Chính sách lãi suất trong tài chính vi mô

  • 58 trang
  • file .pdf
BẢN QUYỀN
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
LỚP TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 45 C
www.TCDN45C.net.tf
www.TCDN45C.vze.com
[email protected]
[email protected]
Tài liệu chỉ được sử dụng vì mục đích nghiên cứu khoa học.
Nghiêm cấm sử dụng với mục đích thương mại.
Xin liên hệ trực tiếp tác giả để biết thêm chi tiết.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài: Chính sách lãi suất trong tài chính vi mô
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Lê Thu Thủy
Sinh viên thực hiện : Trần Thị Ngọc Tú
Lớp : Tài Chính Doanh Nghiệp 45C
Hà Nội - 2006
MỤC LỤC
Lời nói đầu…………………………………………………………………….. 2
Chương I – Lý luận chung……………………………………………………. 3
1 – Lý luận chung về lãi suất ................................................................................ 3
2 – Khái quát về tài chính vi mô. ......................................................................... 9
3 - Những quan điểm về lãi suất trong hoạt động tài chính vi mô.................. 11
a. Quan điểm thực hiện chính sách trợ giá lãi suất................................... 11
b. Quan điểm thực hiện lãi suất hướng tới lãi suất thị trường (lãi suất
thương mại) ................................................................................................... 17
Chương II - Việc thực hiện các chính sách lãi suất trong hoạt động TCVM ở
các nước ……………………………………………………………………… 17
1 - Trường phái ủng hộ trợ cấp lãi suất ............................................................ 23
2 - Trường phái thực hiện lãi suất thương mại ................................................ 27
Chương III - Chính sách lãi suất áp dụng trong họat động tài chính vi mô ở
Việt Nam ……………………………………………………………………... 32
1 - Điều kiện thực hiện các chính sách lãi suất ................................................. 32
2 - Thực trạng lãi suất trong hoạt động tài chính vi mô.................................. 35
a. Thực hiện lãi suất trợ cấp :...................................................................... 37
b. Thực hiện lãi suất thương mại : .............................................................. 39
Chương IV - Giải pháp cho chính sách lãi suất trong hoạt động tài chính vi
mô ở Việt Nam……………………………………………………………….. 42
Kết luận………………………………………………………………………. 47
Phụ lục………………………………………………………………………... 48
Danh mục tài liệu tham khảo……………………………………………….. 55
1
LỜI NÓI ĐẦU
Họat động tài chính vi mô trong thời gian gần đây đã có buớc phát triển mạnh
mẽ . Tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, họat động này đã có
những đóng góp tích cực trong công tác xóa đói giảm nghèo. Hàng triệu người
nghèo trên khắp thế giới đã được hưởng lợi từ những họat động tài chính vi mô.
Tiêu chí của những chương trình này không chỉ nằm ở những mục tiêu hiệu qủa
về lợi nhuận mà cả những mục tiêu xã hội, cụ thể là sự cải thiện đời sống của
những khách hàng.
Tại Việt Nam, hoạt động tài chính vi mô xuất hiện từ những năm 1980 của thế
kỷ trước và những họat động tài chính vi mô mang tính chất thương mại mới
được tiến hành trong thời gian khoản 10 năm, nhưng những thành công mang lại
của các chương trình này có rất ý nghĩa đối với công cuộc phát triển kinh tế xã
hội. Từ những ý nghĩa như vậy, việc nghiên cứu một cách sâu sắc và đúng đắn
các khía cạnh của hoạt động tài chính vi mô là một yêu cầu lớn được đặt ra.
Lãi suất là một yếu tố rất quan trọng trong họat động tài chính nói chung và
họat động tài chính vi mô nói riêng. Tuy nhiên, việc hiểu rõ về lãi suất trong họat
động tài chính vi mô thì không hẳn nhiều ngừơi đã lưu tâm. Với mục đích cung
cấp những cái nhìn đầy đủ về vấn đề lãi suất trong họat động tài chính vi mô,
chúng tôi hi vọng sẽ mở ra những tư tửơng và quan điểm mới trong các bạn về
họat động vì ngừơi nghèo này.
Với mục đích như vậy, chúng tôi cung cấp tới cho các bạn những lý luận chung
nhất về lãi suất, về tài chính vi mô và các trường phái lãi suất trong họat động tài
chính vi mô. Tiếp sau đó, chúng tôi sẽ đưa ra các ví duh cụ thể về việc thực hiện
các chính sách lãi suất trong tài chính vi mô và các tác dụng của các chính sách
này. Phần thứ ba sẽ là những nghiên cứu về thực tế lãi suất trong họat động tài
chính vi mô ở Việt Nam với đầy đủ các trường phái chính sách lãi suất được áp
dụng. Và cuối cùng là nhứng giảp pháp chúng tôi đưa ra nhằm thúc đẩy hiệu qủa
trong việc sử dụng các chính sách lãi suất trong họat động tài chính vi mô.
2
CHƯƠNG I - LÝ LUẬN CHUNG
1 – Lý luận chung về lãi suất
Định nghĩa , thông thường lãi suất được hiểu theo nghĩa chung nhất là giá cả
của tín dụng – giá cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn
dưới hình thức tiền tệ hoặc các dạng thức tài sản khác nhau. Ở tầm vi mô, lãi suất
là cơ sở để các cá nhân và tổ chức đưa ra các quyết định kinh tế như tiết kiệm hay
tiêu dùng, đi vay để tài trợ cho các khoản đầu tư hay sử dụng vốn tự có… Ở tầm
vĩ mô, lãi suất là một trong những công cụ điều hành kinh tế của chính phủ. Bằng
việc điều chỉnh lãi suất, chính phủ có thể tác động tới các chỉ tiêu về lạm phát,
thất nghiệp, họat động đầu tư hay mức tiêu dùng của người dân.
