Chuyên đề môn môi trường và con người đa dạng sinh học và nguyên nhân suy giảm đa dạng sinh học

  • 34 trang
  • file .pdf
BỘ CÔNG THƯƠNG
Trường Cao Đẳng Công Thương Tp HCM
Môn: MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI
Chuyên đề: ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ NGUYÊN NHÂN SUY GIẢM ĐA DẠNG
SINH HỌC
Giảng viên: Trần Thành Đạt
Nhóm thực hiện:
1. Tăng Thị Tâm
2. Bùi Thị Tuyết
3. Nguyễn Thị Huyên
4. Đàm Thị Ngọc Nũ
5. Nguyễn Thành Đạt
6. Trần Minh Phương
7. Lê Thị Thiên Trầm
Tp HCM, 05/2015
MỤC LỤC
1 Tổng Quan Đa Dạng Sinh Học
Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa. Do vị trí địa lý, Việt Nam rất đa dạng về
địa hình, kiểu đất, cảnh quan, có đặc trưng khí hậu khác nhau giữa các miền. Trải dài từ
8030 tới 230 vĩ độ Bắc, với sự khác biệt về khí hậu và địa hình giữa các miền nên Việt
Nam có sự đa dạng lớn về môi trường tự nhiên và sinh học. Hệ sinh thái từ rừng mưa
thường xanh cận nhiệt đới ở phía Bắc tới rừng khộp nhiệt đới ở phía Nam, rừng ngập
mặn và đất ngập nước ven biển đã tạo ra hệ động, thực vật phong phú và có giá trị. Đặc
điểm đó là cơ sở rất thuận lợi để giới sinh vật phát triển đa dạng về thành phần loài,
phong phú về số lượng. Lĩnh vực sinh học hiện nay vẫn còn nhiều điều mới lạ và bí ẩn
bởi những gì chúng ta biết mới chỉ là một phần rất nhỏ của thiên nhiên rộng lớn này.
Không chỉ các nhà sinh học trong nước mà nhiều nhà sinh học nước ngoài đến Việt
Nam để nghiên cứu về đa dạng sinh học (ĐDSH) bởi sự bùng nổ của công nghệ sinh
học, vấn đề kiểm soát các thông tin di truyền và an toàn sinh học được đặt ra trên phạm
vi quốc tế.
Theo công ước về đa dạng sinh học được đưa ra vào năm 1992 tại hội nghị Liên
Hiệp Quốc về môi trường và sự phát triển, đa dạng sinh học (ĐDSH) được định nghĩa:
"là toàn bộ sự phong phú của các cơ thể sống và các tổ hợp sinh thái mà chúng là thành
viên, bao gồm sự đa dạng bên trong giữa các loài vật và sự đa dạng của các hệ sinh
thái". Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và hệ sinh
thái trong tự nhiên. Trong hệ sinh thái, số lượng các giống, các loài nhiều tức là phong
phú về nguồn gen thì tính đa dạng sinh học cao (theo luật Bảo vệ môi trường).
ĐDSH
Việt
Nam
Đa dạng Đa dạng Đa dạng
nguồn về loài hệ sinh
gen thái
Cây Vật nuôi ĐD loài Đa dạng Đặc HST HST đất HST
trồng trong loài đất trưng rừng ngập biển
HST ngập ĐD loài nước
trên cạn nước
Đa dạng sinh học có một vai trò rất quan trọng đối với sự sống trên trái đất, không
có gì thay thế được nhưng trong thời kỳ phát triển hiện nay, khi xu hướng toàn cấu hoá,
công nghiệp hoá đang trên đà phát triển. Việt Nam cũng không nắm ngoài xu thế đó, là
một nước đang phát triển, từng bước chuyển mình sang nền kinh tế công nghiệp lớn,
kèm theo đó là đời sống dân cư ngày càng phát triển, đô thị hoá cao... và điều này đe
doạ đến mối trường Việt Nam nói chung và đa dạng sinh học nói riêng. Nó làm cho
nhiều loài đang bị suy giảm một cách nhanh chóng, thậm chí có một số loài đang ở
ngưỡng cửa của sự diệt vong mà nguyên nhân chủ yếu là do môi trường sống bị phá
huỷ, do săn bắt quá mức và do sự tấn công một cách dữ dội của các loài nhập cư cũng
như sự cạnh tranh của các kẻ thù khác. Các chu trình hoá học và thuỷ văn tự nhiên đang
bị phá vỡ do việc phá rừng và mỗi năm có hàng tỷ tấn đất mặt đã bị bào mòn và cuốn
trôi theo các dòng nước xuống các ao hồ đại dương. Loài người đang sử dụng một trong
những nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá nhất mà không thể thay thế được trên thế
giới, đó là sự đa dạng sinh học - cơ sở của sự sống còn, sự thịnh vượng và sự phát triển
bền vững của chính họ. Tất cả tài sản quý giá đó rất cần thiết để đáp ứng các nhu cầu
hàng ngày của loài người hiện nay, trong tương lai, cũng như đã đáp ứng cho tổ tiên
trước kia. Thế nhưng loài người đã không biết giữ gìn nguồn tài nguyên quý giá đó mà
lại đang khi thác quá mức, tiêu hao và phá huỷ nó với danh nghĩa là để phát triển. sự suy
thoái đa dạng sinh học trên trái đất hàng ngày, hàng giờ âm thầm phá huỷ khả năng phát
triển của loài người. Việt nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới đang đứng trước
những thử thách lớn về vấn đề suy giảm đa dạng sinh học.
