Chuyên đề lồng ghép trong giảng dạy bộ môn sinh học 8 để giáo dục kỹ năng sống liên quan đến sức khỏe sinh sản cho học sinh

  • 15 trang
  • file .doc
Chuyên đề – Môn Sinh học 8 Năm học: 2010 - 2011
CHUYÊN ĐỀ
LỒNG GHÉP TRONG GIẢNG DẠY BỘ MÔN SINH HỌC 8 - ĐỂ
GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG LIÊN QUAN ĐẾN SỨC KHỎE SINH
SẢN CHO HỌC SINH
I. Đặt vấn đề:
Kỹ năng sống là khả năng ứng xử của mỗi cá nhân trong những tình huống nhất
định, đó là khả năng mà mỗi cá nhân có được trong việc giải quyết các vấn đề gặp phải
và ứng phó một cách tích cực đối với những thử thách của cuộc sống thường ngày. Kỹ
năng sống vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội. Cá nhân là vì mỗi người tự đặt
ra cho mình các giá trị, niềm tin để quyết định hành động theo những mục tiêu riêng
mà mình đặt ra. Tuy nhiên, những mục tiêu đó phần lớn lại chịu ảnh hưởng của nền
văn hóa, phong tục tập quán, của những chuẩn mực đạo đức trong cộng đồng nơi
người đó sinh sống.
Kỹ năng sống rất quan trọng đối với trẻ vị thành niên , đặc biệt trong lĩnh vực
sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục. Ở lứa tuổi này thường các em thiếu kinh nghiệm
sống, ít được rèn luyện kỹ năng sống, do đó khi cần phải đưa ra các quyết định quan
trọng đối với sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục như: Quan hệ tình dục khi nào, với
ai, có sử dụng biện pháp bảo vệ hay không, làm thế nào để nói lên quan điểm của mình
về tình dục với bạn tình thì trẻ vị thành niên thường gặp khó khăn, có thể đưa ra những
quyết định sai lầm làm ảnh hưởng đến cuộc sống và tương lai của họ. Đặc biệt đối với
xã hội chúng ta ngày nay, để giáo dục học sinh có ý thức tốt trong việc bảo vệ sức
khỏe sinh sản thì giáo viên nhất là giáo viên dạy bộ môn sinh học cần phải lồng ghép
vấn đề này vào trong chính các bài dạy của mình. Bởi học sinh là những người chủ
nhân tương lai của đất nước, chúng ta phải làm sao cho các thế hệ học sinh có ý thức
và góp sức mình vào công cuộc xây dựng đất nước. Tuy nhiên trong chương trình sinh
học 8, kiến thức ở các bài dạy có liên quan đến sức khỏe, sinh sản chỉ mới cung cấp
cho học sinh những thông tin cơ bản về cơ quan sinh dục nam - nữ, sự thụ tinh – thụ
thai và phát triển của thai, kiến thức về dân số và sức khỏe sinh sản, các biện pháp sinh
Giáo viên: Nguyễn Văn Cường -1-
Chuyên đề – Môn Sinh học 8 Năm học: 2010 - 2011
hoạt tình dục an toàn để tránh lây nhiễm HIV, các bệnh lây qua đường tình dục, ….
Điều quan trọng giáo viên nên biết lựa chọn những nội dung cần thiết để lồng vào giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh.
Khi hình thành các kĩ năng sống đòi hỏi giáo viên cần có những kĩ năng riêng
thì mới đạt hiệu quả cao. Hầu hết các giáo viên giảng dạy bộ môn sinh học 8 ở các
trường THCS hiện nay chưa được đào tạo kĩ năng này một cách chuyên nghiệp. Điều
này dẫn tới hậu quả là giáo viên khi giảng dạy đến kiến thức về sức khỏe sinh sản thì
thường né tránh hoặc khi giảng dạy không mang lại hứng thú cho học sinh. Đặc biệt
các giáo viên trẻ thường bỏ qua khi mà chưa có qui định nào bắt buộc phải dạy giáo
dục giới tính, swcs khỏe sinh sản trong từng bài học cụ thể.
Xuất phát từ thực tế đó, trong thời gian tôi được phân công làm công tác chủ
nhiệm, và đặc biệt giảng dạy bộ môn sinh học 8 từ năm 2007 đến nay, tôi rút ra được
một số kinh nghiệm trong việc: “LỒNG GHÉP TRONG GIẢNG DẠY BỘ MÔN
SINH HỌC 8 ĐỂ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG LIÊN QUAN ĐẾN SỨC KHỎE
SINH SẢN CHO HỌC SINH”.