Phân lọai lãi suất , thông thường lãi suất được phân chia theo nhiều chỉ tiêu
khác nhau, nhưng trong nội dung nghiên cứu chỉ trình bày việc phân loại lãi suất
theo nhân tố tác động. Bởi lẽ, khi phân loại lãi suất theo phương pháp này, chúng
t a sẽ có cái nhìn rõ ràng hơn về các loại lãi suất mà hoạt động kinh doanh của các
tổ chức tín dụng nói chung, các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô nói
riêng phải chú ý tới.
- Nhóm lãi suất chịu tác động của quan hệ cung cầu : Đây là những loại lãi
suất chịu tác động và được xác định một phần bởi quan hệ cung cầu trên thị
trường. Bao gồm:
Lãi suất của tín phiếu kho bạc : Tín phiếu kho bạc là một trong những loại
giấy tờ có giá được phát hành bởi chính phủ. Chính phủ phát hành tín phiếu
kho bạc nhằm phục vụ cho những hoạt động trong ngắn hạn nên thời hạn của
trái phiếu thường là một năm. Khi xác định lãi suất của phát hành trái phiếu
kho bạc, chính phủ phải căn cứ trên lãi suất hiện hành trên thị trường lúc đó.
Tuy nhiên, Trái phiếu kho bạc thông thường được xem là lại chứng khoán ít
rủi ro nhất, nên nhìn chung, lãi suất của nó thường thấp hơn so với các chứng
khoán khác được phát hành.
3
Lãi suất huy động và cho vay đối với khách hàng của các tổ chức tín dụng.
Các tổ chức tín dụng họat động với vị trí là các trung gian tài chính, chuyển
vốn từ người thừa vốn sang người thiếu vốn. Để là được nhiệm vụ này, trước
hết, các tổ chức này phải huy động vốn từ những nguồn nhàn rỗi, có thể từ dân
cư hay các tổ chức. Khi huy động, các tổ chức này cam kết sẽ trả cho khách
hàng mức lãi suất huy động. Khi có vốn, các tổ chức tín dụng thực hiện các
khoản đầu tư (mà chiếm tỷ lệ lớn trong số đó là các khoản cho vay). Khách
hàng nhận vốn sẽ phải cam kết trả cho ngân hàng mức lãi suất cho vay. Để
đảm bảo tính bền vững về mặt tài chính cho tổ chức, lãi suất cho vay phải lớn
hơn lãi suất huy động. Hai loại lãi suất này phải được xác định dựa trên lãi
suất thị trường. Đối với lãi suất huy động, căn cứ xác định còn thêm yếu tố là
lãi suất của tín phiếu kho bạc. Do có độ rủi ro lớn hơn, nên lãi suất huy động
luôn cao hơn lãi suất của tín phiếu kho bạc, phần chênh lệch này được goi là
phần bù rủi ro. Đối với lãi suất cho vay, các tổ chức phải cân nhắc tới tỷ suất
lợi nhuận trung bình của các ngành nghề kinh doanh và của toàn nền kinh tế.
Đây là mức giới hạn chịu đựng của các tổ chức đi vay để thực hiện các hoạt
động kinh tế. Mức lãi suất huy động và cho vay càng cao sẽ gây ra những rủi
ro rất lớn. Về phía các tổ chức tín dụng sẽ gặp phải sức ép trong việc tìm kiếm
các đối tác cho vay sao cho không chỉ an toàn mà còn mang lại mức doanh thu
lớn. Về phía người vay, lãi suất cao sẽ đẩy họ tới những quyết định kinh
doanh mạo hiểm nhằm đạt được mức lợi nhuận cao.
Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng: là loại lãi suất cho vay giữa các tổ
chức tín dụng trên thị trường liên ngân hàng trong một khoảng thời gian tương
đối ngắn, dưới 6 tháng. Hầu hết các khoản cho vay này là vay qua đêm. Mục
đích của nó là giải quyết nhu cầu vốn trong một khoảng thời gian rất ngắn của
các tổ chức tín dụng. Trên thế giời, các trung tâm tài chính lớn đều công bố
mức lãi suất này nhằm định hướng hoạt động cho vay giữa các tổ chức tín
dụng. Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện theo lãi suất SiBor (lãi suất trên thị
trường liên ngân hàng của Singapore) có điều chỉnh tăng thêm một khoảng
phần trăm nhất định cho phù hợp với tình hình trong nước.
4
- Nhóm lãi suất do ngân hàng trung ương công bố, được xác định không chỉ
dựa trên quan hệ cung cầu mà còn dựa trên mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Lãi suất cơ bản là loại lãi suất được các ngân hàng trung ương công bố với
mục tiêu định hướng lãi suất thị trường. Lãi suất này được tính trên cơ sở lãi
suất thị trường hiện thời và mục tiêu của chính phủ trong việc điều hành kinh
tế. Mức lãi suất này có thể thay đổi tùy theo từng thời kỳ khác nhau của nền
kinh tế. Mức lãi suất này ở một số nước hoàn toàn mang tính chất định hướng
cho hoạt động của các tổ chức tín dụng, các tổ chức này có thể thực hiện theo
hoặc không. Mặc dù có tính chất định hướng, nhưng lãi suất cơ bản được công
bố có tác động rất lớn tới lãi suất thị trường. Thông thường, các điều chỉnh
tăng giảm của lãi suất này thường kéo theo sự tăng giảm của các lãi suất thị
trường. Tuy nhiên, ở Việt Nam, lãi suất cơ bản dường như không thực hiện
được chức năng định hướng của nó. Trong thời gian vừa qua, các tổ chức tín
dụng liên tục tăng lãi suất nhưng lãi suất cơ bản của chính phủ thường tăng rất
chậm. Thậm chí trong năm 2005, lãi suất cơ bản gần như không có sự điều
chỉnh từ đầu năm tới cuối năm, trong khi lãi suất thị trường đã tăng rất mạnh.