Để có cái nhìn và cách hiểu chính xác, bằng phương pháp thu thập và kế thừa tài
liệu qua sách, mạng và internet... phân tích theo cấu trúc logic của các tài liệu thu thập
được, Nghĩ ngược lại những quan điểm thông thường. nhận dạng những vướng mắc
trong hoạt động thực tế. lắng nghe lời phàn nàn của những người không am hiểu. những
câu hỏi bất chợt xuất hiện không phụ thuộc lý do nào... Từ đó rút ra những đánh giá về
thực trạng cũng như sự hợp lý của đa dạng sinh học, chúng ta cần đi sau nghiên cứu kỹ
hơn về vấn đề này. Đây cũng chính là lý do để em lựa chọn đề tài tìm hiểu là :"vấn đề
suy giảm đa dạng sinh học". Mục đích là nghiên cứu Giá trị đa dạng sinh học ở Việt
Nam, đánh giá thực trạng và tình hình nhắm nâng cao nhận thức của mọi người về đa
dạng sinh học đối với cuộc sống của họ và tăng quyền chủ động của họ trong việc quản
lý, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên mà cuộc sống của họ phụ thuộc vào
đó.
1.1 Khái Niệm
Đa dạng sinh học là toàn bộ sự phong phú của các cơ thể sống và các tổ hợp sinh thái
mà chúng là thành viên, bao gồm sự đa dạng bên trong và giữa các loài, và sự đa dạng
cửa các hệ sinh thái.
3 møc ®é : - Đa d ¹ n g d i t r u y Ò n
- Đa d ¹ n g v Ò l o µ i
- Đa d ¹ n g h Ö s i n h t h ¸ i
Đa d ¹ n g d i t r u y Ò n
• Đa d¹ng di truyÒn lµ sù ®a d¹ng vÒ gen trong mçi quÇn thÓ
vµ giữa c¸c quÇn thÓ víi nhau.
• Đa d¹ng di truyÒn ®îc hiÓu lµ tÇn sè vµ sù ®a d¹ng cña
c¸c gen vµ bé gen trong mçi quÇn thÓ vµ giữa c¸c quÇn thÓ
víi nhau, bao gåm c¶ những biÕn dÞ trong cÊu tróc di
truyÒn cña c¸c c¸ thÓ trong quÇn thÓ hoÆc giữa c¸c quÇn
thÓ, những biÕn dÞ trong c¸c loµi hoÆc giữa c¸c loµi.
• Đa d¹ng di truyÒn lµ ®a d¹ng ë cÊp ®é ph©n tö vµ ®a d¹ng
trao ®æi chÊt, ®em l¹i những kh¸c nhau cèt lâi quyÕt ®Þnh
sù ®a d¹ng cña sù sèng.
Đa d¹ng về loài
• Đa d¹ng vÒ loµi lµ sù phong phó vÒ sè lîng c¸c loµi trong
quÇn x·, lµ c¬ së ®Ó t¹o nªn mét líi thøc ăn víi nhiÒu m¾t
xÝch cho mét hÖ sinh th¸i æn ®Þnh vµ bÒn vững.
• Khoa häc vÒ ®a d¹ng vÒ loµi cã liªn quan chÆt chÏ víi
khoa häc vÒ hÖ thèng häc, ph©n lo¹i häc vµ ph¸t triÓn tiÕn
hãa cña sinh giíi.
Đa d¹ng hÖ sinh th¸i
• Đa d ¹ n g h Ö s i n h t h ¸ i l µ s ù ® a d ¹ n g v Ò m « i t r ê n g s è n g c ñ a
c¸c sinh vËt tr ong viÖc thÝch nghi víi ®iÒu k iÖn tù nhiªn
cña chóng.
• B¶o vÖ ®a d ¹ng hÖ sinh th¸i lµ b¶o vÖ m«i t rê ng sèng cña
c¸c loµi, cã va i trß rÊt lín t rong viÖc b¶o v Ö ®a d¹ng sinh
häc.
1.2 Phân loại
1.2.1 Đa dạng nguồn gen:
Đa dạng về gien di truyền được thể hiện bởi sự đa dạng về gen trong mỗi loài.
Theo đánh giá của Jucovski (1970), Việt Nam là 1 trong 12 trung tâm nguồn gốc
giống cây trồng của thế giới. Mức độ ĐDSH của hệ thực vật cây trồng ở Việt Nam cao
hơn nhiều so với dự đoán.
Nguồn gen giống cây trồng ở Việt Nam, hiện nay đang sử dụng trong sản xuất
nông nghiệp có 16 nhóm các loại cây trồng khác nhau như cây lượng thực chính, cây
lương thực bổ sung, cây ăn quả, cây rau, cây gia vị, cây làm nước uống, cây lấy sợi, cây
thức ăn gia súc, cây bóng mát, cây công nghiệp, cây lấy gỗ... với tổng số trên 800 loài
cây trồng với hàng nghìn giống khác nhau.
Bảng: Số lượng các loài cây trồng phổ biến ở Việt Nam
Số TT Nhóm cây Số loài
1 Nhóm cây lương thực chính 41
2 Nhóm cây lương thực bổ sung 95
3 Nhóm cây ăn quả 105
4 Nhóm cây rau 55
5 Nhóm cây gia vị 46
6 Nhóm cây làm nước uống 14
7 Nhóm cây lấy sợi 16
8 Nhóm cây thức ăn gia súc 14
9 Nhóm cây lấy dầu béo 45
10 Nhóm cây lấy tinh dầu 20
11 Nhóm cây cải tạo đất 28
12 Nhóm cây dược liệu 181
13 Nhóm cây cây cảnh 62
14 Nhóm cây bóng mát 7
15 Nhóm cây cây công nghiệp 24
16 Nhóm cây lấy gỗ 49
Tổng 802
Nguồn : Khoa học công nghệ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới-Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2005.
Có 3 nhóm cây trồng được sử dụng:
 Các giống cây trồng bản địa: Nhóm giống cây trồng này hiện nay đang chiếm vị trí
chủ đạo đối với nhiều loại cây trồng. Trong số nhóm giống cây trồng này có những
giống đã được nông dân sử dụng vì lưu truyền hàng nghìn năm nay.
 Các giống cây trồng mới: Là những giống cây có khả năng cho năng suất cao vì có
một số đặc tính tốt khác như: phẩm chất nông sản tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh
cao... được các nhóm khoa học chọn lọc, lai tạo thành. Những năm gần đây các giống
cây trồng được các nhóm khoa học chọn lọc và lai tạo mới cũng như các loại giống cây
trồng được nhập nội, trước khi đưa ra sản xuất rộng răi, được hội đồng khoa học Bộ NN
& PTNT xem xét công nhận như lúa: 156 giống; ngô: 47 giống; đậu tương: 22 giống;
cao su: 14 giống; cà phê: 14 giống...
