Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011 2020 (kèm theo công văn số 3310bnn kh ngày 12102009 của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn)

  • 82 trang
  • file .pdf
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
GIAI ĐOẠN 2011- 2020
(Kèm theo công văn số: 3310/BNN-KH ngày 12/10/2009 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nong thôn)
Hà Nội 10/2009
1
MỞ ĐẦU
Theo phân công của Tiểu ban Chiến lược Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xây dựng Chiến lược phát triển Nông
nghiệp Nông thôn giai đoạn 2011 - 2020 để tham gia Chiến lược Kinh tế xã hội
thời kỳ 2011 - 2020 của cả nước. Bố cục của Chiến lược gồm 4 phần:
Phần I - Đánh giá thực trạng thực hiện chiến lược 10 năm 2001-2010 trong
nông nghiệp, nông thôn
Phần II – Quan điểm, mục tiêu và định hướng chiến lược
Phần III - Các giải pháp thực hiện chiến lược
Phần IV - Tổ chức thực hiện
Ngoài ra còn có Phụ lục số liệu và chỉ tiêu dự báo đến 2015 và 2020.
2
Phần I.
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 10 NĂM QUA
1. Thành tựu
Trong 10 năm qua, sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn tiếp tục phát
triển, đạt nhiều thành công lớn.
 Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng trưởng nhanh
Từ năm 2000 đến nay, tăng trưởng giá trị sản xuất của nông nghiệp bình quân
đạt gần 5,5%/năm. Trong giai đoạn gần đây, mặc dù trung bình mỗi năm giảm
đi khoảng 70.000 ha đất nông nghiệp, trên 100 nghìn lao động, tỷ trọng trong
đầu tư xã hội giảm, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp nhưng nông, lâm,
thủy sản vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng GDP 3,8%/năm.
 Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển dịch tích cực
Cơ cấu sản xuất nông, lâm, thuỷ sản chuyển dịch tích cực theo hướng nâng cao
năng suất, chất lượng, hiệu quả gắn với nhu cầu thị trường. Tỷ trọng nông
nghiệp (bao gồm cả nông, lâm, diêm nghiệp và thuỷ sản) trong tổng GDP cả
nước giảm từ 24,5% năm 2000 xuống còn 20,3% năm 2007 và tăng trở lại
22,1% năm 2008. Trong nội bộ ngành đang có xu hướng tăng nhanh tỷ trọng
thuỷ sản, giảm tỷ trọng trồng trọt trong giá trị sản lượng. Trong giai đoạn 2000 -
2008, tỷ trọng thuỷ sản tăng từ 16% lên 23% trong khi trồng trọt giảm từ 65%
xuống còn 57%.
Trong nội bộ các ngành cũng diễn ra các chuyển biến cơ cấu tích cực. Trong
trồng trọt, giai đoạn 2000 - 2008 diện tích gieo trồng lúa giảm hơn 250.000 ha,
trong khi diện tích các cây công nghiệp, rau màu và cây ăn quả tiếp tục mở
rộng. Trong chăn nuôi, hình thức chăn nuôi trang trại, gia trại đang thay thế dần
mô hình chăn nuôi tận dụng nhỏ lẻ ở gia đình. Trong thủy sản, nghề khai thác
xa bờ phát triển nhanh. Đến nay, tổng số tầu thuyền có 130.963 chiếc với tổng
công suất 5.400.000 CV. Trong đó tầu thuyền có công suất 90 CV trở lên có
14.500 chiếc, chiếm tỷ trọng 11%. Hoạt động khai thác đang có xu hướng
chuyển dần ra xa bờ, sử dụng các phương tiện, máy móc hiện đại như máy tầm
ngư, định vị nhằm tăng hiệu quả sản xuất. Diện tích nuôi trồng thủy sản tăng rất
nhanh, từ năm 2000 đến 2008 tăng 408.100 ha. Nuôi trồng Thủy sản tiếp tục đa
loài, đa loại hình, đa phương thức hướng thân thiện với môi trường. Sản phẩm
nuôi trồng, khai thác thủy sản ngày càng gia tăng không chỉ đáp ứng nhu cầu
3
tiêu dùng trong nước mà còn cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu.
Trong lâm nghiệp, việc trồng rừng sản xuất được đẩy mạnh với chương trình
trồng mới 5 triệu ha. Tỷ lệ che phủ rừng năm 2008 đạt 38,7%. Nhiều nơi đã tiến
hành khai thác kinh doanh tổng hợp, phát triển chế biến lâm sản. Đồ gỗ sau chế
biến đã trở thành một mặt hàng xuất khẩu quan trọng.
Cơ cấu kinh tế nông thôn cũng chuyển biến tích cực. Từ một nền kinh tế thuần
nông, đến năm 2007, trong khu vực nông thôn, công nghiệp và dịch vụ đã
chiếm khoảng 60% cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp ở nông
thôn đã tăng từ 17,3% năm 2001 lên 19,3% năm 2007. Nhiều khu công nghiệp,
cụm công nghiệp, các làng nghề đang phát triển nhanh ở nông thôn. Ngành
công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản tăng trưởng giai đoạn 2001 đến 2006
ở mức 14,8%/năm, nâng giá trị chế biến nông, lâm sản năm 2007 lên 28% cơ
cấu giá trị sản xuất và 14% giá trị xuất khẩu của ngành công nghiệp.
 Đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
Sản xuất nông nghiệp phát triển từng bước đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường
trong nước. Mức tiêu dùng lương thực giảm xuống (tiêu dùng gạo giảm từ 12
kg/người/tháng năm 2002 xuống 11,4 kg/người/tháng năm 2006; tương tự, tiêu
dùng các loại lương thực khác cũng giảm từ 1,4 kg/người/tháng năm 2002
xuống 1,0 kg/người/tháng năm 2006). Ngược lại, tiêu dùng thực phẩm tăng lên
(tiêu dùng thịt các loại tăng từ 1,3 kg/người/tháng năm 2002 lên
1,5 kg/người/tháng năm 2006, tiêu dùng tôm, cá tăng mạnh từ
1,1 kg/người/tháng năm 2002 lên 1,5 kg/người/tháng năm 2006...). 10 năm qua,
vượt qua biến động thị trường, thiên tai, dịch bệnh, sản xuất lương thực thực
phẩm tiếp tục phát triển, nhờ đó bình quân lương thực đầu người tăng từ 445 kg
năm 2000 lên 501 kg năm 2008, Việt Nam đảm bảo đủ nhu cầu lương thực
trong nước và xuất khẩu trung bình hơn 4 triệu tấn gạo/năm. So với các nước
trong vùng, giá nông sản, nhất là giá lương thực, thực phẩm ở Việt Nam ở mức
tương đối thấp đã giữ giá ngày công lao động thực ở mức khá thấp, hấp dẫn thu
hút đầu tư nước ngoài và góp phần thiết thực cho công tác xóa đói giảm nghèo.
 Xuất khẩu tăng nhanh, một số mặt hàng có vị thế trên thị trường
quốc tế
1
Tổng cục Thống kê, Điều tra mức sống dân cư 2002, 2004, 2006, Nxb Thống kê.