Vẫn biết lãi suất cơ bản mang tính định hướng, nhưng khi mức lãi suất này
còn thấp hơn cả lạm phát thực tế thì chính phủ cũng cần có sự điều chỉnh kịp
thời. Vào thời điểm hiện nay, lãi suất cơ bản được ngân hàng nhà nước công
bố từ tháng 8/2006 là 8.25%, trong khi lãi suất thị trường nhìn chung đã trên
9% đối với lãi suất huy động và khoảng 12% với lãi suất cho vay. Đây là một
khoảng cách rất lớn giữa định hướng và thực tế.
Lãi suất tái cấp vốn là lãi suất áp dụng cho các khoản vay của ngân hàng trung
ương đối với các tổ chức tín dụng. Việc tăng giảm lãi suất này thể hiện mục
tiêu của chính sách tiền tệ là nới lỏng hay thắt chặt. Khi lãi suất này tăng cao
sẽ hạn chế các khoản vay của các tổ chức tín dụng. Thông qua đó, điều tiết
hoạt động cho vay của các tổ chức này. Khác với lãi suất cơ bản, đây là lãi
suất được đem ra áp dụng và thực thi bắt buộc với bất cứ tổ chức tín dụng nào
muốn vay vốn từ ngân hàng trung ương. Hiện nay, lãi suất tái cấp vốn của
ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố là 6.5%/ năm. Lãi suất thấp hơn khá
5
nhiều so với lãi suất huy động qua các nguồn tiền gửi và phát hành giấy tờ có
giá của các tổ chức tín dụng (hiện nay, các giấy tờ có giá được phát hành bới
các tổ chức tín dụng thường có lãi suất trên 8,2%/năm).
Lãi suất tái chiết khấu, giống như lãi suất tái cấp vốn, đây cũng là lãi suất thực
hiện bắt buộc với các tổ chức tín dụng khi mang các giấy tờ có giá thực hiện
chiết khấu tại ngân hàng trung ương. Lãi suất này được điều chỉnh theo yêu
cầu của chính sách tiền tệ của chính phủ. Nó quyết định hoạt động cấp vốn của
ngân hàng trung ương đối với các tổ chức tín dụng. Mức lãi suất tái chiết khấu
hiện tại của Việt Nam là 4,5%/năm.
Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất :
Cung cầu về vốn được xem là hai yếu tố quan trọng nhất quyết định lãi suất
trên thị trường. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường ở nhiều nước, lãi suất chịu
sự định hướng của ngân hàng trung ương, nhưng việc quyết định đến lãi suất
chính vẫn là cung và cầu vốn trên thị trường. Cung của vốn bao gồm những
nguôn vốn nhàn rỗi từ dân cư, các tổ chức và chính phủ. Cầu về vốn phát sinh do
những nhu cầu đầu tư của dân cư, các tổ chức và chính phủ.
Theo như hình 1.1, nếu giả định rằng lãi suất cho vay và lãi suất huy động là
bằng nhau. Khi đó, đường cung về vốn (S) sẽ gặp đường cầu về vốn (D) tại điểm
E. Tại đó, lượng vốn được sẵn sàng cung ứng chính bằng lượng vốn mà những
người cần vốn mong muốn. Mức
lãi suất tại điểm E là r, được gọi là
lãi suất thị trường tại điểm cân
bằng.
Việc xác định lãi suất theo
phương pháp này có một vài
nhược điểm. Thứ nhất là việc dự
tính chính xác được lượng cung và
Hình 1.1 : Đường cung và cầu vốn
lượng cầu về vốn tại mỗi mức lãi
suất. Thứ hai, trên thực tế, lãi suất cho vay còn chịu tác động của chi phí của các
tổ chức tín dụng. Mỗi tổ chức này có một cách thức hoạt động khác nhau nên chi
6
phí trên một đồng vốn huy động và cho vay cũng khác nhau. Việc này ảnh hưởng
lớn tới việc xác định lượng huy động và cho vay của các tổ chức này tại mỗi mức
lãi suất.
Lạm phát kỳ vọng. Lạm phát là một biến số kinh tế vĩ mô quan trọng. Trên thị
trường tài chính, lạm phát ảnh hưởng rất lớn tới lãi suất thị trường. Ta có một
công thức tính quan trọng :
Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa - Tỷ lệ lạm phát
Trên thực tế, mỗi người khi chấp nhận “chia ly” với một khỏan tiền của mình
thường hi vọng sẽ thu được một lợi nhuận thật nào đó. Trong một khía cạnh, lãi
suất chính là phần thưởng cho sự “chia ly” này. Tất nhiên người ta luôn mong
muốn phần thưởng của mình không âm. Tuy nhiên, lạm phát lại làm giảm gía trị
đồng vốn của họ. Do muốn giữ một giá trị “phần thưởng” thực cố định, tức là lãi
suất thực tế cố định, nếu lạm phát tăng thì lãi suất danh nghĩa cũng sẽ tăng. Nếu
lạm phát giảm, lãi suất danh nghĩa sẽ giảm. Sự điều chỉnh tăng giảm này khiến
cho lãi suất thực luôn gần như không đổi trong suốt một chu kỳ dài của nền kinh
tế.
Bội chi ngân sách chính phủ là một yếu tố khác tác động tới lãi suất. Khi bội
chi ngân sách, chính phủ có hai phương án giải quyết cho tình trạng này.
Phương án thứ 1 : Chính phủ phát hành thêm tiền ra công chúng. Phương pháp
này được xem là tương đối đơn giản với chi phí thấp nhất. Khi đó lượng tiền
trong lưu thông sẽ tăng lên. Sự tăng lên của khối lượng tiền không đồng nhất với
sự gia tăng hành hóa trong nền kinh tế tất yếu sẽ gây ra lạm phát. Nếu lạm phát
tăng so với năm trước, tất yếu sẽ gây lên sức ép với lãi suất. Vì nếu với mức lạm
phát cao hơn, mà lãi suất danh nghĩa vẫn giữ nguyên thì lãi suất thực sẽ giảm.
