Chọn giống thuốc lá lai có năng suất cao, chất lượng tốt phục vụ sản xuất nguyên liệu

  • 39 trang
  • file .pdf
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN
VIỆN KINH TẾ KỸ THUẬT THUỐC LÁ
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
CHỌN GIỐNG THUỐC LÁ LAI CÓ NĂNG SUẤT CAO,
CHẤT LƯỢNG TỐT PHỤC VỤ SẢN XUẤT
NGUYÊN LIỆU CHO NHU CẦU TIÊU DÙNG
TRONG NƯỚC VÀ XUẤT KHẨU
Chủ nhiệm đề tài: TS. Tào Ngọc Tuấn
8296
HÀ NỘI, THÁNG 12 NĂM 2010
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN
VIỆN KINH TẾ KỸ THUẬT THUỐC LÁ
Đề tài: CHỌN GIỐNG THUỐC LÁ LAI CÓ NĂNG SUẤT
CAO, CHẤT LƯỢNG TỐT PHỤC VỤ SẢN XUẤT
NGUYÊN LIỆU CHO NHU CẦU TIÊU DÙNG
TRONG NƯỚC VÀ XUẤT KHẨU
Thực hiện theo hợp đồng đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ
sự nghiệp công nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ số
193.10.RD/HĐ-KHCN ngày 15 tháng 3 năm 2010 giữa Bộ Công
Thương và Công ty TNHH một thành viên Viện Kinh tế Kỹ thuật
Thuốc lá
Chủ nhiệm đề tài: TS. Tào Ngọc Tuấn
Những người thực hiện chính: ThS. Nguyễn Văn Lự
KS. Nguyễn Văn Nghĩa
KS. Nguyễn Hồng Thái.
HÀ NỘI, THÁNG 12 NĂM 2010
1
MỞ ĐẦU
Diện tích trồng thuốc lá của nước ta hiện nay ở mức 25.000 – 30.000 ha
và sản lượng nguyên liệu ở mức 40.000 – 45.000 tấn mỗi năm. Nguyên liệu
thuốc lá được sản xuất trong nước mới đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu
nguyên liệu cho sản xuất thuốc điếu. Hàng năm, ngành thuốc lá vẫn phải nhập
khẩu một lượng đáng kể nguyên liệu từ các nước trên thế giới và nguyên liệu
trong nước cũng được xuất khẩu với số lượng đến chục ngàn tấn. Sản xuất thuốc
lá vẫn là một lĩnh vực kinh tế cần thiết khi ngành thuốc lá Việt Nam đóng góp
cho ngân sách Nhà nước trên bảy ngàn tỷ đồng mỗi năm. Hiện nay thuốc lá
nguyên liệu sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu cho các nhà máy
thuốc điếu, mặt khác nhu cầu nguyên liệu cho xuất khẩu khá lớn nên Chính phủ
khuyến khích phát triển sản xuất nguyên liệu trong nước. Chiến lược phát triển
Ngành thuốc lá Việt Nam đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt, trong đó
nhấn mạnh chủ chương phát triển thuốc lá nguyên liệu để hạn chế nhập khẩu,
tăng cường xuất khẩu, tạo công ăn việc làm và nâng cao hiệu quả kinh tế cho
nông dân trồng thuốc lá. Vùng trồng thuốc lá của Việt Nam tập trung chủ yếu tại
các tỉnh miền núi, nên việc phát triển cây thuốc lá tại đây sẽ hiện thực hoá chủ
trương của Đảng và Nhà nước “Xóa đói, giảm nghèo” cho đồng bào các dân tộc
miền núi khó khăn.
Thuốc lá nguyên liệu vàng sấy (Virginia) là dạng thuốc lá chính, chiếm
trên 90% diện tích trồng thuốc lá tại nước ta. Vùng trồng thuốc lá vàng sấy trải
dài từ các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn qua các tỉnh duyên
hải miền Trung, các tỉnh Tây nguyên đến các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai ở miền
Đông Nam bộ. Tuy nhiên, số lượng giống thuốc lá còn rất hạn chế. Ngoài các
giống thuốc lá C.176, K.326 được nhập nội từ những năm 1990 thì bộ giống
thuốc lá vàng sấy mới được bổ sung thêm các giống C7-1, C9-1, A7, K.149 và
VTL5H. Trong số các giống mới trên chỉ có các giống C7-1, C9-1 và VTL5H do
Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá lai tạo và chọn lọc đang được phát triển nhanh
trong sản xuất. Công tác nhập nội giống đã được triển khai trong những năm qua
nhưng kết quả đánh giá tuyển chọn chưa xác định được giống tốt, phù hợp với
điều kiện sinh thái các vùng trồng tại nước ta. Việc tiếp tục triển khai công tác
lai tạo và chọn giống thuốc lá là hết sức cần thiết nhằm tạo ra một bộ giống
thuốc lá phong phú hơn về các đặc tính nông sinh học để mỗi vùng trồng có bộ
giống thích hợp với điều kiện sinh thái; mỗi hộ trồng lựa chọn được giống thích
hợp với điều kiện canh tác nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.
