Chính sách ngoại thương của malaysia

  • 7 trang
  • file .doc
BÀI TẬP MÔN HỌC: KINH TẾ VÀ CÁC TỔ CHỨC TMQT
Giảng viên: Thầy Trương Quang Hùng
Học viên: Lê Văn Phước - Lớp KTPT K19
___________________________________
CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA MALAYSIA
1. Giới thiệu về Malaysia
Malaysia nằm ở khu vực Đông Nam Châu Á, diện tích 329.758 km2, daân số của
Malaysia 23,95 triệu người (7/2005), năm 2004 Malaysia đạt được một số chỉ tiêu
cơ bản như:
- GDP: 115,2 tỷ USD.
- Mức tăng trưởng GDP thực tế: 7,0%.
- GDP/người: 4.523 USD (2004); 3.880 USD (2005).
- Phân bổ GDP theo khu vực: nông nghiệp 7,2%, công nghiệp 33,6%, dịch vụ 59,1%.
- Dự trữ ngoại tệ: khoảng 66,7 tỷ USD.
- Nợ nước ngoài: 45,4% GDP.
- Lạm phát: 1,3%.
- Tiền tệ: Malaysia Ringgit (RM).
- Tỷ giá: 1 USD = 3,8 RM.
- Tỷ lệ đầu tư kinh tế: 21,7% GDP.
- Ngân sách: Thu 25,33 tỷ USD; Chi 29,33 tỷ USD.
- Mức tăng trưởng sản xuất công nghiệp: 10,2%.
- Lực lượng lao động: 10,49 triệu người.
- Phân bổ lực lượng lao động theo khu vực: (nông nghiệp 14,5%, công nghiệp 36%, dịch vụ
49,5%). Tỷ lệ thất nghiệp: 3%.
- Kim nghạch xuất khẩu: 123,5 tỷ USD (FOB)
- Kim nghạch nhập khẩu: 99,3 tỷ USD (CIF)
Các mặt hàng xuất khẩu chính: thiết bị điện tử, dầu khí, khí gas hóa lỏng, gỗ và sản phẩm
gỗ, dầu cọ, cao su, sản phẩm dệt, hóa chất.
Đối tác xuất khẩu: Mỹ 18,8%, Singapore 15%, Nhật Bản 10,1%, Trung Quốc 6,7%, Hong
Kong 6%, Thái Lan 4,8%.
Các mặt hàng nhập khẩu chính: hàng điện tử, máy móc, sản phẩm từ dầu lửa, nhựa, xe cộ,
sản phẩm sắt thép, hóa chất.
Đối tác nhập khẩu: Nhật Bản 16,1%, Mỹ 14,6%, Singapore 11,2%, Trung quốc 9,9%,
Thái Lan 5,6%, Đài Loan 5,5%, Hàn quốc 5%, Đức 4,5%, Indonesia 4%.
Các sản phẩm công nghiệp quan trọng ở Malaysia chiếm 75% kim nghạch xuất khẩu,
được chia thành các nhóm bao gồm:
 Nhóm hàng chế tạo chiếm khoảng 14,4%,
 Nhóm hàng nông nghiệp chiếm khoảng 13,4%,
 Nhóm khoáng sản chiếm khoảng 13,4%.