4
Xuất khẩu các loại nông, lâm sản tiếp tục được mở rộng, một số ngành có thị
phần lớn trong khu vực và thế giới như: gạo, cao su, cà phê, hồ tiêu, hạt điều,
sản phẩm đồ gỗ, thuỷ sản.... Giá trị kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản
giai đoạn 2000 - 2007 đạt 51,9 tỷ USD, bình quân mỗi năm đạt khoảng 6,5 tỷ
USD, tốc độ tăng bình quân 14,9%/năm. Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đạt
11,2 tỷ USD, gấp 2,7 lần năm 2000, trong đó: cao su gấp 8,3 lần; cà phê 3,8 lần;
gạo 2,2 lần; chè 1,6 lần; hạt điều 3,9 lần; hồ tiêu 2,0 lần, sản phẩm gỗ 5,9 lần.
Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt trên 4,5 tỷ đô la, chiếm 25% so
với tổng kim ngạch xuất khẩu của khối nông, lâm, ngư nghiệp. Đã có 5 mặt
hàng đạt mức trên 1 tỷ USD là thuỷ sản, cà phê, gạo, cao su, đồ gỗ. Lĩnh vực
nông lâm ngư nghiệp là lĩnh vực duy nhất trong nền kinh tế liên tục xuất siêu,
năm sau cao hơn năm trước, kể cả trong những giai đoạn kinh tế gặp khó khăn.
Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 đạt khoảng 16 tỷ USD gấp 3,8 lần năm 2000,
trong đó tăng trưởng trung bình của các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu giai đoạn
2000 - 2008 là: gạo 13,6%, cà phê 19,4%; cao su 32,5%; điều 27,8%; hải sản
19,1%.
Nhờ những thành tựu trên, nông nghiệp phát triển, nông thôn đổi mới đã góp
phần quan trọng tạo ổn định chính trị, kinh tế và xã hội, mở đường thành công
và làm nền tảng vững chắc cho quá trình đổi mới đất nước. Trong những giai
đoạn khó khăn nhất của quá trình đổi mới và phát triển kinh tế, nông nghiệp,
nông thôn luôn là lĩnh vực tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế đất nước.
 Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn cải thiện rõ rệt
Về cơ bản, Việt Nam đã xóa được đói. Công tác giảm nghèo được tập trung đẩy
mạnh, hướng vào các đối tượng khó khăn vùng sâu vùng xa, đồng bào dân tộc.
Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo cũ giảm nhanh từ 19% năm 2000 (3,1
triệu hộ) xuống còn 7% năm 2005 (1,2 triệu hộ), trung bình mỗi năm giảm 2 -
2,5%. Tuy vậy, nếu so với chuẩn mới, số hộ nghèo vẫn còn cao, khoảng 12%
năm 2008 trong đó khu vực nông thôn là 16,2%.
Thu nhập bình quân đầu người hộ nông dân tăng từ 2,7 triệu đồng/người năm
1999 lên khoảng 7,8 triệu đồng/người năm 2007 tính theo giá hiện hành. Từ
năm 2001 đến 2006, tích lũy để dành của hộ nông thôn tăng lên gấp 2,1 lần,
bình quân từ 3,2 triệu đồng/hộ lên 6,7 triệu đồng/hộ.
5
Nhiều xã, thôn ở nông thôn vùng Đồng bằng Bắc bộ, vùng miền Trung đã cơ
bản hoàn thành việc “xóa” nhà tranh tre, nứa lá; nhiều huyện, xã ở miền Bắc và
miền Trung đã cơ bản “ngói hoá” nhà ở. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, thực
hiện Nghị quyết “Phát triển kinh tế- xã hội và bảo đảm quốc phòng- an ninh
khu vực Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2001- 2010” đã xây dựng trên
1.100 cụm, tuyến dân cư, đảm bảo bố trí cho khoảng 200 ngàn hộ dân đang
sống thường xuyên trong vùng ngập lũ và “sống chung với lũ” khi có lũ lớn.
Năm 2002, tỷ lệ nhà kiên cố và bán kiên cố ở khu vực nông thôn tương ứng là
12,6% và 59,2% thì năm 2006 đã tăng lên 17,2% và 61,0%. Tỷ lệ nhà tạm từ
28,2% năm 2002 xuống còn 19,3% năm 2006.
Năm 2007, 12,2% xã có hệ thống thoát nước thải chung, 28,4% xã có tổ chức
thu gom rác thải, 54% hộ dân có nhà tiêu hợp vệ sinh. Đến năm 2006, 38% cư
dân nông thôn được khám chữa bệnh, gần 52% cư dân nông thôn có bảo hiểm y
tế. Chương trình bảo hiểm xã hội cho nông dân đã được triển khai tại một số
điểm. Tỷ lệ cư dân trên 10 tuổi biết chữ ở nông thôn đã lên đến 92% năm 2006.
Các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao được tăng cường, nâng cao
mức hưởng thụ về văn hoá cho nhân dân. Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hoá" khơi dậy tinh thần đoàn kết ở cộng đồng dân cư. Tính
đến cuối năm 2006, cả nước có 72,58% gia đình văn hoá và 46% số làng (bản,
thôn, ấp...) văn hóa. Theo báo cáo của các địa phương, đã có trên 80% gia đình
văn hóa và gần 70% làng văn hóa giữ vững được danh hiệu.
Hàng năm, nhân dân đóng góp hàng ngàn tỷ đồng để trùng tu, tôn tạo các di tích
lịch sử - văn hoá và tổ chức trên 8.000 lễ hội. Nhiều hình thức văn hoá dân gian
truyền thống được duy trì, phục dựng, góp phần bảo tồn và phát huy văn hoá
truyền thống của các dân tộc ở cộng đồng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào
dân tộc. Đến năm 2006, đã có trên 70% khu dân cư thực hiện nếp sống văn
minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội.
 Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn được tăng cường làm thay
đổi bộ mặt nông thôn
Đầu tư thuỷ lợi đang hướng sang phục vụ đa mục tiêu. Đến 2008, diện tích lúa
được tưới chủ động là 6,92 triệu ha (đạt 84,8%), rau màu và cây công nghiệp
1,5 triệu ha (đạt 41,3%); đảm bảo tiêu thoát nước cho 1,72 triệu ha đất nông
nghiệp; ngăn mặn 0,87 triệu ha, cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha; góp phần đáng
kể vào việc tăng năng suất, sản lượng và chất lượng các loại cây trồng. Tăng
6
khả năng cung cấp nước sinh hoạt nông thôn và đô thị, đáp ứng nhu cầu ngày
càng tăng về cấp thoát nước phục vụ công nghiệp và phát triển kinh tế với tốc
độ tăng trưởng cao. Hệ thống quản lý, vận hành hệ thống thuỷ lợi được củng cố
và tăng cường năng lực. Hệ thống thuỷ lợi cả nước được vận hành do hơn 100
công ty thuỷ nông với tổng số 22.569 cán bộ công nhân viên và 12.000 HTX, tổ
hợp tác. Nhiều công trình thuỷ lợi kết hợp với phòng chống, tránh lũ được đầu
tư xây dựng góp phần tích cực vào công tác phòng chống giảm nhẹ thiên tai.
Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, giao thông nông thôn có
bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Từ năm 1999 đến nay làm mới
được 24.167 km đường; sửa chữa, nâng cấp 150.506 km đường. Năm 2007 có
tới 96,7% xã có đường ôtô đến khu trung tâm, trong đó 42,6% xã có đường liên
thôn được nhựa, bê tông hoá trên 50%. Năm 2007, 98% huyện, 96,8% xã và
93,3% hộ nông thôn có điện lưới quốc gia.
Điện lưới quốc gia đã cấp điện cho 525/536 huyện, đạt 98%, 10.522 xã phường,
đạt 97%; và 93% hộ. Hầu hết các xã (98,9%) có giá điện thấp hơn 700 đ/kwh.
Cả nước có 47 tỉnh, thành phố có 100% số xã có điện; 6 tỉnh, thành phố có
100% số thôn, bản có điện lưới (thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng,
tỉnh Ninh Thuận, Tây Ninh, Bình Dương, Tiền Giang).
Đến nay, hầu hết các huyện, cụm xã và nhiều xã xây dựng được chợ. Từ 2001
đến 2006 đã xây mới và nâng cấp 1.016 chợ, nâng tổng số chợ cả nước có 9.266
chợ/10.522 xã, phường; riêng địa bàn nông thôn có 6.940 chợ, chiếm 74,9% số
chợ trong cả nước.
Đến năm 2006 có 99,3% số xã có trường tiểu học, 90,8% số xã có trường trung
học cơ sở, có 54,5% số thôn có lớp mẫu giáo, 16,1% số thôn có nhà trẻ.
Đến nay cả nước có 45% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã. 99,3% xã có trạm
y tế. Khu vực nông thôn có 44% trạm y tế xây dựng kiên cố. Đến năm 2006 có
36,9% xã có cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân. 55,6% xã có cửa hàng dược phẩm.
Tính đến năm 2006 lắp được hơn 2.848 tổng đài bưu điện tại vùng nông thôn,
91% số xã có báo đến trong ngày, 100% xã có điện thoại cố định, bình quân
6,67 máy/100 dân; 85,5% xã có điểm bưu điện văn hóa.
Đến năm 2008, tỷ lệ số hộ nông thôn được cấp nước hợp vệ sinh lên tới 75%.
Từ 2006- 2008 tổng đầu tư cho chương trình nước sạch là 7.127 tỷ đồng; trong
đó vốn dân đóng góp khoảng 47,1%, ngân sách 17%, tài trợ của quốc tế 14%.
7
Chương trình 135 đã tập trung xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng cơ bản
phục vụ dân sinh cho các vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi. Mặc dù chất lượng
của các công trình kết cấu hạ tầng ở nông thôn còn thấp so với đô thị nhưng
những nỗ lực của Nhà nước và nhân dân thời gian qua đã làm thay đổi bộ mặt
nông thôn.
 Tổ chức Đảng, các đoàn thể chính trị xã hội và chính quyền địa
phương được củng cố và phát triển
Năm 2007, có 89% số thôn, bản có tổ chức Đảng, bình quân có gần 30 đảng
viên/10.000 dân. Năm 2006 có 62,7% tổ chức cơ sở đảng đạt tiêu chuẩn vững
mạnh; hầu hết cán bộ chủ chốt cấp xã, thị trấn đạt trình độ văn hoá cấp trung
học trở lên; đa số đã qua đào tạo về chính trị với trình độ phổ biến là trung cấp.
Đa số các tổ chức đảng ở cơ sở, các đảng viên phát huy tốt vai trò giữ vững sự
ổn định về tư tưởng chính trị; định hướng, vận động tổ chức nhân dân thực hiện
các chủ trương, chính sách của Đảng và các nhiệm vụ phát triển nông nghiệp,
nông thôn, xây dựng cuộc sống mới trên địa bàn.
Đến năm 2007, trong 9.714 xã, thị trấn của cả nước có 81.300 cán bộ, công
chức đang làm việc, chiếm 72,6% tổng số cán bộ công chức xã phường toàn
quốc; bình quân có 23 cán bộ, công chức cấp xã/ 10.000 dân. Có 56% cán bộ và
công chức cấp xã được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ, trong đó chủ yếu về
nông, lâm, ngư nghiệp và quản lý nhà nước. Các cuộc vận động như "ngày vì
người nghèo", “hỗ trợ người neo đơn, cơ nhỡ…” do Mặt trận Tổ quốc chủ trì và
các phong trào của Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu
chiến binh... cũng đã góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển nông nghiệp,
nông thôn và nâng cao đời sống, ổn định chính trị, xã hội ở nông thôn.
Đến năm 2007, có 100% xã, thị trấn; 97% cơ quan hành chính và 88% doanh
nghiệp nhà nước đã triển khai và thực hiện Qui chế dân chủ cơ sở. Chủ trương
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” tập trung trên một số mặt như: công
tác quy hoạch, giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng; chuyển dịch cơ
cấu sản xuất; huy động sự đóng góp của người dân; hỗ trợ nhân dân khi bị lũ
lụt, bão, tai nạn; phát triển văn hoá, tinh thần của người dân ở nông thôn... bước
đầu phát huy sức sáng tạo, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần của nhân
dân trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, từng bước cải thiện đời
sống, nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết, xây dựng Đảng
bộ, chính quyền và các đoàn thể ở cơ sở trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn và
khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng của một số cán bộ, đảng
8
viên và các tệ nạn xã hội. Nhờ sự phối hợp hoạt động của toàn hệ thống chính
trị và nhân dân, trật tự xã hội nông thôn được đảm bảo, giữ vững an ninh chính
trị, đóng góp tích cực vào công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đất nước.
2. Cơ sở của các thành tựu trên
 Nông dân và mọi thành phần kinh tế tích cực sản xuất, kinh doanh
Nhờ các chính sách và chủ trương hợp lý tạo nên động lực cho người sản xuất,
kinh doanh, cư dân nông thôn và mọi thành phần kinh tế trong thời gian qua đã
hăng hái sản xuất, chủ động sáng tạo, chấp nhận cạnh tranh trên thị trường.
Trong điều kiện thiên tai, dịch bệnh diễn ra ngày càng phức tạp, mức độ bảo hộ
nông nghiệp tương đối thấp, lại phải đương đầu, cạnh tranh với nhiều loại hàng
hóa nhập khẩu, với nhiều biến động phức tạp của thị trường, thậm chí trong
nhiều trường hợp phải khắc phục những khó khăn về cánh kéo giá bất lợi cho
sản xuất nông nghiệp nhưng người nông dân Việt Nam đã nhanh chóng làm
quen với sản xuất hàng hóa, chủ động sáng tạo và áp dụng có hiệu quả khoa học
công nghệ, huy động nội lực, khắc phục khó khăn tạo nên những thành công to
lớn trong sản xuất kinh doanh. Sự hình thành và phát triển thành công của nhiều
mặt hàng nông sản nổi tiếng của Việt Nam như cà phê, hạt điều, hạt tiêu, đồ
gỗ,... chủ yếu nhờ sự năng động và sáng tạo của người sản xuất kinh doanh.
 Nhiều chủ trương, chính sách được ban hành kịp thời và đúng đắn
Khởi đầu quá trình đổi mới, Đảng và nhà nước đã dựa trên những sáng kiến và
đề xuất từ thực tiễn ban hành những chính sách hợp quy luật, hợp lòng dân.
