Chuong iv doi moi phan cap phan quyen

  • 27 trang
  • file .pdf
CHƯƠNG 4
ĐỔI MỚI PHÂN CẤP, PHÂN QUYỀN TRONG
QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG
Dẫn nhập
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 hiện
đang được triển khai với yêu cầu thực hiện cải cách nhằm giải quyết
ba điểm nghẽn chính đối với tăng trưởng kinh tế, đó là: (i) hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là
tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính; (ii)
phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng
cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục
quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển
và ứng dụng khoa học, công nghệ; và (iii) xây dựng hệ thống kết cấu
hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ
thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn. Năm 2012, Chính phủ cũng
đã ban hành Đề án tổng thể về tái cơ cấu nền kinh tế với 3 trọng tâm,
trong đó tái cơ cấu đầu tư công48 là một trong những nội dung trọng
tâm của quá trình tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế. Tuy vậy, thực tiễn
triển khai đến nay cho thấy quá trình tái cơ cấu đầu tư công mới chỉ
có những chuyển biến bước đầu ở cấp vĩ mô, còn ở cấp địa phương
chưa diễn ra như mong đợi. Ngay cả về mặt hình thức, việc xây dựng
các nhóm giải pháp cụ thể nhằm tái cơ cấu đầu tư công cũng còn
chậm. Sự chậm trễ trong tái cơ cấu đầu tư công xuất phát từ nhiều
nguyên nhân, trong đó có cả những trở ngại trong thể chế phân cấp
quản lý đầu tư công và lợi ích của các bên có thẩm quyền ra quyết
48Đầu tư công hiện nay được hiểu bao gồm đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ,
tín dụng nhà nước và đầu tư của DNNN (DNNN)
113
định thực hiện dự án đầu tư công. Tốc độ tăng nợ công nhanh và áp
lực nợ công ngày càng lớn trong khi tái cơ cấu đầu tư công ở cấp
độ tổng thể và cấp độ ngành, lĩnh vực và cấp địa phương chưa được
được triển khai quyết liệt.
Trong khi đó, nước ta vẫn đang tiếp tục đẩy nhanh quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế, với việc tham gia đàm phán, ký kết và thực
hiện nhiều hiệp định thương mại tự do.49 Nhiều hiệp định mang hình
mẫu thế hệ mới, với phạm vi và mức độ cam kết sâu rộng hơn, kể cả
những vấn đề mới như mua sắm chính phủ, cải cách DNNN, bảo hộ
đầu tư, v.v... Các cam kết liên quan sẽ ảnh hưởng đáng kể đến việc
thực hiện các dự án đầu tư công và các bên liên quan, không phụ
thuộc vào cấp quản lý các dự án này. Quá trình chuẩn bị và thực hiện
các hiệp định này đi kèm với những cải cách trong nước, qua đó ảnh
hưởng đến hiệu quả quản lý đầu tư công nói chung và hiệu quả phân
cấp quản lý đầu tư nói riêng.
Cho đến nay, một số chủ trương, chính sách đối với quản lý đầu
tư công đã được xem xét và thực hiện. Đáng lưu ý nhất là Chỉ thị số
1792/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2011 nhằm
siết chặt kỷ luật đầu tư từ nguồn Ngân sách Nhà nước (NSNN) và
Trái phiếu Chính phủ. Chính phủ cũng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư
chủ trì dự thảo Luật Đầu tư công nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý
cao hơn đối với hoạt động đầu tư công. Tuy nhiên, những chủ trương
chỉ là bước đầu, chủ yếu dừng trên giấy tờ và việc hiện thực hóa mục
tiêu tăng cường hiệu quả quản lý đầu tư công, kể cả phân cấp quản lý
đầu tư công chưa làm được nhiều, đòi hỏi phải có nghiên cứu sâu với
quyết tâm chính trị và sự phối hợp cao của các bộ ngành.
Chương này tập trung phân tích một số vấn đề chính trong thực
trạng phân cấp quản lý đầu tư công, qua đó xác định những ưu tiên
nhằm tăng cường hiệu quả công tác phân cấp quản lý đầu tư công. Cụ
thể, nội dung tập trung vào các vấn đề liên quan đến khuôn khổ pháp
49Xem tổng kết trong báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2013).
114
lý, thể chế điều phối hoạt động đầu tư công, thể chế giám sát và đánh
giá dự án đầu tư công và áp lực từ các điều ước quốc tế mà ta đang
đàm phán. Các tác giả không phân tích thực trạng áp dụng chu trình
quản lý đầu tư công ở nước ta, chiếu theo thông lệ quốc tế.50 Các nội
dung của chương tập trung vào giai đoạn từ năm 2000-2013, có thêm
những cân nhắc về bối cảnh trong các năm 2014 và 2015.
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Đánh giá tổng quan về đầu tư công
Đầu tư công ở nước ta đã có những diễn biến khác nhau trong
suốt giai đoạn từ năm 2001 đến nay (Bảng ). Trong giai đoạn 2001-
2005, đầu tư công chiếm tới 53,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Tuy
nhiên, từ năm 2006 trở lại đây, tỉ lệ của đầu tư công trong tổng vốn
đầu tư toàn xã hội có xu hướng giảm gần như liên tục. Cụ thể, tỷ lệ
này giảm xuống còn 44,1% vào năm 2010, 39,1% vào năm 2012 và
37,5% năm 2013. Đáng lưu ý, tỉ lệ của đầu tư công giảm chậm hơn
trong những năm 2008, 2009, chủ yếu do tác động của gói kích thích
tài khóa nhằm ứng phó với suy giảm kinh tế trong nước và tác động
của khủng hoảng tài chính thế giới.