Nhằm chọn lọc và phát triển các giống thuốc lá mới phục vụ sản xuất
nguyên liệu cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, chúng tôi tiến hành
đề tài: “Chọn giống thuốc lá lai có năng suất cao, chất lượng tốt phục vụ sản
xuất nguyên liệu cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu”
2
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU............................................................................................................... 2
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT........................................ 5
TÓM TẮT NHIỆM VỤ ........................................................................................ 6
1. Phương pháp thực hiện nhiệm vụ...................................................................... 6
2. Kết quả đạt được ............................................................................................... 6
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................... 7
1.1. Tình hình nghiên cứu về giống thuốc lá ở nước ngoài .................................. 7
1.2. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống thuốc lá ở trong nước......................... 8
Chương 2: THỰC NGHIỆM............................................................................... 10
2.1. Mục tiêu của đề tài ....................................................................................... 10
Mục tiêu dài hạn .................................................................................................. 10
2.2. Nội dung nghiên cứu .................................................................................... 10
2.3. Vật liệu nghiên cứu ...................................................................................... 10
2.4. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................. 11
2.5. Địa điểm nghiên cứu .................................................................................... 12
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN............................................................ 13
3.1. Kết quả khảo nghiệm cơ bản một số dòng và tổ hợp lai mới ...................... 13
3.1.1. Kết quả khảo nghiệm cơ bản một số dòng và tổ hợp lai mới tại Cao Bằng
............................................................................................................................. 13
3.1.2. Kết quả khảo nghiệm sinh thái một số dòng và tổ hợp lai mới tại Lạng
Sơn....................................................................................................................... 19
3.2. Kết quả khảo nghiệm sản xuất các tổ hợp lai GL6, GL7 tại Cao Bằng, Lạng
Sơn....................................................................................................................... 25
3.2.1. Sinh trưởng và phát triển của các tổ hợp lai ............................................. 25
3.2.2. Mức độ sâu bệnh hại các tổ hợp lai GL6, GL7......................................... 28
3.2.3. Năng suất của các tổ hợp lai GL6, GL7.................................................... 29
3.2.4. Đánh giá chất lượng của các tổ hợp lai GL6, GL7 ................................... 30
3.3. Tạo các dòng mẹ bất dục đực mới theo hướng đa dạng hoá nguồn gen bất
dục đực. ............................................................................................................... 32
3.3.1. Duy trì các dòng bất dục đực nguồn tế bào chất từ RGH4 ....................... 33
3
3.3.2. Tạo các dòng bất dục đực mới với nguồn tế bào chất từ K.326TQ.......... 33
3.4. Lai tạo hạt lai của một số tổ hợp lai mới có triển vọng ............................... 34
3.5. Sản xuất hạt lai của các tổ hợp lai GL6, GL7 .............................................. 35
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................................. 36
1. Kết luận ........................................................................................................... 36
2. Kiến nghị ......................................................................................................... 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................... 38
PHỤ LỤC ............................................................................................................ 39
4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CMV : Virus khảm lá dưa chuột (Cucumber Mosaic Virus)
HRVK : Bệnh héo rũ vi khuẩn
LSD0,05 : Mức chênh lệch nhỏ nhất có ý nghĩa với độ tin cậy 95%
NST : Ngày sau trồng
TLCV : Virus xoăn lá thuốc lá (Tobacco Leaf Curl Virus)
TMV : Virus khảm lá thuốc lá (Tobacco Mosaic Virus)
5
TÓM TẮT NHIỆM VỤ
1. Phương pháp thực hiện nhiệm vụ
Để chọn tạo các giống thuốc lá mới có tiềm năng năng suất cao, chất
lượng nguyên liệu tốt, kháng khá đối với một số bệnh hại chính đáp ứng nhu cầu
sản xuất đề tài đã áp dụng các phương pháp chọn giống chính sau:
1. Tạo các tổ hợp lai theo định hướng kết hợp các ưu điểm của các dạng bố
mẹ;
2. Tạo các dòng mẹ bất dục đực cho sản xuất hạt lai theo phương pháp lai
trở lại;
3. Đánh giá F1 để chọn lọc tổ hợp lai tốt cho phát triển giống lai; chọn lọc
dòng qua các thế hệ phân ly để phát triển giống thuần theo phương pháp
phả hệ;
4. Khảo nghiệm các dòng và tổ hợp lai tốt tại các vùng trồng.
2. Kết quả đạt được
1. Kết quả khảo nghiệm cơ bản tại Cao Bằng đã xác định được tổ hợp lai
C9-1 x CB2 và dòng D62 đạt năng suất rất cao (>26 tạ/ha). Các dòng và các tổ
hợp lai có tỷ lệ lá cấp 1+2 cao hơn giống đối chứng C.176, có tổng điểm bình
hút đạt trên 41 điểm - ở mức tính chất hút tốt.
2. Kết quả khảo nghiệm cơ bản tại Lạng Sơn đã xác định được tổ hợp lai
C9-1 x CB2 và 3 dòng D2, D7, D62 có năng suất cao vượt trội so với giống đối
chứng K.326, các yếu tố chất lượng ở mức tương đương là những giống có triển
vọng.
3. Kết quả khảo nghiệm sản xuất đối với các tổ hợp lai GL6, GL7 tại Cao
Bằng và Lạng Sơn cho thấy: Các tổ hợp lai này có năng suất cao vượt trội so với
giống đối chứng (vượt từ 27,9% tại Cao Bằng đến 44,2% tại Lạng Sơn). Các yếu
tố chất lượng như tỷ lệ lá cấp 1+2, thành phần hóa học nguyên liệu và tính chất
hút tốt ở mức tương đương so với các giống đối chứng C.176, K.326.
4. Đã lai duy trì các dòng bất dục với nguồn tế bào chất RGH4 của các
giống C.176, K.346, K.399, C7-1, C9-1, D81 với lượng hạt trên 50 g/dòng, đủ
cho việc sử dụng làm dòng mẹ trong sản xuất hạt lai thương mại.
5. Đã lai để tạo các dòng bất dục đực với nguồn tế bào chất từ giống
K.326 của Trung Quốc và thu được hạt F1BC2, F1BC3, F1BC5 của 5 giống thuốc
lá K.326, RG.8, C7-1, C9-1, D81 với số lượng trên 10 g/dòng.
6. Đã lai tạo được hạt lai của 27 tổ hợp lai mới với lượng hạt thu được từ
0,4 – 11,1g/tổ hợp. Lượng hạt lai này đủ cho đánh giá F1 để chọn lọc giống lai
và chọn lọc giống thuần ở các thế hệ phân ly.
7. Đã sản xuất được hạt lai của các tổ hợp có triển vọng GL6, GL7 với
lượng hạt thu được trên 500 g/tổ hợp lai, đủ cung cấp cho khảo nghiệm diện
rộng với quy mô hàng chục ha/giống.
6
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu về giống thuốc lá ở nước ngoài
Để có một bộ giống thuốc lá tốt, đáp ứng nhu cầu sản xuất, nhiều nước
trồng thuốc lá đã tiến hành các chương trình lai tạo giống mới nhằm tạo ra các
giống tốt, thích hợp với điều kiện sinh thái riêng của mỗi nước.
Mỹ là quốc gia có nhiều cơ sở nghiên cứu triển khai công tác chọn tạo
giống thuốc lá phục vụ cho sản xuất từ nhiều năm qua. Bên cạnh các cơ sở đào
tạo như Đại học Carolina Bắc, Đại học Clemson, nhiều công ty giống như Cross
Creek Seeds, Gold Leaf Seeds, F. W. Rickard Seeds, Speight Seed Farms,
Gwynn Farms, Raynor Seed Company... cũng đầu tư rất lớn nguồn lực cho công
tác lai tạo và phát triển các giống thuốc lá mới. Hệ thống khảo nghiệm giống
quốc gia hàng năm tiến hành công tác khảo nghiệm đánh giá hàng chục giống
thuốc lá mới được lai tạo và khuyến cáo sử dụng giống cho người trồng thuốc lá.
