Chế độ pháp lý về hợp đồng đại lý và thực tiễn tại công ty trách nhiện hữu hạn nhà nước một thành viên xuân hoà

  • 78 trang
  • file .docx
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 1
M ục l ục
Mở đầu……………………………………………………………4
Chương I. CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ
1. Khái quát về hợp đồng đại lý……………………………….………….....5
1.1 Vai trò của hợp đồng trong nền kinh tế thị trường……………………..5
1.2 Quá trình phát triển của pháp luật về hợp đồng đại lý………..…….….6
1.3 Khái quát về đại lý thương mại………………………………………..9
1.4 Những điểm mới về hợp đồng đại lý trong luật thương mại………….10
2. Giao kết hợp đồng đại lý……………………………………..……...........11
2.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng đại lý………………………………….11
2.2 Chủ thể giao kết hợp đồng đại lý……………………………………...12
2.3 Nội dung giao kết hợp đồng đại lý…………………………………...12
2.4 Hình thức giao kết hợp đồng đại lý……………………………….….13
2.5 Trình tự thủ tục giao kết hợp đồng đại lý…………………………….14
3. Thực hiện hợp đồng đại lý……………………….…………….…………15
3.1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng đại lý………………………………...15
3.2 Các biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng đại lý………….15
4. Sửa đổi, chấm dứt, huỷ bỏ hợp đồng đại lý……………………….…….16
5. Trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng............................................17
6. Giải quyết tranh chấp hợp đồng đại lý…………………….….…………18
6.1 Giải quyết bằng thương lượng………………………………………...18
6.2 Giải quyết bằng hoà giải………………………………………………18
6.3 Giải quyết bằng trọng tài……………………………………………..19
6.4 Giải quyết bằng toà án………………………………………………..21
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 2
CHƯƠNG II
THỰC TIỄN GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN
HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ TẠI CÔNG TY
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY XUÂN HOÀ
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Xuân hoà……….….…..25
1.1 Giới thiệu chung về công ty Xuân Hoà……………………………….25
1.2 Khái quát lịch sử phát triển của Công ty …………..............................26
3. Tổ chức bộ máy tại Công ty……………………………….……………..29
3.1 Cơ cấu tổ chức.......................................................................................29
3.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty…………………….……………….29
3.3 Phạm vi hoạt động của Công ty Xuân Hoà…………………..….……33
4. Tình hình nhân sự và lao động tại Công ty………………….………….33
4.1 Phân loại lao động…………………………………………….………34
4.2 Chế độ tiền lương……………………………………………………..34
4.3 Chế độ BHXH,BHYT,KPCĐ…………………………………………35
4.4 Thời giờ làm việc thời giờ nghỉ ngơi…………………………….…....35
4.5 Hình thức kỷ luật lao động…………………………………………....36
4.6 Tranh chấp lao động và tình hình giải quyết tranh chấp………..……..37
5. Một vài nét chính về việc thực hiện pháp luật và nghĩa vụ
của Công ty………………………………………………………………….37
5.1 Việc quản lý chất lượng sản phẩm hàng hoá…………………...…..…37
5.2 Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả…….…………38
5.3 Việc thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước……………………………38
5.4. Việc thực hiện trách nhiệm đối với xã hội……………………………39
6. Hiệu quả sản xuất kinh doanh và mục tiêu của Công ty………….……39
II QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ TẠI CÔNG TY
1. Khái quát về hoạt động đại lý của Công ty Xuân Hòa………………... 42
2. Những nội dung cơ bản trong giao kết hợp đồng đại lý của Công ty…49
2.1 Chủ thể giao kết……………………………………………….………49
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 3
2.2 Nguyên tắc, căn cứ giao kết hợp đồng………………………………..51
2.3 Nội dung giao kết hợp đồng…………………………………..………51
2.4 Quy định về khen thưởng và xử lý vi phạm…………………………..56
3. Thực tế thực hiện các điều khoản về hợp đồng đại lý đại tại Công ty...58
3.1 Thực hiện các điều khoản về số lượng, chủng loại………….………..58
3.2 Thực hiện các điều khoản về trách nhiệm và quyền hạn của mỗi bên..59
3.3 Thực hiện các điều khoản về thanh toán tiền hàng……………….…..60
3.4 Thực hiện các điều khoản về thời hạn và phụ lục hợp đồng………….60
3.5 Thực hiện các điều khoản khác trong hợp đồng…………..…………..61
CHƯƠNG III KIẾN NGHỊ
1. Khó khăn bất cập trong hoạt động đại lý của Công ty..………………..62
1.1 Do có sự thay đổi các quy định pháp luật về hoạt động đại lý………..62
1.2 Do các nguyên nhân chủ quan từ phía Công ty……………………….63
1.3 Do các nguyên nhân khác…………………………………….………65
2. Kiến nghị………………………………………………………..…………66
2.1 Kiến nghị về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật………….…66
2.2 Kiến nghị về việc hoàn thiện chế độ hợp đồng nói chung………..…..68
2.3 Kiến nghị về việc hoàn thiện chế độ hợp đồng đại lý….………….…69
2.4 Kiến nghị đối với Công ty Xuân Hoà…………………..……..………71
2.5 Kiến nghị đối với đại lý………………………………..……….……..74
Kết luận………………………………………………………….75
Danh mục tài liệu tham khảo…………………………………..76
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 4
Lời mở đầu
Trong đời sống xã hội của chúng ta nhu cầu giao lưu trao đổi buôn bán…gọi
chung là giao dịch dân sự là một nhu cầu tất yếu khách quan. Để điều chỉnh và đảm
bảo tính hiệu lực của các giao dịch đó pháp luật về hợp đồng đã ra đời và ngày càng
chứng tỏ được vai trò quan trọng đặc biệt của mình. Hợp đồng chính là sự thỏa
thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ nào
đó. Pháp luật về hợp đồng hiện nay đã cơ bản hoàn thiện với những quy định ràng
buộc chặt chẽ.. Để hiểu rõ hơn bản chất, vai trò, nội dung các hình thức, chủ thể và
các vấn đề khác của hợp đồng. Thông qua quá trình nghiên cứu thực tại Công ty
Xuân Hoà, tôi chọn đề tài “Chế độ pháp lý về hợp đồng đại lý và thực tiễn tại
Công ty trách nhiện hữu hạn Nhà nước một thành viên Xuân Hoà”. Đồng thời
đây cũng là dịp tôi khải nghiệm những kiến thức mà mình đã tích luỹ được trong
suất thời gian ngồi trên Giảng Đường đại học.