Xét về cơ cấu theo nguồn, đầu tư từ nguồn NSNN luôn chiếm
tỉ trọng lớn nhất trong đầu tư công. Tỉ trọng của nguồn vốn này trong
tổng đầu tư toàn xã hội đạt trung bình 22,9% trong giai đoạn 2001-
2005, sau đó giảm còn 21,8% vào năm 2006, 20,6% vào năm 2010
và 18,7% vào năm 2013. Xu hướng giảm này không phải do đầu tư
từ nguồn NSNN bị thu hẹp, mà chủ yếu do tổng đầu tư toàn xã hội
(trong đó có đầu tư từ khu vực tư nhân trong nước và khu vực có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài) tăng nhanh hơn rất nhiều. Như đã trình
bày ở trên, đầu tư từ nguồn NSNN tăng rất nhanh vào năm 2009
50Chẳng hạn, xem chu trình mô tả trong Rajaram và cộng sự (2010). Phần phân tích về thực
trạng áp dụng theo chu trình này có thể tham khảo tại Đoàn Hồng Quang và cộng sự (2013),
Vũ Thành Tự Anh (2013).
115
nhằm ứng phó với suy giảm kinh tế trong nước, khiến tỉ trọng trong
đầu tư toàn xã hội tăng lên 25,6%.
Trong khi đó, đầu tư của DNNN chỉ tăng theo giá trị hiện hành
và có tỉ trọng ngày càng giảm trong tổng đầu tư toàn xã hội. Giá trị
đầu tư của các DNNN đã tăng từ 58,1 nghìn tỉ đồng năm 2006 lên
80,4 nghìn tỉ đồng năm 2010 và 90,8 nghìn tỉ đồng năm 2013. Tuy
nhiên, tỉ trọng trong đầu tư toàn xã hội đã giảm liên tục từ 14,4%
năm 2006 xuống còn 8,7% năm 2012 và 8,4% năm 2013.
Nguồn vốn tín dụng của Nhà nước lại biến động không theo
một xu thế rõ rệt. Tỉ trọng của nguồn vốn này trong tổng đầu tư toàn
xã hội đã giảm từ 8,6% năm 2006 xuống còn 5,6% năm 2009. Sau
đó, tỉ trọng này tăng trở lại lên 6,3% năm 2010, 8,7% năm 2012 và
9,7% năm 2013.
Cuối cùng, cần lưu ý là nguồn vốn đầu tư từ Trái phiếu Chính
phủ (TPCP) thu hút được nhiều sự chú ý hơn trong thời gian gần đây.
Theo giá hiện hành, phần vốn đầu tư từ nguồn trái phiếu chính phủ
đã tăng mạnh từ hơn 10 nghìn tỉ vào năm 2006 lên gần 53 nghìn tỉ
đồng vào năm 2009 và 62,4 nghìn tỉ vào năm 2010. Trong các năm
2012-2013, quy mô nguồn vốn này được duy trì lần lượt ở các mức
62,2 nghìn tỉ đồng và 57,8 nghìn tỉ đồng. Theo đó, tỉ trọng của nguồn
vốn TPCP đã tăng từ 2,6% năm 2006 lên 7,5% trong giai đoạn 2009-
2010, sau đó giảm nhẹ xuống còn 6,2% và 5,4% lần lượt vào các
năm 2012 và 2013.
116
Bảng 4.1. Đầu tư công trong cơ cấu tổng đầu tư toàn xã hội
Chỉ tiêu Đơn vị tính 2001-05 2006 2009 2010 2006-10 2011 2012 2013
Tổng số (giá hiện hành) Nghìn tỷ đồng 1.243,9 404,7 708,8 830,3 3.092,6 924,5 1.010,1 1.075,5
So với GDP % 39,0 41,5 42,7 41,9 42,7 33,3 31,1 29,1
I. Đầu tư công Nghìn tỷ đồng 664,2 191,6 331,7 365,8 1.341,6 341,6 394.5 403,6
Tỷ trọng % 53,4 47,3 46,8 44,1 43,4 36,9 39,1 37,5
1. Vốn đầu tư từ nguồn NSNN Nghìn tỷ đồng 285,3 88,3 181,4 171,0 664,5 178,0 205,0 201,6
Tỷ trọng % 22,9 21,8 25,6 20,6 21,5 19,3 20,3 18,7
2. Vốn TPCP Nghìn tỷ đồng 19,5 10,3 52,9 62,4 169,2 44,9 62,2 57,8
Tỷ trọng % 1,6 2,6 7,5 7,5 5,5 4,9 6,2 5,4
3. Vốn tín dụng nhà nước Nghìn tỷ đồng 174,2 34,9 40,0 52,0 197,0 69,2 40,3 53,4
Tỷ trọng % 14,0 8,6 5,6 6,3 6,4 7,5 8,7 9,7
4. Đầu tư của DNNN Nghìn tỷ đồng 185,2 58,1 57,4 80,4 310,9 49,5 87,0 90,8
Tỷ trọng % 14,9 14,4 8,1 9,7 10,1 5,4 8,7 8,4
II. Vốn đầu tư ngoài nhà nước Nghìn tỷ đồng 579,7 213,0 377,1 464,5 1.791,1 582,9 615,6 671,9
Tỷ trọng % 46,6 52,6 53,2 55,9 57,9 63,1 60,9 62,5
5. Đầu tư của hộ gia đình và khu vực tư nhân Nghìn tỷ đồng 403,7 154,0 240,1 299,5 1.155,4 356,0 385,0 407,4
Tỷ trọng % 32,5 38,1 33,9 36,1 36,1 38,5 38,1 37,9
6. Đầu tư trực tiếp nước ngoài Nghìn tỷ đồng 176,0 59,0 130,0 156,0 606,2 226,9 218,6 241,5
Tỷ trọng % 14,1 14,6 18,3 18,8 19,6 24,5 21,6 22,5
7. Đầu tư khác Nghìn tỷ đồng 7,0 9,0 29,5 - 12,0 23,0
Tỷ trọng % 1,0 1,1 1,0 - 1,2 2,1
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
117
Bảng 4.2 thể hiện cơ cấu vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà
nước theo các ngành kinh tế. Có thể thấy cơ cấu vốn đầu tư tập
trung khá nhiều ở các ngành hạ tầng. Cụ thể, ngành vận tải, kho bãi
chiếm tỉ trọng lớn nhất trong đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước.