Tại Bang Carolina Bắc, có hàng chục giống thuốc lá được sử dụng trong sản
xuất. Với bộ giống thuốc lá phong phú, người trồng thuốc lá tại Mỹ đã lựa chọn
được giống thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và khả năng thâm canh
để giảm thiểu những rủi ro do bệnh hại. Các giống thuần K326, K346 được tạo
ra từ những năm 80 của thế kỷ trước nhưng vẫn được sử dụng rộng rãi với tỷ lệ
diện tích đáng kể do chất lượng nguyên liệu tốt. Tuy nhiên giống thuốc lá lai
đang được phát triển mạnh và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Nếu như ở niên vụ
1996 giống lai chưa có diện tích đáng kể thì đến năm 2009 riêng 5 giống lai đã
chiếm 56% diện tích trồng thuốc lá tại đây [9][11].
Công tác giống thuốc lá tại Braxin chủ yếu do Công ty giống thuốc lá
Profigen triển khai bao gồm các công việc từ lai tạo, chọn lọc, đánh giá khảo
nghiệm và sản xuất, cung ứng giống không chỉ cho Braxin mà chào bán khắp
nơi trên thế giới. Giai đoạn trước năm 1995, Braxin chủ yếu phát triển các giống
thuần và đã cung cấp các giống PV01, PV03, PV09 cho sản xuất. Tuy nhiên các
giống này không còn được sản xuất trong những năm gần đây. Sau năm 1995,
Công ty Profigen chủ yếu phát triển giống thuốc lá lai và đang cung ứng cho sản
xuất bộ giống lai khá phong phú như PVH03, PVH09, PVH19, PVH20,
PVH50, PVH51, PVH156, PVH2110. Bên cạnh đó nhiều giống lai mới có triển
vọng đang được bổ sung vào bộ giống đã có như PVH2239, PVH2241,
PVH2254, PVH2259, PVH2274, PVH2275, PVH2299, PVH2306 [6].
Tại Zimbabuê, công tác giống thuốc lá chủ yếu do Viện nghiên cứu thuốc
lá Kutsaga có trụ sở tại Harage đảm nhận. Trong thập niên 80 của thế kỷ 20 một
số giống thuốc lá thuần do Viện này lai tạo, chọn lọc được phổ biến trong sản
xuất như Kutsaga 51, Kutsaga E1, Kutsaga 51E, KM 10, KM 110. Từ thập niên
90 Zimbabuê chủ yếu chọn tạo và phát triển các giống thuốc lá lai. Hàng loạt
các giống lai đã được đưa vào sản xuất như như RK1, RK3, RK6, K.34, K.35,
K.36. Bên cạnh đó hàng loạt giống lai mới đang được khảo nghiệm như K
RK22, K RK23, K RK26, K RK27, K RK28, K 30R, T29, T60, T61, T62, T64,
T65, T66 [7][10]
Trung Quốc là quốc gia có nền sản xuất thuốc lá lớn nhất thế giới. Công
tác nghiên cứu phục vụ sản xuất thuốc lá nguyên liệu được triển khai rất hệ
7
thống và được đầu tư rất lớn về con người và cơ sở vật chất. Riêng về giống
thuốc lá, hàng loạt Viện nghiên cứu thuốc lá đặt tại các tỉnh và nhiều trường đại
học tham gia công tác lai tạo chọn lọc. Bên cạnh đó, Trung tâm giống thuốc lá
phía Nam tại Vân Nam và Trung tâm giống thuốc lá phía Bắc tại Sơn Đông
đóng vai trò chủ đạo trong việc sản xuất và cung ứng giống cho các vùng trồng.
Với đặc tính chất lượng tốt, giống thuốc lá K.326 có nguồn gốc từ Mỹ vẫn
chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất nguyên liệu tại Trung Quốc. Các cơ sở
chọn tạo giống thuốc lá đã lai tạo ra nhiều giống mới phù hợp với điều kiện các
vùng trồng. Các giống Vân Nam 85, Vân Nam 87 chiếm khoảng 40% diện tích
trồng thuốc lá tại Trung Quốc. Một số giống như Giống số 2, Hồng hoa Đại Kim
Nguyên, Trung thuốc 100, Hà Nam số 5 và các giống lai VS202, VS203 chiếm
diện tích trồng thuốc lá đáng kể tại Trung Quốc [3].
Trong những năm gần đây, phát triển các giống lai đã được nhiều nước
sản xuất thuốc lá tiên tiến trên thế giới quan tâm và đầu tư nghiên cứu. Các nhà
chọn giống đang khai thác hiệu quả ưu thế lai hay là sự vượt trội của tổ hợp lai
so với các dạng bố mẹ về các mặt năng suất, chất lượng và khả năng thích ứng.
Các cơ sở nghiên cứu và các công ty giống ở Mỹ, Braxin, Zimbabuê, Pháp,
Trung Quốc,.. đã tung ra sản xuất hàng loạt giống lai mới với những ưu điểm nổi
bật về tính kháng và khả năng thích nghi. Giống lai đã phát triển trên diện rộng
và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu giống thuốc lá của các
nước[8][12]. Bằng việc sử dụng các giống lai, các cơ sở chọn tạo giống tự bảo
vệ được quyền tác giả còn các nhà quản lý có thể thực thi kế hoạch sản xuất các
chủng loại nguyên liệu qua cơ cấu giống phát ra.
1.2. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống thuốc lá ở trong nước
Công tác chọn tạo giống thuốc lá mới được Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc
lá triển khai ở nước ta từ năm 1996 theo hướng chọn tạo giống thuần khi thực tế
sản xuất cần có các giống mới đáp ứng nhu cầu sản xuất. Qua lai tạo và chọn lọc
ở các thế hệ phân ly đã chọn được một số dòng có triển vọng với khả năng sinh
trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng tốt. Các dòng thuốc lá C7-1,
C9-1 đã được Bộ NN&PTNT công nhận giống chính thức vào năm 2004 và
dòng D81 được công nhận giống cho sản xuất thử với tên giống VTL81 trong
năm 2008[1] .
Trong những năm qua, công tác chọn tạo giống thuốc lá lai do Viện Kinh
tế Kỹ thuật Thuốc lá thực hiện đã đạt được kết quả ban đầu với việc xác định
được các tổ hợp lai tốt và tạo ra các dòng mẹ bất dục đực phục vụ công đoạn sản
xuất hạt lai [2]. Các giống lai A7, VTL5H đã được công nhận giống chính thức
và giống VTL1H được công nhận tạm thời [4]. Nhằm xây dựng một bộ giống
thuốc lá phong phú để mỗi vùng trồng có thể chọn được giống thích hợp, công
tác giống cần tiếp tục theo hướng tạo các giống thuốc lá lai có tính thích nghi
rộng, năng suất và chất lượng cao, kháng các bệnh hại chính.