II/ Cơ sở lí luận: Dựa vào 3 cơ sở sau:
1. Mục tiêu giáo dục: Là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có tri thức,
có đạo đức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực
của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mục tiêu
này đã được nêu trong các nghị quyết và luật giáo dục đó là giáo dục con người thành
nhân trước khi thành tài.
2. Mục tiêu dạy học bộ môn: giáo dục trí dục, kỹ năng và thái độ sống, trong đó kỹ
năng và thái độ bao hàm giáo dục kỹ năng sống mà chúng ta nghiên cứu trong đề tài.
3. Nguyên lí giáo dục: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí
luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo
dục xã hội.
III. Cơ sở thực tiễn:
Giáo viên: Nguyễn Văn Cường -2-
Chuyên đề – Môn Sinh học 8 Năm học: 2010 - 2011
- Giáo dục kỹ năng sống đây là một trong nội dung của phong trào xây dựng trường
học thân thiện, học sinh tích cực. Là yêu cầu, là xu hướng của xã hội hiện đại trong thế
giới đang toàn cầu hóa như hiện nay.
- Tuổi vị thành niên được định nghĩa là giai đoạn chuyển tiếp của sự tăng trưởng và
phát triển từ cuối trẻ em đến bắt đầu tuổi trưởng thành, từ 13 – 19 tuổi. Tuổi dậy thì
nói chung có thể chia làm ba giai đoạn (bắt đầu, trung gian và cuối), hoặc tiền chất,
cảm xúc và xã hội diễn ra ở mỗi cá nhân. Những thay đổi này xảy ra đồng thời hoặc
từng đợt nối tiếp nhau trong tất cả ba lĩnh vực nói trên, những thay đổi đó liên quan
đến nhau, ảnh hưởng lẫn nhau. Tuy vậy, để nhận biết và hiểu biết các thay đổi quan
trọng đó, ta xem xét riêng từng phương diện, song bao giờ cũng cần nhớ rằng trong
cuộc sống thực tế, chúng không hoàn toàn diễn ra đúng như vậy. Thế kỷ 20 với vô số
các thay đổi của xã hội chúng ta phải đương đầu với những đòi hỏi của thời đại trong
đó cần phải đưa nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục vào học chính
khóa và phải được dạy ngay từ lớp 5. Những biến đổi về tâm sinh lí ảnh hưởng mạnh
đến lối sống, nếp sinh hoạt, quan hệ xã hội và sự phát triển nhân cách. Tuy nhiên, đây
cũng là vấn đề chưa được nhiều bậc phụ huynh học sinh quan tâm. Phim, ảnh, báo chí,
những nếp sống, hoạt động không lành mạnh, ăn chơi, ma túy, … làm cho các em dễ bị
lôi cuốn, bị sa ngã, bị xâm hại tình dục,….
- Thực tế việc giáo dục toàn diện cho học sinh, trong đó có kỹ năng sống liên quan đến
sức khỏe, sinh sản ở nước ta còn hạn chế. Một số giáo viên chỉ biết dạy kiến thức chứ
chưa dạy các em thái độ, kỹ năng ứng xử trong các mối quan hệ (với con người, với
môi trường thiên nhiên,….). Hơn nữa giáo viên bộ môn với 45 phút phải lo chuyển tải
các nội dung bài dạy đôi khi còn không đủ thì nói gì đến chuyện giáo dục kĩ năng
sống.
- Đối với bộ môn sinh học 8 góp phần giúp cho học sinh có được những kiến thức cơ
bản và cung cấp những hiểu biết khoa học về đặc đặc điểm cấu tạo và mọi hoạt động
sống của con người. Trên cơ sở đó đề ra biện pháp vệ sinh, rèn luyện thân thể, bảo vệ
và tăng cường sức khỏe trong đó có sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục. Giảng dạy
bộ môn sinh học 8 nhằm hình thành ở học sinh những hiểu biết về đặc điểm cấu tạo và
Giáo viên: Nguyễn Văn Cường -3-
Chuyên đề – Môn Sinh học 8 Năm học: 2010 - 2011
các bộ phận, chức năng của cơ thể con người. Nhằm giúp học sinh tìm hiểu cơ thể của
mình qua các bài học, đặc biệt trên mô hình thực tế. Từ đó có thể nhận biết các cơ
quan, bộ phận trên cơ thể mình, rèn luyện kỹ năng nghiên cứu bộ môn, giáo dục học
sinh bảo vệ cơ thể, sức khỏe, tình dục an toàn, vệ sinh cá nhân hợp lý.