 Các giống cây trồng được ở các tỉnh biên giới trao đổi với nhau qua biên giới hoặc
mua bán qua đường tiểu ngạch.
Hiện nay, Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia đang bảo tồn 12.300 giống của 115 loài
cây trồng. Đây là tài sản quý của đất nước, phần lớn không còn trong sản xuất và trong
tự nhiên nữa. Một bộ phận quan trọng của số giống này là nguồn gen bản địa với nhiều
đặc tính quý hiếm duy nhất chỉ nước ta có.
Nguồn gen giống vật nuôi ở Việt Nam,
Bảng: Các giống vật nuôi chủ yếu
T.T Giống
Giống Tổng số Giống nội Giống nhập ngoại
1 Lợn 20 14 6
2 Bò 21 5 16
3 Dê 5 2 3
4 Trâu 3 2 1
5 Cừu 1 1
6 Thỏ 4 2 2
7 Ngựa 3 2 1
8 Gà 27 16 11
9 Vịt 10 5 5
10 Ngan 7 3 4
11 Ngỗng 5 2 3
Nguồn : Khoa học công nghệ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới-Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2005.
Các loài cá nuôi có nguồn gốc từ nước ngoài được nhập và thuần dưỡng ở Việt Nam
khoảng 50 loài. Trong đó có 35 loài cá cảnh còn lại là các loài cá nuôi lấy thịt.
1.2.2 Đa dạng về loài:
Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy tại một khu vực nhất
định tại một vùng nào đó.
Số loài trên Trái Đất
Chưa được mô tả
Đã được mô tả
Tổng số ước tính = 10 triệu.
Chưa được mô tả = 8.3 triệu.
Đã được mô tả = 1.7 triệu
Trong những năm qua, cùng với những nổ lực về bảo tồn đa dạng sinh học, công tác
điều tra nghiên cứu về đa dạng sinh học cũng được nhiều cơ quan Việt Nam cũng như
các tổ chức quốc tế thực hiện. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào thành phần loài
động, thực vật, các hệ sinh thái đặc trưng. Các kết quả nghiên cứu được tập hợp từ các
nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu cho thấy:
Bảng: Thành phần loài sinh vật đã biết được cho đến nay
TT Nhóm sinh vật Số loài đã xác định được
1 Thực vật nổi 1.939
- Nước ngọt 1.402
- Biển 537
2 Rong, tảo 697
Nước ngọt Khoảng 20
Biển 682
Cỏ biển 15
3 Thực vật ở cạn 13.766
Thực vật bậc thấp 2.393
Thực vật bậc cao 11.373
4 Động vật không xương sống 8.203
ở nước
Nước ngọt 782
Biển 7.421
5 Động vật không xương sống khoảng 1.000
ở đất
6 Côn Trùng 7.750
7 Cá 2.738
Nước ngọt 700
Biển 2.038
8 Bò sát 296
Rắn biển 50
Rùa biển 4
9 Lưỡng cư 162
10 Chim 840
11 Thú 310
Thú biển 16
Nguồn: Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật,2005
Theo các tài liệu thống kê, Việt Nam là một trong 25 nước có mức độ ĐDSH cao tręn
thế giới với dự tính có thể có tới 20.000-30.000 loài thực vật. Việt Nam được xếp thứ 16
về mức độ ĐDSH (chiếm 6,5% số loài có trên thế giới).
 Đa dạng loài trong hệ sinh thái trên cạn:
Khu hệ thực vật: Tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam, đă ghi nhận có
15.986 loài thực vật ở Việt Nam. Trong đó, có 4.528 loài thực vật bậc thấp và 11.458
loài thực vật bậc cao. Trong số đó có 10 % số loài thực vật là đặc hữu.
Khu hệ động vật: cho đến nay đă thống kê được 307 loài giun tròn, 161 loài giun
sán ký sinh ở gia súc, 200 loài giun đất, 145 loài ve giáp, 113 loài bọ nhảy, 7.750 loài
côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài ếch nhái, 840 loài chim, 310 loài và phân loài thú.
Hình: Đa dạng sinh học
Trong hệ thống các khu bảo vệ vùng Đông Dương - Mã Lai của IUCN, Việt Nam
được xem là nơi giàu về thành phần loài và có mức độ đặc hữu cao so với các nước
trong vùng phụ Đông Dương. Động vật giới Việt Nam có nhiều dạng đặc hữu: hơn 100
loài và phân loài chim, 78 loài và phân loài thú đặc hữu. Riêng trong số 25 loài thú linh
trưởng đã được ghi nhận thẻ ở Việt Nam có tới 16 loài, trong đó có 4 loài và phân loài
đặc hữu của Việt Nam, 3 phân loài chỉ phân bố ở Việt Nam và Lào, 2 phân loài chỉ có ở
vùng rừng hai nước Việt Nam - Cămpuchia.
 Đa dạng loài trong hệ sinh thái đất ngập nước nội địa
Các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam rất đa dạng về hệ thực vật cũng như hệ
động vật, bao gồm các nhóm vi tảo, rong, các loŕi cây cỏ ngập nước và bán ngập nước,
động vật không xương sống và cá.
- Vi tảo: đă xác định được có 1.438 loŕi tảo thuộc 259 chi và 9 ngành;
- Cho đến nay đă thống kê và xác định được 794 loŕi động vật không xương sống.
Trong đó, đáng lưu ý là trong thành phần loài giáp xác nhỏ, có 54 loài và 8 giống lần
đầu tiên được mô tả ở Việt Nam. Riêng hai nhóm tôm, cua (giáp xác lớn) có 59 loài thì
có tới 7 giống và 33 loài (55,9% tổng số loài) lần đầu tiên được mô tả. Trong tổng số
147 loài trai ốc, có 43 loài (29,2% tổng số loài), 3 giống lần đầu tiên được mô tả, tất cả
đều là những loài đặc hữu của Việt Nam hay vùng Đông Dương. Điều đó cho thấy sự đa
dạng và mức độ đặc hữu của khu hệ tôm, cua, trai, ốc nước ngọt nội địa Việt Nam là rất
lớn.