Bảng 1: Cơ cấu hàng xuất khẩu của Malaysia thời kỳ 1994-2003
Trang 1
(Đvt: Tỷ RM, %)
2003 1994
Trị giá Tỷ lệ Trị giá Tỷ lệ Tăng/Giảm
(Tỷ RM) (%) (Tỷ (%)
RM)
Tổng mức xuất khẩu 398,88 153,92 13,2
Nhóm hàng chế tạo 316,59 100 117,07 100 14,4
Điện & điện tử 211,16 66,7 70,68 60,4 16,4
Hóa chất & sản phẩm hóa chất 20,59 6,5 4,08 3,5 23,8
Máy móc, phụ tùng 12,39 3,9 5,7 4,9 11,7
Sản phẩm gỗ 11,33 3,6 6,17 5,3 9,2
Vải 8,48 2,7 5,86 5,0 5,5
Sản phẩm quang học & khoa học 9,21 2,9 2,53 2,2 17,0
Sản phẩm kim loại 7,29 2,3 2,67 2,3 14,9
Thực phẩm chế biến 5,53 1,7 2,54 2,2 10,1
Sản phẩm cao su 5,2 1,6 2,77 2,4 8,7
Thiết bị vận tải 3,21 0,8 5,83 5,0 4,1
Khoáng sản 40,11 100 12,15 100 13,4
Dầu thô 15,90 39,60 6,65 54,7 8,9
Khí hóa lỏng 15,07 37,6 2,90 23,9 20,0
Xăng dầu tinh lọc 8,37 20,9 1,75 14,4 23,3
(Nguồn: MATRADE)
Bảng 2: Cơ cấu hàng nhập khẩu của Malaysia thời kỳ 1994-2003
(Đvt: Triệu RM, %)
2003 1994
Trị giá (Triệu Tỷ lệ Trị giá (Triệu Tỷ lệ T/G (%)
RM) (%) RM) (%)
Tổng mức nhập khẩu 317.746,24 100 155.920,97 100 11,1
Nhóm hàng chế tạo 277.552,95 87,5 139.155,71 89,2 11,2
Điện & điện tử 160.053,15 50,4 56.367,55 36,2 16,5
Máy móc, phụ tùng 25.051,29 7,9 23.732,24 15,2 4,5
Hóa chất & sản phẩm hóa chất 22.657,77 7,1 10.611,99 6,8 10,4
Kim loại 11.267,40 3,5 6.527,81 4,2 8,8
Sản phẩm sắt thép 10.831,50 3,4 6.597,57 4,2 7,6
Thiết bị vận tải 10,46 3,3 13,62 8,7 4,5
Thiết bị quang học & khoa học 9,86 3,1 4,4 2,8 12,3
Thực phẩm chế biến 5.645,28 1,8 3.238,68 2,1 7,5
Vải, hàng may mặc 4.061.26 1,3 4.250,53 2,7 1,9
Giấy, bột giấy 3.655,49 1,2 2.451,14 1,6 8,2
Sản phẩm cao su 1.449,77 0,5 631,51 0,4 10,1
Sản phẩm dầu lửa 1.307,77 0,4 359,36 0,2 14,2
Đồ uống & thuốc lá 816,01 0,3 334,23 0,2 12,2
Sản phẩm gỗ 602,77 0,2 163,37 0,1 17,1
Sản phẩm chế tạo khác 7.433,32 2,3 3.701,69 2,4 11,0
Nông sản 12.044,56 3,9 5.812,25 3,7 10,0
Ngũ cốc 2.108,47 0,7 1.454,83 0,9 5,2
Trang 2
Dầu cọ 824,91 0,3 264,29 0,2 63,1
Gỗ tròn, gỗ xẻ 589,00 0,2 232,11 0,1 15,6
Dầu thực vật khác 511,94 0,2 282,83 0,2 16,9
Nông sản khác 8.010,23 2,5 3.578,18 2,3 11,0
Khoáng sản 17.736,26 5,5 4.742,60 3,1 16,3
Xăng dầu tinh lọc 8.701,25 2,7 2.928,29 1,9 13,0
Dầu thô 6.305,86 2,0 461,70 0,3 45,3
Quặng sắt 716,41 0,2 610,93 0,4 4,6
Phân bón 678,37 0,2 421,56 0,3 6,3
Khí hóa lỏng 512,19 0,2 1,14 0,0 106,2
Thiếc 129,38 0,0 74,01 0,0 6,5
Khoáng sản khác 692,79 0,2 244,98 0,2 11,3
Sản phẩm khác 10.412,48 3,3 6.210,41 4,0 10,2
(Nguồn: MATRADE)
Bảng 3: 10 đối tác thương mại hàng đầu của Malaysia năm 2004
Nước/Vùng lãnh thổ Kim nghạch Tỷ lệ (%)
(Tỷ RM)
Mỹ 148,06 16.80
Singapore 116,65 13,24
Nhật Bản 112,29 12,74
Trung Quốc 71,44 8,11
Thái Lan 44,95 5,10
Hong Kong 39,55 4,49
Đài Loan 37,41 4,24
Hàn Quốc 36,71 4,16
Đức 28,36 3,21
Indonesia 27,61 3,13
Khác 217,79 24,72
TOTAL 880,82 100
(Nguồn: MATRADE)
Bảng 4: Kim nghạch xuất nhập khẩu của Malaysia (1992-2004)
(Đvt: Tỷ RM; 1USD=3,8 RM)
Năm Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân thương mại
1992 103,66 101,44 2,22
1993 121,24 117,40 3,83
1994 153,92 155,92 -2,00
1995 184,99 194,34 -9,36
1996 197,03 197,28 -0,25
1997 220,89 220,94 -0,05
1998 286,56 228,12 58,44
1999 321,56 248,48 73,08
2000 373,28 311,46 61,81
2001 334,28 280,23 54,05
2002 357,43 303,09 54,34
Trang 3
2003 397,88 316,54 81,35
2004 480,74 400,08 80,66
(Nguồn: MATRADE)
Từ năm 1995 đến năm 2004 cán cân thương mại của Malaysia có mức thặng dư tăng dần.
