Vốn điều lệ: là nguồn vốn riêng thuộc quyền sở hữu riêng của QTDND cơ
sở, được ghi trong Điều lệ QTDND cơ sở, trong giấy phép thành lập và hoạt động,
đồng thời là cơ sở đảm bảo an toàn cho quá trình hoạt động kinh doanh.
Vốn điều lệ của QTDND cơ sở là tổng số vốn do các thành viên góp. Mức
vốn tối thiểu và tối đa của một thành viên do Đại hội thành viên quyết định theo quy
định của pháp luật và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
Theo quy định của NHNN, thành viên của QTDND cơ sở được góp vốn theo
quy định của điều lệ, mức góp vốn để xác lập tư cách thành viên do Đại hội thành
viên quyết định nhưng tối thiểu là 50.000 đồng. Tổng mức góp tối đa của các thành
viên không vượt quá 30% so với tổng số vốn điều lệ của QTDND cơ sở tại thời
điểm góp vốn và nhận chuyển nhượng. Vốn điều lệ tối thiểu phải bằng mức vốn
pháp định do chính phủ quy định. Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có để
thành lập một ngân hàng do pháp luật quy định. Vốn điều lệ là nguồn vốn có tính
chất ổn định vững chắc.
* Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: được chia thành 2 nguồn
- Nguồn trích lập từ lợi nhuận hàng năm theo tỷ lệ 5% lợi nhuận sau thuế:
Theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ tài chính lợi nhuận sau thuế còn
lại sau khi trích nộp thuế thu nhập doanh nghiệp được coi là 100% sẽ trích lập quỹ
dự trữ bổ sung vốn điều lệ 5%, mức tối đa của quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ không
vượt quá vốn điều lệ của QTD.
- Nguồn bổ sung từ số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp mà Quỹ được miễn
giảm không phải nộp ngân sách theo quy định của Chính phủ, của Bộ tài chính và
hướng dẫn của NHNN.
Mục tiêu của việc thành lập quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ nhằm để bổ sung
vốn điều lệ, bảo toàn và không ngừng nâng cao khả năng về vốn của QTD. Tuy
nhiên việc chuyển vốn từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, QTDND cơ sở phải thực
hiện theo cơ chế và hướng dẫn của NHNN. Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ là nguồn
vốn có tính chất ổn định, vững chắc và là một bộ phận của vốn tự có. Nguồn vốn
này của QTD có xu hướng ngày càng tăng do hàng năm được trích lập theo kết quả
kinh doanh.
b. Vốn huy động.
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà một ngân hàng huy động được của các
tổ chức cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện nghiệp vụ huy động vốn
(nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá…).
Vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, QTDND cơ sở chỉ
có quyền sử dụng nhưng không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng
hạn cả gốc và lãi khi đến kỳ hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn. Vốn huy động
đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của QTD và là một trong những nguồn vốn
chủ lực của QTDND cơ sở, thường chiếm tỷ lệ cao nhất so với các loại nguồn vốn
khác. Bao gồm: tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn của các cá nhân, tổ chức
kinh tế, tổ chức đoàn thể kể cả trong và ngoài nước.
c. Vốn đi vay.
Là nguồn vốn được hình thành từ quan hệ vay vốn giữa QTDND cơ sở với
các NHNN hoặc vay của các ngân hàng, TCTD tài chính và các tổ chức khác. Vốn
đi vay giữ vị trí quan trọng trong hoạt động của QTD không chỉ về mặt quy mô đơn
thuần mà chủ yếu mang ý nghĩa như là một biện pháp quản lý các mục tài sản nợ.
QTD có thể đi vay từ nhiều nguồn khác nhau.
QTDND cơ sở có thể vay vốn của Ngân hàng hợp tác, vay của các ngân hàng,
TCTD tài chính khác. Trong trường hợp cần thiết nếu gặp khó khăn về tài chính
QTDND cơ sở còn được vay vốn của QTDND cơ sở khác khi NHNN cho phép.
d. Các loại vốn và quỹ khác.
- Vốn tài trợ của nhà nước, của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước.
- Vốn dịch vụ ủy thác của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước.
Trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, vốn tài trợ, vốn ủy thác đầu tư
của Nhà nước, của các tổ chức, cá nhân trong nước phục vụ lĩnh vực kinh tế nông
nghiệp- nông thôn là nguồn vốn luôn được quan tâm. Khi được NHNN cho phép,
QTDND cơ sở có thể kêu gọi vốn từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài
để đầu tư các mục đích nhất định hoặc được nhận vốn tài trợ để cung ứng cho thành
viên.