Kết quả khảo nghiệm sản xuất ba tổ hợp lai GL1, GL2, GL3 trong các vụ
xuân 2006, 2007 đã xác định được tổ hợp lai GL1, GL2 có năng suất cao, chất
lượng tốt, kháng một số bệnh hại chính. Các tổ hợp lai này đã được khảo
8
nghiệm diện rộng với quy mô hàng chục ha/tổ hợp lai trong các vụ xuân 2009 -
2010 tại Hà Quảng – Cao Bằng và Võ Nhai – Thái Nguyên. Kết quả khảo
nghiệm cho thấy các tổ hợp lai này có sức sinh trưởng khoẻ, cho năng suất cao
vượt trội so với giống đối chứng K.326, chất lượng nguyên liệu tốt và đặc biệt
thể hiện tính kháng bệnh khảm lá do TMV tại Thái Nguyên.
Kết quả khảo nghiệm sản xuất đối với các tổ hợp lai có triển vọng GL4,
GL5 trong các vụ xuân 2008 - 2009 tại Cao Bằng và Lạng Sơn cho thấy, các tổ
hợp lai này có năng suất vượt trội so với giống đối chứng: vượt giống C.176 từ
18,1 đến 13,1% tại Cao Bằng và vượt giống K.326 từ 13,7 đến 9,2% tại Lạng
Sơn. Các tổ hợp lai có tỷ lệ lá cấp 1+2 cao hơn so với giống đối chứng C.176 tại
Cao Bằng và ở mức tương đương so với giống K.326 tại Lạng Sơn. Nguyên liệu
của các tổ hợp lai đều có tính chất hút tốt. Tổ hợp lai GL4 có tổng điểm bình hút
nổi trội tại Lạng Sơn trong khi tổ hợp lai GL5 có tổng điểm bình hút nổi trội tại
Cao Bằng. Các tổ hợp lai này có thể được khảo nghiệm diện rộng để từng bước
phát triển trong sản xuất.
Thực tế sản xuất thuốc lá nguyên liệu những năm qua cho thấy một vài
nguồn giống địa phương như CB1, CB2, LS tuy còn những hạn chế về chất
lượng và tính kháng bệnh nhưng thể hiện khả năng thích nghi tốt với điều kiện
vụ xuân sớm ở các tỉnh miền núi phía Bắc: chịu rét, ít bị bệnh đốm lá. Việc
nghiên cứu để kết hợp các ưu điểm này của các giống địa phương với các đặc
tính tốt về năng suất, chất lượng hoặc khả năng kháng bệnh của một số nguồn
giống nhập nội đã bước đầu được thực hiện. Kết quả khảo nghiệm sinh thái
trong các năm 2008 - 2009 tại Cao Bằng và Lạng Sơn đã cho thấy: Các tổ hợp
lai C.176 x CB2, C.176 x LS có năng suất trên 25 tạ/ha và ở mức cao vượt trội
so với các giống đối chứng C.176, K.326. Các tổ hợp lai này ít bị nhiễm bệnh
đốm lá, có tỷ lệ lá cấp 1+2 cao và tính chất hút tương đương các giống đối
chứng C.176, K.326. Các tổ hợp lai này cần được khảo nghiệm sản xuất để đánh
giá phản ứng của giống ở điều kiện thí nghiệm ô lớn.
Trong những năm qua, việc đánh giá các tổ hợp lai mới được tạo ra khi sử
dụng các giống nhập nội và các giống thuốc lá địa phương làm dạng bố mẹ đã
xác định được một số tổ hợp lai tốt như RG.17 x CB1, C9-1 x CB1, C9-1 x
CB2. Kết quả lai tạo và chọn lọc các dòng thuốc lá mới cũng đã sơ bộ xác định
được một số dòng có triển vọng. Các dòng và các tổ hợp lai này cần được khảo
nghiệm tại các vùng trồng nhằm đánh giá tính thích nghi và khả năng của chúng
trong sản xuất thuốc lá nguyên liệu.
Nhằm phục vụ hiệu quả công tác phát triển các giống thuốc lá lai trong
những năm tiếp theo thì bên cạnh việc chọn lọc các dòng và tổ hợp lai tốt cần
thiết phải tạo dòng bất dục đực của các giống có khả năng được sử dụng làm
dạng mẹ để sản xuất hạt lai theo hướng đa dạng nguồn tế bào chất là cơ sở để
phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra trong sản xuất.
9
Chương 2: THỰC NGHIỆM
2.1. Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu dài hạn
Chọn tạo các giống thuốc lá mới có tiềm năng năng suất cao, chất lượng
nguyên liệu tốt, kháng khá đối với một số bệnh hại chính như đen thân, héo rũ vi
khuẩn, khảm lá TMV.
Mục tiêu năm 2010
- Đánh giá được khả năng thích nghi, năng suất, chất lượng, mức độ nhiễm
bệnh hại của 3 dòng và 3 tổ hợp lai mới ở điều kiện khảo nghiệm cơ bản tại Cao
Bằng, Lạng Sơn.
- Đánh giá được khả năng năng suất, chất lượng, mức độ nhiễm bệnh hại
của các tổ hợp lai GL6, GL7 ở điều kiện khảo nghiệm sản xuất tại Cao Bằng,
Lạng Sơn.
- Lai tạo hạt lai của một số tổ hợp lai mới và lai tạo dòng bất dục phục vụ
phát triển giống lai.
2.2. Nội dung nghiên cứu
Nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra, đề tài thực hiện các nội dung nghiên
cứu sau trong năm 2010:
- Khảo nghiệm cơ bản (khảo nghiệm sinh thái) 03 dòng và 03 tổ hợp lai mới
tại Cao Bằng, Lạng Sơn.
- Khảo nghiệm sản xuất các tổ hợp lai có triển vọng GL6, GL7 tại Cao Bằng,
Lạng Sơn.
- Lai tạo các dòng mẹ bất dục đực mới theo hướng đa dạng hoá nguồn gen bất
dục đực nhằm tránh các rủi ro trong sản xuất tại Bảo Sơn - Bắc Giang.
- Lai tạo hạt lai của một số tổ hợp lai mới tại Bảo Sơn - Bắc Giang.
- Sản xuất hạt lai của các tổ hợp lai có triển vọng GL6, GL7 tại Bảo Sơn - Bắc
Giang.
2.3. Vật liệu nghiên cứu
*Vật liệu để khảo nghiệm sinh thái: 3 tổ hợp lai được tạo ra bởi các giống
thuốc lá địa phương CB1, CB2 có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt và
3 dòng thuốc lá mới có triển vọng bao gồm RG.17 x CB1, C9-1 x CB1, C9-1 x
CB2, D2, D7, D62.