Như thế sẽ gây thiệt hại đối với người cho vay. Dưới tác động này, để giữ nguyên
lãi suất thực, người ta phải tăng lãi suất danh nghĩa.
7
Phương án thứ 2 : Chính phủ sẽ
phát hành ra các công cụ nợ. Biện
pháp này có chi phí cao hơn nhưng
lại không gây tác động mạnh tới
lạm phát. Việc phát hành thêm các
công cụ nợ của chính phủ khiến
cho nhu cầu về vốn trên thị trường
vốn tăng lên. Nếu giả định rằng
Hình 1.2 : Thay đổi của lãi suất khi
các yếu tố khác không đổi thì lãi
chính phủ phát hành thêm các công cụ
suất thị trường sẽ tăng. nợ
Theo hình 1.2 : Ban đầu, đường
cung vốn là S, đường cầu vốn là D1. Điểm cân bằng thị trường vốn tại E1 : Lãi
suất cân bằng r1 và lượng vốn cân bằng q1. Khi chính phủ phát hành thêm các
công cụ nợ, khiến cho lượng cầu tăng lên tại mỗi mức lãi suất, nên đường cầu vốn
dịch chuyển sang phải tới vị trí D2. Do S không đổi nên điểm cân bằng mới được
xác lập là giao điểm của D2 và S là E2. Tại E2 ta có lãi suất cân bằng mới là r2 và
lượng vốn q2. Ta thấy r2>r1.
Những thay đổi về thuế. Cũng như tác động tới lợi nhuận ròng của doanh
nghiệp, thuế có tác động nhất định tới lãi suất. Thuế tác động mạnh tới lãi suất là
thuế đánh vào thu nhập. Người cho vay sẽ cộng thêm tác động của thuế vào phần
lãi cho vay, sao cho phần thu nhập thực tế của họ được giữ ổn định. Nếu thuế
tăng, lãi suất danh nghĩa tăng và thuế giảm thì ngược lại. Trong một số trường
hợp, nếu tính cả tác động của thế vào phần lãi suất sau khi trừ lạm phát, thì phần
thu nhập thực của người cho vay là rất không đáng kể. Chính vì vậy, khi ban hành
các chính sách thuế, đặc biệt là thuế về thu nhập, các chính phủ cần đặc biệt cân
nhắc tới các tác động của thuế. Vì nếu thu nhập thực sau thuế quá thấp sẽ không
kích thích người dân cung cấp vốn cho thị trường vốn, hay làm giảm cung trên thị
trường.
Những thay đổi trong đời sống xã hội. Yếu tố đầu tiên của đời sống xã hội cần
nhắc tới chính là sự ổn định của nền kinh tế. Sự ổn định này có tác động rất lớn
8
tới nhu cầu đầu tư cũng như các hoạt động tiết kiệm của xã hội. Nó tác động tới
cả đường cung và đường cầu về vốn. Thứ nhất là một đường cầu ổn định, do các
cá nhân, doanh nghiệp hay cả chính phủ đều tiến hành ổn định các hoạt động đầu
tư của mình. Trong khi đó, người dân, các tổ chức và cả chính phủ có thể an tâm
tiết kiệm phần vốn dôi thừa của mình. Nếu có bất ổn xảy ra, dù ở bất cứ yếu tố
thuộc cung hay cầu đều khiến lãi suất biến động. Lãi suất biện động mạnh sẽ tạo
tác động dội lại các biến số khác.
Yếu tố thứ hai chính là sự phát triển của thị trường tài chình. Khi thị trường tài
chính phát triển cao, việc tự do mua bán các giấy tờ có giá hay sự xuất hiện của
các lọai giấy tờ có giá mới trở nên mở rộng và phổ biến sẽ giảm bớt các rủi ro cho
người cho vay. Do đó, trong những điều kiện không đổi khác, sự phát triển này có
thể khiến lãi suất giảm.
2 – Khái quát về tài chính vi mô.
Định nghĩa về tài chính vi mô , theo quan điểm của ADB, Tài chính vi mô là
việc cung cấp một phạm vi rộng các dịch vụ như tiền gửi, các tài khỏan tiết kiệm,
thanh toán, bảo hiểm, chuyển tiền cho người nghèo hoặc các hộ gia đình có thu
nhập thấp, những hoạt động kinh doanh cá thể hoặc các doanh nghiệp rất nhỏ.
Vào thời điểm bắt đầu của họat động tài chính vi mô, dịch vụ tài chính đầu tiên
được cung cấp là cho vay. Hoạt động cung cấp các khoản tín dụng nhỏ được phát
triển mạnh mẽ tại rất nhiều nước. Có lẽ chính vì vậy, quan điểm đầu tiên về tài
chính vi mô cho rằng đây chỉ đơn thuần là việc cung cấp các khoản tính dụng nhỏ
và những khóa đào tạo đơn giản về cách sử dụng hợp lý nguồn vốn đi kèm với
các khoản tín dụng. Tuy nhiên, cùng với sự mở rộng của họat động tín dụng, mà
đi kèm theo nó là một số lượng lớn dân số thoát khỏi cảnh nghèo đói, những nhu
cầu mới được nảy sinh. Khách hàng sử dụng các dịch vụ tài chính vi mô không
chỉ là những người nghèo hay những hộ gia đình có thu nhập thấp mà mở rộng ra
là những tiểu doanh nghiệp với quy mô rất nhỏ. Thêm vào đó, nhu cầu về các
dịch vụ mới như tiền gửi tiết kiệm, bảo hiểm hay chuyển tiền đã phát sinh. Hiện
nay, hầu hết các tổ chức tài chính vi mô đều cung cấp ít nhất là hai dịch vụ là cho
vay và tiền gửi tiết kiệm.