- Vốn hình thành trong dịch vụ thanh toán, vốn phát sinh từ nghiệp vụ đại lý
thu chi hộ khách hàng, dịch vụ giữ hộ, tạm giữ… được hình thành từ hoạt động
nghiệp vụ của QTDND cơ sở.
- Các quỹ như quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng tài trợ cấp mất
việc làm,… Quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi được trích lập từ lợi nhuận ròng hàng
năm theo nghị quyết của Đại hội thành viên và hướng dẫn của Bộ tài chính. Quỹ dự
phòng trợ cấp mất việc làm được trích từ chi phí.
1.2 Các hình thức huy động vốn của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.
1.2.1 Huy động tiền gửi của khách hàng.
a. Tiền gửi không kì hạn.
Là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút ra sử dụng bất cứ lúc nào, không bị
hạn chế về số lần người gửi tiền muốn gửi vào hoặc rút tiền ra khi sử dụng. Thông
thường lãi suất tiền gửi không kì hạn thấp hơn tiền gửi có kì hạn. Khách hàng gửi
tiền nhằm mục đích an toàn về tài sản với mục đích chờ thanh toán chứ không vì
mục đích kiếm lãi. Tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc không được trả lãi
bao gồm:
* Tiền gửi thanh toán.
Là các khoản tiền gửi không kỳ hạn, trước hết được sử dụng để tiến hành
thanh toán chi trả cho các hoạt động hàng hóa, dịch vụ và các khoản phát sinh trong
quá trình kinh doanh một cách thường xuyên, an toàn và thuận lợi. Đối với tiền gửi
thanh toán việc rút tiền hoặc chi trả cho bên thứ ba thường được thực hiện bằng séc
hay chuyển khoản. Tiền gửi thanh toán thường được quản lý trên tài khoản tiền gửi
thanh toán và tài khoản vãng lai.
* Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy.
Là loại tiền được ký gửi với mục đích bảo quản an toàn tài sản. Khi cần
khách hàng có thể đến rút ra. Cũng giống như trường hợp trên, ngân hàng phải thỏa
mãn yêu cầu của khách hàng khi họ có nhu cầu rút tiền và chỉ được phép sử dụng tài
khoản khi đã đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả. Tuy nhiên, việc sử dụng các
nguồn tiền này gặp nhiều bất lợi bởi nó mang tính chất không ổn định, do khách
hàng có thể gửi hoặc rút ra bất cứ lúc nào, đặt trước rủi ro thanh khoản. Do đó,
muốn sử dụng hiệu quả nguồn này, QTDND cơ sở phải tiến hành kiểm tra kĩ lưỡng
về đặc điểm kinh doanh, thu nhập, chi tiêu… của khách hàng để có kế hoạch khai
thác hiệu quả.
b. Tiền gửi có kì hạn.
Là loại tiền gửi có sự thỏa thuận trước về thời gian rút tiền (3 tháng, 6 tháng,
9 tháng, 1 năm, 3 năm, 5 năm…) giữa khách hàng và QTD.
Đại bộ phận tiền gửi này có nguồn gốc từ tích lũy và ký thác để hưởng lãi
Mức lãi suất cụ thể phụ thuộc vào thời hạn trả tiền và sự thỏa thuận giữa QTDND
và khách hàng trên cơ sở xem xét đến mức độ an toàn của QTDND cũng như cung
cầu về vốn tại thời điểm đó. Tuy nhiên, để tạo nên tính lỏng cho các loại tiền gửi có
kì hạn và do đó mà hấp dẫn khách hàng, QTDND có thể cho phép khách hàng rút
tiền trước hạn với những khoản phạt đáng kể (hưởng lãi suất thấp hơn quy định).
Loại tiền gửi có kỳ hạn này giữ vai trò trung gian giữa tiền gửi thanh toán và
tiền gửi tiết kiệm. Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, QTD có thể sử dụng phần
lớn vào hoạt động kinh doanh. QTDND có thể chủ động kế hoạch hóa việc sử dụng
nguồn vốn này và tính có thời hạn của nguồn vốn. Chính vì vậy, QTDND cơ sở
luôn tìm cách để đa dạng hóa loại tiền gửi này nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của
khách hàng.