*Vật liệu để khảo nghiệm sản xuất: các tổ hợp lai có triển vọng C.176 x
CB2, C.176 x LS với các ký hiệu GL6, GL7. Đây là những tổ hợp lai được đánh
giá tốt qua khảo nghiệm sinh thái ở các vụ xuân 2008-2009 tại Cao Bằng và
Lạng Sơn.
*Vật liệu để duy trì các dòng bất dục đực nguồn tế bào chất RGH4: là các
dòng bất dục đực C.176B, K.346B, K.399B, C7-1B, C9-1B, D81B với nguồn
bất dục đực tế bào chất từ giống RGH4 của Mỹ và các dòng bố tương ứng
10
C.176, K.346, K.399, C7-1, C9-1, D81.
*Vật liệu để lai tạo các dòng bất dục đực mới nguồn tế bào chất
K.326TQ: là các dòng bất dục: K.326 ở thế hệ BC4, RG.8, D81 ở thế hệ BC2,
C7-1, C9-1 ở thế hệ BC1 với nguồn bất dục đực từ giống K.326 của Trung Quốc
và các dòng bố tương ứng của chúng.
*Vật liệu để sản xuất hạt lai của các tổ hợp lai có triển vọng: dòng mẹ bất
dục đực C.176B và các dòng bố CB2, LS cho lai tạo hạt lai của các tổ hợp GL6,
GL7.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
- Đánh giá các dòng và tổ hợp lai F1 theo phương pháp chuẩn như:
+ Các dòng và tổ hợp lai khi khảo nghiệm sinh thái được bố trí thí
nghiệm đồng ruộng theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn toàn, nhắc lại ba
lần, diện tích ô 35 m2. Giống đối chứng được sử dụng trong thí nghiệm: C.176
tại Cao Bằng và K.326 tại Lạng Sơn.
+ Các tổ hợp lai khi khảo nghiệm sản xuất được bố trí thí nghiệm ô lớn,
không lặp lại, diện tích 3.000 m2, có đối chứng là giống đang phổ biến tại địa
phương (C.176 tại Cao Bằng, K.326 tại Lạng Sơn).
+ Trồng trọt, chăm sóc: theo quy trình kỹ thuật do Viện Kinh tế Kỹ thuật
Thuốc lá ban hành đối với thuốc lá vàng sấy, hiện đang được áp dụng tại các
vùng trồng. Bón phân theo mức 70N + 100P2O5 + 140K2O. Thí nghiệm khảo
nghiệm sinh thái sử dụng các loại phân đơn NH4NO3, K2SO4, super lân. Thí
nghiệm khảo nghiệm sản xuất sử dụng phân bón hỗn hợp chuyên dùng cho
thuốc lá tại Cao Bằng và phân đơn tại Lạng Sơn.
+ Đánh giá các chỉ tiêu nông sinh học theo Quy phạm khảo nghiệm giống
thuốc lá 10 TCN 426 - 2000 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban
hành. Các chỉ tiêu theo dõi chính gồm: các đặc điểm nông sinh học, mức độ sâu
bệnh hại, năng suất và chất lượng nguyên liệu.
+ Phân cấp thuốc lá nguyên liệu theo tiêu chuẩn ngành TCN 26 - 1 - 02.
+ Phân tích một số thành phần hoá học chính ảnh hưởng đến chất lượng
nguyên liệu tại Phòng Phân tích Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá như:
• Phân tích hàm lượng nicotin theo TCVN 7103:2002 (ISO 2881:1992)
• Phân tích hàm lượng nitơ protein theo TCVN 7253:2003
• Phân tích hàm lượng đường khử theo TCVN 7102:2002 (CORESTA
38:1994)
• Phân tích hàm lượng clo theo TCVN 7251:2003
+ Đánh giá chất lượng cảm quan theo tiêu chuẩn TC 01 - 2000 của Tổng
công ty thuốc lá Việt nam, do Hội đồng bình hút của Viện KTKT thuốc lá đánh
giá, cho điểm.
- Xử lý thống kê các số liệu theo các phương pháp thông dụng, có sử
11
dụng các lập trình trên máy vi tính như EXCEL, STATH.
2.5. Địa điểm nghiên cứu
- Các nội dung khảo nghiệm sinh thái và khảo nghiệm sản xuất được triển
khai tại các vùng trồng chính ở các tỉnh phía Bắc bao gồm:
+ Xã Nam Tuấn - huyện Hoà An - tỉnh Cao Bằng,
+ Xã Hữu Vĩnh - huyện Bắc Sơn - tỉnh Lạng Sơn.
- Các nội dung duy trì và lai tạo các dòng bất dục đực, lai tạo hạt lai của
các tổ hợp lai mới, sản xuất hạt lai GL6, GL7 được thực hiện tại Chi nhánh Viện
Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá tại Bắc Giang (xã Bảo Sơn – Lục Nam – Bắc Giang).
12
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN
3.1. Kết quả khảo nghiệm cơ bản một số dòng và tổ hợp lai mới
3.1.1. Kết quả khảo nghiệm cơ bản một số dòng và tổ hợp lai mới tại Cao
Bằng
a) Tình hình sinh trưởng:
Thí nghiệm được triển khai tại thôn Nà Khá, xã Nam Tuấn, huyện Hòa
An tỉnh Cao Bằng ngày 28/01/2010 với điều kiện khô hạn nặng kéo dài ở giai
đoạn sau trồng (tháng 2 – 3). Theo dõi thời gian sinh trưởng của các dòng và tổ
hợp lai tại Cao Bằng ở vụ xuân 2010 cho thấy:
Các tổ hợp lai RG.17 x CB1, C9-1 x CB1 có thời gian phát dục (ra nụ
90%) sớm nhất ở 72-73 ngày sau trồng (NST) - ở mức tương đương giống đối
chứng C.176. Các dòng D2, D7 phát dục ở 80 ngày sau trồng, muộn hơn 7 ngày
so với giống C.176. Tổ hợp lai C9-1 x CB2 và dòng D62 phát dục rất muộn, ở
93 – 95 ngày sau trồng.
Bảng 1. Thời gian sinh trưởng của một số dòng và tổ hợp lai tại Cao Bằng
trong vụ xuân 2010
Đơn vị tính: ngày
Thời gian từ trồng đến
TT Giống thí nghiệm Lá đầu Thu lần
Ra nụ 10% Ra nụ 90%
chín cuối
1 RG17 x CB1 55 73 67 128
2 C9-1 x CB1 57 72 66 128
3 C9-1 x CB2 73 93 67 135
4 D2 67 80 64 128
5 D7 65 80 66 128
6 D62 85 95 67 142
7 C.176 57 73 64 128
Về thời gian từ trồng đến lá đầu chín: tuy các giống có sự khác biệt lớn về
thời gian phát dục nhưng không có sự khác biệt đáng kể về thời gian từ trồng
đến lá đầu chín. Dòng D2 có lá đầu chín sớm nhất ở 64 NST, tương đương giống
đối chứng C.176. Các dòng D7, D62 và các tổ hợp lai có lá đầu chín muộn hơn
ở 66-67 NST.