- Theo các dẫn liệu thống kê, thành phần loài cá các thủy vực nước ngọt nội địa Việt
Nam bao gồm trên 700 loài và phân loài, thuộc 228 giống, 57 họ và 18 bộ. Riêng họ cá
chép có 276 loài và phân loài thuộc 100 giống và 4 họ, 1 phân họ được coi là đặc hữu ở
Việt Nam. Phần lớn các loài đặc hữu đều có phân bố ở các thủy vực sông, suối, vůng
núi.
 Đa dạng loài trong các hệ sinh thái biển và ven bờ:
Đặc tính của khu hệ sinh vật biển Việt Nam thể hiện rõ ở đặc tính nhiệt đới, đặc tính
hỗn hợp, đặc tính ít đặc hữu và đặc tính khác biệt bắc - nam. Trong vùng biển nước ta
đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển
hình và thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau, trong đó có hai vùng biển: Móng
Cái - Đồ Sơn, Hải Vân - Vũng Tàu có mức độ đa dạng sinh học cao hơn các vùng còn
lại. Đặc biệt, tại vùng thềm lục địa có 9 vùng nước trồi có năng suất sinh học rất cao,
kèm theo là các bãi cá lớn. Tổng số loài sinh vật biển đã biết ở Việt Nam có khoảng
11.000 loài, trong đó cá (khoảng 130 loài kinh tế) có 2.458 loài; rong biển có 653 loài;
động vật phù du có 657 loài; thực vật phù du có 537 loài; thực vật ngập mặn có 94 loài;
tôm biển có 225 loài...
Hình: Sinh vật biển
Các nghiên cứu về biến động nguồn lợi đă cho thấy danh sách khu hệ cá biển của
Việt Nam đến tháng 1/2005 là 2.458 loài, tăng 420 loài so với danh sách được lập năm
1985 (có 2.038 loài) và đã phát hiện thêm 7 loài thú biển mới.
Một số loài sinh vật mới được phát hiện trong thời gian gần đây ở Việt Nam:
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, từ các kết quả điều tra cơ bản các vůng lãnh thổ
khác nhau ở Việt Nam, một số loài mới được phát hiện và mô tả, trong đó nhiều chi,
loài mới cho khoa học. Một số các nhóm sinh vật trước đây chưa được nghiên cứu, nay
đã có những dẫn liệu bước đầu
1.2.3 Đa dạng hệ sinh thái:
Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở cạn
cũng như ở nước tại một vùng nào đó. Hệ sinh thái là hệ thống bao gồm sinh vật và môi
trường tác động lẫn nhau mà ở đó thực hiện vòng tuần hoàn vật chất, năng lượng và trao
đổi thông tin.
Nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trong tự nhiên của Việt Nam hiện nay tập trung ở
3 hệ sinh thái (HST) chính là: HST trên cạn ( HST rừng), HST đất ngập nước và HST
biển.
Hệ sinh thái đất ngập nước:
Công ước Ramsar định nghĩa "Đất ngập nước là những vùng đầm lầy, than bùn
hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước
chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước biển kể cả những vùng nước biển có
độ sâu không quá 6 mét khi triều thấp".
Đất ngập nước (ĐNN) Việt Nam rất đa dạng về loại hình và hệ sinh thái, thuộc 2
nhóm ĐNN: ĐNN nội địa, ĐNN ven biển. Trong đó có một số kiểu có tính ĐDSH cao:
 Rừng ngập mặn ven biển: Rừng ngập mặn có các chức năng và giá trị như cung
cấp các sản phẩm gỗ, củi, thủy sản và nhiều sản phẩm khác; là bãi đẻ, bãi ăn và ương
các loài cá, tôm, cua và các loài thủy sản có giá trị kinh tế khác; xâm chiếm và cố định
các bãi bùn ngập triều mới bồi, bảo vệ bờ biển chống lại tác động của sóng biển và bão
tố ven biển; là nơi cư trú cho rất nhiều loài động vật hoang dã bản địa và di cư (chim,
thú, lưỡng cư, bò sát).
 Đầm lầy than bùn: đầm lầy than bùn là đặc trưng cho vùng Đông Nam Á. U
Minh thượng và U Minh hạ thuộc các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau là hai vùng đầm lầy
than bùn tiêu biểu còn sót lại ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.
 Đầm phá: thường thấy ở vùng ven biển Trung bộ Việt Nam. Do đặc tính pha trộn
giữa khối nước ngọt và nước mặn nên khu hệ thủy sinh vật đầm phá rất phong phú bao
gồm các loài nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Cấu trúc quần xã sinh vật đầm phá thay
đổi theo můa rõ rệt.
 Rạn san hô, cỏ biển: đây là các kiểu hệ sinh thái đặc trưng cho vùng biển ven bờ,
đặc biệt rạn san hô đặc trưng cho vùng biển nhiệt đới. Quần xã rạn san hô rất phong phú
bao gồm các nhóm động vật đáy (thân mềm, giáp xác), cá rạn. Thảm cỏ biển thường là
nơi cư trú của nhiều loại rùa biển và đặc biệt loài thú biển Dugon.
 Vùng biển quanh các đảo ven bờ: ven bờ biển Việt Nam có hệ thống các đảo rất
phong phú. Vůng nước ven bờ của hầu hết các đảo lớn được đánh giá có mức độ ĐDSH
rất cao với các hệ sinh thái đặc thů như rạn san hô, cỏ biển...
Việt Nam có 2 vùng ĐNN quan trọng là ĐNN vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng và
ĐNN đồng bằng sông Cửu Long:
 ĐNN ở vůng cửa sông đồng bằng sông Hồng có diện tích 229.762 ha. Đây là nơi
tập trung các hệ sinh thái với thành phần các loài thực vật, động vật vùng rừng ngập
mặn phong phú, đặc biệt là nơi cư trú của nhiều loài chim nước.