1.2.2 Huy động tiền gửi tiết kiệm.
Tiết kiệm là phần thu nhập quốc dân của cá nhân và người lao động chưa sử
dụng cho tiêu dùng. Họ gửi vào QTD với mục đích tích lũy tiền một cách an toàn và
hưởng một phần lãi từ số tiền đó. Tiền gửi tiết kiệm là một dạng đặc biệt để tích lũy
tiền tệ trong lĩnh vực tiêu dùng cá nhân. Lãi suất áp dụng cho loại tiền gửi này cao
hơn so với lãi suất cho tiền gửi giao dịch.
Hình thức phổ biến và cổ điển nhất là loại tiền gửi tiết kiệm có sổ. Đối với
loại tiền gửi này, người gửi tiền được QTDND cấp cho một quyển sổ dùng để ghi
tiền gửi vào và tiền rút ra. Đồng thời quyển sổ này cũng xác nhận số tiền đã gửi.
Ở Việt Nam, các hình thức tiền gửi tiết kiệm bao gồm:
a. Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn.
Là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào, song không được
sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác.
Thực chất đây là sản phẩm được thiết kế dành riêng cho đối tượng khách
hàng cá nhân hoặc tổ chức, có tiền tạm thời nhàn rỗi muốn gửi QTDND vì mục tiêu
sinh lời và an toàn nhưng không thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền gửi trong
tương lai. Đối với khách hàng khi chọn lựa hình thức tiền gửi này thì mục tiêu an
toàn và tiện lợi quan trọng hơn là mục tiêu sinh lời. Đối với QTDND, vì loại tiền
gửi này khách hàng muốn rút bất cứ lúc nào cũng được nên QTDND phải đảm bảo
tồn quỹ để chi trả và khó lên kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng. Do vậy,
QTDND thường trả lãi suất thấp cho loại tiền gửi này.
Tuy nhiên số dư tài khoản này thường không lớn nhưng có ưu điểm hơn so
với các khoản tiền gửi giao dịch khác ở chỗ số dư này ít biến động. Chính vì vậy,
trong kinh doanh các QTDND thường phải trả lãi suất cao hơn so với tài khoản tiền
gửi thanh toán. Đó là điều kiện để các QTDND cơ sở có thể dễ dàng huy động số
vốn này.
b. Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn.
Khác với tiền gửi tiết kiệm không kì hạn, tiền gửi tiết kiệm định kì được thiết
kế dành cho khách hàng cá nhân và tổ chức có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn,
sinh lời và thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai. Đối với QTDND,
đây là tài khoản có số dư ít biến động nhất trong các loại tài khoản tiền gửi và nó là
nguồn vốn chủ yếu để QTDND thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh đặc biệt là
nghiệp vụ tín dụng.
Đối tượng chủ yếu của loại tiền gửi này là khách hàng cá nhân muốn có thu
nhập ổn định và thường xuyên, đáp ứng cho việc chi tiêu hàng tháng hoặc hàng quý.
Đa số khách hàng thích lựa chọn hình thức gửi tiền này là công nhân, viên chức,
hưu trí. Mục tiêu quan trọng của họ khi lựa chọn hình thức này là lợi tức có được
theo định kì. Do vậy, lãi suất đóng vai trò rất quan trọng để thu hút.
Đây là loại tiền gửi có sự thỏa thuận về thời gian gửi và rút tiền, có mức lãi
suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn gồm:
* Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn ngắn hạn.
Là loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn từ 1 tháng đến 12 tháng. Loại tiền gửi
này khá quen thuộc ở Việt Nam, các Ngân hàng, các QTD. Về nguyên tắc, khách
hàng chỉ được rút tiền ra khi đến hạn. Song, để tăng tính cạnh tranh trong thu hút
tiền gửi, thực tế các QTDND cơ sở vẫn cho phép khách hàng rút tiền trước hạn. Tuy
nhiên, để tránh việc khuyến khích khách hàng rút tiền trước hạn thì một phần trong
tiền lãi mà khách hàng được hưởng sẽ bị khấu trừ.
* Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dài hạn.
Là loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Loại tiền gửi này rất
phổ biến ở một số nước công nghiệp nhằm thu hút tiền nhàn rỗi trong thời gian dài.