Bố cục của bài viết được kết cấu thành ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về hợp đồng đại lý
Chương II: Thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng đại lý tại Công ty
Chương III: Kiến nghị
Trong suất quá trình thực tập và nghiên cứu tại Công ty TNHH Nhà nước
một thành viên Xuân Hoà, tôi đã được sự giúp đỡ rất tận tình của toàn thể CBCNV
của Công ty đặc biệt là những CBCNV phòng Kinh doanh nơi tôi trực tiếp thực tập.
Hơn nữa với sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Thị Thanh Thuỷ và ThS Vũ
Văn Ngọc đã giúp tôi hoàn thành đề tài thực tập chuyên ngành của mình. Thông
qua bài viết này tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới toàn thể Công ty, TS
Nguyễn Thị Thanh Thuỷ và ThS Vũ Văn Ngọc đã giúp tôi hoàn thành đề tài thực
tập của mình.
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 5
Chương I. CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ
1. Khái quát về hợp đồng đại lý
1.1 Vai trò của hợp đồng trong nền kinh tế thị trường
Như chúng ta đã biết trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao
cấp trước đây hợp đồng kinh tế được coi là một công cụ cơ bản để quản lý nền kinh
tế xã hội chủ nghĩa. Hợp đồng kinh tế được kí kết theo chỉ tiêu theo kế hoạch của
Nhà nước. Mỗi khi các chỉ tiêu kế hoạch thay đổi thì các bên tham gia kí kết hợp
đồng cũng phải thay đổi nội dung kí kết cho phù hợp. Nếu các bên vị phạm hợp
đồng tức là vi phạm kế hoạch của Nhà nước. Như vậy trong giai đoạn này chỉ tiêu
kế hoạch là cơ sở để các bên tham gia kí kết hợp đồng. Trong giai đoạn này, hợp
đồng kinh tế chỉ là phương tiện để các xí nghiệp, các đơn vị của Nhà nước trao đổi
sản phẩm với nhau một cách hình thức, đó là sự ghi nhận sự cấp phát vật tư, sản
phẩm của Nhà nước cho các đơn vị kinh tế và sự giao nộp sản phẩm của các đơn vị
kinh tế cho Nhà nước. Hợp đồng kinh tế hoàn toàn mất đi ý nghĩa đích thực của nó
với tư cách là hình thức pháp lý chủ yếu của quan hệ trao đổi.
Trong nền kinh tế thị trường hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận của các chủ
thể kinh doanh theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, các bên cùng có lợi. Nhà nước chỉ
có thể sử dụng pháp luật để tác động vào các quan hệ hợp đồng để đảm bảo lợi ích
chính đáng của các bên tham gia quan hệ hợp đồng và lợi ích chung của toàn xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường sản phẩm được làm ra để trao đổi mua bán do đó hợp
đồng là công cụ, là cơ sở để xây dựng và thực hiện kế hoạch của các chủ thể kinh
doanh, làm cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ phù hợp với thị trường. Qua
đó các nhà sản xuất kinh doanh có căn cứ để xây dưng kế hoạch sản xuất kinh
doanh cho mình. Đó là mục tiêu đầu vào, nơi tiêu thụ sản phẩm đầu ra, chất lượng
số lượng, giá…Sự thỏa thuận đó đảm bảo sự bình đẳng thực sự của các bên, thể
hiện ý chí nguyện vọng của họ. Hợp đồng luôn phản ánh những đòi hỏi, những điều
kiện cụ thể của các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng kinh tế. Rõ ràng hợp đồng
kinh tế là công cụ của các nhà kinh doanh chứ không phải công cụ của nhà nước
như trước đây. Vì thông qua việc đàm phán giao kết hợp đồng người ta có thể nắm
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6
được nhu cầu của thị trường về sản phẩm dịch vụ của mình và kiểm tra tính hiện
thực của kế hoạch sản xuất kinh doanh. Hợp đồng kinh tế có tác dụng chuyển các
quan hệ kinh tế khách quan thành các quan hệ pháp luật cụ thể cho nên nó trở thành
hình thức pháp lý để hình thành quan hệ thị trường.
Hợp đồng kinh tế được giao kết đúng với pháp luật của nhà nước cho nên nó
được coi là luật của các bên tham gia giao kết. Khi đã giao kết các bên phụ thuộc
lẫn nhau, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích của các bên. Như vậy vai trò của hợp
đồng kinh tế trong giai đoạn hiện nay khác với vai trò của hợp đồng kinh tế trong
thời kỳ kế hoạch hóa tập trung bao cấp trước đây vì vây phải hiểu rõ vai trò bản
chất của hợp đồng kinh tế mới có thể xây dựng được những quy định về hợp đồng
kinh tế với những đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường.
1.2 Quá trình phát triển của pháp luật về hợp đồng đại lý
Trước khi có luật thương mại 1997, việc giao kết và thực hiện hợp đồng đại
lý vẫn phải dựa trên các văn bản pháp luật chung về hợp đồng. Vì vậy việc nghiên
cứu khái quát về hợp đồng đại lý thực chất là nghiên cứu về hợp đồng nói chung.