Dựa vào những cơ sở thực tế nêu trên, tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm:
“Lồng ghép trong giảng dạy bộ môn sinh học 8 để giáo dục kỹ năng sống liên quan
đến sức khỏe, sinh sản cho học sinh”.
IV. Nôi dung nghiên cứu:
Nếu nói về năng lực tâm lý xã hội thì chúng ta có thể hiểu là khả năng ứng phó
một cách có hiệu quả với những yêu cầu thách thức của cuộc sống. Đó cũng là yêu cầu
của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện ở
hành vi phù hợp và tích cực trong khi tương tác với người khác, với nền văn hóa xã hội
và môi trường xung quanh. Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc
phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất là về mặt thể chất, tinh thần và xã hội.
Qua nhiều năm dạy tôi nhận thấy rằng để giáo dục các em học sinh phát triển
toàn diện cả về Đức - Trí - Thể - Mỹ thì chỉ có cách giáo dục kỹ năng sống, việc giáo
dục kỹ năng sống liên quan đến sức khỏe, sinh sản vào tiết dạy là điều đã được thừa
nhận. Nhưng hầu hết các trường THCS đều chưa thực hiện một cách đồng bộ và thống
nhất. Một số giáo viên thiếu kiến thức chuyên môn, thiếu kĩ năng giảng dạy về vấn đề
nhạy cảm này. Cũng chưa có trường nào xây dựng được chuẩn kiến thức chung về vấn
đề này khi dạy lồng ghép. Nếu dạy thì cũng chỉ thiên về lí thuyết còn thực hành thì bỏ
ngỏ.
Về giáo cụ trực quan là không có, giáo viên không được tập huấn kĩ càng để
giảng dạy về vấn đề giới tính. Tuy nhiên việc giảng dạy như thế nào thì giáo viên phải
tự biên tự diễn, không có hướng dẫn cụ thể, không ai kiểm tra đánh giá công tác này.
Hậu quả của cách dạy như thế dẫn đến học sinh thu nhận một lượng kiến thức rời rạc,
chắp vá. Bản thân các em đã nhận được kiến thức từ thông tin đại chúng, trong khi cần
một người tổng hợp, đưa ra những kiến thức có tính cơ bản, tổng quát thì chúng ta chỉ
có thể cung cấp cho các em kiến thức cơ bản theo sách giáo khoa, không hệ thống,
Giáo viên: Nguyễn Văn Cường -4-
Chuyên đề – Môn Sinh học 8 Năm học: 2010 - 2011
thiếu thực hành nặng về lý thuyết. Bởi vậy bài toán giáo dục sức khỏe sinh sản, sức
khỏe tình dục trong trường THCS chưa có lời giải đáp thích đáng.
Tại sao phải giáo dục về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho học sinh?
Như chúng ta đã biết để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, cần có sự kết hợp chặt
chẽ cả 3 môi trường giáo dục, đó là: nhà trường, gia đình và xã hội. Ngoài các thầy
cô giáo, các bậc phụ huynh cũng cần hiểu rằng: đa phần học sinh ở lứa tuổi mầm non
và tiểu học thường được gia đình và nhà trường giám sát chặt chẽ hơn, tâm sinh lý của
trẻ ở tuổi này cũng chưa có gì biến động lớn. Nhưng sang đến cấp THCS (cấp 2) là giai
đoạn đặc biệt, quyết định nhiều đến quá trình hình thành và phát triển tâm lý, nhân
cách, giới tính, sức khỏe. Về thể chất: những thay đổi của tuổi dậy thì đã tác động
mạnh đến tình trạng mất cân bằng trong tâm lý và tình cảm, đồng thời ảnh hưởng đến
hệ thần kinh dẫn đến các em dễ có những cảm xúc mạnh, phản ứng vô cớ. Có em
không làm chủ được cảm xúc, gây ra những cử chỉ, động tác “phụ” của tay, chân, đầu,
mình mỗi khi có phản ứng nào đó về tâm lý, hoặc có những suy nghĩ dại dột, những
việc làm gây hậu quả đến sức khỏe và sinh sản. Nhiều khi những hành vi quá đà gây
nên những hậu quả nghiêm trọng. Vì thế, giáo dục kỹ năng sống liên quan đến sức
khỏe, sinh sản là giúp các em tự làm chủ được bản thân trong những tình huống ấy,
tránh được những dại dột không đáng có. Chính vì vậy mà giáo viên giảng dạy cần
phải lồng ghép trong bài dạy của mình để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Và đó
cũng là những nội dung mà tôi đang đề cập trong sáng kiến kinh nghiệm mà tôi đang
thực hiện. Để nội dung nghiên cứu của mình thành công, tôi thực hiện các công việc
như sau:
1. Phân loại kiến thức kỹ năng sống liên quan đến sức khỏe sinh sản:
Chia làm 3 nhóm:
- Kỹ năng sống liên quan đến thể chất, giới tính, sức khỏe.