So với các loại hình tiết kiệm khác đối với khoản tiền gửi này bất cứ lúc nào người
gửi cũng có thể gửi tiền vào QTD với số lượng không hạn chế nhưng chỉ được rút ra
khi đến hạn. Đây là loại hình tiết kiệm mà các QTDND cơ sở đã tận dụng nhằm tạo
được nguồn vốn có tính ổn định cao, phục vụ cho hoạt động cấp tín dụng của mình.
Các QTDND cơ sở thường huy động các loại tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
hoặc có kỳ hạn ngắn, đáp ứng nhu cầu tiền gửi của tất cả các khách hàng. Với mỗi
loại tiền gửi, QTD áp dụng một mức lãi suất tương ứng. Về nguyên tắc lãi suất tiền
gửi tiết kiệm không kỳ hạn thấp hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, tiền gửi
tiết kiệm có kỳ hạn càng dài thì lài suất càng cao. Tuy nhiên việc huy động tiền gửi
tiết kiệm có kỳ hạn dài còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có sự ổn định của
tiền tệ, của giá cả cho vay có được cho phép của các định chế do NHNN quy định
trong từng thời kỳ.
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn của QTDND cơ sở.
1.3.1 Chỉ tiêu đánh giá về quy mô, cơ cấu.
Vốn huy động/Vốn tự có: Chỉ tiêu này đánh giá khả năng huy động vốn của
Qũy so với vốn tự có. Chỉ tiêu này khoảng 20 lần là tốt.
Vốn huy động/tổng nguồn vốn: chỉ tiêu này đánh giá tỷ lệ vốn huy động được
so với tổng nguồn vốn, cho thấy trong tổng nguồn vốn hoạt động của Qũy có bao
nhiêu vốn hình thành từ huy động.
Loại tiền gửi
Tỷ trọng các loại tiền gửi =
Tổng vốn huy động
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng của các nguồn tiền gửi trong tổng nguồn vốn
huy động được. Nó thể hiện cơ cấu vốn huy động theo các tiêu thức: tiền gửi thanh
toán, tiền gửi tiết kiệm…
Tỷ trọng tiền gửi khách hàng Tiền gửi khách hàng ngắn hạn (dài hạn)
=
ngắn hạn (dài hạn) Tổng tiền gửi khách hàng
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng nguồn ngắn hạn và dài hạn trong tổng tiền
gửi. Tỷ trọng này cho thấy xu hướng gửi tiền của khách hàng và việc cân đối vốn
của QTDND để quyết định cho các hoạt động sử dụng vốn.
Các chỉ tiêu này có ý nghĩa trong việc cân đối nguồn vốn, phát hiện tiềm
năng và sự thiếu hụt để kịp thời đẩy mạnh công tác huy động vốn theo từng tiêu chí,
theo cơ cấu cho vay của QTDND.
1.3.2 Chi phí huy động vốn.
Chi phí huy động vốn là toàn bộ chi phí mà QTDND bỏ ra để hưởng quyền
sử dụng một đồng vốn trong một khoảng thời gian nhất định, bao gồm chi phí lãi và
chi phí phi lãi. Chi phí lãi chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng chi phí vốn và được coi
là hợp lý khi nó vừa đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường, vừa đảm bảo thực hiện
mục tiêu lợi nhuận của QTDND.
Các khoản chi phí phi lãi bao gồm chi trả tiền lương, chi khấu hao, chi quảng
cáo, chi thiết lập mạng lưới… Quy mô QTDND càng lớn, cơ cấu tổ chức càng chặt
chẽ, năng lực quản lý của ban giám đốc càng tốt thì chi phí này càng giảm.
Hầu hết các QTDND đều xác định chi phí huy động vốn thông qua chi phí
bình quân gia quyền.
Tổng chi phí cho hoạt động huy động vốn
Chi phí huy động vốn =
Tổng vốn huy động
Chỉ tiêu này phản ánh chi phí trả lãi cho một đồng vốn huy động được của
QTDND. Nguồn vốn huy động được coi là có hiệu quả nếu chi phí huy động thấp,
đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn một cách kịp thời nhất.
1.3.3 Cân đối vốn huy động và sử dụng vốn
Đây là một yêu cầu quan trọng khi xác định quy mô và cơ cấu vốn hợp lý
cho QTDND vì xét cho cùng thì QTDND huy động vốn là để sử dụng chúng với
mục đích sinh lời.
