Cây cacao ở đắk lắk những rào cản chính đối với sự phát triển trong các tộc người thiểu số tại chỗ

  • 40 trang
  • file .pdf
VIỆN NGHIÊN CỨU XÃ HỘI, KINH TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG
CÂY CACAO Ở ĐẮK LẮK
Những rào cản chính đối với sự phát triển
trong các tộc người thiểu số tại chỗ
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGƯỜI M’NÔNG TẠI HUYỆN LẮK)
HÀ NỘI, tháng 1 năm 2012
Tập thể tác giả:
ThS. Lê Quang Bình
TS. Hoàng Cầm
TS. Đào Thế Đức
KS. Niê Y Hoàng
TS. Phạm Quỳnh Phương
TS. Lê Kim Sa
TS. Mai Thanh Sơn
ThS. Nguyễn Quang Thương
1
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu 3
A. GIỚI THIỆU CHUNG 4
1. Bối cảnh nghiên cứu 4
2. Câu hỏi và nhiệm vụ nghiên cứu 6
3. Khung phân tích 6
4. Phương pháp và tiến trình nghiên cứu 7
5. Hạn chế của nghiên cứu 8
B. NHỮNG PHÁT HIỆN CHÍNH 8
8
I. TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Địa bàn và tộc người tại chỗ 8
1.1.1. Huyện Lắk và các điểm nghiên cứu 10
1.1.2. Mấy nét khái quát về tộc người M'nông 12
1.2. Sự du nhập của cây cacao và chủ trương phát triển cacao của tỉnh Đắk Lắk 14
II. NHỮNG RÀO CẢN ĐỐI VỚI SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI M’NÔNG VÀO PHÁT 18
TRIỂN CÂY CACAO
1. Lợi ích kinh tế không vượt trội 18
2. “Cacao kén người trồng” - Kỹ thuật chăm sóc và chế biến khó và rủi ro cao 20
3. Thiếu sự tương thích với văn hóa tộc người 23
3.1. Hệ thống canh tác cacao thiếu sự tương thích với các tập quán sản xuất truyền thống 23
3.2. Thu nhập “lai rai” từ canh tác cacao thiếu sự tương thích với văn hóa tiêu dùng của 24
người dân M'nông
3.3. Với diện tích canh tác hạn chế, người dân ưu tiên trồng các loại cây có thể đảm bảo an 24
ninh lương thực
4. Thiếu niềm tin bởi lợi ích chưa được kiểm chứng 25
4.1. Quá khứ thất bại và “phấp phỏng” về tương lai 25
4.2. Thiếu thông tin và nhiễu loạn thông tin 26
4.3. Thị trường thiếu ổn định
4.3.1 Thị trường cây giống
4.3.2 Thị trường sản phẩm
III. VAI TRÒ CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN 29
1. Nhà nước và các chính sách phát triển cacao 29
2. Vai trò của các tổ chức tư nhân 31
3. Sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ và nhà tài trợ quốc tế 32
4. Vai trò của các cơ quan khoa học 33
IV. KẾT LUẬN
34
V. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 35
39
Danh mục tài liệu tham khảo chính
2
Trang
Hộp 1 : Vài nét khái quát về tỉnh Đắk Lăk
Hộp 2 : Khái quát về tộc người M’nông
Bảng 1: So sánh giá trị kinh tế giữa hai cây café và cacao
Bảng 2: Chỉ số phân loại của hạt cacao
3
Danh mục các cụm từ viết tắt
AusAID Cơ quan Phát triển quốc tế Australia
BCHTW Ban Chấp hành Trung ương
BVTV Bảo vệ thực vật
CP Chính phủ
CSHT Cơ sở hạ tầng
CTMTQG Chương trình Mục tiêu quốc gia
DANIDA Cơ quan Phát triển quốc tế Đan Mạch
DFID Cơ quan phát triển quốc tế Anh
DTTS Dân tộc thiểu số
ĐBKK Đặc biệt khó khăn
GDP Tổng thu nhập kinh tế quốc nội
GTZ Cơ quan Phát triển quốc tế Cộng hòa liên bang Đức
HĐND Hội đồng nhân dân
IK Tri thức bản địa/Kiến thức bản địa
IMH Viện Khí tương-Thuỷ văn
IUCN Tổ chức Bảo tồn thế giới
JICA Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản
LHQ Liên hợp quốc
NGOs Các Tổ chức phi chính phủ
NLU Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
NTM Nông thôn mới
Nxb Nhà xuất bản
SA Dự án chuyển giao kỹ thuật trồng Cacao do Success Alliance thực hiện
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
UBND Ủy ban nhân dân
UNDP Chương trình phát triển LHQ
VASS Viện Khoa học xã hội Việt Nam
WASI Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên
4
Lời nói đầu
Nghiên cứu này do Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) tổ chức thực hiện.