 ĐNN đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất ngập nước 4.939.684 ha. Đây là
bãi đẻ quan trọng của nhiều loài thủy sản di cư từ phía thượng nguồn sông Mê Công.
Những khu rừng ngập nước và đồng bằng ngập lũ cũng là những vùng có tiềm năng sản
xuất cao. Có 3 hệ sinh thái tự nhiên chính ở đồng bằng sông Cửu Long, đó lŕ hệ sinh
thái ngập mặn ven biển; hệ sinh thái rừng tràm ở vùng ngập nước nội địa và hệ sinh thái
cửa sông.
Mỗi kiểu hệ sinh thái ĐNN đều có khu hệ sinh vật đặc trưng của měnh. Tuy
nhiên, đặc tính khu hệ sinh vật của các hệ sinh thái này còn phụ thuộc vào từng vùng
cảnh quan và vùng địa lý tự nhiên.
Hệ sinh thái đất ngập nước rất đa dạng, theo đánh giá của Viện Điều tra quy hoạch
rừng (1999) có 39 kiểu đất ngập nước, bao gồm:
 Đất ngập nước tự nhiên 30 kiểu
 Đất ngập nước ven biển 11 kiểu
 Đất ngập nước nội địa 19 kiểu
 Đất ngập nước nhân tạo 9 kiểu
Hệ sinh thái biển:
Việt Nam có vùng lãnh hải gắn với bờ biển rộng khoảng 226.000 km2. Do vậy hệ
sinh thái biển cũng rất phong phú, có 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, có tính đa dạng
sinh học và năng suất sinh học cao.Trong vùng biển nước ta đã phát hiện được khoảng
11.000 loài sinh vật cư trú trong các vùng đa dạng sinh học biển khác nhau. Thành phần
quần xã trong hệ sinh thái giàu, cấu trúc phức tạp, thành phần loài phong phú. Đây là
môi trường sản xuất thuận lợi và rộng lớn gắn chặt với đời sống của hàng triệu cư dân
sống ven biển của Việt Nam.
Hệ sinh thái rừng:
Các hệ sinh thái của rừng Việt Nam rất đa dạng, mỗi hệ sinh thái rừng thực chất là
một phức hệ rất phức tạp, được vận hành và chi phối bởi các quy luật nội vi và ngoại vi.
Một số hệ sinh thái điển hình: rừng trên núi đá vôi, rừng rụng lá và nửa rụng lá, rừng
thường xanh núi thấp, núi trung bình, núi cao v.v. có giá trị đa dạng sinh học cao và có
ý nghĩa rất quan trọng đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam.
Diện tích rừng của Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn biến động khác nhau. Theo
thống kê của tác giả Paul Maurand (1943), năm 1943 Việt Nam có diện tích rừng là
14,3 triệu hecta, đạt tỷ lệ che phủ lãnh thổ là 43%. Từ năm 1943-1975, diện tích rừng đã
bị suy giảm còn 11,2 triệu hecta với tỷ lệ che phủ là 34% (Viện Điều tra quy hoạch
rừng, năm 1976).
Giai đoạn 1976 đến 1990 là thời kỳ tài nguyên rừng bị khai thác mạnh để phục vụ
phát triển kinh tế xã hội của đất nước sau chiến tranh. Diện tích rừng trong giai đoạn
này tiếp tục giảm xuống, diện tích rừng năm 1990 chỉ còn chưa đầy 9,2 triệu hecta với
tỷ lệ che phủ chỉ đạt 27,8%.
Giai đoạn 1990 đến nay Chính phủ đã có nhiều biện pháp về chính sách và đầu tư
nên diện tích rừng đã dần được phục hồi kể cả diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng.
Năm 2005, diện tích rừng đã đạt trên 12,6 triệu hecta với độ che phủ 37%.
Bảng: Diễn biến diện tích và độ che phủ rừng qua các thời kỳ
Năm Diện tích rừng (1000 ha) Độ che phủ Ha/Đầu người
Tổng cộng Rừng tự Rừng trồng (%)
nhiên
1943 14.300,0 14.300,0 0 43,2 0,57
1976 11.169,3 11.169,7 92,6 33,7 0,31
1980 10.683,0 10.180,0 422,3 32,1 0,19
1985 9.891,9 9.308,3 583,6 30,0 0,14
1990 9.175,6 8.430,7 744,9 27,8 0,12
1995 9.302,2 8.252,5 1.049,7 28,2 0,12
2000 10.915,6 9.444,2 1.491,4 33,2 0,14
2002 11.784,6 9.865,0 1.919,6 35,8 0,14
2003 12.095,0 10.005,0 2.090,0 36,1 0,14
2004 12.306,9 10.088,3 2.218,6 36,7 0,15
2005 12.616,7 10.283,2 2.333,5 37,0 0,15
Nguồn: Viện Điều tra Quy hoạch Rừng và Cục Kiểm lâm
Do nhiều nguyên nhân đã làm cho diện tích rừng tự nhiên bị giảm sút trong thời gian
qua đã kéo theo sự suy giảm về đa dạng sinh học đối với các hệ sinh thái rừng nói
chung.
Các hệ sinh thái của Việt Nam rất phong phú và đa dạng, tuy nhiên các hệ sinh
thái này hiện nay cũng đang đối mặt với nhiều thách thức chủ yếu từ các hoạt động kinh
tế xã hội của con người và những biến động của sự thay đổi khí hậu của trái đất. Diện
tích rừng tự nhiên đang có chiều hướng suy giảm cả về số lượng và chất lượng. Môi
trường biển cũng đang bị tác động bới các hoạt động khai thác tài nguyên như dầu khí,
hải sản và cả ô nhiễm v.v.
1.3 Đặc Trưng
1.3.1 Đặc trưng đa dạng nguồn gen:
 Các biểu hiện của kiểu gen ở Việt Nam rất phong phú. Riêng kiểu gen cây lúa có đến
hàng trăm kiểu hình khác nhau, thể hiện ở gần 400 giống lúa khác nhau.