* Chế độ hợp đồng kinh tế trước pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989
Sau khi Miền bắc được hoàn toàn giải phóng thì cách mạng Việt nam chuyển
sang một giai đoạn mới: xây dựng CNXH ở Miền bắc làm hậu phương vững chắc
để chi viện cho Miền nam; thực hiện cuộc cách mạng dân chủ ở Miền nam. Trong
thời kỳ quá độ này ta có nhiều thành phần kinh tế cùng đan xen tồn tại, kinh tế quốc
doanh, kinh tế tập thể mới hình thành, kinh tế tư bản tư doanh còn chưa được cải
tạo, kinh tế cá thể vẫn còn tồn tại. Để điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong hoạt động
kinh doanh của các thành phần kinh tế, Chính phủ đã ban hành điều lệ tạm thời về
hợp đồng trong hoạt động kinh doanh ban hành kèm theo Nghị định số 735/TTg
ngày 10/4/1956. Việc thi hành điều lệ tạm thời về hợp đồng trong hoạt động kinh
doanh đã góp phần vào công việc khôi phục và phát triển kinh tế đất nước, động
viên sự đóng góp của các thành phần kinh tế. Có thể nói điều lệ tạm thời này là văn
bản pháp luật đầu tiên đặt nền móng cho sự ra đời của chế độ hợp đồng kinh tế ở
nước ta.
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 7
Năm 1960 khi mà chúng ta đã căn bản hoàn thành công cuộc cải tạo XHCN
và mở đầu cho việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Lúc bấy giờ trong nền
kinh tế về cơ bản chỉ tổn tại hai thành phần kinh tế là kinh tế quốc doanh và kinh tế
tập thể. Hoạt động kinh tế phải tuân theo kế hoạch thống nhất của nhà nước. Trong
điều kiện đó, Chính phủ đã ban hành Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh tế kèm theo
Nghị định số 04/TTg ngày 4/1/1960 để thay thế điều lệ cũ. Có thể nói đây là sự ra
đời của chế độ hợp đồng kinh tế ở nước ta. Hợp đồng kinh tế nói trong điều lệ tạm
thời này là hoạt động sản xuất về cung ứng và tiêu thụ hàng hóa về vận tải, bao
thầu xây dựng…Cở sở để ký kết hợp đồng kinh tế là chỉ tiêu kế hoạch. Theo đó,
hợp đồng kinh tế chỉ tồn tại trong khu vực kinh tế quốc doanh.
Điều lệ tạm thời số 375/TTg được áp dụng đến năm 1975. Ngày 10/3/1975
Chính phủ đã ban hành điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế kèm theo Nghị định số
54-CP của Chính phủ. Điều lệ này tồn tại được 15 năm trong giai đoạn kế hoạch
hóa cao độ của nước ta. Đến năm 1986 Đại hội Đảng đề ra đường lối cải cách sâu
rộng cả về kinh tế, xã hội mà trước tiên là cải cách nền kinh tế. Vì vậy điều lệ tạm
thời về hợp đồng kinh tế ban hành kèm theo Nghị định số 54 không còn phù hợp
nữa, đòi hỏi phải có một văn bản pháp luật mới thay thế.
* Giai đoạn từ năm 1989 đến 2005
Ngày 25/5/1989, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế được ban hành, và là văn bản
pháp luật đã điều chỉnh quan hệ kinh tế một cách chung nhất trong bối cảnh những
năm đầu của thời kỳ đổi mới. Các văn bản được ban hành sau đó như Nghị định
17/HĐBT ngày 16/1/1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp
lệnh hợp đồng kinh tế và Quyết định số 18/HĐBT ngày 16/1/1990 của Hội đồng Bộ
trưởng về việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh và nhiều
văn bản khác hướng dẫn của cơ quan có liên quan hình thành nên một hệ thống
pháp luật về hợp đồng kinh tế. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày càng tỏ ra không
phù hợp với sự sôi động của nền kinh tế thị trường. Chính vì vậy cũng đã có nhiều
quan điểm khác nhau về sự tồn tại, sửa đổi thay vì bỏ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 8
hoặc đưa ra những chế định hợp đồng trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế vào Bộ luật
dân sự.
Năm 1995, Quốc hội đã thông qua Bộ Luật dân sự với 838 điều, đánh dấu
một bước quan trọng vì xét về đối tượng điều chỉnh phạm vi áp dụng đến nội dung
cũng như kỹ thuật lập pháp, có thể nói Bộ luật dân sự đã góp phần vô cùng quan
trọng vào việc thực hiện chính sách đổi mới và nhất là việc dân sự hoá các quan hệ
xã hôi vốn đã được hành chính hoá trong nhiều năm duy trì cơ chế quản lý tập trung
kế hoạch hoá, nhất là các quy định về chế độ hợp đồng.
Hoạt động đại lý trong nền kinh tế thị trường diễn ra ngày càng sôi động,
chính vì vậy mà Chính phủ ban hành Nghị định 25/CP ngày 25/4/1996 về quy chế
đại lý mua bán hàng hoá để điều chỉnh các hợp đồng đại lý. Từ giai đoạn này mới
có một văn bản pháp luật riêng rã điều chỉnh hoạt động đại lý. Còn trước đó lĩnh
vực này cũng được các quy định của hợp đồng kinh tế điều chỉnh. Nhưng hoạt
động thương mại ngày càng phát triển mạnh mẽ đòi hỏi phải có một văn bản pháp
luật riêng điều chỉnh.
Để đáp ứng nhu cầu mới của nền kinh tế, Luật thương mại đã được Quốc hội
thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực từ ngày 1/1/1998: Trong đó có quy định
về hợp đồng đại lý. Về bản chất, Luật thương mại sẽ bổ sung cho Bộ luật dân sự.
Do vậy, các quy định của hợp đồng thương mại trong Luật thương mại được xây
dựng và cụ thể hoá trên các nguyên tắc của hợp đồng dân sự. Sau hơn 7 năm có
hiệu lực áp dụng, Luật thương mại cũng đã bộc lộ nhiều bất cập và thiếu đồng bộ
cần phải sửa đổi.