Tuy vậy, tỉ trọng của ngành này giảm gần như liên tục từ 20,7% năm
2005 xuống còn 18,1% vào các năm 2009-2010 và 15,6% vào năm
2012. Trong khi đó, một lĩnh vực hạ tầng khác là sản xuất và phân
phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí cũng
chiếm tỉ trọng khá lớn trong cơ cấu vốn đầu tư của khu vực nhà nước,
dù tỉ trọng này có dao động trong khoảng từ 13,2 đến 16,8% trong
suốt giai đoạn 2005-2012. Khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo
ngày càng chiếm tỉ trọng lớn hơn, tăng từ 8,4% năm 2005 lên 9,5%
năm 2010 và 12,1% năm 2012, trừ một số giai đoạn biến động mạnh.
Đáng lưu ý là xét về tỷ trọng, khu vực nông - lâm nghiệp và thủy sản
ngày càng nhận được ít đầu tư hơn của khu vực nhà nước, với tỉ trọng
giảm từ 7,1% xuống 5,2% trong giai đoạn 2005-2012. Bên cạnh đó,
một số ngành quan trọng cho phát triển bền vững trong dài hạn - như
giáo dục và đào tạo, y tế - chỉ chiếm tỉ trọng khá nhỏ trong cơ cấu
vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước.
118
Bảng 4.2. Cơ cấu vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước theo ngành, giá hiện hành (2005-2012) (ĐVT: %)
2005 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Tổng số (nghìn tỉ đồng) 161.635 197.989 209.031 287.534 316.285 341.555 374.300
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 7,14 6,75 7,20 5,86 5,86 5,60 5,15
Khai khoáng 8,43 7,69 7,79 6,70 6,51 6,29 5,98
Công nghiệp chế biến, chế tạo 8,36 12,17 5,88 8,61 9,52 9,78 12,05
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí 14,60 13,16 12,56 16,75 15,01 14,52 13,31
Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải 4,13 3,68 3,59 3,88 3,86 3,75 3,18
Xây dựng 4,20 4,53 4,77 4,63 5,14 5,35 5,82
Bán buôn và bán lẻ; sử chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác 1,27 1,23 1,57 2,17 2,39 2,53 3,20
Vận tải, kho bãi 20,68 18,34 22,51 18,10 18,09 17,31 15,61
Dịch vụ lưu trú và ăn uống 0,42 0,43 0,51 1,25 1,22 1,39 1,58
Thông tin và truyền thông 5,57 5,57 5,47 5,57 5,60 5,43 5,26
Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 0,44 0,78 0,99 1,48 1,49 1,65 1,93
Hoạt động kinh doanh bất động sản 1,00 1,56 1,58 2,12 2,17 2,45 2,85
Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 1,32 1,91 2,08 1,95 1,90 2,03 2,07
Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 1,63 1,53 1,58 1,63 1,73 1,68 1,39
Hoạt động của Đảng Cộng sản, tổ chức chính trị - xã hội; quản lý Nhà nước, an ninh quốc
6,66 7,38 8,58 7,44 7,95 8,44 8,01
phòng; đảm bảo xã hội bắt buộc
Giáo dục và đào tạo 5,44 5,30 5,15 3,55 3,95 4,05 5,35
Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 3,37 3,27 3,34 2,87 2,70 2,93 2,85
Nghệ thuật, vui chơi và giải trí 2,11 2,67 2,60 2,52 2,42 2,55 2,06
Hoạt động khác 3,22 2,04 2,23 2,93 2,49 2,27 2,35
119
Nguồn: Tổng cục Thống kê.
Một khía cạnh khác cần quan tâm là cơ cấu thực hiện đầu tư
của khu vực kinh tế Nhà nước phân theo cấp quản lý. Diễn biến này
được thể hiện tại Hình 4.1. Có thể thấy tương quan giữa vốn đầu tư
do Trung ương quản lý và vốn đầu tư do địa phương quản lý có sự
thay đổi rõ rệt kể từ năm 2005. Cụ thể, trong giai đoạn 1995-2005,
đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước do Trung ương quản lý lớn hơn
so với giá trị vốn đầu tư do địa phương quản lý. Kể từ năm 2006,
đầu tư do địa phương quản lý đã vượt so với phần vốn do Trung
ương quản lý. Đặc biệt, chênh lệch liên tục được nới rộng trong giai
đoạn 2010-2012: Nếu như cơ cấu Trung ương - địa phương chỉ là
48%-52% vào năm 2010 thì đến năm 2012, tỉ trọng vốn đầu tư do
địa phương quản lý đã lên tới 58,7%. Nếu tính riêng phần ngân sách
nhà nước phân cho địa phương, bao gồm cả phần hỗ trợ có mục tiêu
từ trung ương cho địa phương thì tỉ trọng vốn do địa phương quản lý
lên tới 70%. Diễn biến này xuất phát chủ yếu từ quá trình phân cấp,
phân quyền trong quản lý và thực hiện đầu tư công và cơ chế phân
phối vượt dự toán, quyền quyết định chi của địa phương ở Việt Nam,
nhất là từ năm 2006. Nguồn vốn bị phân tán và không được tập trung
thống nhất dẫn đến hiêu lực quản lý nguồn vốn đầu tư, nhất là khả
năng huy động nguồn vốn ngân sách trong nước xây dựng các công
trình trọng điểm bị hạn chế.
Hình 4.1. Đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước theo cấp quản lý (1995-2012)
Đơn vị tính: Nghìn tỉ đồng
250,000
200,000
150,000
100,000
50,000
0
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Trung ương Địa phương
Nguồn: Tổng cục Thống kê.
120
Có nhiều phương pháp đánh giá hiệu quả của đầu tư công, song
đều dựa trên những giả định quan trọng bởi đầu tư công nhiều khi
còn gắn với các mục tiêu phi kinh tế và có các tác động lan tỏa đến
các khu vực khác. Nếu giả thiết hiệu quả của đầu tư công bằng với
hiệu quả của đầu tư từ các khu vực khác, chỉ số hiệu suất vốn - sản
lượng (ICOR)51 có thể được sử dụng để tính hiệu quả đầu tư chung
của nền kinh tế. Theo đó, hệ số ICOR của Việt Nam đã tăng từ mức
bình quân 6,18% trong giai đoạn 1996-2000 lên 7,04% trong các
năm 2001-2005 trước khi giảm trở lại còn 6,18% giai đoạn 2006-
2010. Như vậy, hệ số ICOR của Việt Nam cao hơn nhiều so với các
nước khác trong khu vực.52 Tính toán cho thấy ICOR của khu vực
kinh tế nhà nước thậm chí còn cao hơn nhiều so với các khu vực
khác, phản ánh hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam còn tương đối thấp
(Hình 4.2.). Tuy nhiên, cũng nhận thấy rằng việc sử dụng ICOR để
đánh giá hiệu quả đầu tư công ở Viêt Nam chưa thật chính xác theo
như thông lệ quốc tế.53
Hình 4.2. ICOR của Việt Nam theo thành phần kinh tế
Nguồn: CIEM.