Báo cáo tổng hợp của nghiên cứu được viết bởi nhóm tư vấn độc lập đến từ Viện Nghiên cứu
Văn hóa (TS. Hoàng Cầm, TS. Phạm Quỳnh Phương), Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (TS.
Đào Thế Đức), Trung tâm Phân tích - Dự báo, Viện KHXH (TS. Lê Kim Sa), Viện Phát triển
bền vững vùng Trung bộ (TS. Mai Thanh Sơn), Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi
trường (ThS Lê Quang Bình, ThS. Nguyễn Quang Thương) và Phòng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn huyện Lắk (KS. Niê Y Hoàng). Các kết quả được đưa ra trong báo cáo chủ
yếu dựa trên những thông tin do nhóm tư vấn thu thập được tại huyện Lắk và việc phân tích
các nguồn tài liệu thành văn.
Trong quá trình nghiên cứu, nhóm tư vấn đã nhận được sự hợp tác/giúp đỡ của UBND Tỉnh
Đắk Lắk, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ban Dân tộc, Trung tâm Khuyến nông;
chính quyền huyện Lắk; chính quyền và nhân dân các xã Yang Tao và Đắk Phơi; và các doanh
nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh. Sau khi tham vấn các bên liên quan ở cơ sở, nhóm tư vấn đã
chia sẻ những phát hiện chính với các cán bộ Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
huyện Lắk, các cán bộ Phòng Trồng trọt (Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) và nhận
được nhiều ý kiến đóng góp quý báu. Nhóm tư vấn xin tri ân sự hợp tác/giúp đỡ hiệu quả đó.
Mặc dù đã rất cố gắng để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đặt ra, song báo cáo không thể tránh
khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định. Tập thể tác giả mong nhận được sự đóng góp chân
thành của các tổ chức hữu quan và Quí vị.
Xin trân trọng cảm ơn.
Tập thể tác giả
5
A. GIỚI THIỆU CHUNG
1. Bối cảnh nghiên cứu
Tại Việt Nam, cacao không hẳn là loại cây trồng hoàn toàn mới, nhưng cũng chưa bao giờ có
vị trí trọng yếu trong cơ cấu nông nghiệp hàng hóa. Những năm gần đây, cây cacao đã được
trồng nhiều hơn và bắt đầu gia nhập thị trường thế giới. Từ năm 2005, Bộ NN&PTNT đã thành
lập Ban điều phối Cacao Việt Nam (VCCC) nhằm hỗ trợ việc xây dựng các chính sách liên
quan tới ngành sản xuất cacao. Hệ thống tiêu chuẩn cho cây cacao và sản phẩm cacao cũng đã
được xây dựng trong năm 2006. Để thúc đẩy ngành sản xuất cacao phát triển, ngày 14/9/2007,
Bộ NN&PTNT đã ban hành Quyết định 2678/2007/QĐ-BNN-KH, đề ra mục tiêu đến năm
2015 phải đạt 60,000ha cacao và đến năm 2020 diện tích cacao ở Việt Nam sẽ đạt 80,000ha.