- Kỹ năng liên quan đến trí tuệ, tư duy.
- Kỹ năng sống liên quan đến tình cảm, tinh thần.
2. Phân loại các loại bài dạy trong chương trình sinh học 8 có thể lồng ghép giáo
dục kỹ năng sống.
Giáo viên: Nguyễn Văn Cường -5-
Chuyên đề – Môn Sinh học 8 Năm học: 2010 - 2011
a/ Kỹ năng sống liên quan đến thể chất, sức khỏe gồm các bài như:
- Các bệnh lây truyền qua đường tình dục (kèm phim ảnh dạy trình chiếu)
- Đại dịch AIDS. Thảm họa của loài người (kèm phim ảnh dạy trình chiếu)
b/ Kỹ năng sống liên quan đến trí tuệ:
- Bài: Thụ tinh, thụ thai và phát triển của thai (kèm phim ảnh dạy trình chiếu)
c/ Nhóm kỹ năng sống liên quan đến tình cảm, tinh thần: Tùy bài mà đưa vào cho
phù hợp tránh gượng ép, miễn cưỡng.
3. Vận dụng kỹ năng sống thông qua bộ môn:
Để việc Lồng ghép giảng dạy bộ môn sinh học 8 nhằm giáo dục kỹ năng sống
liên quan đến sức khỏe, sinh sản, sức khỏe tình dục cho học sinh đạt hiệu quả cao,
tránh gò bó, ôm đồm đi quá đà ảnh hưởng đến nội dung bài dạy thì đòi hỏi GV cần
phải chuẩn bị đầy đủ và đúng các quy trình của một tiết dạy. Khâu dặn dò rất cần thiết
nên giáo viên giành 3 phút để dặn dò các em. Có dặn dò kĩ các em mới chuẩn bị bài tốt
và như thế tiết học mới đạt hiệu quả cao.Và khâu chuẩn bị giáo án của GV cũng được
đổi mới. GV phải đưa ra các câu hỏi có phát huy tính tích cực phù hợp với mọi đối
tượng, thực tế, gần gũi với các em thì mới giáo dục kĩ năng sống có kết quả cao. Giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh được thực hiện xuyên suốt cả năm học đối với bộ môn
sinh 8, nhưng đối với đề tài này chỉ giới hạn kiến thức ở các bài liên quan đến sức khỏe
sinh sản và xin minh họa vấn đề này ở một số bài cụ thể như sau:
a. Giáo dục kỹ năng sống liên quan đến thể chất, giới tính, sức khỏe:
a.1 – Kỹ năng về giới tính và sức khỏe:
* Ví dụ 1: Bài: Tuyến sinh dục
Tìm hiểu về chức năng của hoocmôn sinh dục nam đối với tuổi dậy thì đối với nam:
+ Tìm hiểu về vai trò của tinh hoàn: Ở phần này giáo viên hướng dẫn cho học sinh
quan sát hình vẽ, sơ đồ ,…. Trao đổi nhóm để hoàn thành phần điền từ (giáo viên dùng
tranh màu phóng to giới thiệu cho học sinh vị trí của các tế bào kẽ, chức năng của tế
bào kẽ, sau khi hoạt động giáo viên cho đại diện học sinh nhóm báo cáo phần điền từ,
đồng thời chỉ trên tranh vẽ vị trí của các tế bào kẽ, sự điều hòa hoạt động của các
tuyến nội tiết là cơ sở để các em học bài 59 dễ hơn).