51Thể hiện số đồng vốn cần bỏ ra để có được 1 đồng tăng trưởng.
52Hệ số ICOR của Trung Quốc trong thời kỳ 2001-2006 là 3,9 với mức tăng GDP bình quân là
9,7%. Hàn Quốc có hệ số ICOR là 3,0 nhưng đạt tốc độ tăng GDP bình quân 7,9%/năm trong
thời kỳ 1961-1980. Thái Lan vào thời kỳ 1981-1995 đạt tốc độ tăng GDP trung bình 8,1%/năm
với hệ số ICOR là 4,1. Malaysia có hệ số ICOR là 4,6 và tốc độ tăng bình quân năm là 7,1%
trong những năm 1981-1995. Xem Báo cáo của Chính phủ (tháng 8/2013).
53Vốn đầu tư ở Việt Nam được sử dụng để đền bù và giải phóng mặt bằng rất lớn, cái biệt có dự
án lên tới 50-60%, trong khi đó theo thông lệ các nước, vốn đầu tư chỉ tính vốn tích lũy đầu tư.
121
Từ một góc nhìn khác, sử dụng mô hình vec-tơ sai số hiệu
chỉnh (VECM)54 nhằm đánh giá tương tác giữa các biến số kinh tế
theo thời gian để tính toán các chuyên gia cũng chỉ ra hiệu quả của
đầu tư tư nhân cao hơn so với đầu tư công. Cụ thể, đầu tư tư nhân
tăng 1% có thể làm sản lượng tăng 0,33%, trong khi đầu tư công tăng
1% chỉ đóng góp 0,23% tăng sản lượng trong cân bằng dài hạn. Như
vậy, hiệu quả của đầu tư công thậm chí còn thấp hơn so với hiệu quả
đầu tư trong nền kinh tế nói chung - chủ yếu do tính chất đặc thù của
hoạt động đầu tư công.
Nhìn chung, đầu tư công có xu hướng giảm liên tục trong giai
đoạn từ năm 2001 cho đến nay, dù cơ cấu trong tổng đầu tư có biến
động do đầu tư ở các khu vực khác. Nguồn lực cho đầu tư công liên
tục được bổ sung cho thấy khu vực kinh tế Nhà nước vẫn giữ vai trò
quan trọng trong đầu tư và phát triển kinh tế. Cơ cấu vốn đầu tư tập
trung khá nhiều ở các ngành hạ tầng, trong khi ít tập trung vào các
ngành trực tiếp phục vụ phát triển con người (như giáo dục, y tế).
Hiệu quả của đầu tư công nhìn chung còn hạn chế, thấp hơn so với
khu vực tư nhân và thấp hơn nhiều so với các nền kinh tế ở Đông Á
trong thời kỳ phát triển tương ứng.
Khuôn khổ pháp lý phân cấp phân quyền trong quản lý đầu tư công
Phân cấp quản lý đã được coi là một nội dung then chốt nhằm
cải thiện chức năng và tăng cường trách nhiệm của các cấp chính
quyền ngay từ khi nước ta bắt đầu công cuộc Đổi mới. Nội dung này
đã được nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI, sau đó được cụ thể hóa trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban
chấp hành Trung ương khoá VII và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3,
Ban chấp hành Trung ương khoá VIII.55 Nhìn chung, quá trình phân
cấp diễn ra rất chậm trong suốt thập kỷ 1980 và 1990, một phần do xu
hướng muốn giữ các chức năng quản lý nhà nước quan trọng ở chính
54Tiếng Anh là Vector Error Correction Model.
55Tham khảo Lê Xuân Bá và cộng sự (2007).
122
quyền Trung ương và một phần do lo ngại về năng lực thực hiện các
chức năng này ở cấp địa phương. Chỉ từ đầu thập niên 2001, quá
trình phân cấp mới được đẩy nhanh hơn với các định hướng, chính
sách và chương trình cụ thể.56 Đặc biệt, Nghị quyết số 08/2004/NĐ-
CP do Chính phủ ban hành vào tháng 6/2004 (Nghị quyết 08) là một
bước tiến quan trọng trong việc thể chế hoá quá trình phân cấp quản
lý. Nghị quyết này đã quy định sáu lĩnh vực phân cấp cho cấp tỉnh,
bao gồm: (i) phân cấp quản lý quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát
triển; (ii) phân cấp quản lý ngân sách nhà nước; (iii) phân cấp quản
lý đất đai, tài nguyên, tài sản nhà nước; (iv) phân cấp quản lý DNNN;
(v) phân cấp quản lý các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công; và (vi)
phân cấp quản lý về tổ chức bộ máy và cán bộ công chức. Từ năm
2004, các lĩnh vực phân cấp này đã được cụ thể hoá bằng nhiều văn
bản pháp quy, cụ thể là Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Đất đai, Luật
Doanh nghiệp (năm 2005), Luật Đầu tư (năm 2005) v.v…
Theo xu hướng đó, quản lý nhà nước đối với đầu tư công cũng
được tăng cường phân cấp cho các địa phương. Trên thực tế, hoạt
động đầu tư công chịu sự điều tiết của rất nhiều luật như Luật Ngân
sách Nhà nước, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu và Luật Xây dựng. Các
luật này đều thể hiện rõ tinh thần phân cấp quản lý nhà nước đối với
các khía cạnh, lĩnh vực liên quan đến đầu tư công. Đối với hoạt động
đầu tư, tinh thần này thậm chí còn được thể hiện ngay từ năm 1999
tại Nghị định số 52/1999/NĐ-CP, trong đó một trong những nguyên
tắc cơ bản là “Phân định rõ chức năng quản lý của Nhà nước và phân
cấp quản lý về đầu tư ... phù hợp với từng loại nguồn vốn đầu tư và
chủ đầu tư”. Theo đó, các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách Nhà
nước được chia thành 3 nhóm A, B và C tùy theo lĩnh vực và/hoặc
tổng mức vốn, bên cạnh các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội
thông qua và quyết định chủ trương. Tùy theo nhóm dự án mà cấp
thẩm quyền phê duyệt có thể là Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang Bộ, hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân các địa phương
56Đặc biệt là Chương trình tổng thể Cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010 của Chính phủ.