 Các kiểu gen ở Việt Nam thường có nhiều biến dị, đột biến. Trong đó có những biến
dị xảy ra dưới tác động của các yếu tố tự nhięn (sấm, chớp, bức xạ..), có những đột biến
xảy ra do những tác nhân nhân tạo. Đây lŕ một trong những nguồn tạo giống mới.
 ĐDSH gen ở Việt Nam chứa đựng khả năng chống chịu vŕ tính mềm dẻo sinh thái
cao của các kiểu gen.
1.3.2 Đặc trưng đa dạng loài ở Việt Nam:
 Số lượng các loài sinh vật nhiều, sinh khối lớn. Tính ra bình quân trên 1 km2 lãnh thổ
Việt Nam có 4,5 loài thực vật, gần 7 loài động vật, với mật độ hŕng chục nghìn cá thể.
Đây là một trong những mật độ đậm đặc các loài sinh vật so với thế giới.
 Cấu trúc loài rất đa dạng. Do đặc điểm địa hình, do phân hóa các kiểu khí hậu, cấu
trúc các quần thể trong nội bộ loài thường rất phức tạp. Có nhiều loài có hàng chục dạng
sống khác nhau.
 Khả năng thích nghi của loŕi cao. Thích nghi của các loài được thực hiện thông qua
các đặc điểm thích nghi của từng cá thể, thông qua chuyển đổi cấu trúc loŕi. Loài sinh
vật ở Việt Nam nói chung có đặc tính chống chịu cao đối với các thay đổi của các yếu tố
và điều kiện ngoại cảnh.
Về thực vật, trong giai đoạn 1993 – 2003, đã có 13 chi, 222 loài và 30 taxon dưới
loài đó được phát hiện và mô tả mới cho khoa học v.v.
1.3.3 Đặc trưng của đa dạng hệ sinh thái ở Việt Nam:
Tính phong phú và đa dạng của các kiểu hệ sinh thái: Với một diện tích không rộng,
nhưng trên lãnh thổ Việt Nam có rất nhiều kiểu hệ sinh thái khác nhau. Ở từng vùng địa
lý không lớn cũng tồn tại nhiều kiểu hệ sinh thái.
 Thành phần các quần xã trong các hệ sinh thái rất giàu. Cấu trúc quần xã trong các hệ
sinh thái phức tạp, nhiều tầng bậc, nhiều nhánh. Điểm đặc trưng này làm cho đa dạng hệ
sinh thái ở Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với các nước khác trên thế giới.
 Tính phong phú của các mối quan hệ giữa các yếu tố vật lý và các yếu tố sinh học,
giữa các nhóm sinh vật với nhau, giữa các loài, giữa các quần thể trong cùng một loài
sinh vật. Mạng lưới dinh dưỡng, các chuỗi dinh dưỡng với nhiều khâu nối tiếp nhau làm
tăng tính bền vững của các hệ sinh thái. Các mối quan hệ năng lượng được thực hiện
song song với các mối quan hệ vật chất rất phong phú, nhiều tầng, bậc thông qua các
nhóm sinh vật: tự dưỡng (sinh vật sản xuất), dị dưỡng (sinh vật tięu thụ), hoại sinh (sinh
vật phân hủy) trong các hệ sinh thái ở Việt Nam là những chuỗi quan hệ mà ở nhiều
nước khác trên thế giới không có được.
 Các hệ sinh thái ở Việt Nam có đặc trưng tính mềm dẻo sinh thái cao, thể hiện ở sức
chịu tải cao; khả năng tự tái tạo lớn; khả năng trung hoà và hạn chế các tác động có hại;
khả năng tự khắc phục những tổn thương; khả năng tiếp nhận, chuyển hóa, đồng hóa các
tác động từ bęn ngoài.
 Các hệ sinh thái ở Việt Nam phần lớn là những hệ sinh thái nhạy cảm. Tính mềm dẻo
sinh thái của các hệ sinh thái ở Việt Nam làm cho các hệ đó luôn ở trong trạng thái hoạt
động mạnh, vì vậy, thường rất nhạy cảm với các tác động từ bên ngoài, kể cả các tác
động của thiên nhiên, cũng như những tác động của con người.
2 Tầm quan trọng của ĐDSH Việt Nam:
2.1 Giá trị sinh thái và môi trường
Các hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất, trong đó có loài người.
Các hệ sinh thái đảm bảo sự chu chuyển của các chu trình địa hóa, thủy hóa (thủy vực):
ôxy và các nguyên tố cơ bản khác như cacbon, nitơ, photpho. Chúng duy trì sự ổn định
và màu mỡ của đất, nước ở hầu hết các vùng trên trái đất, làm giảm nhẹ sự ô nhiễm,
thiên tai. Gần đây, khái niệm các dịch vụ của hệ sinh thái được đưa ra trên cơ sở các
thuộc tính, chức năng của chúng được con người sử dụng.
Bảo vệ tài nguyên đất và nước: các quần xã sinh vật đóng vai trò rất quan trọng
trong việc bảo vệ rừng đầu nguồn, đặc biệt thảm thực vật có thể làm giảm nhẹ mức độ
hạn hán, lũ lụt cũng như duy trì chất lượng nước. Việc hủy hoại thảm rừng do khai thác
gỗ, do khai hoang làm nông nghiệp, ngư nghiệp cũng như các hoạt động khác của con
người trong quá trình phát triển kinh tế làm cho tốc độ xói mòn đất, sạt lở đất, hoang
mạc hóa đất đai tăng lên rất nhanh. Đất bị suy thoái khiến thảm thực vật khó có thể phục
hồi càng gia tăng các thảm họa thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán... hoặc gây ô nhiễm môi
trường đất và nước.
Điều hòa khí hậu: quần xã thực vật có vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí
hậu địa phương, khí hậu vùng và cả khí hậu toàn cầu: tạo bóng mát, khuyếch tán hơi
nước, giảm nhiệt độ không khí khi thời tiết nóng nực, hạn chế sự mất nhiệt khi khí hậu
lạnh giá, điều hòa nguồn khí ôxy và cacbonic cho môi trường trên cạn cũng như dưới
nước thông qua khả năng quang hợp...Phân hủy các chất thải
Các quần xã sinh vật, đặc biệt các loài nấm và vi sinh vật có khả năng hấp phụ, hấp thụ
và phân hủy các chất ô nhiễm như kim loại nặng, thuốc trừ sâu và các chất thải nguy hại
khác.