2. Lý thuyết ngoại thương:
Sau lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, Lý thuyết lợi thế so sánh của David
Ricardo cho rằng lợi ích ngoại thương vẫn có ngay cả đối với các nước không có lợi thế
tuyệt đối. Mô hình David Ricardo thảo luận sự khác biệt về năng suất lao động giữa các
quốc gia mang lại lợi ích ngoại thương. Sự khác biệt này là do sự khác biệt về công nghệ dẫn
đến chi phí cơ hội của việc sản xuất ra hàng hóa đó thấp hơn chi phí cơ hội của việc sản xuất
ra cùng hàng hóa đó ở quốc gia khác. Trong mô hình Ricardo, các nước tập trung chuyên
môn hóa sản xuất vào mặt hàng mà họ có thể sản xuất hiệu quả nhất. Không giống như các
lý thuyết khác, mô hình của Ricardo dự đoán rằng các nước sẽ chuyên môn hóa hoàn toàn
vào một loại hàng hóa thay vì sản xuất nhiều loại hàng hóa khác nhau. Malaysia có lợi thế
trong ngành dệt như sợi dệt, chỉ, vải len, vải cotton, vải dệt, vải đan hoặc móc, vải tuyn, ren
và đăng ten, hàng thêu, ruy băng, hàng dệt trang trí, chăn, thảm, đồ vải trải giường, đồ trải
bàn, khăn các loại, dây vải, vải bọc ghế ô tô, vải nỉ…và các mặt hàng may mặc như áo
jacket, áo choàng ngoài, váy ngắn, áo sơmi, váy dài, quần cộc, quần áo lót, khăn choàng,
khăn tay, mũ đội đầu và các phụ liệu dệt may phecmơtuya, cúc, chỉ khâu, sợi công nghiệp,
chỉ thêu, dải rút (cột miệng túi, xiết chặt quần áo…), nhãn mác bằng vải, cổ áo, cổ tay áo,
móc áo, vải lót, khóa dán… . Bên cạnh đó, Malaysia cũng có lợi thế về công nghệ sản xuất
thiết bị điện tử, chế biến gỗ, cao su.
Mô hình Heckscher-Ohlin được xây dựng thay thế cho mô hình cơ bản về lợi thế so sánh
của Ricardo. Mặc dù nó phức tạp hơn và có khả năng dự đoán chính xác hơn, nó vẫn có sự
lý tưởng hóa. Đó là việc bỏ qua lý thuyết giá trị lao động và việc gắn cơ chế giá tân cổ điển
vào lý thuyết thương mại quốc tế. Mô hình Hechscher-Ohlin lập luận rằng cơ cấu thương
mại quốc tế được quyết định bởi sự khác biệt giữa các yếu tố nguồn lực. Nó dự đoán rằng
một nước sẽ xuất khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn lực mà nước đó có thế
mạnh, và nhập khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn lực mà nước đó khan
hiếm.
Malaysia có lợi thế về nguồn lực như:
Ca cao: malaysia đứng thứ 4 thế giới về sản xuất ca cao – sản phẩm nông nghiệp quan trọng
đứng thứ 3 sau dầu cọ và cao su. Sản lượng sản xuất năm 1993 đạt 215 nghìn tấn, xuất khẩu
đạt 200 triệu USD/năm.
Cao su: Sản phẩm cao su chiếm thị phần ngày một tăng trong kim nghạch xuất khẩu của
Malaysia, từ 2,77 tỷ RM năm 1994 lên 3,99 tỷ RM năm 1997. Năm 1998 là năm Malaysia
có kim nghạch xuất khẩu cao su cao nhất, đạt 5,78 tỷ RM, là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ 9
trong nhóm hàng chế tạo. Malaysia vẫn là một trong những nước đứng đầu thế giới về sản
xuất, xuất khẩu găng tay cao su, ống cao su tự nhiên dùng trong y tế và chỉ latex, cung cấp
55% găng cao su, 80% ống cao su và 70% chỉ latex cho nhu cầu trên thế giới.
Cọ dầu: Malaysia đứng đầu thế giới, chiếm 47% sản lượng và 58% thị phần xuất khẩu của
thế giới. Diện tích trồng cọ đến năm 2003 đạt khoảng 3,7 triệu ha, chiếm hơn 60% diện tích
đất nông nghiệp. Sản lượng năm 1960 chỉ đạt 91.800 triệu tấn nhưng đến năm 2003 đã đạt
khoảng 13 triệu tấn. Malaysia xuất khẩu dầu cọ đi 130 nước, đạt khoảng 19,6 tỷ RM mỗi
Trang 4
năm.