123
(các cấp). Tiêu chí về quy mô vốn của từng nhóm dự án sau đó cũng
được điều chỉnh tăng,57 qua đó làm tăng quyền quyết định các dự án
của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, hoặc địa phương. Quá
trình phân cấp tiếp tục được đẩy mạnh với các thể chế hóa các quy
định trên trong Luật Xây dựng 2003 và Luật Đầu tư năm 2005 cũng
như các nghị định hướng dẫn, chứ không chỉ dừng ở tầm nghị định.
Các quy định phân cấp này cũng gắn liền với phân cấp thẩm quyền
thẩm định đầu tư bởi cấp thẩm quyền nào ra quyết định đầu tư dự án
thì chịu trách nhiệm tổ chức và thẩm định dự án đầu tư (riêng dự án
do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư phải lập Hội đồng thẩm
định dự án).
Về phân cấp chủ đầu tư, theo Nghị định số 112/2006/NĐ-CP
năm 2006, đối với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư
thì chủ đầu tư là một trong các cơ quan, tổ chức sau: Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương
(gọi chung là cơ quan cấp Bộ), Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và
DNNN. Đối với dự án do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư thì chủ đầu tư là
đơn vị quản lý, sử dụng công trình.
Phân cấp ngân sách Nhà nước cũng là một nội dung quan trọng
vì ảnh hưởng đến khả năng bố trí vốn của địa phương hoặc khả năng
đáp ứng vốn đối ứng. Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002 (hiệu lực
từ năm 2004) quy định rõ Ngân sách Nhà nước và Ngân sách Trung
ương do Quốc hội phê duyệt, còn Ngân sách địa phương do Hội đồng
Nhân dân cấp tỉnh phê duyệt. Luật cũng quy định tăng quyền chủ
động hơn cho Uỷ ban Nhân dân các cấp trong điều hành ngân sách
địa phương, cụ thể trong lĩnh vực thu và chi. Để hỗ trợ cho quá trình
phân cấp, Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002 cũng quy định giữ ổn
định cho ngân sách tỉnh trong vài năm, còn một số tỉnh chưa cân đối
được ngân sách sẽ được nhận bổ sung từ Ngân sách Trung ương.
57Theo Nghị định 12/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000.
124
Lĩnh vực đấu thầu cũng được phân cấp; theo đó Thủ tướng
Chính phủ chịu trách nhiệm về nội dung đấu thầu và phê duyệt hoặc
uỷ quyền phê duyệt lựa chọn nhà thầu đối với dự án do Thủ tướng
Chính phủ ra quyết định đầu tư. Các Bộ/ngành và Uỷ ban nhân dân
các tỉnh/thành phố chịu trách nhiệm về công tác đấu thầu đối với các
dự án của đơn vị mình phụ trách.
Cuối cùng, một nhóm đối tượng quan trọng trong các dự án đầu
tư công - các dự án đầu tư xây dựng cơ bản - cũng được tăng cường
phân cấp cho địa phương, nhất là trong giai đoạn 2000-2005. Các
quy định này có tuân theo các quy định liên quan đến phân cấp quản
lý đầu tư công, song cũng gắn thêm với các quy định liên quan đến
phân cấp quản lý đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng. Cụ thể, các Nghị
định số 52/1999/CP và 12/2000/CP, 111/2006/NĐ-CP (sau này thay
thế bởi Nghị định 58/2008/NĐ-CP), 112/2006/NĐ-CP và 16/2005/
NĐ-CP đã làm rõ hơn chức năng quản lý nhà nước, chức năng của
chủ đầu tư, đồng thời đã phân định cụ thể quyền hạn, trách nhiệm của
các cấp, ngành trong từng khâu của toàn bộ chu trình quản lý đầu tư
và xây dựng, nhất là quy hoạch, chuẩn bị đầu tư, thẩm định dự án,
quyết định đầu tư, triển khai thực hiện dự án đầu tư, quản lý đấu thầu,
thanh quyết toán vốn đầu tư, v.v…
Nhìn chung, các quy định phân cấp đã giúp phân định khá rõ
chức năng, nhiệm vụ, nguồn lực thực hiện của các cấp chính quyền
đối với các dự án đầu tư công tùy theo tầm quan trọng, tính chất và/
hoặc quy mô của các dự án này. Điều này giúp giảm tải khối lượng
công việc cho Chính phủ và các cơ quan Trung ương, qua đó tạo điều
kiện thêm cho quá trình hoạch định chính sách ở cấp vĩ mô. Bên cạnh
đó, quá trình phân cấp cũng tạo thêm sự chủ động cho các Bộ, ngành
và địa phương (các cấp) trong việc thực hiện các hoạt động đầu tư
công phù hợp với thẩm quyền và yêu cầu nhiệm vụ của mình.