Trong đó, nổi bật là việc giao đất, giao tư liệu sản xuất của hợp tác xã cho hộ
nông dân, tự do hóa thương mại, tạo môi trường vĩ mô thuận lợi cho sản xuất
nông nghiệp. Từ đó đến nay, hàng loạt chính sách và chủ trương mới tiếp tục
được xây dựng và áp dụng, từng bước tạo điều kiện phát triển sản xuất hàng hóa
theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Các chính sách tiếp sức cho dân như cung cấp tín dụng, khuyến nông, chuyển
giao khoa học công nghệ, xây dựng cơ sở hạ tầng,... thực sự tăng cường lực
lượng sản xuất. Các nhóm chính sách hướng vào bảo vệ sản xuất, phòng chống
rủi ro, thiên tai đã tạo điều kiện sản xuất ổn định, hình thành môi trường phát
triển vững bền cho đời sống kinh tế xã hội của cư dân nông thôn. Các chính
sách cải cách tổ chức thể chế như phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế trang trại,
kinh tế hợp tác, liên kết nông dân và doanh nghiệp, sắp xếp lại doanh nghiệp
9
nhà nước và nông lâm trường quốc doanh,... góp phần tích cực vào việc phát
triển quan hệ sản xuất trong nông nghiệp nông thôn. Các nhóm chính sách xóa
đói giảm nghèo, phát triển nông thôn, phát huy dân chủ cơ sở,... đã tạo điều
kiện thuận lợi để cư dân nông thôn phát huy vai trò làm chủ, tạo cho họ điều
kiện tiếp cận với các cơ hội hưởng lợi từ quá trình phát triển của đất nước. Các
nhóm chính sách hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo môi trường pháp lý để phát
huy lợi thế so sánh của nông lâm thuỷ sản Việt Nam trong cạnh tranh quốc tế,
thu hút đầu tư nước ngoài, tranh thủ sự viện trợ rộng rãi của quốc tế cho quá
trình phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam. Việc Việt Nam trở thành
thành viên chính thức của WTO đã mở ra một loạt thị trường mới và thu hút
một lượng lớn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.
 Áp dụng khoa học công nghệ góp phần thúc đẩy sản xuất
Khoa học công nghệ mới được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp. Chương
trình giống đã có hiệu quả lớn, góp phần đáng kể làm tăng năng suất và chất
lượng của nông nghiệp trong những năm qua. Đến nay, đã có trên 90% diện tích
lúa, 80% diện tích ngô, 60% diện tích mía, bông, cây ăn quả,... được dùng
giống mới. Khoảng gần 90% giống cây trồng, vật nuôi được chọn tạo, đưa tỷ
trọng áp dụng giống tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp lên 35%. Áp
dụng các quy trình canh tác tiên tiến, chương trình “3 giảm, 3 tăng”, canh tác
bền vững, phòng trừ tổng hợp IPM, sản xuất theo quy trình GAP.
Trong chăn nuôi sử dụng giống mới vào sản xuất nên năng suất, chất lượng sản
phẩm thịt, trứng, sữa được nâng cao. Trọng lượng lợn hơi xuất chuồng bình
quân tăng 30 kg/con. Trong ngành thuỷ sản đã đưa vào sản xuất một số loài
thuỷ sản có giá trị kinh tế cao. Nhiều cơ sở chế biến thuỷ sản đạt trình độ công
nghệ hiện đại so với một số nước trong khu vực. Lâm nghiệp cung cấp 60%
giống tiến bộ kỹ thuật cho trồng rừng kinh tế. Tỷ lệ thành rừng đối với rừng
trồng từ dưới 50% lên 80%, nhiều nơi năng suất rừng trồng đã đạt 15 -
20m3/ha/năm.
Trong bối cảnh giá ngày công lao động ngày càng tăng, tỷ lệ cơ giới hóa tăng
nhanh trong mọi khâu sản xuất nông nghiệp, trước hết từ các khâu tốn nhiều lao
động trong ngành trồng trọt như gặt đập, tưới tiêu, vận tải, làm đất. Cùng với
mức phát triển của hệ thống điện nông thôn, tỷ lệ áp dụng máy móc thiết bị cơ
giới và điện trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, xây dựng thủy lợi ngày càng
tăng.
10
 Các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị tích cực tham gia trong
hoạt động phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Mặc dù đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển nhanh công nghiệp, đô thị
nhưng nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo
của Đảng, Nhà nước. Trong nhiều chương trình, chiến lược phát triển, nông
nghiệp, nông dân, nông thôn luôn được đặt ở vị trí quan trọng. Các vấn đề nổi
cộm ở nông thôn như đói nghèo, việc làm, phòng chống thiên tai,... được xây
dựng thành các chương trình mục tiêu để huy động sức mạnh của cả nước cùng
tham gia giải quyết. Đặc biệt trong các tình huống thiên tai, dịch bệnh, Nhà
nước và toàn thể hệ thống chính trị đã tập trung chỉ đạo khắc phục thiệt hại,
khôi phục sản xuất đảm bảo đời sống cho nhân dân. Thông qua các phương tiện
truyền thông đại chúng, tình hình nông thôn, nông dân luôn luôn thu hút được
sự quan tâm của cả xã hội nhờ đó tạo nên sự đồng thuận cảm thông và chia sẻ
của toàn dân trong quá trình đổi mới và phát triển. Gần đây, Nghị quyết Trung
ương 26 đã mở ra những định hướng quan trọng trong chỉ đạo chiến lược và
hành động cụ thể để huy động sức mạnh của toàn dân tạo ra chuyển biến mới
trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
3. Các vấn đề tồn tại
Mặc dù đạt được những thành tựu to lớn nhưng sau một giai đoạn phát triển
thuận lợi, nông nghiệp, nông thôn đang đứng trước những khó khăn to lớn.
 Nông nghiệp tăng trưởng kém bền vững và cạnh tranh thấp
Tình trạng “cánh kéo giá” bất lợi cho sản xuất nông nghiệp diễn ra kéo dài
trong nhiều năm. Từ năm 2003 - 2005, giá vật tư nguyên liệu đầu vào của nông
nghiệp tăng trung bình từ 2 - 2,5 lần, giá lao động tăng từ 2 - 3 lần, trong khi đó,
giá nông sản chỉ tăng từ 1,2 - 1,3 lần. Bên cạnh đó, các tài nguyên đầu vào như
đất, nước, lao động và tỷ lệ vốn đầu tư cho nông nghiệp liên tục suy giảm. Sản
xuất nông nghiệp phải đương đầu với hàng loạt rủi ro về dịch bệnh và thiên tai.