Dầu mỏ: Ngành dầu mỏ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Malaysia. Ngành này
mang lại nguồn thu ngoại tệ mạnh. Năm 2003, sản xuất dầu thô của Malaysia tăng 5%, đạt
625,8 nghìn thùng/ngày, gần đạt mức chỉ tiêu đề ra là 626 thùng/ ngày. Việc tăng lượng và
giá xuất khẩu làm cho kim nghạch xuất khẩu dầu thô tăng 35%, đạt 15,7 tỷ RM năm 2003,
chiếm 4% tổng giá trị xuất khẩu của Malaysia.
Gas tự nhiên: Việc khánh thành nhà máy sản xuất gas MLNG Tiga Plant tháng 4/2002 sẽ
làm cho việc xuất khẩu gas của Malaysia tăng lên trong thời gian tới.
Gỗ: Malaysia có khoảng 20 triệu ha rừng, tập trung ở hai bang Sabah và Sarawak, sản xuất
37,7 triệu m3 gỗ, xuất khẩu hàng năm 25 triệu m3 gỗ cây và gỗ xẻ. Malaysia khuyến khích
phát triển công nghiệp gỗ.
Thiếc: Malaysia có trữ lượng thiếc chiếm 62% trữ lượng thiếc thế giới. Sản lượng xuất khẩu
đạt 29 nghìn tấn/năm, đạt doanh thu 354 triệu USD.
Bên cạnh lý thuyết ngoại thương tân cổ điển, lý thuyết ngoại thương mới trong đó mô
hình chất lượng sản phẩm cũng góp phần giải thích ngoại thương Malaysia. Nhờ vào sự khác
biệt nguồn lực, mỗi hãng sẽ chuyên môn hóa những hàng hóa có chất lượng khác nhau. Các
sản phẩm chất lượng của Malaysia như điện tử, sản phẩm dệt, hóa chất.
3. Chính sách ngoại thương
Sau khi dành được độc lập (1957), Malaysia lúc đó là một nước nông nghiệp nghèo nàn,
lạc hậu, nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào Anh, nguồn thu chính là từ xuất khẩu cao su tự
nhiên và thiếc. Giai đoạn 1957-1970 là thời kỳ tiền chính sách kinh tế mới với mục tiêu phát
triển nông nghiệp và nông thôn, đẩy mạnh xuất khẩu và định hướng công nghiệp hóa.
Malaysia đề ra sách lược này là nhìn về phương Tây (Anh, Mỹ, Đức, Pháp…).
Từ năm 1971, Chính phủ Malaysia thực hiện chính sách kinh tế mới (1971-1990) với mục
tiêu xóa đói giảm nghèo và tái cơ cấu nền kinh tế. Trong giai đoạn này, kinh tế Malaysia
chính thức có sự chuyển đổi từ một nước chuyên sản xuất các nguyên vật liệu thô thành
nước có các ngành công nghiệp chế biến đa dạng. Đây có thể coi là giai đoạn phác thảo kế
hoạch triển vọng, còn gọi là OPP1 (Outline Persfective Plan). Trong giai đoạn này, Malaysia
thực thi chính sách kinh tế mới (NEP), chú ý phát triển đồng đều giữa các cộng đồng. Chính
sách nhìn về phương Đông (Look East) nhằm tranh thủ vốn và kỹ thuật từ Nhật và các nước
NICs.
Từ năm 1983, Chính phủ Malaysia đưa ra chính sách tự do hóa kinh tế. Nhờ đó, đến cuối
thập kỷ 80, Malaysia chuyển sang nền kinh tế trong đó khu vực tư nhân đóng vai trò quan
trọng.
Kể từ năm 1991-2000, Malaysia thi hành chính sách phát triển quốc gia (NDP – National
Development Plan), còn gọi là OPP2. Ở giai đoạn này, Malaysia phát triển một nền kinh tế
cân đối, chủ trương mở rộng quan hệ với các nước láng giềng và trong khu vực, tức là nhìn
về phương Nam (Look South), nhằm tranh thủ thị trường tiêu thụ.
Mức tăng trưởng kinh tế của Malaysia được thúc đẩy chủ yếu do tăng trưởng xuất khẩu
mặt hàng điện tử. Tuy nhiên, cũng do quá chú trọng tới lĩnh vực ngành hàng này nên năm
2001-2002, Malaysia bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự tụt dốc của nền kinh tế toàn cầu và sự
Trang 5