9
Đối với dịch vụ cho vay truyền thồng, các khoản vay đã được mở rộng ra nhiều
loại. Nếu phân theo mục đích sử dụng, hiện nay các tổ chức không chỉ cung cấp
các khoản vay phục vụ họat động kinh doanh mà còn có các khỏan tín dụng đa
mục đích, phục vụ các nhu cầu tiêu dùng của người vay. Đối với khoản vay phục
vụ sản xuất, thời hạn đang được mở rộng để phục vụ cho việc tài trợ cho các tài
sản cố định. Đối với sản phẩm tiết kiệm, bên cạnh các khỏan tiết kiệm bắt buộc
để phục vụ cho việc đảm bảo cho các khoản vay, các tổ chức đã cung cấp các
khỏan tiền gửi tự nguyện với những thời hạn khác nhau. Điểm khác biệt lớn giữa
các tài khỏan tiết kiệm này và các tài khỏan tiết kiệm ở ngân hàng thương mại là
số dư tối thiểu thấp hơn nhiều. Thứ hai là số tiền tối thiểu cho mỗi lần gửi tiền
thêm vào tài khoản cũng thấp hơn nhiều.
Những tổ chức cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô. Hiện nay, người ta sử
dụng tiêu chí phân loại theo sự điều chỉnh của ngân hàng nhà nước.Theo tiêu chí
này thì ta có thể phân các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô ra thành ba
khu vực, khu vực chính thức, khu vực bán chính thức và khu vực phi chính thức.
- Khu vực chính thức : bao gồm các ngân hàng phát triển cộng đồng, ngân
hàng phát triển tư doanh, ngân hàng tiết kiệm và những ngân hàng tiết
kiệm bưu điện, ngân hàng thương mại và những trung gian tài chính phi
ngân hàng. Đây là đối tượng không chỉ của luật pháp, nguyên tắc chung mà
còn là đối tượng của các pháp lệnh của ngân hàng trung ương.
- Khu vực bán chính thức: bao gồm các tổ chức phi chính phủ, các đoàn thể
xã hội, các dự án của chính phủ … Không chịu sự quản lý trực tiếp của
ngân hàng trung ương. Trong một số trường hợp, các pháp lệnh được ban
hành bởi ngân hàng trung ương có hiệu lực với những đối tượng này,
nhưng trong những trường hợp khác thì không. Ở một số quốc gia, ngân
hàng trung ương và chính phủ đã ban hành ra những văn bản chuyên biệt
để điều chỉnh họat động tài chính vi mô.
- Khu vực phi chính thức: khu vực này hoàn toàn không chịu sự điều chỉnh
của ngân hàng trung ương. Bao gồm các nguồn hỗ trợ tín dụng từ người
thân, bạn bè, những người cho vay nặng lãi, những người bán hàng chịu …
10
Trên thực tế, đây vẫn là nguồn huy động vốn sản xuất chính của người dân
khi mà khả năng tiếp cận tới các dịch vụ tài chính của họ là rất hạn chế.
Đối tượng của tài chính vi mô là những người nghèo, có thu nhập thấp nhưng
có việc làm cụ thể. Họ cần vốn để mở rộng kinh doanh, nhằm làm tăng thu nhập.
Hoạt động tài chính vi mô có thể cung cấp thêm một số khóa hướng dẫn về sử
dụng vốn cho những người tham gia nhưng không nên nhầm hiểu đây là những
hoạt động dạy nghề giới thiệu việc làm. Trong hoạt động tài chính vi mô thương
mại, những người rất nghèo hoặc không có việc làm ổn định không thể được coi
là đối tuợng để tiếp cận.
Để xác định đối tượng cho các họat động tài chính vi mô, thông thường các nhà
xây dựng chương trình căn cứ vào các chỉ tiêu để xác định ranh giới nghèo đói.
Đường ranh giới này lấy chỉ tiêu quan trọng nhất là thu nhập. Nếu một người có
thu nhấp thấp hơn 1$/ngày hay 350$/năm thì được coi là người nghèo. Nhưng
không chỉ những người nằm dưới ranh giới nghèo đói mà những người năm ở
phía trên nhưng rất gần ranh giới nghèo đói cũng là đối tượng của hoạt động tài
chính vi mô. Trên thực tế, có nhiều trường hợp ta thấy rất rõ ràng sự dịch chuyển
của một nhóm dân số xoay quanh ranh giới nghèo đói. Bằng nhiều hình thức hỗ
trợ ban đầu của chính phủ, nhóm người này chuyển từ khu vực dưới ranh giới
nghèo đói lên phía trên. Nhưng ngay sau đó, họ dịch chuyển trở lại vị trí cũ. Hiện
tượng này đã xảy ra ở một số quốc gia như Ấn Độ và Philippines, thể hiện sự
không bền vững trong công tác xóa đói giảm nghèo của các nước này.
3 - Những quan điểm về lãi suất trong hoạt động tài chính vi mô.
Theo tổng kết của chúng tôi, hiện nay có hai quan điểm cơ bản về lãi suất áp
dụng trong họat động tài chính vi mô. Đó là quan điểm về lãi suất trợ cấp (hay trợ
giá lãi suất) và quan điểm về lãi suất thương mại. Hai quan điểm này khác nhau
cơ bản nhất trong phần lãi suất cho vay. Lãi suất huy động của các phương án lãi
suất này gần như không có nhiều khác biệt. Sở dĩ không có sự khác biệt nhiều
trong lãi suất huy động vì một lý do là nguồn vốn huy động của các tổ chức tương
đối giống nhau. Cơ cấu vốn của các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô
thường gồm : Nguồn vốn viện trợ từ các tô chức nước ngoài với chi phí thấp
11
(hoặc gần như bằng không), nguồn vốn hỗ trợ từ phía chính phủ, vốn tự có và vốn
huy động trong dân cư. Đối với các khoản hỗ trợ thì chi phí rất thấp và thực tế là
gần như tổ chức không phải chi trả một khoản chi phí nào để tiếp cận. Nhưng để
có được nguồn vốn từ dân cư thì dù hoạt động theo chính sách lãi suất nào thì tổ
chức đều phải huy động theo lãi suất thị trường. Chính vì những điểm chung này
dẫn tới một sự thật là, nếu hai tổ chức hoạt động trên cùng một địa bàn, trong
cùng một khoảng thời gian, cùng cơ cấu vốn từ các nguồn giống nhau thì chi phí
vốn trung bình của các tổ chức này gần tương đương nhau.