2.2 Giá trị kinh tế
Theo một số tài liệu, ĐDSH trên toàn cầu có thể cung cấp cho con người một giá
trị tương đương 33.000 tỷ USD/năm. Trong Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam
(1995) cũng ước tính, hàng năm việc khai thác tài nguyên nông, lâm nghiệp và thủy sản
của Việt Nam có giá trị tương đương 2 tỷ USD. Lấy số liệu thực của năm 2004, riêng
hàng xuất khẩu của ngành thủy sản Việt Nam đã có giá trị 2 tỷ USD. Ngành nông - lâm
nghiệp hiện đang quản lý nguồn tài nguyên rừng có giá trị vô cùng to lớn. Với giá
khoảng 250 USD/m3 gỗ, thì hàng năm chỉ riêng mặt hàng gỗ làm nguyên liệu giấy,
ĐDSH đă cho giá trị khoảng 1,5 - 3,5 tỷ USD. Đó là chưa kể hàng năm rừng đă cung
cấp các mặt hàng lâm sản ngoài gỗ đã có giá trị khoảng 1,5 tỷ USD cho xuất khẩu và
cũng khoảng đó cho tiêu dùng trong nước.
Theo Tổng cục Thống kê, năm 2003 ngành nông nghiệp đóng góp một tỷ lệ đáng
kể trong Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): gần 21%, ngŕnh lâm nghiệp chiếm tỷ lệ gần
1,1% và, ngành thủy sản chiếm tỷ lệ hơn 4% GDP. Theo số liệu thống kê năm 1995,
nhu cầu cây thuốc cho công nghiệp dược, mỹ phẩm hương liệu khoảng 20.000 tấn/năm.
Hàng trăm doanh nghiệp xuất khẩu thuốc khoảng 10.000 tấn/năm trị giá khoảng 15-20
triệu USD.
Giá trị kinh tế của ĐDSH có thể nęu khái quát về các mặt sau đây:
- Giá trị được tính ra tiền do việc khai thác, sử dụng mua bán hợp lý các tài nguyên
ĐDSH.
- ĐDSH đảm bảo cơ sở cho an ninh lương thực và phát triển bền vững của đất nước,
đảm bảo các nhu cầu về ăn, mặc của nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo.
- ĐDSH cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản: mía đường, bông vải,
cây lấy dầu, cây lấy sợi, thuốc lá, cói, hạt điều...
- ĐDSH góp phần nâng cao độ phì nhiêu của đất, qua đó làm tăng giá trị nông sản.
2.3 Giá trị xã hội và nhân văn
Trong các nền văn hóa của nhiều dân tộc tręn thế giới, một số loài động vật hoang
dã được coi là biểu tượng trong tín ngưỡng, thần thoại hoặc các tác phẩm hội họa, điêu
khắc. Sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên sinh vật đã hình
thành các lễ hội của một số bộ tộc ít người như lễ hội săn bắn theo mùa, hoặc hình thành
sự quản lý tài nguyên theo tính chất cộng đồng như vai trò của già làng, trưởng bản
trong việc phân định phạm vi, mức độ khai thác, sử dụng tài nguyên đất và rừng.
Cuộc sống văn hóa của con người Việt Nam rất gần gũi thiên nhiên, các loài động, thực
vật nuôi trồng hay hoang dã và các sản phẩm của chúng đã quen thuộc với mọi người
dân, đặc biệt người dân sống ở vùng nông thôn và miền núi, như lễ hội chọi trâu ở Đồ
Sơn (Hải Phòng), lễ hội đua thuyền... Nhiều loài cây, con vật đă trở thành thiêng liêng
hoặc vật thờ cúng đối với các cộng đồng người Việt như: gốc đa thiêng, đền thờ cá Ông
ở các tỉnh miền Nam Trung bộ. Các khu rừng thiêng, rừng ma là những nét văn hóa độc
đáo của nhiều dân tộc miền núi. Nghề dệt thổ cẩm, làm hương, làm hàng mỹ nghệ từ gỗ,
tre nứa hay song mây là những sự gắn bó của đời sống văn hóa con người Việt Nam với
ĐDSH.
Rất nhiều loài động vật hoang dã được thuần dưỡng với mục đích làm bầu bạn với
con người hoặc thuần hóa để chăn nuôi làm thực phẩm sử dụng hàng ngày.
Rất nhiều thú vui của con người được tạo nên thông qua việc tổ chức tham quan, theo
dõi tập tính của nhiều loài động vật hoang dã. Gần đây, ngành du lịch sinh thái đã hình
thành và đang phát triển rộng rãi trên cơ sở sự ham hiểu biết thiên nhiên của con người
đồng thời cũng là điều kiện để nâng cao nhận thức tầm quan trọng của công tác bảo tồn
thiên nhiên cũng như làm cho con người gần gũi hơn, thân thiện hơn với thiên nhiên
hoang dã.
Giá trị xã hội - nhân văn của ĐDSH thể hiện tập trung ở các mặt sau đây:
- Tạo nhận thức, đạo đức và văn hóa hưởng thụ thẩm mỹ công bằng của người dân. Qua
các biểu hiện phong phú nhiều dáng vẻ, nhiều hình thù, nhiều màu sắc, nhiều kết cấu,
nhiều hương vị của thế giới sinh vật con người trở nên hiền hòa, yêu cái đẹp.
- ĐDSH góp phần đắc lực trong việc giáo dục con người, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ,
lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước.
- ĐDSH là yếu tố chống căng thẳng, tạo sự thoải mái cho con người. Điều này đặc biệt có
giá trị trong thời đại công nghiệp, trong cuộc sống hiện tại căng thẳng và đầy sôi động.