* Giai đoạn 2005 – nay
Đây là giai đoạn mà nước ta có nhiều thay đổi nhất và cũng là gai đoạn mở
cửa hội nhập mạnh mẽ nhất của nền kinh tế nước ta. Trong giai đoạn này, để hội
nhập và giao lưu với thế giới chúng ta gần như đã phải thay đổi và hoàn thiện toàn
bộ pháp luật của mình. Hàng loạt các đạo luật mới được ban hành và thay thế.
Trong đó có sự thay đổi hai văn bản pháp luật đáng chú ý, đó là sự thay thể Bộ luật
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 9
dân sự năm 1995 bằng Bộ luật dân sự mới có hiệu lực vào năm 2005 và Luật
thương mại 1997 được thay thể bằng Luật thương mại mới có hiệu lực vào năm
2006. Hai văn bản luật này tuy mới đi vào thực tế nhưng đã chứng minh sự ưu việt
hơn hẳn các văn bản pháp luật trước đó. Trước đây các văn bản pháp luật điều chỉnh
hoạt động kinh doanh vô cùng phức tạp, rắc rối. Các văn bản pháp luật chồng chéo
nhau, tuy cùng điều chỉnh một họat động kinh tế (Luật thương mại 1997, Luật
Doanh nghiệp Nhà Nước 2003, Luật hợp tác xã 2003, Pháp Lệnh hợp đồng kinh tế
1989,…). Nhưng từ khi hai văn bản pháp luật trên được ban hành, kéo theo đó là sự
hết hiệu lực của các đạo luật cũ ở trên. Đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh thương
mại, tính ưu việt được thể hiện rõ nét nhất với việc: Luật thương mại đã điều chỉnh
được hầu hết các quan hệ kinh doanh thương mại phát sinh trong thời kì mới. Trong
hoạt động đại lý, với Luật thương mại cũ thì chỉ có đại lý bán hàng, còn Luật
thương mại mới hoạt động đại lý đã được mở rộng ra tất cả các lĩnh vực hàng hoá
dịch vụ và các hoạt động khác mang tính thương mại. Như vậy phạm vi của hoạt
động kinh doanh thương mại đã được mở rộng tối đa trong giai đoạn hiện tại nhằm
đáp ứng nhu cầu kinh doanh của các chủ thể.
1.3 Khái quát về đại lý thương mại
Theo điều 3 Luật thương mại hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục
đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương
mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Hoạt động đại lý cũng là một
trong các hoạt động thương mại do đó cũng thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật
thương mại.
Theo điều 166 Luật thương mại thì đại lý thương mại là hoạt động thương
mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh
chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên
giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao.
Chủ thể của hợp đồng đại lý, theo điều 167 Luật thương mại thì bao gồm bên
giao đại lý và bên đại lý. Trong đó, bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hoá
cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua hoặc là thương nhân uỷ
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 10
quyền thực hiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ. Bên đại lý là thương nhân
nhận hàng hoá để làm đại lý bán, nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua hoặc là bên
nhận uỷ quyền cung ứng dịch vụ.
Phương thức đại lý có một số khác biệt căn bản với các phương thức khác.
Bên giao đại lý không phải là người sử dụng hàng hoá, dịch vụ của bên đại lý. Hàng
hoá, dịch vụ được giao cho bên đại lý để cung cấp cho người thứ ba nhưng khi giao
hàng thì hàng hoá, dịch vụ vẫn thuộc sở hữu của bên đại lý nếu không có thoả thuận
khác. Như vậy, đại lý là trung gian giữa người mua và người bán.
Bên giao đại lý được hưởng thù lao từ bên giao đại lý qua việc bán hàng,
cung cấp dịch vụ, khoản thù lao này chủ yếu dưới hình thức là hoa hồng. Như vậy,
số tiền thù lao này cao hay thấp phụ thuộc vào số lượng hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ
của bên đại lý. Ngoài ra để khuyến khích các đại lý bên giao đại lý còn có các phần
thưởng, sự hỗ trợ để các đại lý hoạt động tốt. Bên đại lý phải thoả mãn cơ sở vật
chất cũng như kênh phân phối sản phẩm và các điều kiện khác nếu có, vì đại lý với
tư cách là người đại diện của bên giao đại lý đối với khách hàng, họ phải bảo đảm
được uy tín và hình ảnh của bên giao đại lý đối với khách hàng.
Theo điều 169 Luật thương mại 2005, quy định 3 hình thức đại lý. Cụ thể:
* Đại lý bao tiêu là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bán
trọn vẹn một khối lượng hàng hoá hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bên giao
đại lý.
* Đại lý độc quyền là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhất định
bên giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặc
cung ứng một hoặc một số loại dịch vụ nhất định.
* Tổng đại lý mua bán hoá, cung ứng dịch vụ là hình thức đại lý mà bên đại
lý tổ chức một hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hoá, cung
ứng dịch vụ cho bên giao đại lý. Tổng đại lý đại diện cho hệ thống đại lý trực
thuộc. Các đại lý trực thuộc hoạt động dưới sự quản lý của tổng đại lý và với danh
nghĩa của tổng đại lý
Ngoài ra còn có các hình thức đại lý khác do các bên tự thoả thuận.
1.4 Những điểm mới về hợp đồng đại lý trong Luật thương mại 2005
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 11
Có thể nói luật thương mại 2005 ra đời đã đưa hạt động thương mại lên đúng
vị trí của nó, điểu này được thể hiện rất rõ trong phạm vi điều chỉnh của nó. Theo
Luật thương mại 2005 phạm vi áp dụng là tất cả các hoạt động thương mại phát sinh
bên trong và bên ngoài lãnh thổ Việt nam miễm là các bên thoả thuận áp dụng nó,
chủ thể tham gia có thể là các cá nhân hoạt động thương mại một cách thường
xuyên và độc lập không cần có đăng kí kinh doanh. Còn Luật thượng mại 1997 chỉ
có phạm vi và đối tượng áp dụng vô cùng nhỏ hẹp trong lãnh thổ Việt nam và để kí
kết hợp đồng thì các chủ thể phải có đăng kí kinh doanh.