a. Quan điểm thực hiện chính sách trợ giá lãi suất
Theo quan điểm này, nên thực hiện lãi suất cho vay thấp trong hoạt động tài
chính vi mô. Theo đó lãi suất cho vay có thể thấp hơn lãi suất huy động ở những
tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này. Quan điểm này cho rằng việc tiếp cận tới
được các dịch vụ tài chính là một điều kiện rất quan trọng giúp người dân thoát
khỏi nghèo đói.
ƒ Khi đề ra chính sách lãi suất trợ cấp, nhưng nhà xây dựng chính sách đã dựa
vào một số tư tưởng sau :
Thứ nhất, xuất phát từ quan điểm rằng người nghèo cần vốn nhưng họ có rất
nhiều khó khăn trong việc sản xuất kinh doanh và cuộc sống. Họ cũng cho rằng,
người nghèo là những người không có khả năng tíêt kiệm và khả năng trả nợ của
họ rất hạn chế. Theo góc nhìn này, người nghèo là những người đáng thương và
cần những sự giúp đỡ mang tính chất từ thiện nhiều hơn. Chính vì vậy, cung cấp
tín dụng với lãi suất thấp không chỉ khuyến khích người nghèo có vốn làm việc
mà còn tạo thêm nguồn tiết kiệm cho họ. Do khả năng trả nợ kém nên lãi suất
thấp chính là ưu đãi khuyến khích họ trả nợ. Hơn nữa, tránh cho những người vay
vốn khỏi lâm vào tình trạng phá sản khi phải vay với lãi suất cao
Thứ hai, thực hiện lãi suất thấp như là một hình thức trợ cấp trong người
nghèo, cũng như việc thực hiện các trợ cấp khác về giá hay ưu đãi về thuế trong
nông sản. Nhà nước đã có nhiều chính sách khác để bảo vệ nền sản xuất trong
nước như chính sách tỷ giá thấp để khuyến khích xuất khấu, chính sách thuế để
hạn chế nhập khẩu. Lãi suất thấp như một hình thức hỗ trợ nhằm làm giảm chi phí
12
vốn, từ đó giảm chi phí sản xuất của các hộ sản xuất. Chính sách này còn giúp các
hộ nông dân vượt qua được một số khó khăn khi xảy ra những tai biến bất ngờ
như thiên tai hoặc biến động bất thường của thị trường.
Thứ ba, khuyến khích người nghèo vay vốn - mở rộng tín dụng, cung cấp nhiều
hơn vốn tới người nghèo để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Với những
quan điểm trên về lợi ích của lãi suất trợ cấp với người nghèo, việc người nghèo
tới vay vốn nhiều hơn là hoàn toàn chính xác. Lãi suất thấp khuyến khích cho vay
tới những hộ thuộc diện nghèo nhất. Điều này có thể giải thích ngắn gọn khi coi
tín dụng như một loại hàng hóa và lãi suất chính là giá của loại hàng hóa đó. Nhu
cầu vay vốn của người nghèo là cầu cho hàng hóa đó. Ta biết một quy luật quan
trọng liên quan đến cầu của bất cứ hàng hóa và dịch vụ nào, đó là giá giảm thì cầu
tăng và giá tăng thì cầu giảm. Khi giảm lãi suất cho vay giảm xuống, nhìn theo cơ
chế này thì tất yếu cầu vốn vay tăng lên là một điều hoàn tòan dễ hiểu.
Thứ tư, chính sách lãi suất trợ giá loại bỏ những kẻ cho vay nặng lãi ra khỏi thị
trường. Theo quan điểm này, những người cho vay chuyên nghiệp ở khu vực phi
chính thức là những kẻ độc quyền cho vay nặng lãi, bóc lột người nghèo bằng
những lãi suất cắt cổ. Với lãi suất quá cao nên hầu như những gì người vay vốn
làm ra đều rơi vào túi của những người cho vay này. Khi có những chương trình
cho vay theo lãi suất thấp, người dân sẽ không phải vay ở những người cho vay
này nữa. Như vậy, thị trường của những người cho vay nặng lại sẽ thu hẹp lại và
tiến tới biến mất.
Thứ năm, lãi suất bao cấp như là một công cụ hữu hiệu giúp chính phủ thực
hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo. Bằng vịêc khuyến khích người dân có
vốn để sản xuất kinh doanh sẽ làm tăng thu nhập của họ. Thu nhập tăng sẽ dẫn tới
tiết kiệm tăng và đời sống ngừơi dân được cải thiện. Với khoản tiết kiệm lớn hơn
và khả năng tiếp cận tới các nguồn vốn giá rẻ được duy trì, người dân lại có thể
tiếp tục mở rộng sản xuất, tăng thu nhập. Quá trình này sẽ đi theo một vòng xóay
với chiều hướng lên trên. Nghĩa là đời sồng của người sẽ tiếp tục tăng lên theo
mỗi chu kỳ đầu tư và tiết kiệm như vậy.