Tuy vậy, khuôn khổ pháp lý liên quan đến phân cấp quản lý đầu
tư công còn một số hạn chế như sau:
125
Thứ nhất, quá trình phân cấp còn thiếu tính đồng bộ, chưa bảo
đảm sự nhất quán giữa quyền hạn, nhiệm vụ được phân cấp và khả
năng thực thi các quyền đó cũng như trách nhiệm ở các cơ quan được
phân cấp. Ví dụ điển hình nhất là phân cấp về ngân sách chưa gắn
kết với việc đảm bảo các điều kiện để thực hiện. Điều này dẫn đến
một số hệ lụy như: (i) các nhiệm vụ được phân cấp chậm được thực
hiện hoặc thực hiện thiếu hiệu quả; (ii) nhiều dự án do địa phương
phê duyệt song chậm thực hiện hoặc không hoàn thành được để bàn
giao do ngân sách địa phương không bố trí đủ vốn; (iii) gia tăng chi
phí thực hiện dự án so với dự toán được phê duyệt do ngân sách
địa phương chậm bố trí vốn và thời gian thực hiện lâu hơn so với
kế hoạch đề ra; (iv) nợ đọng xây dựng cơ bản trong do địa phương
phê duyệt dự án song không bố trí được vốn, buộc các nhà thầu phải
ứng trước vốn để thực hiện; (v) ít lưu tâm đến theo dõi, đánh giá dự
án (hoặc chỉ làm một cách hình thức) do kinh phí thấp. Thậm chí,
trong lĩnh vực ODA, nhiều tỉnh không có khả năng lo được nguồn
vốn đối ứng dẫn đến việc thực hiện dự án ODA chậm tiến độ so với
kế hoạch.58 Trên thực tế, mặc dù có Luật Ngân sách Nhà nước song
Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân các cấp có khá ít quyền chủ
động, hầu như không thể tự quyết định thu - chi của cấp mình mà
phải tuân theo sự phân bổ và giao dự toán thu - chi, cũng như chế độ
chính sách do Nhà nước quy định. Tiêu chí phân bổ vốn đầu tư 59 đã
được ban hành chính thức tại Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg năm
2006 (áp dụng cho giai đoạn 2007-2010) và Quyết định số 60/2010/
QĐ-TTg năm 2010 (áp dụng cho giai đoạn 2011-2015) nhằm tăng
tính minh bạch và dự báo khả năng chủ động nguồn vốn cho địa
phương, song cũng không có cơ chế giám sát một cách hữu hiệu.
Thứ hai, quy trình quản lý dự án đầu tư tuy đã phân cấp, nhưng
còn bao gồm rất nhiều giai đoạn và thủ tục phức tạp, rườm rà. Phân
cấp được đẩy mạnh ở nhiều khâu cụ thể và có gắn trách nhiệm với
58Lê Xuân Bá và cộng sự (2007).
59Bao gồm dân số, trình độ phát triển, diện tích tự nhiên, số đơn vị hành chính và tiêu chí bổ sung.
126
các cá nhân cụ thể (đặc biệt là người quyết định), song tới khi có
được quyết định vẫn phải qua nhiều cấp kiểm tra, thẩm định. Điều
này dẫn đến nhiều cấp tham gia thẩm định, xét duyệt trong khi quá
trình thẩm định, xét duyệt ở từng cấp còn thiếu thực chất do: (i) nỗ
lực vận động của chủ đầu tư; (ii) quan hệ lồng ghép giữa cơ quan chủ
quản (nhiều khi lại là nơi đưa ra ý tưởng và ý chí thực hiện dự án) và
cơ quan thẩm định, xét duyệt; (iii) thiếu nguồn lực và chuyên môn
liên quan đến thẩm định, nhất là ở cấp địa phương;60 và (iv) cơ quan
thẩm định, xét duyệt cho rằng dự án đã được thẩm định, xét duyệt
nghiêm túc, đúng quy trình ở các cấp trước đó. Theo đó, trách nhiệm
được dàn trải ở rất nhiều cấp và nhiều cá nhân liên quan và về bản
chất là không quy được trách nhiệm cụ thể cho mỗi cá nhân cụ thể
có liên quan; người được phân cấp thực tế vẫn không có thực quyền
quyết định. Như vậy, công tác phân cấp gần như đã được khoán trắng
cho địa phương.61
Một trong những vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến quá trình
phân cấp là không quy định rõ người ra quyết định đầu tư chỉ được
quyết định trong phần ngân sách được giao quản lý - có nghĩa là ra
quyết định đầu tư và tự chịu trách nhiệm bố trí nguồn vốn để thực
hiện, không được quyết định nguồn vốn do cấp khác quản lý. Thực
tế cho thấy có chủ đầu tư ở địa phương quyết định dự án có tổng mức
trên nghìn tỉ đồng, nhưng nguồn vốn lại do Trung ương bố trí. Một
hệ lụy kèm theo là xu hướng phê duyệt các dự án mà không dựa vào
khả năng cân đối vốn, khả năng thực thi, dẫn đến đầu tư phân tán,
dàn trải, buộc Thủ tướng Chính phủ phải ban hành Chỉ thị số 1792/
60Trên thực tế, phí thấm định dự án được quy định ở mức rất thấp. Chẳng hạn, định mức thẩm
chi phí thẩm tra thiết kế kỹ thuật đối với công trình giao thông có yêu cầu thiết kế 3 bước, thiết
kế bản vẽ thi công đối với công trình có yêu cầu thiết kế 2 bước chỉ là 0,129% tổng mức đầu
tư của dự án (nếu dưới 7 tỉ, theo Công văn 1751/BXD-VP của Bộ Xây dựng ngày 14/8/2007).
Định mức chi phí thẩm tra tính hiệu quả và tính khả thi của dự án đầu tư xây dựng công trình
giao thông (dưới 15 tỉ) chỉ là 0,074% tổng mức đầu tư, theo Quyết định số 957/QĐ-BXD của
Bộ Xây dựng ngày 29/9/2009. Trong khi đó, dịch vụ thẩm định dự án đầu tư công lại chưa được
xã hội hóa.
61Xem Võ Đại Lược (2012).
127
CT-TTg năm 2011 nhằm siết chặt hoạt động quản lý (trong đó có phê
duyệt) đầu tư công.
Thứ ba, chưa có quy định cụ thể và các thể chế thực thi hiệu
quả nhằm ngăn chặn tình trạng chia nhỏ dự án để phù hợp với các
cấp có thẩm quyền thấp hơn. Tương tự, một số dự án được xây dựng
với quy mô nhỏ hơn, lược bớt những phần khác nhằm phù hợp với
việc thẩm quyền để tránh đưa lên cấp cao hơn. Trong khi đó, khi các
dự án bị chia nhỏ, chi phí về thời gian và tiền bạc cho việc chuẩn bị
và thực hiện dự án nói chung sẽ bị lặp lại và tăng so với khi chỉ thực
hiện một dự án thống nhất.