Trên phương diện thực tiễn, cây cacao được đánh giá là phát triển tương đối tốt ở các tỉnh miền
Đông và nhất là ở miền Tây Nam bộ. Tuy nhiên, tại các tỉnh Tây Nguyên, tình hình không khả
quan như dự tính ban đầu. Đắk Lắk là một ví dụ cụ thể. Ngày 2/4/2002, UBND tỉnh Đắk Lắk
(cũ) ban hành Quyết định số 821/QĐ-UB về việc phê duyệt dự án quy hoạch vùng phát triển
cây cacao trên địa bàn tỉnh đến năm 2010 là 10,000ha (sau này, khi tách tỉnh, diện tích cacao
được quy hoạch nằm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk là 6,000ha). Ban đầu, các huyện được quy
hoạch phát triển cacao ở tỉnh Đắk Lắk là Ea Kar, Ma Đ’răk, Krông Bông và Lắk. Ngày
6/12/2006, UBND Tỉnh có công văn số 3706/UBND-NL bổ sung thêm 2 huyện Krông Năng
và Ea H’leo vào vùng quy hoạch cây cacao. Đây là những địa phương được đánh giá là không
có điều kiện sinh thái phù hợp với cây cà phê, cao su và điều. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, lại
được sự hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế cũng như các cơ sở khoa học trong nước, nhưng đến
năm 2010, diện tích cacao toàn tỉnh chỉ đạt 1,935ha, xấp xỉ 1/3 kế hoạch đề ra trong Quyết
định số 821/QĐ-UB.
Trên phương diện lý thuyết, để chuẩn bị cho việc phát triển cây cacao, ở Việt Nam đã có nhiều
nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau. Những năm 1990, các nhóm cán bộ Đại học Nông
Lâm thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Cần Thơ đã tiến hành nhiều đợt đánh giá về triển
vọng phát triển cây cacao tại các tỉnh miền Tây Nam bộ và Tây Nguyên. Sau khi thực hiện các
mô hình thí điểm ở các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông, nhóm cán bộ khoa học thuộc Đại học
Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã có báo cáo khuyến nghị giải pháp mở rộng diện tích
cacao ở các địa phương này.
Các tài liệu về cây cacao được biết đến nhiều nhất chủ yếu là kết quả nghiên cứu trong giai
đoạn sau 2005, khi Ban điều phối Cacao Việt Nam (VCCC) được thành lập. Một số tài liệu
hướng dẫn kỹ thuật trồng và chế biến cacao đã được phổ biến hoặc xuất bản: Lương Duyên
Bình (2008) “Bài giảng tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cacao”, Trung tâm Khuyến
nông tỉnh Đắk Lắk phát hành và sử dụng; Phạm Hồng Đức Phước (2009) “Kỹ thuật trồng
cacao ở Việt Nam”, Nxb Nông nghiệp; Trịnh Xuân Ngọ (2009) “Cây cacao và kỹ thuật chế
biến”, Nxb thành phố Hồ Chí Minh. Trong khuôn khổ “Chương trình Hợp tác Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn” (giữa Bộ NN&PTNT và AusAID), từ năm 2006 đến 2008, Đại học Cần
Thơ đã chủ trì thực hiện dự án “Lên men, sấy và đánh giá chất lượng cacao ở Việt Nam”. Phối
hợp thực hiện dự án này còn có Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh (NLU) và Viện
Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI). Đối tượng mà dự án hướng đến là
các nông hộ trồng cacao tại các tỉnh Cần Thơ, Bến Tre, Đắk Nông và Đắk Lắk. Trong nhiều
hoạt động mà dự án tiến hành, có những nội dung tập trung vào phân tích các lợi ích kinh tế,
xã hội và môi trường của cây cacao.