13
Thực tế, các lý do này được coi như những ưu điểm quan trọng của chính sách
lãi suất trợ cấp. Dựa vào những ưu điểm này mà nhiều quốc gia đã thực thi các
chương trình cung cấp tín dụng tới ngừoi nghèo với lãi suất thấp. Có nhiều
chương trình đã đạt được những thành công nhất định. Nhưng trong quá trình
thực thi chính sách này, ngừoi ta phát hiện ra nhiều điểm bất hợp lý, khiến cho rất
nhiều chương trình phải kết thúc. Bên cạnh đó, nhưng mặt tích cực được đề ra
trên đây không hẳn đã được phát huy như khi xây dựng chính sách người ta vẫn
mong muốn.
ƒ Những hạn chế xuất hiện khi thực hiện chính sách lãi suất trợ cấp có thể thấy
như sau :
Thứ nhất, sự bất hợp lý giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động trong một tổ
chức tài chính có thể ảnh hưởng tới khả năng bền vững tài chính của chính tổ
chức đó. Cụ thể là đôi khi lãi suất huy động bằng hoặc cao hơn lãi suất cho vay.
Kết quả là tổ chức không thể bù đắp được cho hoạt động hiện tại. Gây sói mòn
khả năng tài chính của tổ chức. Nguồn vốn hoạt động bị sói mòn ảnh hưởng rất
lớn tới chất lượng dịch vụ tín dụng được cung cấp tới người dân, đặc biệt là hoạt
động thẩm định và lựa chọn người vay. Để duy trì hoạt động như bình thường thì
sức ép tăng vốn đối với các tổ chức là rất lớn. Nguồn vốn tài trợ được xem là giải
pháp cho tổ chức, nhưng nguồn vốn này rất nhỏ và không thường xuyên. Hơn
nữa, vịêc huy động từ dân cư và tăng vốn từ nội bộ là khó khăn, bởi chi phí của
hai nguồn này rất lớn sẽ làm tăng thêm tình trạng kém bền vững về tài chính của
tổ chức. Việc các tổ chức cung cấp tín dụng giá rẻ phải thu hẹp hoạt động dần rồi
tiến tới rút khỏi thị trường là một hiện tượng phổ biến đã xảy ra ở nhiều nước
thực hiện chính sách lãi suất này.
Thứ hai, trên thực tế, không thể loại bỏ được những người cho vay nặng lãi ra
khỏi thị trường. Việc thiếu vốn và kém bền vững về tài chính đẩy tới thu hẹp việc
cung cấp các khoản tín dụng giá rẻ sẽ bỏ lại cho khu vực phi chính thức một thị
trường lớn. Tuy nhiên, ngay cả khi thực hiện bước đầu chính sách, số lượng
những người cho vay ở khu vực phu chính thức hoàn toàn không giảm đi. Người
dân vẫn tìm tới họ bởi vì khả năng cung cấp vốn rất nhanh, thủ tục đơn giản và
14
một số người cho vay không đòi hỏi thế chấp. Điều này cho thấy một sự thật là
không phải lãi suất thấp là yếu yếu tố quyết định việc người dân có vay vốn hay
không.
Thứ ba, Lãi suất thấp ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường tài chính. Khi chính
sách lãi suất thấp được thực hiện, một lượng lớn khách hàng bị thu hút bởi nguồn
vốn giá rẻ này, trong số đó có những ngừơi không nằm trong diện được cung cấp.
Qua những kinh nghiệm thực tế cho thấy những người không có nhu cầu thực sự
bức xúc với những khoản tín dụng
giá rẻ này lại là những đối tượng
được cho vay nhiều nhất. Như vậy,
tạo sức ép lên các tổ chức tín dụng
thương mại hoạt động tại địa
phương khi họ để mất một số
lượng lớn các khách hàng. Điều
này khiến họ lâm vào cuộc cạnh
tranh lãi suất với chính các chương Hình 1.3 : Thị trường vốn khi thực hiện
lãi suất trợ cấp
trình xóa đói giảm nghèo.
Hình 1.3 : Khi các chương trình thực hiện lãi suất trợ cấp R1 thấp hơn lãi suất
cân bằng r. Lượng vốn các tổ chức sãn sàng cung cấp tại lãi suất R1 là q1. Lượng
vốn mà thị trường cần là q2. Ta thấy q1thị trường khi cầu vượt quá cung.
Để đảm bảo cho hoạt động tín dụng trợ cấp, một lượng vốn lớn đã được đổ vào
đây, và để duy trì hoạt động này thì cần một lượng vốn nhiều không kém. Chính
phủ, trong một số trường hợp là những nhà đầu tư chính cho những hoạt động
kiểu này. Vốn không thu hồi lại được cộng thêm với việc đầu tư càng nhiều lỗ
càng lớn khiến cho một lượng lớn nguồn vốn bị mất đi. Trong khi đó, chi tiêu của
các chính phủ ở các nước cần phải phân bổ cho nhiều hoạt động khác. Tăng
nguồn vốn cho hoạt động này sẽ ảnh hưởng tới các hoạt động khác như an ninh,
giáo dục, y tế … Rất nhiều chương trình phúc lợi xã hội sẽ bị ảnh hưởng trong
15
tương lai, mà chính những dịch vụ này mang lại lợi ích không nhỏ cho người
nghèo.
Thứ tư, tỷ lệ hoàn trả thấp, trừ một vào trường hợp đặc biệt, tỷ lệ không hoàn
trả ở các nước đang phát triển giao động khoảng từ 40 đến 95%. Lãi suất cho vay
nông dân sản xuất nhỏ và nghèo càng thấp thì tỷ lệ hòan trả càng thấp. Nguyên
nhân của hiện tượng này là : (i) không có khả năng trả nợ được (ví dụ như mất
mùa); (ii) do người dân coi đây là một khỏan trợ cấp hay hỗ trợ nên không có tư
tưởng phải hoàn trả. Trong đó, nguyên nhân thứ hai chính là nguyên nhân dẫn
đầu.