Cạnh tranh trên thị trường diễn ra quyết liệt và người nông dân luôn phải chịu
vị thế bất lợi. Vì vậy, tăng trưởng của GDP nông nghiệp thời gian qua có xu
hướng giảm sút. Giai đoạn 1995 - 2000, tốc độ tăng GDP nông nghiệp là 4%,
thì giai đoạn 2000 - 2007 giảm xuống còn 3,7%. Riêng năm 2008, trong bối
cảnh giá nông sản trên thế giới tăng vọt, sản xuất nông nghiệp đã khôi phục
mức tăng trưởng lên 4,1%. Tuy nhiên, cùng với các biến động bất lợi trong kinh
11
tế vĩ mô quốc gia và tác động của khủng hoảng kinh tế quốc tế như tình trạng
lạm phát, biến động giá dầu mỏ, giá nông sản, và tác động của các chính sách
thắt chặt tiền tệ, biến động về tỉ giá hối đoái... đã gây nhiều thiệt hại cho việc
làm và thu nhập của cư dân nông thôn thời gian gần đây.
Trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng lớn (trên 50%) trong cơ cấu nội ngành nông
nghiệp, trong đó cây lương thực, nhất là lúa vẫn chiếm tỷ trọng chính. Trong
những năm gần đây, chăn nuôi, thuỷ sản phát triển nhanh, song còn thiếu bền
vững. Năm 2008, tỷ trọng trồng trọt trong nông nghiệp lại tăng trở lại, tỷ lệ
chăn nuôi và thủy sản giảm sút. Chất lượng một số vật nuôi chưa cao; mô hình
chăn nuôi công nghiệp chưa thật sự phát triển, khả năng kiểm soát dịch bệnh
còn rất khó khăn,
Các vùng nuôi trồng thủy sản cũng ở trong tình trạng thiếu ổn định. Khi giá
tăng thì nông dân ồ ạt phá rừng, phá lúa, chuyển sang nuôi trồng thủy sản và
ngược lại khi giá xuống lại diễn ra tình trạng ứ thừa hàng hóa và nông dân san
lấp các ao hồ nuôi trồng thủy sản để quay trở lại các cây trồng khác.Diện tích
một số các vùng nuôi lớn với mức độ thâm canh cao, xử lý chưa tốt đã gây ô
nhiễm môi trường.
Đóng góp của lâm nghiệp trong tăng trưởng kinh tế còn thấp so với tiềm năng.
Nghề rừng hiện nay đang thể hiện tích cực vai trò đảm bảo cân bằng sinh thái,
môi trường trong khi vai trò là một ngành kinh tế chưa được khai thác hết. Thu
nhập từ lâm nghiệp mới đóng góp một phần rất nhỏ trong tổng GDP và trong cơ
cấu thu nhập của hộ nông thôn. Tuy có những tiến bộ rõ rệt nhưng tình trạng
phá rừng, cháy rừng, khai thác động thực vật hoang dã vẫn diễn ra. Xuất khẩu
đồ gỗ phát triển nhanh nhưng phần lớn nguyên liệu vẫn phải nhập khẩu.
 Nông sản chất lượng thấp, hiệu quả thấp, vệ sinh an toàn thực phẩm
kém
Do quy mô sản xuất nhỏ, manh mún, nông dân chưa được tổ chức trong các hợp
tác xã và hiệp hội ngành hàng, kết cấu hạ tầng phục vụ bảo quản chế biến như
kho tàng, sân phơi, bến bãi,... còn kém phát triển, công nghiệp chế biến nông
sản rất nhỏ bé nên chất lượng nhiều loại nông sản còn thấp, nhất là rau quả, sản
phẩm chăn nuôi. Phần lớn nông sản chế biến xuất khẩu ở dạng sơ chế, mẫu mã
bao bì chưa phù hợp; chưa có thương hiệu, giá trị gia tăng thấp. Vệ sinh an toàn
thực phẩm trong nước và các hoạt động kiểm dịch và vệ sinh dịch tễ đối với
12
hàng hóa nhập khẩu, nhất là qua đường tiểu ngạch, chưa được kiểm tra, kiểm
soát một cách hệ thống trong khi tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp đang là
thách thức lớn trong quá trình hội nhập kinh tế. Người sản xuất và kinh doanh
nông sản ở Việt Nam còn xa lạ với phần lớn các tiêu chuẩn kỹ thuật được áp
dụng phổ biến trên thị trường quốc tế như các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn
thực phẩm, về xuất xứ hàng hóa, về bảo vệ môi trường, về bảo vệ người lao
động, về bảo hộ quyền tác giả, về đảm bảo tính đa dạng sinh học... ngoài ra các
vấn đề về bao bì, nhãn mác, đăng ký thương hiệu, bản quyền, công nghệ,...
cũng chưa được chú ý. Vì vậy, tuy tiêu tốn nhiều công sức tiền bạc và tài
nguyên tự nhiên để sản xuất nhưng giá trị thu được từ kinh doanh thấp, rủi ro
cao.
 Lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ nông thôn chậm phát triển
Từ khi có Luật Doanh nghiệp, số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp nông
thôn đã tăng đáng kể, từ 4574 cơ sở năm 2001 lên 11.238 năm 2005 (không kể
745 nghìn cơ sở sản xuất cá thể). Tuy nhiên, kết cấu kinh tế ở nông thôn vẫn
chủ yếu là thuần nông, các hoạt động phi nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp còn chiếm tỷ lệ nhỏ. Doanh nghiệp ở nông thôn, kể cả doanh
nghiệp sản xuất và kinh doanh, đều có quy mô nhỏ. Nhìn chung công nghệ lạc
hậu, trình độ quản lý thấp, tay nghề lao động yếu, những bất lợi về kết cấu hạ
tầng, dịch vụ phục vụ sản xuất khiến cho khả năng cạnh tranh của các đơn vị
này rất yếu. Có lẽ đây là nguyên nhân chính khiến cho tỷ lệ đầu tư tư nhân và
đầu tư nước ngoài vào nông thôn rất thấp. Đầu tư của tư nhân trong nước vào
khu vực nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 15% tổng số đầu tư mới hàng năm, FDI
cũng chỉ chiếm dưới 5%.
Do doanh nghiệp công nghiệp nông thôn chủ yếu gồm các cơ sở có quy mô
dưới 200 lao động nên hàng năm mới thu hút được 22 vạn lao động, đưa tổng
số lao động khu vực này là 2,227 triệu người (bằng 52% lao động toàn ngành
công nghiệp). Đây cũng là tình trạng chung đối với doanh nghiệp nông nghiệp
và dịch vụ ở nông thôn. Tới cuối năm 2007, có 1244 doanh nghiệp sản xuất
nông nghiệp và 2074 doanh nghiệp chế biến nông sản ở nông thôn, chỉ chiếm
2,1% tổng số doanh nghiệp, chủ yếu vẫn đóng ở các thị trấn, thị tứ hoặc vùng
ven đô thị. Việc sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước được tiến hành tích cực
nhưng chủ yếu mới tập trung vào các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ quy
mô nhỏ. Các tập đoàn và tổng công ty mới chuyển một phần sang hoạt động
13
theo hình thức mẹ - con. Các nông lâm trường chưa có chuyển biến hiệu quả.
Cả nước hiện có 314 nông trường và 368 lâm trường quản lý trên 5,5 triệu ha
đất nhưng chỉ thu hút được trên 200 nghìn lao động. Hoạt động của nhiều doanh
nghiệp nhà nước vẫn kém hiệu quả, 27% doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, số nợ
phải trả chiếm đến 57% tổng doanh thu.