Giáo viên: Nguyễn Văn Cường -6-
Chuyên đề – Môn Sinh học 8 Năm học: 2010 - 2011
Kết luận: Vai trò nội tiết của tinh hoàn là tiết hooc môn phụ sinh dục nam:
Testosteron: Tìm hiểu vai trò của hoocmôn do tế bào kẽ tiết ra. Để thực hiện tốt phần
này giáo viên cho học sinh nam chuẩn bị trước ở nhà phiếu học tập (bảng 58.1). Tới
giờ học giáo viên thu lại để phát hiện một số em phát triển không bình thường để kịp
thời có lời khuyên thích hợp cho các em.
+ Đối với các em nữ: Cách tiến hành như hoạt động ở nam, song giáo viên đặc biệt
chú ý giới thiệu kỹ hình 58.3 (buồng trứng, ống dẫn trứng, phễu dẫn trứng, trứng và
các nang trứng gốc, sự phát triển của trứng, trứng chín và rụng, sự hình thành thể vàng,
vai trò của thể vàng). Đây là cơ sở để các em học tốt bài 62. Đặc biệt giáo viên lưu ý
các em gái trong việc vệ sinh cơ quan sinh dục. Vai trò nội tiết của buồng trứng là tiết
hoocmôn phụ sinh dục nữ: ƠSTROGEN.
Sau các hoạt động trên giáo viên cần lưu ý cho học sinh: Trong các dấu hiệu biến đổi
của cơ thể ở tuổi dậy thì, thì dấu hiệu quan trọng nhất là xuất tinh lần đầu ở các em
nam và sự hành kinh lần đầu ở nữ. Đây là dấu hiệu có khả năng sinh sản được, Vì sao?
Giáo viên giải thích rõ cho các em vì sao ở tuổi các em chưa thể sinh được. Đồng thời
qua đó giáo dục các em cần có lối sống trong sáng lành mạnh, trong quan hệ bạn bè,
trong phim ảnh, vui chơi, ….. giáo viên giải thích một số thắc mắc của học sinh như:
một số hiện tượng thực tế: bêđê là do rối loạn hoạt động nội tiết (các tế bào kẽ không
tiết hoocmôn testosteron hoặc tiết ra quá ít đối với các em nam, hoặc nang trứng
không tiết ra hoocmôn ơstrogen hoặc quá ít đối với nữ), các đặc tính sinh dục phụ có
thể thay đổi do hoocmôn phụ sinh dục song cơ quan sinh dục là yếu tố quyết định giới
tính không thể thay đổi.
* Ví dụ 2: Tìm hiểu sự nuôi dưỡng thai khi mang thai:
- Để thực hiện tốt hoạt động này giáo viên cho học sinh điều tra trước thực tế: Sức
khỏe bà mẹ mang thai, chế độ dinh dưỡng của người mang thai, sức khỏe của trẻ sơ
sinh: Ngường phụ nữ có sức khỏe tốt, chế độ dinh dưỡng đầy đủ, không bị đau ốm
Giáo viên: Nguyễn Văn Cường -7-
Chuyên đề – Môn Sinh học 8 Năm học: 2010 - 2011
trong thời gian mang thai, không sử dụng các chất gây nghiện,… thì đứa trẻ sinh ra có
sức khỏe tốt, cân nặng đảm bảo, không thiếu cân và chiều cao, trí tuệ phát triển tốt,..
giáo viên cho học sinh đọc thông tin SGK dùng tranh giới thiệu sự thai sinh ở người,
sau đó cho học sinh báo cáo kết quả điều tra thực tế.
- Sức khỏe của thai tùy thuộc vào sức khỏe của mẹ. Do đó, trong thời gian mang thai
(cũng như thời kỳ cho con bú) người mẹ cần bồi dưỡng đủ chất, đủ lượng để đảm bảo
đủ dinh dưỡng cho thai nhi phát triển tốt, không bị suy dinh dưỡng, không dùng các
chất gây nghiện như rượu, bia, thuốc lá, … có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển
của thai.