Chính vì những nhược điểm của chính sách này, ngày nay các tổ chức quốc tế
khuyến cáo chính phủ và những tổ chức tín dụng cung cấp các dịch vụ tài chính
cho người nghèo không nên áp dụng như một chính sách lãi suất phổ thông trong
hoạt động tài chính vi mô. Hiện nay, các tổ chức đang có xu hường tiến tời mức
lãi suất thị trường cho hoạt động cho vay của họ.
Như ta đã thấy, trong việc thực thi chính sách lãi suất trợ cấp có sự liên quan
mật thiết của Chính phủ trong đó. Khi các tổ chức cung cấp các dịch vụ tài chính
vi mô đã ngày càng nhận ra được những nhược điểm của chính sách lãi suất này
thì dường như một số chính phủ là những người tương đối “bảo thủ” và giữ
nguyên nhiều quan điểm của mình về họat động này. Đây một phần là do những
định kiến tương đối cố hữu và một phần khác là do sự thiếu hiểu biết của chính
phủ về hoạt động tài chính vi mô. Ở phần trên, chúng tôi trình bày về trường phái
lãi suất này đứng trên phương diện của những người xây dựng và thực thi những
chương trình tài chính vi mô (có thể bao gồm cả các chính phủ). Đối với trường
hợp chính phủ là người đứng ngoài, chủ trương thực hiện chính sách lãi suất bao
cấp hiện vẫn đang tồn tại và nổi lên ở một số nuớc. Chính phủ có trong tay công
cụ pháp luật để điều chính lãi suất trong các hợp đồng tín dụng của tổ chức cung
cấp dịch vụ tài chính vi mô, đó là lãi suất trần. Và khi mức lãi suất này ban ra, tổ
chức bị ảnh hưởng rất mạnh mẽ và họ có thể không được hưởng trợ cấp hoặc hỗ
trợ nào từ phía chính phủ cho việc thực thi lãi suất trần này. Theo một số các
16
đánh giá, đây có thể coi là một chính sách hạn chế sự phát triển của hoạt động tài
chính vi mô.
b. Quan điểm thực hiện lãi suất hướng tới lãi suất thị trường (lãi suất
thương mại)
Sau một thời gian dài thực hiện lãi suất bao cấp, hàng lọat các chương trình tài
chính vi mô bị sụp đổ bới các hạn chế của nó. Một xu hướng mới về chính sách
lãi suất đã xuất hiện với mục đích hạn chế được các tác động tiêu cực của chính
sách lãi suất bao cấp đã được thực hiện. Chính sách lãi suất mới này, chính sách
lãi suất thương mại, được xây dựng dựa trên những cái nhìn mới về năng lực tài
chính của người nghèo. (Bảng 1.4)
Bảng 1.4 : Quan điểm cũ và mới về người nghèo
Quan điểm cũ về người nghèo Quan điểm mới về người nghèo
Những người sản xuất kinh doanh nhỏ Những người kinh doanh nhỏ rất giỏi
cần được quan tâm đến bởi vì họ là kinh doanh trong nền kinh tế địa
người nghèo phương. Họ thường là những người có
nhiều năm kinh nghiệm buôn bán với
những quyết tâm và hết lòng với công
việc. Tin vào sự hiểu biết và sự giỏi
làm ăn của khách hàng là một điều hết
sức quan trọng.
Các họat động sản xuất kinh doanh nhỏ Mặc dù nằm ngoài hệ thống tài chính
là thừa, nên thay thế bằng các doanh chính thức, các cơ sở sản xuất kinh
nghiệp lớn hơn sử dụng nhiều nhân doanh nhỏ vẫn tồn tại được và rất quan
công trọng đối với địa phương, nhưng cần
được sự cải thiện. Những họat động
kinh tế quy mô nhỏ này là những họat
động kinh doanh chắc chắn được thực
hiện một cách nghiêm túc.
17
Người nghèo không đáng tin cậy trong Tỷ lệ hoàn trả cao của rất nhiều tổ chức
họat động tín dụng. Nhu cầu tiêu dùng cung cấp dịch vụ tài chính vi mô đã
của người nghèo rất cấp bách vì thế họ chứng minh rằng ngừơi nghèo hoàn
nhanh chóng sử dụng bất kỳ một khoản toàn có khả năng trả nợ. Không thể phủ
vay nào vào mục đích tiêu dùng. nhận rằng người nghèo có nhu cầu chi
tiêu rất lớn nhưng về phía tổ chức họat
động trong lĩnh vực tài chính vi mô, sự
cải thiện cuộc sống của khách hàng từ
chính những khoản vay của mình cũng
quan trọng không kém.
Người nghèo không thể tiết kiệm Tỷ lệ tiết kiệm của người nghèo rất cao,
theo báo cáo của rất nhiều tổ chức tài
chính vi mô, chứng minh rằng người
nghèo cũng có khả năng tiết kiệm.
Nghèo đói đã gây ra một ảnh hưởng Sự thành công đáng chú ý của các tổ
méo mó rằng người nghèo không thể chức tài chính vi mô khi họ thực hiện
cải thiện điều kiện sống của họ. thành công hoạt động cho vay tới hàng
triệu người nghèo mà đa số họ đều sống
dưới mức nghèo khổ đã chứng minh
rằng người nghèo hoàn tòan có thể tiếp
cận tới các dịch vụ tài chính, thông qua
đó cải thiện dần dần mức sống của họ.
Từ những quan điểm này, những nhà xây dựng chương trình cho rằng người
nghèo luôn có nhu cầu lớn về các dịch vụ tài chính, họ sẵn sàng trả mức lãi suất
cao ở mức hợp lý để có được cơ hội tiếp cận tới các dịch vụ tài chính với chất
lượng cao và kịp thời. Về phía tổ chức cung cấp, để đảm bảo sự bền vững và phát
triển, thực hiện mức lãi suất cao. Theo đó lãi suất cho vay luôn lớn hơn lãi suất
huy động. Tức là, lãi suất cho vay phải đủ để bao phủ 4 yếu tố chi phí : (i) lãi suất
18