Trong tình hình lao động nông thôn và số thanh niên đến tuổi lao động cần việc
làm vẫn tiếp tục tăng thêm hàng năm ở nông thôn (khoảng hơn 1 triệu người),
việc doanh nghiệp nông thôn và đầu tư về nông thôn tăng trưởng chậm tạo nên
sức ép to lớn về việc làm và thu nhập của cư dân nông thôn. Trong giai đoạn
2001 - 2006, tỷ lệ lao động nông nghiệp đã giảm 10,4%, trong đó chuyển sang
làm công nghiệp - xây dựng 5,1%, làm dịch vụ 4,4%. Lao động trong nông
nghiệp vẫn chiếm 55,7% so với tổng số lao động trong độ tuổi của cả nước và
mới sử dụng 83% thời gian.
Trong kết cấu kinh tế hộ nông thôn, so với năm 2001, năm 2006 tỷ trọng hộ
nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 80,9% xuống còn 70,9%, tỷ trọng hộ
công nghiệp và xây dựng tăng từ 5,8% lên 10%; tỷ trọng hộ dịch vụ từ 10,6%
lên 14,8%. Tỷ trọng cả hai nhóm hộ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đã tăng
8,4%. Quá trình chuyển dịch cơ cấu nông thôn diễn ra khá chậm so với chuyển
dịch cơ cấu kinh tế chung trong cả nước. Vì vậy, thu nhập và điều kiện sống của
cư dân nông thôn không được cải thiện so với mức bình quân chung cả nước.
Thêm vào đó, đang xuất hiện sự phát triển không đồng đều giữa các vùng.
Trong khi tỷ trọng hộ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ ở Đồng bằng sông
Hồng tăng từ 18% năm 2001 lên 33% năm 2006; ở Đông Nam Bộ từ 33% lên
tương ứng 43% thì ở Tây Bắc chỉ tăng từ 6% lên 8%, còn ở Tây Nguyên từ 7%
lên 10%.
 Tổ chức, thể chế nông thôn chậm đổi mới
Sau khi áp dụng chính sách đổi mới hơn 20 năm trước đây, kinh tế hộ phát triển
mạnh và đến nay hộ nhỏ vẫn là đơn vị sản xuất kinh doanh chủ lực ở nông thôn.
Quy mô sản xuất manh mún nhưng không có hình thức liên kết hợp tác với
nhau khiến cho sự năng động và khả năng quản lý tài nguyên một cách hiệu quả
của các hộ tiểu nông dường như đã đi đến giới hạn phát triển. Phần lớn các hộ
tiểu nông không có khả năng tích lũy tái sản xuất mở rộng một cách đáng kể. Vì
vậy mức độ áp dụng cơ giới hóa, cải tiến công nghệ, thay đổi kỹ năng trình độ
quản lý và tự chuyển đổi cơ cấu rất giới hạn.
14
Kinh tế trang trại phát triển rất chậm và chiếm một tỷ lệ không đáng kể trong
hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như kinh tế nông thôn. Năm 2008, cả
nước có hơn 120,7 nghìn trang trại, chỉ chiếm hơn 1% tổng số hộ nông lâm ngư
nghiệp của cả nước. Bình quân một trang trại sử dụng 4,5 ha đất nông lâm
nghiệp và thuỷ sản (tương đương như một hộ nông dân nhỏ của Thái Lan).
Nhìn chung, mức độ trang bị cơ giới và áp dụng khoa học công nghệ của các
trang trại này cũng rất yếu kém. Khả năng liên kết với thị trường hạn chế, khả
năng cạnh tranh kém.
Kinh tế hợp tác phát triển rất chậm, chưa đóng vai trò mong đợi trong hỗ trợ
hoạt động sản xuất của nông hộ. Năm 2008, cả nước có 7592 hợp tác xã nông
nghiệp, chủ yếu tập trung ở miền Bắc, phần lớn là hợp tác xã cũ chuyển đổi. Số
lao động thường xuyên trong hợp tác xã chỉ chiếm 5% tổng lao động nông, lâm,
ngư nghiệp. Quy mô vốn, doanh thu, lợi nhuận bình quân của một hợp tác xã
chỉ bằng 4% một doanh nghiệp nông lâm thuỷ sản vốn đã nhỏ yếu. Các hoạt
động của hợp tác xã còn rất nghèo nàn, chủ yếu là dịch vụ các yếu tố đầu vào ít
có tính cạnh tranh cho sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình (trên 80% hợp
tác xã có dịch vụ thủy lợi, trên 43% cung cấp dịch vụ điện, trên 46% cung cấp
dịch vụ khuyến nông). Theo đánh giá xếp loại, trên 54% số hợp tác xã hiện nay
có hiệu quả hoạt động ở mức trung bình và yếu.
 So với đô thị, thu nhập của nông thôn còn thấp, tỷ lệ nghèo cao
Do sản xuất nông nghiệp phát triển chậm lại, việc làm và thu nhập trong dịch vụ
và công nghiệp nông thôn chậm phát triển nên thu nhập của dân cư nông thôn
tuy đã được cải thiện nhưng so với mặt bằng chung còn thấp và khoảng cách về
thu nhập và mức sống giữa đô thị và nông thôn còn lớn. Thu nhập bình quân
đầu người năm 2006 ở nông thôn theo giá hiện hành là 506 nghìn đồng trong
khi ở đô thị là 1,058 triệu đồng. Chênh lệch thu thập bình quân đầu người một
tháng ở thành thị cao hơn nông thôn trong từng giai đoạn là 1,8 lần năm 1993,
2,3 lần năm 2002 và 2,1 lần năm 2006. Ngay trong nông thôn, khoảng cách
giữa người giàu và người nghèo tiếp tục doãng ra, năm 2002 là 6 lần, 2004 là
6,4 lần và 2006 là 6,5 lần. Tình trạng chênh lệch về thu nhập và mức sống cũng
diễn ra giữa miền núi và miền xuôi, đồng bào dân tộc thiểu số với người Kinh
và Hoa, giữa những nhóm người phải đảm nhiệm các ngành nghề sản xuất phục
vụ lợi ích chung như sản xuất lúa đảm bảo an ninh lương thực, người trồng
15
rừng bảo vệ môi trường sinh thái và các nhóm hoạt động sản xuất kinh doanh
theo cơ chế thị trường.
Mặc dù tỷ lệ người nghèo giảm nhanh và đáng kể trong thời gian qua nhưng tốc
độ giảm số hộ nghèo của nông thôn thấp hơn so với thành thị khoảng 20%. Vẫn
còn khá nhiều người dân sống dưới hoặc cận kề mức nghèo đói. Số hộ nghèo
chủ yếu tập trung ở nông thôn. Năm 2007, tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn là 17,7%
trong khi ở thành thị là 7,4%. Nhiều nơi ở miền núi phía Bắc tỷ lệ hộ nghèo còn
trên 70%. Do không có điều kiện tiếp cận thị trường và hưởng lợi ích trực tiếp
của quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá nên những nhóm người này vẫn
sống trong tình trạng nghèo, thậm chí không có đủ lương thực, đặc biệt là lúc
gặp khó khăn về thời tiết, thiên tai,.