Còn trong hoạt động đại lý: Cụm từ “Đại lý mua bán hàng hoá” được thay
thế bàng cụm từ “Đại lý thương mại”. Cụm từ này đã bao quát hầu hết sự thay đổi
trong hoạt động đại lý trong Luật thương mại mới. Theo luật thương mại 2005, đối
tượng điều chỉnh của hoạt động đại lý không chỉ dừng lại ở những hàng hoá hữu
hình nữa, mà đã mở rộng ra các lĩnh vực dịch vụ. Đây có thể là sự thay đổi quan
trọng nhất, sự thay đổi này chứng tỏ vai trò của hoạt động dịch vụ ngày càng được
phát triển mạnh mẽ. Còn các hoạt động sản xuất, mua bán…không còn chiếm vị trí
độc tôn như trước nữa. Hiện nay xu thế chung của thế giới là phát triển nền công
nghiệp dịch vụ thay thế cho công nghiệp sản xuất.
Ngoài ra trong Luật thương mại còn có rất nhiều điểm mới cần chú ý, nhưng
trong phạm vi của bài viết có hạn nên không thể đề cập đến.
2. Giao kết hợp đồng đại lý
2.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng đại lý
* Nguyên tắc tự nguyện: Nội dung chính của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ:
việc giao kết hợp đồng thương mại phải dựa trên cơ sở tự do ý chí của các bên trong
quan hệ hợp đồng, bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cá nhân đều không được áp đặt ý chí
của mình cho bên tham gia quan hệ hợp đồng. Khi xác lập quan hệ hợp đồng các
chủ thể có quyền tự do lựa chọn bạn hàng, thời điểm giao kết, bàn bạc, thoả thuận
nội dung của hợp đồng. Tuy nhiên, các bên khi sử dụng quyền giao kết hợp đồng
phải tuân theo các quy định. Không được phép lợi dụng giao kết hợp đồng kinh tế
để hoạt động trái pháp luật. Đối với các tổ chức kinh tế chức năng sản xuất kinh
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 12
doanh trong các lĩnh vực thuộc đặc quyền của Nhà nước thì không được lợi dụng
quyền giao kết hợp đồng để đòi hỏi điều kiện bất bình đẳng với bạn hàng.
* Nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi: Trong quan hệ kinh doanh thì lợi ích là
động lực thúc đẩy hành động của các chủ thể. Theo nguyên tắc này thì nội dung của
hợp đồng đảm bảo được lợi ích kinh tế của các bên cũng như sự tương ứng về
quyền và nghĩa vụ đối với bất cứ tổ chức, cá nhân thuộc thành phần kinh tế nào.
Tính bình đẳng này không phụ thuộc vào quan hệ sở hữu và quan hệ quản lý của
chủ thể.
* Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản: Các bên tham gia quan hệ
hợp đồng kinh tế phải tự mình gáng vác trách nhiệm tài sản, gồm phạt vi phạm hợp
đồng và bồi thường thiệt hại khi có hành vi vi phạm hợp đồng đã giao kết. Các cơ
quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế khác không thể đứng ra chịu trách nhiệm tài sản
thay cho bên vi phạm.
* Nguyên tắc không trái với pháp luật đòi hỏi việc giao kết và thực hiện hợp
đồng phải hợp pháp: Điều này có nghĩa là mọi thoả thuận trong hợp đồng phải hoàn
toàn không trái với những quy định của pháp luật, không được lợi dụng giao kết
hợp đồng để hoạt động trái pháp luật. Vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc
bảo vệ trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực hợp đồng kinh tế, cũng như hợp đồng
thương mại.
2.2 Chủ thể giao kết hợp đồng đại lý
Chủ thể giao kết hợp đồng đại lý là thương nhân, Theo điều 6 Luật thương
mại thì thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân
hoạt động thương mại thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Thương nhân được
quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình
thức mà pháp luật không cấm.
2.3 Nội dung giao kết hợp đồng đại lý
Trong luật thương mại không quy định nội dung giao kết của hợp đồng đại lý
thương mại, nhưng trên cơ sở quyền và nghĩa vụ của các bên, chúng ta có thể khái
quát nội đung giao kết thành các điều khoản sau.
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 13
* Điều khoản chủ yếu: Đây là những điều khoản băt buộc không thể thiếu
trong hợp đồng. Nếu thiếu một trong các điều khoản này thì hợp đồng không có giá
trị pháp lý. Các điều khoản chủ yếu gồm các điều kiện sau:
- Họ tên và địa chỉ pháp lý của các bên giao kết hợp đồng thương mại.
- Hàng hoá dịch vụ mà các bên thoả thuận làm đại lý.
- Chủng loại hàng hoá các bên thoả thuận đại lý.
- Thời hạn phương thức và điạ điểm giao hàng.
- Giá cả và chiết khấu.
- Phương thức và địa điểm thanh toán.
- Chế độ thưởng phạt và bồi thường thiệt hại.
- Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng.
* Điều khoản tuỳ nghi: là những điều khoản mà các bên thoả thuận với nhau
trong khuôn khổ pháp luật. Khi một văn bản pháp luật quy định các bên có thể thoả
thuận với nhau về một số điều khoản nào đó, thì các bên có quyền thoả thuận hoặc
không thoả thuận. Nếu thoả thuận thì các bên có nghĩa vụ phải thực hiện các điều
khoản đó, còn không thoả thuận thi nghiễm nhiên không phải thực hiện. Trong hợp
đồng thương mại thì các điều khoản về thoả thuận trong tài giải quyết tranh chấp,
hoà giải, kiểm dịch, giám định ... là những điều khoản tuỳ nghi mà các bên có thể
thoả thuận với nhau.