Thứ tư, trong quá trình phân cấp, mặc dù có quy định về ứng
vốn đầu tư, nhiều chủ đầu tư đề xuất ứng vốn vượt quá khả năng
trả nợ của địa phương cũng như của các Bộ, ngành. Trong quá trình
triển khai thực hiện các dự án đầu tư, do mong muốn đẩy nhanh tiến
độ, sớm đưa công trình vào sử dụng, nhiều lãnh đạo địa phương yêu
cầu hoặc cho phép các nhà thầu tự bỏ vốn sở hữu hoặc vay vốn ngân
hàng để thi công quá mức số vốn bố trí theo kế hoạch và không có
khả năng trả nợ. Hệ quả là doanh nghiệp gặp khó khăn, nợ xấu của
ngân hàng tăng.
Thứ năm, các quy định về phân cấp quản lý đầu tư công được
thực hiện trong điều kiện thiếu nhiều thể chế hỗ trợ. Chẳng hạn, các
quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch và chiến lược phát
triển ngành được ban hành làm nền tảng cho nhiều dự án đầu tư
công, song chưa bảo đảm đủ cơ sở để có các dự án này theo một lộ
trình hiệu quả (cả về kinh tế - xã hội), khả thi (về bố trí nguồn lực,
đặc biệt là vốn). Chính vì vậy, trong cùng một ngành, đôi khi dự án
kém hiệu quả hơn lại được phê duyệt và thực hiện trước trong khi dự
án hiệu quả hơn lại được phê duyệt sau, thậm chí không được phê
duyệt. Thậm chí, một số quy hoạch dường như còn nhằm hợp thức
hóa các ý tưởng dự án đầu tư công đã có sẵn, thay vì tạo nền tảng
khách quan, khoa học để xây dựng các dự án đầu tư công phù hợp.
128
Bên cạnh đó là các hạn chế về thông tin liên quan, thiếu các tiêu
chí chuẩn để lựa chọn dự án dẫn đến xây dựng danh mục dự án quá
nhiều nhưng không phù hợp với khả năng về vốn, thời gian, trình độ
quản lý.62
Thứ sáu, sự phối hợp giữa các bộ ngành trong việc ban hành
các quy định không hiệu quả, dẫn đến “xung đột” chính sách, đúng
với Bộ này nhưng lại sai với Bộ kia; hoặc cùng một vấn đề nhưng
hướng dẫn thực hiện khác nhau v.v… Bên cạnh đó, vấn đề tư duy
nhiệm kỳ (thực chất là vấn đề lợi ích) cũng dẫn đến vốn đầu tư dàn
trải, lãng phí và không hiệu quả.
Cuối cùng, nội dung phân cấp quản lý đầu tư và xây dựng
được quy định trong quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác
nhau cũng có thể gây tác động ngược đến hiệu quả sử dụng vốn.
Như đã trình bày ở trên, ngay ở cấp Nghị định cũng có nhiều văn
bản còn hiệu lực, có văn bản còn hiệu lực một phần, chưa kể các
văn bản hướng dẫn dưới Nghị định. Điều này làm tăng chi phí thực
hiện các nội dung quản lý được phân cấp do phải theo dõi nhiều nội
dung khác nhau tại nhiều văn bản khác nhau. Trong khi đó, việc bổ
sung, chỉnh sửa các văn bản liên quan (ngay cả các Luật) cũng khó
làm tăng tính đồng bộ bởi do không được thực hiện song song. Như
đã trình bày ở trên, hoạt động đầu tư công có thể chịu sự điều chỉnh
của rất nhiều Luật, song các Luật này không được sửa đồng thời nên
chưa cải thiện được tính đồng bộ63.
Điều phối các dự án đầu tư công
Một phương diện đáng quan tâm nữa là việc điều phối các
dự án đầu tư công, nhất là công tác điều phối ở cấp vùng và cấp cả
62Ngay cả với các dự án ODA do khó khăn nguồn vốn, nên nhiều bộ, địa phương không có đủ
vốn đối ứng để thực hiện.
63Chính phủ đang giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì soạn thảo Luật Đầu tư công, dự kiến trình
Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 7 vào tháng 5/2014. Dự thảo Luật vào tháng 8/2013
đề xuất Thủ tướng quyết định chủ trương đầu tư các dự án nhóm A, thay vì các Bộ, ngành, địa
phương theo quy định hiện hành. Đây không phải là quy định mang tính đảo ngược phân cấp,
mà thực chất giúp tăng hiệu quả phân cấp bởi nhiều dự án nhóm A có quy mô rất lớn và vượt
quá khả năng bố trí vốn của các Bộ, ngành, địa phương.
129
nước. Về nguyên tắc, công tác điều phối này được quy định ở vai trò
của Chính phủ, các Ban Chỉ đạo phát triển vùng, các Bộ, ngành liên
quan - thể hiện ở chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan này cũng như
tại các quy hoạch, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
của cả nước và các ngành. Tuy nhiên, các quy định pháp lý và thực
trạng vai trò của các Bộ, ngành chỉ dừng ở mức thẩm định, xem xét
và đánh giá xem một dự án đầu tư công có thực hiện đủ quy trình, có
phù hợp với các quy hoạch, chiến lược, kế hoạch hiện có hay không.
Thậm chí, việc điều phối này chỉ giới hạn (trực tiếp hoặc gián tiếp)
thông qua cân đối vốn để thực hiện các dự án đầu tư công. Trong khi
đó, công tác điều phối trong nhiều trường hợp chưa được thể hiện
ở việc xem xét hai hay nhiều dự án được trình trong cùng một giai
đoạn thời gian nhằm lựa chọn dự án phù hợp nhất với các quy hoạch,
chiến lược, kế hoạch hiện có và có tính khả thi cao nhất.