a.2 - Kỹ năng ra quyết định, từ chối và ứng phó các tình huống, quản lí thời gian:
* Ví dụ 2: Bài: Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai:
- Giáo viên giúp cho học sinh nắm được các hiện tượng đánh dấu tuổi dậy thì ở Nam:
có khả năng xuất tinh, mộng tinh; ở nữ: xuất hiện hiện tượng kinh nguyệt. Kinh nguyệt
là hiện tượng chỉ xuất hiện ở nữ giới, theo chu kỳ. Khi trứng chín và rụng một thời
gian không được kết hợp với tinh trùng sẽ được thải ra ngoài cùng với lớp niêm mạc
của dạ con bị bong ra qua đường sinh dục. Kinh nguyệt thải ra ngoài gồm: máu, chất
nhầy, lớp niêm mạc tử cung và trứng. Chu kỳ kinh nguyệt của nữ giới: xảy ra theo chu
kỳ 28 ngày, trong đó:
+ Kinh nguyệt diễn ra trong 3 ngày đầu gọi là ngày hành kinh (1,2,3)
+ Từ ngày 3 – 13: Ngày an toàn.
+ Ngày 14 – 15: Ngày trứng rụng.
+ Ngày 15 – 28: Ngày an toàn.
Kết hợp cho học sinh quan sát sơ đồ, tranh vẽ, dụng cụ trực quan và phim ảnh, …. từ
đó giúp các em đề ra một số biện pháp tránh thai cơ bản (Tranh bao cao su dành cho
nam giới, bao cao su dành cho phụ nữ, cách sử dụng, một số loại thuốc tránh thai:
Postino(ngừa thai khẩn cấp), olag, Ky, Exluton, hình vòng tránh thai, thắt ống dẫn
Giáo viên: Nguyễn Văn Cường -8-
Chuyên đề – Môn Sinh học 8 Năm học: 2010 - 2011
trứng ở phụ nữ, triệt sản nam, nữ, ……). Giáo viên có thể vận dụng kiến về kinh
nguyệt và chu kỳ kinh nguyệt để giáo dục cho học sinh thực hiện kế hoạch hóa gia
đình.
- Nêu rõ những ảnh hưởng của có thai sớm ngoài ý muốn của tuổi vị thành niên? Phải
làm gì để điều đó không xảy ra? Những hậu quả có thể xảy ra khi phải xử lý đối với
việc mang thai ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên là gì? Làm thế nào để tránh được?
Giáo viên có thể cho học sinh xem phim “Sự thụ tinh”, Phim “Từ giai đoạn giao hợp
đến phát triển thai nhi”, Phim “Sự thụ tinh và hình thành kinh nguyệt”, Hình ảnh và số
liệu sưu tầm “Hậu quả của việc có thai ngoài ý muốn”, .v…v…. Thông qua các câu
hỏi trên kết hợp cùng với các đoạn phim và hình ảnh số liệu do giáo viên sưu tầm thì
sẽ có tác dụng giáo dục các em học sinh có kiến thức căn bản về giới tính, bản thân
biết mình cần phải làm gì khi còn là học sinh. (Sống vô tư, hồn nhiên, tập trung vào
học tập, không đua đòi, bồng bột, nhất thời hồ đồ để lại hậu quả đáng tiếc xảy ra). Từ
đó các em tự xác định cho mình một phương pháp tránh thai thích hợp, biết từ chối
những lời rủ rê quan hệ tình dục sớm dẫn đến mang thai ngoài ý muốn, biết ứng phó
với những tình huống ép buộc, dụ dỗ, lừa gạt quan hệ tình dục.
b. Kỹ năng sống liên quan đến trí tuệ.
b.1 – Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin khi đọc SGK, quan sát tranh ảnh (phim):
* Ví dụ: Tìm hiểu những điều kiện cho sự thụ tinh và thụ thai:Giáo viên dùng tranh
màu phóng to giới thiệu rõ đường đi của tinh trùng nơi tinh trùng gặp trứng sau khi thụ
tinh hợp tử di chuyển về làm tổ ở tử cung, bám vào tử cung và làm tổ ở lớp niêm mạc
tử cung đã được chuẩn bị sẵn (dày và xốp và xung huyết nhờ hoocmôn của thể vàng
được duy trì trong suốt thời gian phụ nữ mang thai).
Học sinh đọc thông tin, lĩnh hội kiến thức, trao đổi nhóm để xác định điều kiện cần cho
sự thụ tinh và thụ thai. Nếu dạy trình chiếu thì học sinh chỉ cần xem phim: Sự thụ tinh
và hình thành thai.