Tiếp cận dưới góc độ thị trường, tháng 3 năm 2008 Helvetas đã công bố “Nghiên cứu khả thi
Cacao hữu cơ và Thương mại công bằng tại Việt Nam” (Feasibility Study Organic and
Fairtrade Cocoa in Vietnam). Nghiên cứu này tập trung sự chú ý vào 2 khu vực được coi là
6
phù hợp nhất cho việc phát triển cacao: Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả
nghiên cứu đã đưa ra một cái nhìn tổng quan về sản xuất cacao hữu cơ, công bằng thương mại
và hệ thống tiếp thị. Nghiên cứu cũng giới thiệu hệ thống tiêu chuẩn, thủ tục cấp giấy chứng
nhận (tiêu chuẩn), các chi phí cho chứng nhận, những kinh nghiệm trong sản xuất cacao hữu
cơ và công bằng thương mại tại Việt Nam. Nghiên cứu khẳng định, tại Việt Nam, cacao đã
được giới thiệu từ nhiều năm trước, có một số khu vực có thể trồng thành công cây cacao
nhưng kinh nghiệm sản xuất và tiếp thị cacao vẫn còn trong giai đoạn thử nghiệm. Đối với
mỗi địa phương thuộc hai khu vực này, nghiên cứu cũng trình bày bối cảnh, tình trạng phát
triển cacao hiện nay, nhận thức về môi trường, đánh giá công bằng thương mại và phân tích
các bên liên quan của chuỗi giá trị cacao.
Trong số các nghiên cứu về cây cacao, đáng chú ý nhất phải kể đến công trình do Agrifood
Consulting International tổ chức thực hiện ở tất cả các địa phương có trồng cacao và công bố
kết quả vào tháng 11 năm 2008. Đúng như tên gọi: “Nghiên cứu tính phù hợp, khả thi và lợi
ích kinh tế xã hội trong việc sản xuất cacao tại Việt Nam”, báo cáo này đã phân tích một cách
khá toàn diện những vấn đề liên quan đến cây cacao. Dựa trên chuỗi giá trị ngành hàng cacao,
nghiên cứu đã chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội cũng như những thách thức/rủi ro của
tất cả các tác nhân tham gia. Các yếu tố được tham chiếu chính trong nghiên cứu này là điều
kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, khí hậu, nguồn nước…); nguồn nhân lực (khả năng đáp ứng của lực
lượng lao động và các kỹ năng cần thiết); nguồn lực tài chính (nhu cầu vốn); yếu tố thị trường
quốc tế; các cây trồng cạnh tranh; tính đa dạng sinh học và bền vững của môi trường; và các
chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước Trung ương cũng như địa phương. Từ các phân tích
của mình, nhóm tác giả báo cáo đã khẳng định tính phù hợp, khả thi và lợi ích kinh tế xã hội
mà cây cacao có thể mang lại cho Việt Nam; đồng thời, cũng chỉ ra những yếu tố có thể làm
suy giảm tính lạc quan.
Năm 2010, nhóm tác giả do iSEE tổ chức đã thực hiện một nghiên cứu nhằm đánh giá về cơ
hội và thách thức trong việc hợp tác cũng như khả năng tham gia Ban Điều phối Cacao Việt
Nam (VCCC) của Oxfam Novib và iSEE. Trong báo cáo với nhan đề “Assessment of
opportunity and challenge to join Vietnam Cacao Committee and Public Private Partnership
for Oxfam Novib and iSEE”, các tác giả cũng phân tích một số vấn đề liên quan đến quy hoạch,
chiến lược cũng như thực tiễn tình hình phát triển ngành sản xuất cacao tại Việt Nam.
Đóng góp quan trọng của các nhà khoa học đi trước là không thể phủ nhận. Kết quả nghiên
cứu của họ đã được sử dụng làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chiến lược phát triển
ngành sản xuất cacao trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, mỗi địa phương/vùng miền đều có những
đặc điểm riêng, đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu không chỉ về điều kiện tự nhiên
hay các bối cảnh xã hội nói chung mà còn cần hướng đến các bối cảnh văn hoá xã hội của các
tộc người cụ thể. Tại khu vực Tây Nguyên, việc tìm hiểu khả năng tham gia chuỗi giá trị cacao
của các tộc người thiểu số tại chỗ cho đến nay vẫn còn là mảng trống. Đó cũng là lý do chính
để nghiên cứu này được triển khai thức hiện.