Thời gian từ trồng đến thu hoạch lần cuối: đa số các tổ hợp lai và dòng
khảo nghiệm có thời gian từ trồng đến thu hoạch lần cuối ở 128 ngày sau trồng –
tương đương giống đối chứng C.176. Tổ hợp lai C9-1 x CB2 và dòng D62 có
tổng thời gian sinh trưởng trên ruộng trồng dài hơn: ở 135 và 142 NST. Do đặc
điểm khô hạn kéo dài của vụ xuân 2010 nên các giống khảo nghiệm có thời gian
sinh trưởng kéo dài hơn so với các vụ xuân trước. Tuy nhiên, với công thức
13
luân canh tại Cao Bằng là thuốc lá – lúa thì tổng thời gian sinh trưởng này không
ảnh hưởng đến thời vụ lúa mùa tại đây.
Một số chỉ tiêu sinh trưởng của các dòng và tổ hợp lai được thể hiện ở
bảng 2.
- Về chiều cao cây ngắt ngọn: Các dòng và tổ hợp lai có sự khác biệt đáng
kể về chiều cao cây ngắt ngọn. Các tổ hợp lai RG17 x CB1, C9-1 x CB1 có
chiều cao cây hạn chế, ở mức tương đương giống C.176. Tổ hợp lai C9-1 x CB2
và dòng D62 có chiều cao cây lớn nhất, ở mức trên 100 cm. Hai dòng D2, D7
cũng có chiều cao cây ở mức khá.
Bảng 2. Một số chỉ tiêu sinh trưởng của một số dòng và tổ hợp lai tại Cao
Bằng trong vụ xuân 2010
Cao cây ngắt Số lá kinh tế Đường kính
TT Giống thí nghiệm
ngọn (cm) (lá/cây) thân (cm)
1 RG17 x CB1 77,3 22,9 2,46
2 C9-1 x CB1 79,4 20,6 2,45
3 C9-1 x CB2 104,9 30,8 2,65
4 D2 93,7 26,6 2,40
5 D7 88,5 27,3 2,40
6 D62 103,1 39,3 2,80
7 C.176 82,8 21,8 2,15
LSD0,05 10,9 3,57 0,21
- Về đường kính thân cây: Các dòng và tổ hợp lai có đường kính thân lớn
hơn giống đối chứng. Dòng D62 và tổ hợp lai C9-1 x CB2 có đường kính thân
lớn nổi trội ở mức tương ứng 2,8 cm và 2,65 cm. Các tổ hợp lai và dòng còn lại
có đường kính thân ở mức trung bình và không có sự khác biệt giữa chúng.
- Theo dõi kích thước các lá số 5, 10, 15 của các dòng và các tổ hợp lai
chúng tôi nhận thấy:
Về chiều dài lá: các dòng và các tổ hợp lai có chiều dài lá tăng từ lá số 5
qua lá số 10 và lại giảm đi ở lá số 15. Lá số 15 có chiều dài lớn hơn lá số 5.
Dòng 62 và tổ hợp lai C9-1 x CB2 có chiều dài lá lớn nhất trong số các giống thí
nghiệm ở cả 3 vị trí lá khảo sát. Ở hướng ngược lại, các dòng D2, D7 có chiều
dài lá hạn chế hơn. So với giống đối chứng C.176, tất cả các dòng và tổ hợp lai
này đều có chiều dài lá lớn hơn ở cả 3 vị trí lá.
Về chiều rộng lá: không có sự khác biệt đáng kể về bề rộng của lá số 5 và
lá số 10 của các dòng và các tổ hợp lai. Bề rộng lá số 15 của các dòng và các tổ
hợp lai có sự giảm rõ rệt so với bề rộng các lá số 5, 10. Các dòng D2, D7 có bề
rộng lá lớn nổi trội so với các giống còn lại. Tổ hợp lai C9-1 x CB2 có bề rộng
14
lá giảm dần từ lá số 5 qua lá số 10 đến lá số 15 và do vậy có bề rộng lá số 10, 15
nhỏ nhất. Giống đối chứng C.176 có bề rộng lá ở mức trung bình so với các
giống thí nghiệm.
Bảng 3. Kích thước lá số 5, 10, 15 của một số dòng và tổ hợp lai ở vụ xuân
2010 tại Cao Bằng
Đơn vị tính: cm
Giống thí Lá số 5 Lá số 10 Lá số 15
TT
nghiệm Dài Rộng Dài Rộng Dài Rộng
1 RG17 x CB1 50,0 24,3 59,8 24,3 58,4 19,1
2 C9-1 x CB1 52,3 24,1 60,1 24,7 58,4 20,0
3 C9-1 x CB2 53,6 24,4 63,3 22,3 59,7 18,0
4 D2 54,0 26,4 57,0 27,0 53,3 19,0
5 D7 52,9 26,1 57,6 27,3 54,4 19,7
6 D62 57,3 26,5 61,4 24,2 60,7 19,3
7 C.176 48,6 24,6 52,4 24,1 49,8 19,3
LSD0,05 3,47 1,35 2,60 1,56 2,30 1,92
b) Mức độ sâu bệnh hại
Theo dõi sâu bệnh hại các giống khảo nghiệm cho kết quả như ở bảng 4.
Bệnh thắt cổ rễ xuất hiện ở thời kỳ đầu sau trồng, hạn chế mức phát triển
của những cây bị nhiễm. Tổ hợp lai RG17 x CB1 có tỷ lệ cây nhiễm cao nhất
với 9,05%, các dòng và các tổ hợp lai khác có tỷ lệ cây nhiễm thấp (từ 1,43 –
3,81%).
Bảng 4. Mức độ sâu bệnh hại một số dòng và tổ hợp lai ở vụ xuân 2010 tại
Cao Bằng
Tỷ lệ bệnh Tỷ lệ cây (%) Đánh giá
Giống thí
TT thắt cổ rễ Tỷ lệ Đánh Tỷ lệ Đánh
nghiệm
(%) cây (%) giá cây (%) giá
1 RG17 x CB1 9,05 5,71 + 6,19 -
2 C9-1 x CB1 3,81 4,29 + 10,95 +
3 C9-1 x CB2 3,33 0,95 - 1,43 -
4 D2 1,43 3,33 + 8,57 +
5 D7 1,90 0,95 - 5,24 -
6 D62 2,86 1,90 - 3,81 -
7 C.176 2,38 3,81 + 15,71 +
Ghi chú: - mức độ hại rất nhẹ, + mức độ hại nhẹ, ++ mức độ hại trung bình
15
Sâu xanh cũng xuất hiện và gây hại từ giai đoạn sau trồng khoảng 20 ngày
đến giai đoạn ngắt ngọn. Tuy nhiên, sâu xanh xuất hiện với mật số thấp và do
ruộng thí nghiệm được phun trừ kịp thời nên mức độ hại nhẹ.