Kết quả là nhiều dự án cùng loại đã được phê duyệt một cách
dễ dãi ở rất nhiều địa phương trong cả nước, thậm chí cả ở các địa
phương lân cận nhau. Chẳng hạn, trong hơn 20 năm qua, nhiều cảng
nước sâu đã được hình thành suốt dọc bờ biển phía đông của Việt
Nam (Hình 4.3). Mặc dù góp phần không nhỏ trong việc phát triển
kinh tế nói chung và xuất nhập khẩu của các địa phương, hệ thống
cảng nước sâu quá dày đặc cũng cho thấy một sự lãng phí về vốn
đầu tư công. Việc giải thích cho mức độ dày đặc các cảng nước sâu
ở Duyên hải miền Trung (từ Thanh Hóa đến Ninh Thuận) là điều
không đơn giản, song trước đó mỗi dự án này đều khả thi và có hiệu
quả (nếu không tính đến các dự án khác). Toàn bộ những cảng này
đều do nhà nước đầu tư từ nguồn ngân sách Trung ương hoặc ngân
sách địa phương, gây ra lãng phí lớn trong điều kiện tiềm lực còn eo
hẹp - trong khi lẽ ra các khoản vốn này có thể được sử dụng cho các
mục đích khác. Mạng lưới dày đặc khiến các cảng phải cạnh tranh
gay gắt với nhau và trong bối cảnh quy mô hoạt động thương mại
chưa đủ lớn, hầu hết các cảng đều có công suất sử dụng ở mức thấp.
Mật độ các cảng quá dày đặc song nước ta lại quá thiếu những cảng
130
có quy mô lớn với hệ thống logistics thuận tiện để có thể tiếp nhận
được những tàu lớn hoặc những tàu chuyên dụng.64
Rõ ràng, sự trùng lặp của nhiều dự án đầu tư công trong cùng
một lĩnh vực cho thấy thiếu hiệu quả điều phối của các dự án này ở
cấp vùng. Điều này khiến từng dự án đáp ứng đúng về quy trình (kể
cả khâu thẩm định) song công tác thẩm định, xét duyệt lại chưa được
đúng yêu cầu. Một trong những nguyên nhân quan trọng là thiếu thể
chế điều phối đủ mạnh và theo dõi công việc đủ sát sao ở cấp vùng.
Mặc dù nhiều quy hoạch vùng kinh tế, xã hội, vùng kinh tế trọng
điểm được phê duyệt, nhưng không có bộ máy ở Trung ương, hay bộ
máy cấp vùng để thực thi một cách triệt để. Tiêu chí đánh giá kết quả
hoạt động của các cấp chính quyền nhiều mặt chưa sát với thực tế,
còn nặng về kinh tế, lo tăng thu cho ngân sách địa phương (có phần
do Luật Ngân sách Nhà nước quy định), dẫn đến tình trạng không
gian kinh tế bị chia cắt theo quản lý hành chính, không được điều
phối tạo ra sức mạnh tổng thể. Bên cạnh đó, nhiều lý do khách quan
và hạn chế năng lực, tầm nhìn có thể được đưa ra nhằm giải thích cho
hiệu quả điều phối thấp. Chính vì vậy, hiệu quả của phân cấp, phân
quyền đối với quản lý đầu tư công còn thấp và làm giảm đóng góp
của đầu tư công đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.
Giám sát và đánh giá đầu tư công
Trong một thời gian dài, nước ta thiếu các quy định cụ thể liên
quan đến giám sát và đánh giá dự án đầu tư công, dù trong các quy
định về phân cấp có gắn việc theo dõi, giám định và đánh giá cho
các cơ quan được phân cấp thẩm quyền quyết định đầu tư. Chỉ đến
cuối năm 2009, Chính phủ mới có Nghị định số 113/2009/NĐ-CP65
về giám sát và đánh giá đầu tư, áp dụng cho các cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp và hoạt động giám
sát, đánh giá đầu tư. Từ giữa năm 2010, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã
64Xem Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2013).
65Hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2010.
131
có Thông tư số 13/2010/TT-BKH quy định mẫu báo cáo giám sát,
đánh giá đầu tư. Tuy nhiên, việc thực hiện báo cáo giám sát, đánh giá
đầu tư nhìn chung còn chậm. Trong khi đó, ngay cả các báo cáo đã
gửi vẫn có những nội dung thiếu phù hợp do chưa hiểu đúng và chưa
nắm được vấn đề. Điều này phần nào hạn chế công tác chỉ đạo, điều
chỉnh phương hướng điều hành và tháo gỡ khó khăn cho hoạt động
đầu tư công. Nói cách khác, việc phân cấp quản lý nhà nước đối với
quản lý đầu tư công chưa đi kèm với những chế tài đủ mạnh nhằm
bảo đảm kỷ luật thông tin phục vụ giám sát, đánh giá đầu tư.
Bảng 4.3. Tỉ lệ gửi báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư
Giám sát, đánh giá đầu tư cho năm
Tỉ lệ gửi báo cáo
2010 2011 2012
Đến ngày 20/1 (năm tiếp theo) 16,1%
Hết kỳ báo cáo vào quý I (năm tiếp theo) 90,3% 88,71% 96,75%
Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Trong khi đó, nước ta hầu như chưa có các quy định, hướng dẫn
cụ thể về phương pháp liên quan đến đánh giá hiệu quả dự án đầu tư
công. Chỉ có các dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA) có thực hiện các tiêu chí và hướng dẫn đánh giá chính thức,
chủ yếu do yêu cầu của phía nhà tài trợ. Trong khi đó, với các dự án
đầu tư và xây dựng trong nước, việc đánh giá (trong đó có đánh giá
giữa kỳ và sau khi hoàn thành dự án) cũng thuộc thẩm quyền của đơn
vị có thẩm quyền ra quyết định đầu tư. Điểm tích cực của các quy
định này là tạo sự đồng bộ giữa việc phân cấp thẩm quyền ra quyết
định đầu tư và phân cấp đánh giá dự án - bởi các đơn vị được phân cấp
là các đơn vị theo dõi sát sao nhất và có nhiều thông tin nhất về dự án.
Tuy nhiên, xét về logic thì rất ít cơ quan đánh giá những dự án thuộc
thẩm quyền được phân cấp mà mình ra quyết định đầu tư là thiếu hiệu
quả hoặc không tuân thủ đúng các quy hoạch, kế hoạch đề ra. Việc
điều chỉnh thể chế đánh giá (trong đó có phân cấp đánh giá) là không
dễ bởi khối lượng công việc tương đối nhiều trong khi sự thiếu đồng
132