 Ô nhiễm môi trường tăng, nhiều tài nguyên bị khai thác quá mức
Tình trạng ô nhiễm nguồn nước, đất đai, không khí ngày càng tăng, nhất là các
vùng ven đô thị và khu công nghiệp, các sân gôn. Sông Nhuệ, sông Cầu, sông
Đáy, sông Thị Vải là những điển hình về các dòng sông bị ô nhiễm nghiêm
trọng. Lẫn trong các khu cư dân nông thôn, sản xuất chăn nuôi và ngành nghề
chế biến phát triển đang gây ra tình trạng ô nhiễm ở nhiều nơi, đặc biệt nghiêm
trọng là ở các làng nghề sản xuất thép, làm gạch, đồ gốm, thuộc da, chế biến
nông sản,... Hậu quả là xuất hiện các “làng ung thư” và gây thiệt hại nghiêm
trọng cho các nghề trồng cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản... Tình trạng sản xuất
thâm canh, sử dụng quá nhiều phân bón, hóa chất, thuốc bảo vệ, chất kích thích
sinh trưởng và tạo ra nhiều chất thải của các vùng chăn nuôi tập trung, nuôi
thủy sản tập trung, các vùng chuyên canh các cây trồng thâm canh như bông,
nho, rau... đang làm ô nhiễm môi trường, tạo ra dư lượng các chất độc hại trong
nông sản thực phẩm, làm tăng khả năng chống chịu và đột biến của sâu bệnh.
Bên cạnh đó, nhiều tài nguyên tự nhiên bị khai thác bừa bãi cũng dẫn đến tình
trạng sụt giảm tính đa dạng sinh học, mất cân bằng sinh thái, cạn kiệt tài nguyên
thiên nhiên. Tài nguyên động vật quí hiếm, nguồn nước ngầm, nguồn lợi thuỷ
sản trong nội địa và ở các vùng biển ven bờ, một số loại khoáng sản đã có dấu
hiệu bị khai thác quá mức. Thời gian gần đây, thiên tai và dịch bệnh liên tiếp
xảy ra cả cho cây trồng và vật nuôi khiến cho tình hình phát triển sản xuất nông
nghiệp trở nên kém bền vững. Các tài nguyên thiên nhiên như đất, nước,... ngày
càng hạn hẹp, giá lao động tăng dần, giá các vật tư nông sản như phân, thuốc,
xăng dầu cũng tăng nhanh.
16
4. Nguyên nhân của các vấn đề tồn tại
a) Nguyên nhân chủ quan
 Nhận thức vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn
bất cập
Nếu như trong quá trình trước đổi mới, những ràng buộc trong tư duy, e dè,
ngại đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm và do các cơ quan nghiên cứu,
tham mưu chưa đủ năng lực, do cơ chế quan liêu nên trong một thời gian dài
nhiều tìm tòi sáng tạo của quần chúng đảng viên ở cơ sở không được kịp thời
tổng kết, nhiều bài học thành công quốc tế không được tìm hiểu học tập, một số
chủ trương, chính sách sai lầm không được phân tích nghiêm túc thì cho đến
giai đoạn mới, thực tiễn phát triển đã đặt ra nhiều vấn đề mới, trong khi cơ chế
thị trường bắt đầu hình thành những mảng lợi ích khác nhau tạo ra sự thiếu
đồng thuận về động lực đổi mới của các nhóm đối tượng trong xã hội. Vì vậy,
công tác xây dựng lý luận vẫn chậm phát triển, thiếu lý thuyết phát triển làm cơ
sở vững chắc cho các định hướng chiến lược. Chúng ta chưa dự báo được
những xu hướng biển đổi trong tương lai của một số vấn đề quan trọng như mô
hình phát triển nông thôn, phát triển nông nghiệp, nhiều vấn đề vướng mắc kéo
dài chưa có câu trả lời rõ ràng như giải pháp sắp xếp lại nông lâm trường, giải
pháp phát triển hợp tác xã,... đây là lí do dẫn đến tình trạng không dứt khoát
trong chỉ đạo thực hiện và sai sót khi thực hiện chính sách.
 Chất lượng của chính sách chưa cao, triển khai chưa tốt
Do lý luận phát triển chưa hoàn chỉnh, công tác xây dựng chính sách chưa
chuyên nghiệp, thiếu các nghiên cứu phân tích căn cứ cụ thể, thiếu hệ thống
giám sát theo dõi, thống kê số liệu đáng tin cậy và kịp thời nên có một số chính
sách thiếu đồng bộ, thiếu tính đột phá, một số chủ trương chính sách không hợp
lý thiếu tính khả thi nhưng không được điểu chỉnh bổ sung kịp thời, khó đưa
vào cuộc sống, gây ra nhiều bức xúc trong xã hội, gây nên tình trạng lãng phí và
tạo điều kiện trục lợi làm giàu bất chính.
Việc tổ chức thực hiện còn nhiều yếu kém. Nhìn chung, chủ trương chính sách
ban hành nhiều nhưng thực hiện chưa hết mức do thiếu nguồn lực tài chính,
nhân lực tương ứng, thiếu kiểm tra, đôn đốc. Trách nhiệm của các cấp uỷ và
chính quyền các cấp không được làm rõ và xử lý nghiêm túc khi không thực
hiện tốt, còn tình trạng làm được đến đâu hay đến đó, chạy theo thành tích.
17
Kinh nghiệm tốt ít được tổng kết nhân rộng, nhiều phong trào thi đua mang tính
hình thức ít phát huy tác dụng trong thực tiễn. Sự phối hợp của các ngành, các
cấp, sự tham gia của các tổ chức đoàn thể còn yếu kém.
 Cải cách hành chính chậm, quản lý Nhà nước còn nhiều bất cập
Mặc dù Đảng và Nhà nước đã tập trung đổi mới công tác tổ chức bộ máy và
quản lý cán bộ nhưng nhìn chung quá trình cải cách hành chính vẫn diễn ra rất
chậm so với nhu cầu biến đổi nhanh của thực tế đời sống. Trong bộ máy nhà
nước còn tư duy và cung cách quản lý theo mệnh lệnh, quan hệ “xin cho”, tác
phong quan liêu. Nhiều cơ quan nhà nước còn tập trung trực tiếp chỉ đạo hoạt
động sản xuất, kinh doanh; trực tiếp nắm kinh phí, tổ chức, cán bộ, quản lý dự
án, chương trình; trực tiếp cung cấp dịch vụ công. Trong khi đó buông lỏng các
hoạt động quản lý nhà nước như xây dựng quy hoạch, kế hoạch; hoạch định
chính sách, chiến lược; ban hành quy chế, quy phạm; giám sát thực hiện; xử lý
vi phạm...
Bộ máy quản lý còn cồng kềnh, kém hiệu năng, tình trạng sáp nhập hình thức,
xu hướng mở rộng bộ máy, tăng đầu mối quản lý vẫn diễn ra. Sự phân công,
phối hợp giữa các bộ ngành trong các hoạt động liên ngành còn bất hợp lý, ví
dụ trong công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, công tác quản lý tài
nguyên môi trường, công tác quản lý phòng chống thiên tai, quản lý khoa học
công nghệ... trong khi có nhiều mảng lại bị bỏ trống như hoạt động quản lý thị
trường, xúc tiến thương mại nông sản,... , sự phối hợp giữa các cơ quan trung
ương và chính quyền địa phương trong một số trường hợp còn kém hiệu quả
trong nhiều hoạt động như bảo vệ rừng, phòng chống dịch bệnh gia súc,...