Bệnh đốm lá thường gây hại đáng kể đối với các lá gốc và vị bộ nách dưới
ở trong tháng 3 và nửa đầu tháng 4 của những năm trước khi không khí lạnh về
có mưa phùn kéo dài và thời tiết âm u. Trong vụ xuân 2010, thời tiết ấm và khô
hạn hơn nên mức độ gây hại của bệnh đốm lá không đáng kể.
c) Đánh giá năng suất và chất lượng
Theo dõi một số chỉ tiêu cấu thành năng suất và năng suất của các tổ hợp
lai chúng tôi thu được số liệu như ở bảng 5.
Bảng 5. Một số chỉ tiêu cấu thành năng suất và năng suất của các dòng và tổ
hợp lai tại Cao Bằng trong vụ xuân 2010
Số lá Khối lượng tươi (g) Năng Tỷ lệ lá
Giống thí của Tỷ lệ lá
TT kinh tế suất cấp 1+2
nghiệm tươi/khô
(lá) Lá 5 Lá 10 Lá 15 (tạ/ha) (%)
1 RG17 x
CB1 22,9 37,3 41,2 36,7 7,34 20,7 44,5
2 C9-1 x CB1 20,6 36,3 40,1 37,7 7,41 20,1 49,8
3 C9-1 x CB2 30,8 41,3 36,0 30,3 7,07 26,3 51,1
4 D2 26,6 41,4 41,0 30,8 7,92 21,4 56,6
5 D7 27,3 42,0 42,0 35,3 7,83 21,8 43,4
6 D62 39,3 43,2 39,0 29,2 7,27 26,8 42,6
7 C.176 21,8 32,3 31,1 30,8 7,50 16,5 39,3
LSD0,05 3,57 - - - - 2,48 -
- Số lá kinh tế là một chỉ tiêu có tương quan thuận đến năng suất của các
giống thuốc lá. Có sự chênh lệch lớn giữa các giống khảo nghiệm về chỉ tiêu số
lá kinh tế. Tổ hợp lai C9-1 x CB1 có số lá kinh tế thấp nhất với 20,6 lá/cây, ở
mức tương đương giống đối chứng C.176 (21,8 lá/cây). Các dòng và tổ hợp lai
C9-1 x CB2 có số lá kinh tế lớn, ở mức trên 26 lá/cây. Tổ hợp lai C9-1 x CB2 và
dòng D62 có số lá kinh tế cao nổi trội (30,8 và 39,3 lá/cây) là cơ sở để có năng
suất cao.
- Khối lượng lá cũng là một chỉ tiêu có tương quan thuận đến năng suất
của các giống thuốc lá. Số liệu về khối lượng các lá thu hoạch số 5, 10, 15 cho
thấy: Đối với đa số các dòng và tổ hợp lai có số lá thu hoạch dưới 30 lá/cây,
khối lượng lá tăng dần từ lá 5 đến lá 10 hoặc giữ mức tương đương rồi lại giảm
ở lá số 15. Đối với dòng D62 và tổ hợp lai C9-1 x CB2 có số lá thu hoạch lớn,
khối lượng lá giảm dần từ lá số 5 qua lá số 10 đến lá số 15. Các dòng và tổ hợp
lai có số lá thu hoạch thấp hơn như D2, D7, RG17 x CB1, C9-1 x CB1 thì
16
có khối lượng lá cao hơn so với dòng D62 và tổ hợp lai C9-1 x CB2 có số lá thu
hoạch lớn. Ngoại trừ tổ hợp lai C9-1 x CB2 và các dòng D7, D62 có khối lượng
lá số 15 tương đương giống đối chứng C.176, các dòng và tổ hợp lai khảo
nghiệm có khối lượng lá lớn hơn ở cả ba vị trí lá.
- Tỷ lệ tươi/khô cho biết hàm lượng chất khô của giống có sự biến động
khá lớn giữa các giống khảo nghiệm. Tổ hợp lai C9-1 x CB2 có hàm lượng chất
khô cao nhất khi tỷ lệ tươi/khô thấp nhất (7,07). Ở chiều ngược lại, các dòng D2,
D7 có tỷ lệ tươi/khô khá cao (7,92 và 7,83) nên có hàm lượng chất khô thấp hơn.
- Năng suất là một trong các chỉ tiêu quan trọng nhất quyết định triển
vọng của các giống khảo nghiệm. Tất cả các giống khảo nghiệm có năng suất
cao hơn giống đối chứng ở mức có ý nghĩa, trong đó dòng D62 và tổ hợp lai C9-
1 x CB2 có năng suất cao nổi trội và đạt mức trên 26 tạ/ha.
- Tỷ lệ lá cấp 1+2 là một trong các yếu tố xác định chất lượng và hiệu quả
kinh tế của mỗi giống. Các dòng và các tổ hợp lai có tỷ lệ lá cấp 1+2 cao hơn
giống đối chứng C.176, trong đó dòng D2 và các tổ hợp lai C9-1 x CB1, C9-1 x
CB2 đạt mức rất cao (từ 49,8 – 56,6%).
Để đánh giá chất lượng của các giống khảo nghiệm, đề tài đã phân tích
một số thành phần hoá học chính như hàm lượng nicotin, Nitơ protein, đường
khử và Clo trong mẫu nguyên liệu lá sấy của các giống thí nghiệm. Kết quả phân
tích được thể hiện ở bảng 6.
Bảng 6. Một số thành phần hóa học chính trong nguyên liệu của các dòng
và tổ hợp lai tại Cao Bằng ở vụ xuân 2010
Giống thí Nicotin Nitơ protein Đường khử Clo
TT
nghiệm (%) (%) (%) (%)
1 RG17 x CB1 2,01 1,02 26,7 0,03
2 C9-1 x CB1 2,07 1,09 23,5 0,05
3 C9-1 x CB2 2,09 1,01 24,8 0,04
4 D2 1,81 1,05 28,5 0,03
5 D7 2,15 0,92 27,4 0,04
6 D62 2,18 1,03 25,0 0,05
7 C.176 2,22 0,99 30,6 0,05
- Về hàm lượng nicotin: Các giống khảo nghiệm ở vụ xuân 2010 không có
sự khác biệt đáng kể về hàm lượng nicotin khi chỉ số này biến động trong dải
khá hẹp, từ 1,85% ở dòng D2 đến 2,18% ở dòng D62. Các dòng và tổ hợp lai
này đều có hàm lượng nicotin nằm trong ngưỡng tối ưu đối với nguyên liệu
vàng sấy (1,6-2,5%), là một trong những cơ sở để nguyên liệu có tính chất hút
tốt.