Tổng dư nợ cho vay
Tỷ trọng dư nợ trên vốn huy động =
Tổng vốn huy động
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng dư nợ so với tổng nguồn vốn huy động được.
Ngoài ra chỉ tiêu này lớn thể hiện tiền gửi huy động tham gia vào hoạt động cho vay
cao, cho thấy khả năng đáp ứng nhu cầu vay của khách hàng, chỉ tiêu này còn đánh
giá Qũy có sử dụng hiệu quả vốn huy động để cho vay hay không. từ đó ảnh hưởng
đến khả năng sinh lời của QTDND. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1, cho thấy
Qũy chưa sử dụng vốn hợp lý, số vốn huy động về còn dư thừa chưa sử dụng hết.
Dư nợ cho vay ngắn hạn
Tỷ trọng dư nợ ngắn hạn =
Tổng vốn huy động tiền gửi ngắn hạn
Dư nợ cho vay dài hạn
Tỷ trọng dư nợ dài hạn =
Tổng vốn huy động tiền gửi dài hạn
Các chỉ tiêu này phản ánh trong tổng vốn huy động thì có bao nhiều phần
trăm sử dụng để cho vay, vì nếu tỉ lệ này thấp thì lợi nhuận của QTDND có thể thấp
do trả lãi tiền gửi cao hơn thu tiền lãi vay, lãi nhận được do điều chuyển vốn đi
thấp. Ngược lại tỉ trọng này cao sẽ phản ánh xu thế có lợi cho QTDND vì QTDND
sẽ thu được lãi cho vay nhiều hơn phải trả lãi tiền gửi.
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của QTDND
1.4.1 Yếu tố khách quan
Yếu tố khách quan là những yếu tố bên ngoài tầm kiểm soát của QTDND.
Đối với nhóm yếu tố này QTDND cần thích ứng một cách tốt nhất, nó bao gồm:
môi trường kinh tế chính trị xã hội, các điều kiện về pháp lý, sự chỉ đạo của NHNN,
tâm lý tập quán của khách hàng…
a. Điều kiện pháp lý
Các hoạt động của QTDND cơ sở chịu sự điều chỉnh của luật các TCTD và
hệ thống các văn bản pháp luật khác của Nhà nước. Trong sự giàng buộc về luật
pháp, các yếu tố của nghiệp vụ huy động vốn thay đổi làm ảnh hưởng đến quy mô
và chất lượng của hoạt động huy động vốn.
b. Các điều kiện về mặt kinh tế
Tình trạng phát triển kinh tế của nền kinh tế là một yếu tố vĩ mô có tác động
trực tiếp đến mọi hoạt động của QTDND cơ sở, ảnh hưởng đến công tác huy động
vốn.
Trong điều kiện nền kinh tế phát triển ổn định thì số vốn huy động được của
QTDND cơ sở ngày càng tăng lên và cơ hội đầu tư cho vay ngày càng được mở
rộng. Nền kinh tế suy thoái, khả năng huy động vốn của QTDND cơ sở không
những bị giảm xuống mà lượng tiền dân cư đã ký gửi vào Quỹ cũng có nguy cơ bị
rút ra.
c. Điều kiện về môi trường cạnh tranh
Sự cạnh tranh của các QTD và các Ngân hàng trên địa bàn sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến hoạt động huy động vốn của QTDND cơ sở. Để tồn tại và phát triển,
QTDND cơ sở phải định ra chiến lược kinh doanh phù hợp để có thể cạnh tranh
được với các QTD khác và các Ngân hàng thương mại trên địa bàn. Trong quá trình
cạnh tranh QTDND cơ sở buộc phải cải tiến và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ,
thực hiện mức lãi suất hợp lý, nghiên cứu kĩ thị trường và làm tốt công tác
maketing.
d. Yếu tố văn hóa- xã hội, tâm lý khách hàng
Khách hàng của QTDND cơ sở bao gồm những người có vốn gửi tại
QTDND cơ sở và những người sử dụng vốn đó. Ở khoản mục tiền gửi tiết kiệm có
2 yếu tố quan trọng tác động là thu nhập và tâm lý của người gửi tiền. Thu nhập ảnh
hưởng đến nguồn vốn tiềm tàng mà QTDND cơ sở có thể huy động được trong
tương lai. Còn yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sự biến động ra vào của các nguồn tiền.