Giáo viên: Nguyễn Văn Cường -9-
Chuyên đề – Môn Sinh học 8 Năm học: 2010 - 2011
+ Sự thụ tinh chỉ xảy ra khi trứng gặp được tinh trùng và tinh trùng lọt được vào
trứng để tạo hợp tử.
+ Sự thụ thai chỉ xảy ra khi trứng đã thụ tinh bám được và làm tổ trong lớp
niêm mạc tử cung.
Giáo viên cần khắc sâu và ghi nhớ hai điều kiện này, vì đây là cơ sở cho việc thực hiện
kế hoạch hóa gia đình, sẽ được học ở bài 63.
b.2 - Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng trả lời, kỹ năng giới thiệu bản thân, kỹ năng diễn
đạt ý kiến lắng nghe (thực hiện đối với từng tiết dạy trong bộ môn sinh học 8).
* Ví dụ 1: Bài: Đại dịch AIDS – Thảm họa của loài người: Để hình thành cho học
sinh kỹ năng giao tiếp, biết cảm thông chia sẻ và động viên giúp đỡ người không may
bị nhiễm HIV/AIDS và người thân của họ. Thông qua nội dung bài dạy, giáo viên đặt
một câu hỏi trong phần củng cố bài để học sinh suy nghĩ trả lời: Phòng tránh lây nhiễm
HIV bằng cách nào? Có nên cách li người bệnh để khỏi bị lây nhiễm không? Bản thân
các em khi gặp người bị nhiễm HIV/AIDS hay người thân của người bị nhiễm các em
có thái độ như thế nào? (phần này giáo viên có thể dùng phiếu thăm dò ý kiến để học
sinh đánh dấu vào theo hình thức trắc nghiệm cũng được)
* Ví dụ 2: Trong quá trình giảng dạy giáo viên cũng cần chú ý rèn cho học sinh kỹ
năng trả lời, kỹ năng giới thiệu bản thân, kỹ năng diễn đạt ý kiến lắng nghe.
- Nhà em ở đâu? (khóm 3, phường 6)
- Em thích học môn gì nhất? (Anh Văn)
- Bộ xương người chia làm mấy phần? (Ba phần)
Qua đó ta thấy rằng kỹ năng này học sinh còn hạn chế rất nhiều. Nhiều em
đứng lên phát biểu xây dựng bài nhưng không lặp lại câu hỏi, nội dung diễn đạt không
rõ ràng, không thu hút người nghe. Kỹ năng này giáo viên luôn rèn luyện các em trong
suốt quá trình dạy học.
b. 2 - Kỹ năng ứng xử có văn hóa:
Ở địa bàn nông thôn do thói quen nên các em thường xưng hô với bạn bè (mi – tao);
với cha mẹ (ông - tui; bà - tui); với cô thầy (bà cô; ông thầy). Trong từng tiết dạy giáo
viên luôn để ý cách trả lời hay những lúc nói chuyện của học sinh trong giờ học ra chơi
Giáo viên: Nguyễn Văn Cường - 10 -
Chuyên đề – Môn Sinh học 8 Năm học: 2010 - 2011
mà uốn nắn kịp thời. Giáo viên luôn để ý đến cách ăn mặc, tác phong, cử chỉ của từng
em mà giáo dục. Bởi lẽ giáo viên không chỉ dạy chữ mà còn dạy người.
c. Kỹ năng liên quan đến tình cảm, tinh thần:
Trong cuộc sống ai cũng muốn mình khỏe mạnh, hạnh phúc nhưng không ai
cũng có được điều đó. Bệnh tật, tai nạn luôn rình rập hoặc do thiếu hiểu biết hay một
chút nông nổi đã mắc phải căn bệnh quái ác. Thông qua chương trình sinh học 8 giáo
dục các em biết cách bảo vệ mình và quan tâm, giúp đỡ mọi người chẳng may rơi vào
các hoàn cảnh ốm đau, bệnh tật hay lầm lỡ. Giáo dục các em không phân biệt đối xử,
xa lánh những nạn nhân HIV, AIDS. Hãy gần gũi, thông cảm chia sẽ để nạn nhân này
sống có ích trong những ngày còn lại của đời mình.
* Ví dụ: Bài: Đại dịch AIDS - thảm họa của loài người
Ta có nên kỳ thị phân biệt đối xử với những người bị nhiễm HIV, AIDS hay
không? Vì sao? Sau khi học sinh trả lời, giáo viên điều chỉnh bổ sung và để tăng giáo
dục giáo viên cho học sinh đọc một lời tâm sự của nạn nhân AIDS (phụ lục)
* Qua đó giáo dục các em:
+ Thông cảm với người bị nhiễm HIV/AIDS.