 Bộ máy tổ chức ngành nông nghiệp nông thôn còn yếu
Bộ máy quản lý nông nghiệp ở Trung ương và cấp tỉnh thì lớn nhưng ở cấp
huyện và cấp xã thì mỏng khó đủ sức giải quyết các vấn đề đang đặt ra. Mặt
khác đội ngũ cán bộ hưởng lương và trợ cấp ngân sách có xu hướng tăng thêm,
nhưng phần đông là cán bộ làm cho các tổ chức chính trị - xã hội. Trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ còn hạn chế, 48,7% cán bộ chưa qua đào tạo
chuyên môn; 48,7% chưa qua đào tạo về lý luận chính trị; 55,5% chưa được đào
tạo về quản lý hành chính nhà nước.
Tình trạng hành chính hóa các tổ chức chính trị xã hội và đoàn thể quần chúng
một mặt làm cồng kềnh bộ máy nhà nước, tăng thêm gánh nặng về ngân sách,
18
gây khó khăn cho việc cải thiện tiền lương của cán bộ, mặt khác làm mất đi tính
sáng tạo tự chủ vốn có của cộng đồng làng xã, kéo dài sự phân tán của hơn 10
triệu hộ tiểu nông.
Sự giảm sút vai trò quản lý tự chủ của các tổ chức và sinh hoạt cộng đồng ở
thôn bản vốn rất mạnh mẽ trước đây dẫn đến tình trạng phá hoại tài nguyên tự
nhiên, tệ nạn xã hội, xói mòn văn hoá cổ truyền, lan truyền các tôn giáo xa lạ ở
nông thôn.
 Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn thấp
Từ năm 1997 - 2006, tỷ trọng chi tiêu công cho ngành nông nghiệp chỉ chiếm 5
- 6% tổng chi ngân sách nhà nước, rất thấp so với mức bình quân của các nước
trong vùng (Hàn Quốc, Malaysia, Philippin trong giai đoạn tương tự thường có
mức đầu tư chính phủ cho lĩnh vực này trên 20%). Năm 2007, đầu tư cho nông
nghiệp chiếm 15% tổng đầu tư từ ngân sách, tương đương 7% tổng giá trị sản
xuất nông nghiệp. Trong khi nông nghiệp đóng góp 20% GDP thì đầu tư toàn
xã hội cho nông nghiệp chỉ chiếm 7,5% tổng GDP. Đầu tư từ ngân sách của
Việt Nam cho nông nghiệp tương đương 1,4% tổng GDP thấp hơn so với mức
trung bình của Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan là 8 - 16% và các nước Đông
Nam Á khác khoảng 8 - 9% trong giai đoạn 1990 - 1993.
b) Nguyên nhân khách quan
 Xuất phát điểm của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thấp
Nông nghiệp nông thôn Việt Nam đi lên từ mức phát triển rất thấp, bị chiến
tranh tàn phá kéo dài và chịu hậu quả của nhiều thiệt hại từ các sai lầm trong
quản lý thời kỳ kinh tế kế hoạch quan liêu bao cấp trước đây. Vì vậy, mặc dù đã
có nhiều tiến bộ, năm 2006 xếp thứ 123 về GDP bình quân đầu người, 105 theo
chỉ số HDI trong tổng số hơn 170 nước của thế giới, đứng thứ hạng thấp so với
các nước Đông Nam Á. Năm 2009, Việt Nam mới có mức thu nhập là xấp xỉ
mức 1000 USD/người/năm, ở ranh giới với mức bắt đầu ra khỏi tình trạng chậm
phát triển, thu nhập thấp.
Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam mặc dù đã có nhiều tiến bộ, nhưng nhiều
mặt vẫn còn mang nặng tính chất của một nền sản xuất tiểu nông, nhỏ lẻ, phân
tán, có nơi thậm chí vẫn chủ yếu là tự cung tự cấp đang dần chuyển sang sản
xuất hàng hoá quy mô lớn hơn; công nghệ, cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, nhân lực
chưa được đào tạo.
19
 Diễn biến thời tiết, môi trường, dịch bệnh, thị trường phức tạp
Trong thời gian gần đây, do diễn biến xấu của tình trạng nóng lên toàn cầu, do
sự phá hoại môi trường của các hoạt động sản xuất và phát triển không bền
vững, diễn biến thiên tai ngày càng phức tạp hàng năm gây ra thiệt hại lớn về
người và của cho sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân. Tần suất thiên
tai ngày càng dày, mức độ nghiêm trọng và quy mô ngày càng lớn. Ở nước ta
trong các năm qua liên tục xuất hiện bão lớn, mưa to gây lũ lụt, lở đất, hạn hán,
cháy rừng,...Theo thống kê, trung bình hàng năm có 37,9% và 16,7% hộ nông
dân bị thiệt hại do mất mùa và thiên tai. Riêng trong năm 2007, ước tính thiệt
hại do thiên tai gây ra làm 462 người chết và 11.514 tỷ đồng, bằng gần 1%
GDP. Trong tương lai, xu hướng nóng lên toàn cầu sẽ tiếp tục gây thiệt hại lớn
cho Việt Nam.
Thêm vào đó là tình trạng dịch bệnh diễn biến phức tạp trên quy mô rộng cho
cả cây trồng, vật nuôi và con người. Trên lúa xuất hiện dịch rầy nâu, vàng lùn
xoắn lá,... trên gia súc xuất hiện bệnh lở mồm long móng, lợn tai xanh, cúm
lợn... trên gia cầm bệnh cúm tiếp tục đe dọa,... Các bệnh dịch này chẳng những
gây thiệt hại trực tiếp cho sản xuất mà một số loại bệnh của gia súc, gia cầm có
nguy cơ lây lan sang cho người, gây khó khăn ổn định kinh tế xã hội.
 Chất lượng kết cấu hạ tầng và dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông
thôn thấp
Do công tác quy hoạch khu dân cư ở nông thôn chưa đuợc chú trọng đúng mức
nên hầu hết nông thôn phát triển tự phát, thiếu sự tính toán hài hoà và hợp lý về
kết cấu không gian, kế thừa văn hoá truyền thống, bảo vệ môi truờng, đảm bảo
các chức năng giao thông, cấp thoát nước, cung cấp năng lượng,… Nếu không
có sự chấn chỉnh kịp thời sẽ dẫn đến những lệch lạc khó sửa chữa, tốn kém và
phát triển không bền vững trong tương lai.
Nhìn chung, số lượng kết cấu hạ tầng và dịch vụ ở nông thôn còn thiếu, chất
lượng còn kém nhiều so với thành phố nên hiệu quả sử dụng không cao, đang là
trở ngại đối với sản xuất và tạo nên sự khác biệt đáng kể về cơ hội hưởng thụ về
dịch vụ phục vụ giữa nông thôn và đô thị. Đây là một trong những nguyên nhân
chính cản trở thu hút đầu tư về nông thôn và đẩy nhanh quá trình di cư từ nông
thôn ra đô thị.
20