Tâm lý khách hàng là một trong các yếu tố quan trọng. Bất cứ khách hàng
nào khi đem vốn của mình đi đầu tư cũng muốn đồng vốn của mình sinh lời. Đó là
sự mong muốn của công chúng đầu tư. Tuy nhiên, trong thực tế một số QTDND
không quan tâm đúng mức yếu tố này. Đây cũng là một nguyên nhân gây mất lòng
tin của khách hàng đối với QTDND, do vậy QTDND mất đi một lượng khách hàng
lớn (đồng nghĩa với việc giảm quy mô của nguồn vốn huy động) làm ảnh hưởng tới
uy tín của QTDND trên thị trường. Chính vì vậy, các nhà quản lý QTDND phải
nghiên cứu tâm lý, nhu cầu của khách hàng từ đó đưa ra những giải pháp thích hợp
nhằm khơi dậy lòng tin của khách hàng đối với QTDND.
QTDND phải có địa điểm giao dịch thuận tiện, đây là yếu tố cần thiết nhằm
thu hẹp không gian, rút ngắn thời gian cho khách hàng khi đến giao dịch. Tạo điều
kiện cho khách hàng mở rộng khối lượng giao dịch, đồng thời góp phần nâng cao
chất lượng huy động vốn. Nhân viên QTDND phải thường xuyên giúp đỡ khách
hàng, tạo niềm tin cho khách hàng vào QTDND. Từ đó khách hàng thấy được sự
quan tâm của QTDND đối với mình và sẵn sàng tìm đến QTDND khi có nhu cầu.
1.4.2 Yếu tố chủ quan
a. Quy mô và vị thế của QTD
Quy mô và vị thế của QTDND cơ sở ảnh hưởng rất lớn đến vốn huy động
của QTD. Một QTDND cơ sở có quy mô lớn tạo hình ảnh tốt cho Quỹ, tạo niềm tin
cho khách hàng. Ngoài ra, uy tín của QTDND cơ sở cũng rất quan trọng, khách
hàng thường cân nhắc và lựa chọn QTD hoặc Ngân hàng nào được họ thừa nhận có
uy tín nhất đối với người gửi tiền.
b. Khả năng quản lý của ban lãnh đạo
Khả năng quản lý của ban lãnh đạo đóng vai trò quan trọng trong hoạt động
của QTDND cơ sở. Nếu như ban lãnh đạo năng động, có kinh nghiệm, có tầm nhìn
và không ngừng đổi mới, sáng tạo, nhanh nhạy nắm bắt xu hướng thị trường thì sẽ
tăng hiệu quả hoạt động của Quỹ.
c. Khả năng sinh lời và khả năng đối phó với rủi ro
Một QTD có lợi nhuận cao sẽ tạo ra lòng tin với khách hàng tốt bởi khách
hàng tin tưởng vào khả năng thanh khoản của Quỹ. Tuy nhiên, lợi nhuận cao luôn
đồng nghĩa với việc QTD phải đối mặt với nhiều rủi ro. Vì vậy, yêu cầu các nhà
quản trị của Quỹ phải dự báo và phải có những biện pháp tránh rủi ro hiệu quả.
d. Lãi suất huy động
Lãi suất huy động có tác động rất lớn đến lượng vốn huy động và chi phí huy
động của QTDND. QTDND không thể đẩy lãi suất lên quá cao và cũng không thể
để lãi suất quá thấp vì đều làm giảm lợi nhuận. Vì vậy QTDND phải tính đến chi
phí vốn để có thể xác định lượng vốn tăng đến bao nhiêu, huy động loại vốn nào thì
chi phí huy động là thấp nhất, mang lại lợi nhuận, hiệu quả và sự an toàn nhất.
e. Công nghệ của QTDND
Công nghệ QTDND đã trở thành một nhân tố quyết định uy thế, sức cạnh
tranh của QTDND không chỉ hoạt động huy động vốn mà cả trong các hoạt động
của QTDND. Công nghệ QTDND là nền tảng để QTDND cung ứng các dịch vụ
QTDND hiện đại, nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng tốt mọi nhu cầu của khách
hàng. Công nghệ QTDND hiện đại sẽ đảm bảo nhanh chóng, an toàn và thuận lợi
cho khách hàng trong quá trình giao dịch với QTDND. Các QTDND đẩy mạnh ứng
dụng những thành tựu công nghệ hiện đại, nhất là công nghệ thông tin, bởi chỉ trên
cơ sở kỹ thuật công nghệ hiện đại thì các QTDND mới có điều kiện triển khai các
loại hình dịch vụ mới, mở rộng đối tượng và phạm vi khách hàng.