- Về hàm lượng đường khử: Mức biến động về hàm lượng đường khử của
các giống khảo nghiệm từ 23,5% ở tổ hợp lai C9-1 x CB1 đến 28,5% ở dòng
17
D2. Tuy các dòng và tổ hợp lai có hàm lượng đường khử cao hơn ngưỡng tối
ưu(14-20%) nhưng thấp hơn so với giống đối chứng C.176 (30,6%) và ở mức
trung bình hàng năm đối với nguyên liệu Cao Bằng.
Chất lượng nguyên liệu của các giống khảo nghiệm còn được đánh giá
qua bình hút cảm quan với kết quả ở bảng 7.
Bảng 7. Điểm bình hút cảm quan nguyên liệu của các dòng và tổ hợp lai tại
Cao Bằng trong vụ xuân 2010
Đơn vị tính: điểm
Giống thí Độ Độ Màu Tổng
TT Hương Vị
nghiệm nặng cháy sắc điểm
1 RG17 x CB1 9,8 10,3 7,0 7,0 7,0 41,1
2 C9-1 x CB1 10,2 10,6 7,3 7,0 7,0 42,1
3 C9-1 x CB2 10,1 10,5 7,0 7,0 7,0 41,6
4 D2 9,9 10,2 7,3 7,0 7,0 41,4
5 D7 10,3 10,3 7,0 7,0 7,0 41,6
6 D62 10,2 10,2 7,0 7,0 7,0 41,4
7 C.176 10,3 10,1 7,0 7,0 7,0 41,4
- Về hương thơm: Không có sự khác biệt lớn khi điểm về hương biến
động từ 9,8 ở tổ hợp lai RG17 x CB1 đến 10,3 điểm ở dòng D7 và giống C.176.
- Về khẩu vị: Các tổ hợp lai C9-1 x CB1, C9-1 x CB2 có điểm vị cao nhất
với 10,6 và 10,5 điểm. Các dòng khảo nghiệm có điểm vị từ 10,2-10,3 điểm ở
mức tương đương so với giống đối chứng C.176 (10,1 điểm).
- Đối với các chỉ tiêu về độ nặng, độ cháy và màu sắc: không có sự khác
biệt đáng kể giữa các dòng, các tổ hợp lai và giữa chúng với giống đối chứng
C.176.
Tổng điểm bình hút chịu ảnh hưởng nhiều bởi các điểm về hương và vị.
Tổ hợp lai C9-1 x CB1 có tổng điểm bình hút cao nhất với 42,1 điểm do có điểm
hương, vị và độ nặng cao hơn. Các dòng và tổ hợp lai còn lại có tổng điểm bình
hút cao (>41 điểm), ở mức tính chất hút tốt và không có sự khác biệt đáng kể
giữa chúng.
Tổng hợp kết quả khảo nghiệm 3 tổ hợp lai và 3 dòng thuốc lá tại Cao
Bằng ở vụ xuân 2010 cho thấy:
− Về năng suất: Tất cả các dòng và các tổ hợp lai có năng suất trên 20 tạ/ha,
ở mức cao vượt trội so với giống đối chứng C.176. Tổ hợp lai C9-1 x CB2
và dòng D62 có năng suất cao nổi trội (>26 tạ/ha) là những giống có tiềm
năng năng suất cao.
18
− Về khả năng sấy: Các dòng và các tổ hợp lai có tỷ lệ lá cấp 1+2 cao hơn
giống đối chứng C.176, trong đó các tổ hợp lai C9-1 x CB1, C.9-1 x CB2
và dòng D2 có tỷ lệ lá sấy cấp 1+2 cao nổi trội (49,8 đến 56,6%) là những
giống có triển vọng.
− Về chất lượng nguyên liệu: Các dòng và các tổ hợp lai tuy có hàm lượng
đường khử hơi cao nhưng hàm lượng nicotin nằm trong ngưỡng tối ưu.
Các dòng và các tổ hợp lai có điểm hương, vị khá cao và tổng điểm bình
hút đạt trên 41 điểm - ở mức tính chất hút tốt. Tổ hợp lai C9-1 x CB1 có
tổng điểm bình hút cao nhất với 42,1 điểm.
Như vậy, tại Cao Bằng, các tổ hợp lai C9-1 x CB2 và dòng D62 thể hiện
nhiều ưu điểm về các đặc tính kinh tế, tiếp đến là tổ hợp lai C9-1 x CB1 và các
dòng D2, D7.
3.1.2. Kết quả khảo nghiệm sinh thái một số dòng và tổ hợp lai mới tại Lạng
Sơn
a) Tình hình sinh trưởng
Thí nghiệm được trồng ngày 04/02/2010. Với đặc điểm khô hạn nặng kéo
dài ở đầu vụ xuân 2010, lượng nước tưới cho ruộng thí nghiệm rất hạn chế đã
ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của các giống khảo nghiệm tại Lạng Sơn.
Bảng 8. Thời gian sinh trưởng của một số dòng và tổ hợp lai tại Lạng Sơn
trong vụ xuân 2010
Giống thí Thời gian từ trồng đến các giai đoạn (ngày)
TT
nghiệm Ra nụ 10% Ra nụ 90% Lá đầu chín Thu lần cuối
1 RG17 x CB1 73 82 83 124
2 C9-1 x CB1 76 84 86 124
3 C9-1 x CB2 77 85 86 128
4 D2 89 97 86 124
5 D7 90 98 86 128
6 D62 90 100 86 132
7 K.326 (Đ/C) 73 78 82 124
- Về thời gian phát dục: Có sự khác biệt lớn về thời gian phát dục của các
giống khảo nghiệm. Các tổ hợp lai phát dục (ra nụ 90%) ở 82 - 85 NST, muộn
hơn giống đối chứng K.326 từ 4-7 ngày. Các dòng D2, D7, D62 phát dục khá
muộn, ở 97 - 100 NST.
- Về thời gian từ trồng đến lá đầu chín: Tuy có sự khác biệt lớn về thời
gian phát dục nhưng không có sự khác biệt đáng kể giữa các giống khảo nghiệm
về thời gian từ trồng đến lá đầu chín. Tổ hợp lai RG17 x CB1 có lá đầu chín ở
19