* Điều khoản thường lệ: Là những điều khoản mà nội dung của nó đã được
quy định sẵn trong các văn bản quy phạm pháp luật. Các bên có thể lựa chọn đưa
hoặc không đưa vào trong hợp đồng, nhưng theo quy định của pháp luật thì các bên
tham gia giao kết hợp đồng vẫn phải thực hiện như là một điều khoản bắt buộc.
Trong hợp đồng nói chung hợp đồng thương mại nói riêng thì các điều khoản về
khung hình phạt, các điều khoản về trình thụ thủ tục giải quyết tranh chấp là bắt
buộc với các bên.
2.4 Hình thức giao kết hợp đồng đại lý
Là cách thức mà các bên thể hiện ý chí của mình trong quá trình giao kết hợp
đồng. Theo Bộ luật dân sự thì hình thức của hợp đồng có thể là văn bản, lời nói,
hành vi hoặc các hình thức khác. Khi pháp luật quy định hình thức của hợp đồng
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 14
được thực hiện theo một hình thức nhất định thì hợp đồng phải được giao kết theo
hình thức đó mới có hiệu lực pháp luật. Theo Luật thương mại, hình thức của hợp
đồng là văn bản và các loại tài liệu giao dịch khác có giá trị pháp lý tương đương
văn bản như điện báo, telex, fax, và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên các văn bản pháp luật của một số nước cũng quy định rất khác
nhau về hình thức của hợp đồng. Luật của nước Anh quy định những hợp đồng có
giá trị từ 10 bảng Anh thì phải giao kết bằng văn bản, luật của Mỹ lại quy định
những hợp đồng giao kết có giá trị từ 500$ trở lên thì phải giao kết bằng văn bản.
Còn theo Công ước Viên 1980 thì quy định hợp đồng không bị giới hạn bởi hình
thức, miễn là các bên có thể chứng minh hợp đồng đã được giao kết.
2.5 Trình tự thủ tục giao kết hợp đồng đại lý
Bất cứ loại hợp đồng nào cũng phải được giao kết theo một trình tự thủ tục
nhất định, đó là các cách thức, các bước mà các bên phải tiến hành nhằm xác lập
một quan hệ hợp đồng có giá trị pháp lý. Trong hoạt động thương mại tồn tại hai
hình thức giao kết hợp đồng, giao kết trực tiếp và giao kết gián tiếp.
* Giao kết trực tiếp: là trường hợp đại diện của các bên trực tiếp gặp gỡ nhau
và cùng trao đổi với nhau về các điều khoản trong hợp đồng. Sau khi trao đổi bàn
bạc kỹ lưỡng các bên đi đến thống nhất các nội dung và tiến hành ký kết hợp đồng.
Hiện nay hình thức này là hình thức giao kết nhanh chóng và hiệu quả nhất. Trong
hoạt động thương mại, những hợp đồng quan trọng các bên thường trực tiếp gặp gỡ
nhau rồi tiến hành đàm phán đi đến kí hợp đồng.
* Giao kết gián tiếp: là phương thức giao kết mà theo đó các bên gửi cho
nhau văn bản, tài liệu giao dịch (công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng)
chứa đựng các nội dung giao dịch. Quá trình giao kết gián tiếp thường trải qua hai
giai đoạn.
- Giai đoạn một: Một bên đề nghị hợp đồng thông báo ý định giao kết cho
bên mời giao kết. Trong đề nghị đưa ra phải đưa ra đầy đủ các nội dung định giao
dịch. Lời đề nghị này phải rõ ràng chính xác tránh gây hiểu lầm cho bên kia.
- Giai đoạn hai: Bên được đề nghị sau khi nhận được văn bản tài liệu giao
dịch tiến hành xem xét kiểm tra các nội dung nghi trong tài liệu. Sau khi tìm hiểu kĩ
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 15
các nội dung sẽ trả lời cho bên đề nghị biết có đồng ý hay không đồng ý với những
nội dung trong tài liệu. Nếu đồng ý một số nội dung và bổ xung thêm nội dung mới
thì coi như một đề nghị giao kết mới. Bên dược đề nghị trở thành bên đề nghị.
Hợp đồng giao kết bằng hình thức gián tiếp được coi là hình thành và có giá
trị pháp lý từ khi các bên nhận dược tài iệu giao dịch thể hiện sự thoả thuận về tất
cả các điều khoản trong nội dung của hợp đồng. Căn cứ xác định sự giao kết hợp
đồng là bên nhận được tài liệu giao dịch thể hiện sự đồng ý.
Bộ luật dân sự và Luật thương mại quy định về giao kết hợp đồng, thời hạn
trả lời giao kết hợp đồng, điều kiện thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng khá
chi tiết và đầy đủ.
3. Thực hiện hợp đồng đại lý
3 .1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng đại lý
Các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung trong hợp đồng
đại lý trên tinh thần hợp tác, tôn trọng lợi ích của nhau. Thực hiện đúng có nghĩa là
thực hiện đúng đối tượng, chất lượng chủng loại, thời hạn, giá và phương thức
thanh toán cũng như các thoả thuận khác. Hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong
quá trình thực hiện hợp đồng. Theo nguyên tắc này, các bên phải hợp tác thường
xuyên theo đó quá trình thực hiện hợp đồng giúp đỡ lẫn nhau khắc phục khó khăn
đồng thời thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh các nghĩa vụ đã cam kết. Ngay cả khi
tranh chấp xảy ra các bên phải chủ động thương lượng giải quyết. Như vậy, nguyên
tắc này không chỉ có ý nghĩa trong thực tế thực hiện hợp đồng mà còn giúp phòng
ngừa ngăn chặn và giải quyết các tranh chấp có thể sảy ra.
3.2 Các biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng đại lý
Các biện pháp bảo đảm được quy định hết sức cụ thể trong bộ luật dân sự.