- ĐDSH góp phần tạo ổn định xã hội thông qua việc bảo đảm an toàn lương thực, thực
phẩm, thỏa mãn các nhu cầu của người dân về đầy đủ các chất dinh dưỡng, về ăn mặc,
tham quan du lịch và thẩm mỹ.
3 Sự suy giảm của đa dạng sinh học ở Việt Nam
Thực trạng của đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay:
- Các hệ sinh thái tự nhiến bị suy thoái.
- Các loài tự nhiên bị suy giảm.
- Nguồn gen cây trồng vật nuôi bị suy giảm.
Trong tiến trình lịch sử của sự phân hoá và tiến hoá, số lượng các loài còn nhiều
gấp bội, song chúng đã bị tiêu diệt phần lớn do những biến động lớn lao của vỏ trái đất
và của khí hậu toàn cầu. Con người đóng góp vào nạn diệt chủng của các loài chỉ sau
khi họ ra đời và phát triển nền văn minh của mình và cũng là tác nhân chủ yếu làm mất
đa dạng sinh học.
Sự mất đa dạng sinh vật ở Việt Nam cũng giống như trên thế giới ngày một gia tăng,
tốc độ suy giảm đa dạng sinh vật ngày một tăng do ảnh hưởng các hoạt động con người
vào tự nhiên. Trên thực tế, tốc độ suy giảm đa dạng sinh vật của nước ta nhanh hơn
nhiều so với các quốc gia trong khu vực.
Suy giảm hệ sinh thái:
Hệ sinh thái rừng bị tổn thất nặng nề:
Diện tích rừng bị thu hẹp. Rừng bị khai thác: 120.000-250.000ha/năm.
Độ che phủ rừng bị giảm sút tới mức báo động: độ che phủ của rừng năm 1943 là
43% thì nay chỉ còn 28.8% (Phạm Bình Quyền-2005).
Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) đã xác định chỉ tiêu thảm
rừng che phủ đất đai lãnh thổ các quốc gia thuộc miền Nhiệt đới ở mức >33%, dưới đó
là báo động môi trường.
 Tình trạng mất rừng hầu hết xảy ra ở các rừng phòng hộ xung yếu. VD: Độ che
phủ của rừng tự nhiên ở một số lưu vực các sông như sau:
- Lưu vực sông Đà: <11%.
- Lưu vực sông Hồng: 23%.
- Lưu vực sông Đồng Nai: 25%.
- Lưu vực sông Ba (Gia Lai): <23%.
 Chất lượng rừng bị giảm: bị thu hẹp và chia cắt. (rừng nguyên sinh, rừng giàu chỉ
còn <13% tổng diện tích rừng). Độ che phủ và chất lượng rừng bị giảm (rừng tái sinh
chiếm 55% tổng diện tích rừng) (nguồn: Bộ TNMT, 2007).
Suy thoái hệ sinh thái đất ngập nước: đầm phá Tam Giang, rừng ngập mặn Cần Giờ,
rừng U Minh Thượng, ...
 Suy thoái về số lượng: diện tích bị giảm...
 Suy thoái về chất lượng: 70% diện tích đất ngập nước bị ô nhiểm (nguồn: Bộ TNMT,
2009).
 Rừng ngập nước và tràng cỏ ngập nước ở đồng bằng Bắc Bộ (>1,7 triệu ha) và đồng
bằng sông Cửu Long (khoảng 3,9 triệu ha) đã chuyển đổi thành đất nông nghiệp và nuôi
trồng thuỷ sản (Bộ TNMT, 2007).
 Diện tích đất ngập nước hiện nay: chỉ còn 10 triệu ha (Bộ TN&MT, 2009).
 Rừng ngập mặn: diện tích rừng ngập mặn đã giảm 183.724 trong 20 năm qua (Bộ
TN&MT, 2008).
 Các hệ sinh thái đầm phá và trảng cỏ ở miền trung cũng suy thoái nặng nề do khai
thác thuỷ hải sản không bền vững và mở rộng nuôi trồng thuỷ sản.
 Các hệ sinh thái đất ngập nước thuộc các sông hề cũng bị khai thác cạn kiệt và do xây
dựng cơ sở hạ tầng
 Mở rộng đất ngập nước để nuôi trồng thuỷ sản làm suy gimr tài nguyên sinh học tại
chỗ: mất nơi sống, nơi sinh sản, vườn ươm của nhiều loài động vật dưới nước và trên
cạn. (nghiên cứu đầm tôm bỏ hoang ở Nam triệu - Hải Phòng cho thấy sinh khối động
vật đáy giảm tới 9 lần so với vùng lân cận rừng ngập mặn).
 Làm mất nguồn thức ăn phong phú của nhiều sinh vật vùng triều, hậu quả là sản lượng
cá, tôm, cua đánh bắt ở ngoài biển cũng giảm...
Hầu hết hệ sinh thái biển khơi ở Việt Nam đều đang bị suy thoái do: khai thác
quá mức  huỷ diệt; ô nhiễm... dẫn đến hậu quả là : thay đổi cấu thúc quần xã thuỷ
sinh. Giảm mật độ các loài thuỷ sản. 80 loài hải sản bị đe doạ, 70 loài được đưa vào
sách đỏ, 20 loài chim bị đe doạ toàn cầu.
Sự suy giảm các loài tự nhiên: 855 loài bị đe doạ tuyệt chủng (so với hơn 700
loài trong những năm 1992 - 1996) và ít nhất 10 loài khác đã không còn tồn tại tại ở
Việt Nam. Trong đó: Động Vật là 407 loài (90 loài thú, 74 loài chim, 40 loài bò sát, 13
loài lưỡng cư, 36 loài cá nước ngọt, 53 loài cá biển, 101 loài động vật không xương
sống) thực vật là 448 loài.
Suy giảm nguồn gen giống vật nuôi và cây trồng: các giống cây trồng và vật nuôi
đang bị mai một (theo tính toán, 80 % giống cây trồng bản địa đã mất, giống vật nuôi
suy giảm gần 10 % một năm)  sự mất mát nguồn gen là thiệt hại cho cả nhân loại.