+ Không phân biệt đối xử với họ.
+ Biết chia sẽ với nạn nhân AIDS
Cũng thông qua nội dung bài này giáo viên sẽ hình thành cho học sinh kỹ
năng kiên định, biết cách từ chối những hành vi dụ dỗ, chống lại sự ép buộc, lừa gạt
quan hệ tình dục không an toàn, tiêm chích ma túy, ….
V. Kết quả nghiên cứu:
Nhờ việc lồng ghép trong giảng dạy bộ môn sinh học 8 để giáo dục kỹ năng
sống liên quan đến sức khỏe, sinh sản mà học sinh đã có được những kỹ năng sống cơ
bản. Trong từng tiết dạy nhờ giáo dục, uốn nắn, động viên, nhắc nhở mà các em tiến
bộ rõ rệt về kỹ năng giao tiếp. Cách xưng hô với bạn bè có cải thiện, thân mật hơn.
Mối quan hệ giữa thầy cô, bạn bè gần gũi hơn, thân thiết hơn. Kỹ năng nói của các em
cũng tiến bộ rõ nét. Các em không còn trả lời nội dung mà không lặp lại câu hỏi. Nội
dung câu trả lời đầy đủ ý nghĩa, kết cấu câu. Không còn nói những câu cụt, câu què,
Giáo viên: Nguyễn Văn Cường - 11 -
Chuyên đề – Môn Sinh học 8 Năm học: 2010 - 2011
câu lững không rõ nội dung. Biết giúp đỡ, chia sẻ với những người bị nạn, tật nguyền
như ủng hộ các bạn bị ảnh hưởng chất độc màu da cam. Không kỳ thị, xa lánh những
người chẳng may bị bệnh HIV-AIDS. Các em đã biết được những dấu hiệu thay đổi
trên cơ thể ở độ tuổi dậy thì giúp các em không phải hốt hoảng lo sợ khi thấy mình có
dấu hiệu thay đổi bất thường. Từ đó các em biết cách rèn luyện thân thể, các em nữ
biết cách giữ vệ sinh kinh nguyệt, phòng tránh các bệnh phụ khoa. Giúp các em nhận
thức rõ về giới từ đó tránh được các điều đáng tiếc xảy ra ở tuổi vị thành niên. Cũng
chính việc lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đối với bộ môn sinh học 8
nói chung và đối với các bài liên quan đến sức khỏe sinh sản nói riêng đã giúp tôi
thành công trong công tác giảng dạy bộ môn sinh học 8.
Điều này được minh chứng cụ thể qua kết quả chất lượng bộ môn các năm mà tôi đạt
được, cụ thể như sau:
BẢNG SỐ LIỆU
Kết quả bộ môn sinh học 8 năm học: 2008 – 2009
GIỎI KHÁ TB YẾU
LỚP SS
SL TL SL TL SL TL SL TL
8A 46 45 97,8% 01 2,2% 0 0 0 0
8B 45 33 73,3% 12 26,7% 0 0 0 0
8D 37 14 37,8% 15 40,5% 04 10,8% 04 10,8%
8G 40 08 20% 20 50% 10 25% 02 05%
8I 41 01 2,4% 19 46,3% 16 39% 05 12,2%
Tổng 209 101 48,3% 67 32,1% 30 14,4% 11 5,2%
Kết quả bộ môn năm học: 2009 – 2010
GIỎI KHÁ TB YẾU
LỚP SS
SL TL SL TL SL TL SL TL
8A 41 39 95,1% 02 4,9% 0 0 0 0
8C 43 10 23,3% 30 69,8% 2 4,6% 01 2,3%
8D 38 07 18,4% 31 81,6% 0 0 0 0
8I 43 02 4,7% 26 60,5% 14 32,5% 01 2,3%
TỔNG 165 58 35,2% 89 53,9% 16 9,7% 02 1,2%
* Thông qua điều tra sơ bộ về học sinh của trường qua các năm, cũng như thông qua
công tác chủ nhiệm lớp trong đó có học sinh các lớp mà tôi đang nghiên cứu cho thấy:
Giáo viên: Nguyễn Văn Cường - 12 -