2. Câu hỏi nghiên cứu
Đây là một nghiên cứu trường hợp tại cộng đồng người M’nông ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
Đối với người M’nông nói riêng và các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên nói chung, việc phát
triển cây cacao đang đứng trước nhiều thách thức cần có lời giải đáp. Những khó khăn hay
thuận lợi nào thúc đẩy người dân tộc thiểu số tại chỗ tham gia và hưởng lợi từ sản xuất cacao?
Cơ hội hưởng lợi của người dân các tộc người thiểu số tại chỗ ra sao? Vai trò của các bên liên
quan đến đâu?..vv. Nói cách khác, báo cáo này sẽ trả lời hai câu hỏi nghiên cứu chính: i)
Người M'nông hiện đang gặp những trở ngại gì/rào cản nào trong việc tham gia sản xuất và
hưởng lợi ngành hàng cacao? ii) Vai trò của các bên trong việc tạo ra hoặc phá bỏ các rào cản
đó?
7
Báo cáo chia làm bốn phần chính: phần đầu là những nét tổng quan về địa bàn nghiên cứu và
tộc người M’nông; phần hai trình bày những rào cản đối với sự tham gia của người M’nông ở
huyện Lắk vào việc phát triển cây cacao ở địa phương; phần ba phân tích vai trò của các bên
liên quan trong nỗ lực phát triển cây cacao ở cộng đồng người M'nông; cuối cùng, nghiên cứu
sẽ đưa ra các khuyến nghị đối với việc phát triển cây cacao trong cộng đồng người M'nông ở
huyện Lắk.
3. Khung phân tích
Từ góc độ lý thuyết, theo một số nhà nhân học văn hoá, việc tiếp nhận các thực hành và thành
tố văn hoá (cây trồng, ý tưởng, tri thức, vật dụng, mẫu hành vi, v.v...) từ một nền văn hoá khác
là một hiện tượng phổ biến trong hầu hết các xã hội của loài người từ trước đến nay. Linton
(1936) cho rằng 90% thực hành văn hoá của các truyền thống văn hoá đều có nguồn gốc từ bên
ngoài. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng bản chất của quá trình ‘cho - nhận’ văn hoá
mang tính lựa chọn cao, tức là không phải thực hành hay thành tố văn hoá mới nào cũng được
chủ nhân của các nền văn hoá khác tiếp nhận một cách nhanh chóng và dễ dàng. Ngô Đức
Thịnh (1995) chỉ ra rằng, quá trình tiếp biến văn hóa ở các tộc người là sự tiếp xúc, chọn lọc,
tái tạo và bản địa hóa/bản tộc hóa các tri thức được đưa đến từ bên ngoài.
Theo Rogers trong tác phẩm Sự khuếch tán của đổi mới (Diffusion of Innovations) (1962), có
bốn yếu tố tác động đến sự lan truyền của một ý tưởng hay thực hành mới: sự đổi mới, kênh
thông tin/giao tiếp, thời gian, và hệ thống xã hội. Nói cách khác, một sự đổi mới hay thực hành
mới được truyền bá/giao tiếp thông qua những kênh nhất định và trong khoảng thời gian nhất
định để tác động đến các thành viên của một hệ thống xã hội. Quá trình để một cá nhân chấp
nhận một sự đổi mới thường thông qua 5 giai đoạn: có kiến thức (knowledge), bị thuyết phục
(persuasion), ra quyết định (decision), thực hành (implementation), và khẳng định
(confirmation). Theo Roger (1962), một hay các thực hành và thành tố văn hoá mới chỉ thuyết
phục được và có ảnh hưởng đến việc ra quyết định của một cá nhân trong việc chấp nhận hay
từ chối thực hành đó khi được hội tụ 5 điều kiện: 1) được người dân coi là có giá trị vượt trội
hơn so với những thực hành đã và đang tồn tại; 2) có sự tương thích với hệ thống văn hoá bản
địa; 3) đủ đơn giản để hiểu và thực hành; 4) có khả năng kiểm chứng được thông qua thực
hành; và 5) có lợi ích rõ ràng.