Theo điều 324 có các biện pháp sau:
* Cầm cố tài sản: Là dùng tài sản thuộc quyền sở hửu của mình để đảm bảo
cho việc thực hiện hợp đồng. Việc cầm cố tài sản phải lập thành văn bản. Người giữ
vật cầm cố phải có nghĩa vụ bảo quản, không được bán, tặng, cho thuê, cho mượn,
trao đổi tài sản cầm cố trong thời hạn văn bản cầm cố tài sản còn hiệu lực.
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 16
* Thế chấp tài sản: là việc bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc quyền sở hữu
của mình để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng. Bên thế chấp tài sản phải có
nghĩa vụ bảo đảm nguyên giá trị của tài sản, không được chuyển dịch quyền tài sản
cho người khác trong thời hạn văn bản thế chấp có hiệu lực pháp lý.
* Bảo lãnh tài sản: là sự bảo đảm tài sản thuộc quyền sở hữu của người nhận
bảo lãnh để chịu trách nhiệm về tài sản thay cho người được bảo lãnh khi người này
vi phạm hợp đồng đã giao kết. Người nhận bảo lãnh phải có tài sản không ít hơn
giá trị hợp đồng được bảo lãnh.
* Đặt cọc: là trường hợp một bên gaio cho bên kia một tài sản (tiền, kim khí
quý,...) để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng.
* Ngoài các hình thức trên trong Bộ luật dân sự còn có các hình thức khác
như là: kí cược, kí quỹ, phạt vị phạm và các hình thức khác theo thoả thuận của các
bên.
4. Sửa đổi, chấm dứt, huỷ bỏ hợp đồng đại lý.
Luật thương mại không quy định các trường hợp sửa đổi, chấm dứt, thanh lý
hợp đồng đại lý. Nhưng trong bộ luật dân sự có quy định khá cụ thể và chi tiết về
các trường hợp này.
* Sửa đổi hợp đồng: Hợp đồng đại lý là loại hợp đồng được soạn thảo bằng
văn bản và các loại hình khác có giá trị pháp lý tương đương. Hơn nữa hình thức
giao kết hợp đồng đại lý là hình thức giao kết trực tiếp. Chính vì lẽ đó khi có sửa
đổi hợp đồng đại lý các bên nhất thiết phải găp gỡ trao đổi các điều khoản cần sửa
đổi, sau đó đi đến thống nhất các điều khoản cần sửa đổi. Sau khi sửa đổi xong các
bên sẽ chính thức coi các điều khoản đó là các điều khoản trong nội dung của hợp
đồng mới.
* Chấm dứt hợp đồng đại lý trong các trường hợp sau:
- Hợp đồng đại lý đã hoàn thành.
- Theo thoả thuận của các bên.
- Pháp nhân hoặc các chủ thế khác chấm dứt mà không phải do chính pháp
nhân hay chủ thể đó thực hiện.
- Hợp đồng bị huỷ bỏ, bị đơn phương chấm dứt.
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 17
- Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn
và các bên có thoả thuận thay thế đối tương khác hoặc bồi thường thiệt hại.
- Các trường hợp khác do pháp luật quy định.
* Huỷ bỏ hợp đồng.
Các bên có quyền huỷ bỏ hợp đồng trong các trường hợp sau: nếu một bên
đơn phương huỷ bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vị
phạm hợp là điều kiện huỷ bỏ mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.
Bên huỷ bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc huỷ bỏ, nếu
không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại
5. Trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng
* Buộc thực hiện đúng hợp đồng: là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm
thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện
và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh. Trường hợp bên vi phạm giao thiếu
hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng thì phải giao đủ hàng hoặc cung
ứng dịch vụ theo đúng thoả thuận trong hợp đồng. Trường hợp bên vi phạm giao
hàng hoá, cung ứng dịch vụ kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng
hoá, thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng hoá khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo
đúng hợp đồng. Bên vi phạm không được dùng tiền hoặc hàng hoá khác chủng loại,
dịch vụ khác để thay thế nếu không được sự chấp thuận của bên bị vi phạm.
* Phạt vi phạm : là trường hợp bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một
khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thảo thuận. Mức phạt
tối đa đối với điều vi phạm hợp đồng do các bên thoả thuận nhưng không được quá
8% phần giá trị hợp đồng bị vi phạm.
* Bồi thường thiệt hại : là trường hợp bên vi phạm bồi thường những tổn thất
do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Giá trị bồi thường gồm giá
trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và
khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi
phạm. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là có hành vi vi phạm hợp
đồng, có thiệt hại thực tế và hành vi vi pham hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây
ra thiệt hại.
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 18
* Tạm ngừng thực hiện hợp đồng : là việc một bên tạm thời không thực hiện
nghĩa vụ hợp đồng. Tạm ngừng trong những trường hợp sau đây: xảy ra hành vi vi
phạm mà các bên đã đề thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng
hoặc một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
* Đình chỉ thực hiện hợp đồng : là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ
hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây: xảy ra hành vi vi phạm mà các
bên đã thoả thuận là điều kiện để đinh chỉ hợp đồng hoặc một bên vi phạm cơ bản
những nghĩa vụ hợp đồng.
* Huỷ bỏ hợp đồng bao gồm hai trường hợp: huỷ bỏ toàn bộ nội dung hợp
đồng và huỷ bỏ một phần nội dung hợp đồng. Huỷ bỏ toàn bộ nội dung hợp đồng là
việc loại bỏ hoàn toàn tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bội hợp đồng. Huỷ
bỏ một phần nội dung hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp
đồng, các phần còn lại vẫn có hiệu lực. Huỷ bỏ hợp đồng trong trường hợp giao
hàng hoặc cung ứng dịch vụ từng phần, nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của
mình trong việc giao hàng, cung ứng dịch vụ và việc này cấu thành một hành vi vi
phạm cơ bản đối với lần giao hàng, cung ừng dịch vụ đó thì bên có quyền tuyên bố
huỷ bỏ hợp đồng đối với lần giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ đó.