Công nghệ thông tin cho phép các QTDND nắm bắt cập nhật và đầy đủ các
thông tin từ phía khách hàng, cho phép giảm thiểu rủi ro từ lựa chọn đối nghịch và
rủi ro đạo đức. Công nghệ hiện đại cũng cho phép các QTDND giảm chi phí, giảm
thời gian trong giao dịch, tăng độ an toàn cho khách hàng - đây vốn là những yêu
cầu bắt buộc trong kinh doanh của các QTDND.
f. Sự đa dạng các dịch vụ, sản phẩm huy động của QTDND
Mỗi khách hàng có nhu cầu dịch vụ khác nhau nên QTDND cần có những
sản phẩm, dịch vụ huy động khác nhau để khách hàng lựa chọn. Một QTDND có
dịch vụ, sản phẩm phong phú, linh hoạt, thuận tiện thì khả năng huy động vốn càng
cao.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
TẠI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN THỊ TRẤN TRIỆU SƠN.
2.1 Tổng quan về quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Triệu Sơn.
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển QTDND thị trấn Triệu Sơn.
-Tên cơ quan: Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Triệu Sơn.
-Vốn điều lệ ban đầu hoạt động : 1.000.000.000 đồng.
-Vốn điều lệ hiện tại: 18.183.500.000 đồng.
-Địa chỉ: Số nhà 174 phố Giắt, thị trấn Triệu Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh
Hóa.
-Tổng số cán bộ, nhân viên: 27 người.
Một trụ sở chính và 2 phòng giao dịch. Trụ sở chính Quỹ tín dụng nhân dân
thị trấn Triệu Sơn đặt tại số nhà 174 Phố Giắt, thị trấn Triệu Sơn, huyện Triệu Sơn,
tỉnh Thanh Hóa. Phòng giao dịch số 2 có địa chỉ tại: Thôn Diễn Trung, xã Hợp
Thành, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Phòng giao dịch số 3 có địa chỉ tại: Làng
Phú Liễm, xã Thọ Thế, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Thị trấn Triệu Sơn là một địa phương nằm dọc quốc lộ 514 trục đường chính
của Tỉnh. Là nơi có đông dân cư với nền kinh tế đang trên đà phát triển. Vì vậy nạn
cho vay nặng lãi thường xuyên xảy ra làm cho đời sống của người dân lâm vào cảnh
bế tắc, đời sống xã hội bị phân hóa rõ nét.
Trước tình hình đó, chính quyền địa phương đã nhận thấy được sự cần thiết
khi thành lập Quỹ tín dụng nhân dân tại thị trấn Triệu Sơn để giúp cho người dân
phát triền kinh tế. Được sự thống nhất của Ủy ban nhân dân thị trấn Triệu Sơn và
chi nhánh Ngân hàng nhà nước tỉnh Thanh Hóa, ngày 01 tháng 11 năm 2006 Quỹ
tín dụng nhân dân thị trấn Triệu Sơn được thành lập, với chức năng và nhiệm vụ là
huy động tiền gửi từ dân cư và cho vay vốn thành viên để phát triển kinh tế gia
đình.
Khi mới thành lập Quỹ tín dụng đã gặp một số khó khăn như: Số thành viên
tham gia còn ít, món vay còn nhỏ lẽ, số vốn điều lệ còn thấp, hoạt động trên địa bàn
nhỏ, kinh tế địa phương còn khó khăn, đội ngũ nhân viên kinh nghiệm chưa cao…
Nhưng với sự giúp đỡ của chính quyền địa phương và sự nỗ lực của ban lãnh đạo,
nhân viên Quỹ tín dụng đã xây dựng phương án sản xuất kinh doanh phù hợp tạo
được uy tín đối với mọi tầng lớp khách hàng. Hiện nay sau 8 năm đi vào hoạt động
Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Triệu Sơn đã thật sự là nơi đáng tin cậy để gửi tiền
và vay vốn của các thành viên trên địa bàn. Và là trong những quỹ tín dụng hoạt
động mang lại hiệu quả hàng đầu trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
2.1.2 Chức năng, nhiệm vu, quyền hạn của QTDND thị trấn Triệu Sơn.