6. Giải quyết tranh chấp hợp đồng đại lý
6.1 Giải quyết bằng thương lượng
Khi có tranh chấp sảy ra, việc đầu tiên là các bên tiến hành gặp gỡ nhau cùng
trao đổi bàn bạc giải quyết tranh chấp. Đây là hình thức đơn giản nhất và thường
hay gặp nhất khi có vi phạm sảy ra. Hình thức này vừa đơn giản vừa không tốn
kém, vì vậy các bên thương chọn phương pháp này là bước đầu tiên của quá trình
giải quyết tranh chấp. Nếu các bên có thể tự thương lượng giải quyết đươc với nhau
thì sẽ không phải tiến hành các biện pháp tiếp theo. Nhưng khi tranh chấp chưa
được giải quyết thì các bên có thể lựa chọn một trong các hình thức giải quyết sau.
6.2 Giải quyết bằng hoà giải
Hoà giải là đưa các bên đến người thứ ba để giải quyết tranh chấp, nếu hoà
giải thành công, thoả thuận hoà giải được lập thành biên bản hoà giải có chữ ký của
các bên
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 19
và của hòa giải viên. Trong quá trình hoà giải, với thoả thuận giữa các bên, hoà giải
viên luôn cố gằng trình bày cho các bên thấy được những triển vọng tốt đẹp nhất để
từ đó hoà giải các quan điểm khác nhau, và vì vậy, chuyển tình huống tranh chấp
thành sự hoà giải. Hoà giải viên tiến hành quy trình hoà giải mà họ cho rằng theo
nguyên tắc vô tư công bằng và theo công lý. Các đề nghị hoặc kiến nghị của hoà
giải viên không có giá trị ràng buộc do vậy các bên có thể tự do áp dụng hoặc
khước từ. Tuy nhiên các bên có thể đưa các đề nghị của hoà giải viên và một hợp
đồng đã ký kết hoặc một quyết định ràng buộc được các bên thoả thuận với nhau.
6.3 Giải quyết bằng trọng tài
Đây là phương thức giả quyết tranh chấp bằng cách giao vấn đề tranh chấp
cho bên thứ ba là các trọng tài để họ phân xử và đưa ra quyết định cuối cùng trong
trường hợp các bên không thể dàn xếp được với nhau mà không muốn đưa tranh
chấp ra toà án giải quyết.
Pháp lệnh trọng tài thương mại được Quốc hội thông qua 12/3/2003, quy
định về tổ chức và tố tụng trọng tài để giải quyết các vụ tranh chấp giữa các bên
trong hoạt động thương mại theo sự thoả thuận của các bên và theo quy định của
pháp luật. Theo pháp lệnh này “Hoạt động thương mại là việc một hay nhiều hành
vi thương mại của cá nhân, tổ chức, kinh doanh bao gồm mua bán hàng hoá, cung
ứng dịch vụ, phân phối đại diện, đại lý thương mại, ký gửi, thuê, cho thuê, thuê
mua, xây dựng, tư vấn, kĩ thuật, lixăng, đầu tư; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm,
thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không,
đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của
pháp luật” (điều 2.3).
Đặc điểm của phương pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài: phải có sự
thoả thuận của các bên về việc đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài. Thoả
thuận đó có thể là một điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc một thoả thuận
trọng tài riêng biệt được lập sau khi tranh chấp phát sinh .Toàn bộ quá trình trọng
tài được coi như sự thể hiện ý chí của các bên dựa trên quyền tự chủ của họ. Một
khi thoả thuận trọng tài có hiệu lực thì không một bên nào có quyền rút lui ý kiến.
Điều khoản trọng tài được coi là độc lập với các điều khoản khác trong hợp đồng
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 20
chính nên ngay cả khi hợp đồng chính đã kết thúc hoặc vô hiệu thì cũng không làm
điều khoản trọng tài vô hiệu một cách tương ứng (Điều11 pháp lệnh trọng tài
thương mại 2003).
Hội đồng trọng tài sẽ ra quyết định sau khi cân nhắc mọi chứng cứ và lập
luận của các bên.
Các bên tranh chấp thoả thuận giao cho trọng tài quyền và nghĩa vụ phải ra
các phán quyết, quyết định có tính bắt buộc đối với các bên. Để ra được phán quyết,
quyết định trọng tài phải tuân theo các trình tự, thủ tục tố tụng nhất định do các bên
lựa chọn , bao gồm những quy định cơ bản sau đây:
- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ;
- Thoả thuận trọng tài;
- Khởi kiện;
- Thành lập hội đồng trọng tài;
- Chuẩn bị giải quyết tranh chấp;
- Phiên họp giải quyết tranh chấp ;
- Quyết định trọng tài ;
- Huỷ quyết định trọng tài ;
- Thi hành quyết định trọng tài.
Nếu quy trình tố tụng này không được tuân thủ, một hoặc các bên không có
được cơ hội công bằng để trình bày trường hợp của mình trước hội đồng trọng tài
thì quyết định của trọng tài có thể sẽ không được công nhận và cho thi hành. Dưới
góc độ này, trọng tài gần với toà án nhưng so với phương pháp giải quyết tranh
chấp bằng toà án thì tố tụng trọng tài có một số ưu điểm là: Đỡ tốn kém thời gian,
bảo toàn được bí mật kinh doanh (trọng tài được xét sử kín); tính phù hợp về
chuyên môn nghiệp vụ kinh doanh của các quyết định trọng tài (do các trọng tài
viên thường là các chuyên gia trong lĩnh vực kĩ thuật, các thương nhân có uy tín,
kinh nghiệm....), tính khách quan trung lập của trọng tài.
Các quyết định phán quyết của trọng tài có thể được toà án công nhận và cho
thi hành thông qua một thủ tục tư pháp. Mặc dù phán quyết của trọng tài là kết quả
của sự thoả thuận có tính chất riêng tư giữa các bên tranh chấp và do hội đồng trọng
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45