Các nghiên cứu trước đây về cacao chủ yếu tập trung phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cacao:
dịch vụ cung ứng đầu vào (đất đai, lao động, vườn ươm và cây giống, các dòng tiền đầu tư,
phân bón, thuốc trừ sâu hại dịch bệnh, sự hỗ trợ kỹ thuật của các nhà khoa học trong nước và
ủng hộ tài chính của các tổ chức quốc tế); sản xuất cacao (trồng, chăm sóc và thu hái); dịch vụ
đầu ra (thu mua trái tươi, lên men, phơi, sấy) và thị trường tiêu thụ. Cách tiếp cận này giúp
hình dung rõ ràng các mắt xích trong chuỗi sản phẩm, cũng như sự tham gia của người dân
trong các mắt xích đó. Tuy nhiên, việc tiếp cận theo chuỗi giá trị có thể bỏ qua yếu tố văn hóa
bản địa và những rào cản về văn hóa đối với sự chấp nhận cây cacao trong đời sống của tộc
người thiểu số. Là một cây trồng ngoại lai được du nhập từ bên ngoài, cây cacao có chỗ đứng
trong đời sống của người dân tộc thiểu số hay không, không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố môi
trường và kinh tế, mà còn phụ thuộc rất lớn vào bối cảnh văn hóa.
Để có cái nhìn đa chiều hơn về việc phát triển cây cacao ở huyện Lắk cũng như những rào cản
trong việc người M’nông tham gia tích cực vào ngành hàng này, chúng tôi sử dụng các tiêu chí
của Roger để soi chiếu xem đối với ngừoi M’nông, cây cacao có lợi thế so sánh so với các cây
trồng khác và tương thích với thực hành văn hóa của họ không, cũng như tìm hiểu xem liệu kỹ
thuật trồng cây cacao có đơn giản và đem lại lợi ích rõ ràng cho họ. Trong quá trình điền dã tại
địa bàn và nghiên cứu tài liệu lưu trữ tại địa phương, quan điểm lý thuyết này cũng được sử
dụng để tìm hiểu sự tiếp nhận các giống cây trồng ngoại lai khác như cà phê, điều, cao su,
v.v… để đối chiếu so sánh.
8
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện theo phương pháp định tính, chủ yếu sử dụng các phương pháp
nghiên cứu nhân học (quan sát tham gia, thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu), có sự kết hợp với
việc tham khảo tài liệu thành văn (lưu trữ ở trung ương và địa phương). Trong quá trình viết
báo cáo, nguồn tài liệu nghiên cứu thực địa được coi là chất liệu ưu tiên.
Các nguồn tài liệu thành văn được nhóm nghiên cứu tham khảo gồm có: i) Các báo cáo công
tác thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội - đảm bảo an ninh quốc phòng của các cấp
chính quyền địa phương từ tỉnh, huyện và xã; ii) Báo cáo Tình hình thực hiện đề án 6,000ha
Cacao năm 2011 và văn kiện Đề án Phát triển cây Cacao tỉnh Đắk Lắk đến năm 2015 của Sở
NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk; iii) Báo cáo Tổng kết thực hiện dự án “Phát triển sản xuất Cacao
bền vững tại các nông hộ” của Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk; iv) Những nghiên cứu
về cây cacao ở Việt Nam đã được thực hiện bởi các tổ chức trong và ngoài nước; và v) Các bài
báo phản ánh những vấn đề xung quanh cây cacao tại tỉnh Đắk Lắk và các địa phương khác.
Nguồn tư liệu thực địa được thu thập thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm trong
chuyến nghiên cứu tại địa bàn vào tháng 11/2011. Có hai nhóm đối tượng chính được lựa chọn
để phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm.
 Nhóm đối tượng thứ nhất là cán bộ của các cơ quan ban ngành và các tổ chức, doanh
nghiệp (từ cấp tỉnh đến cấp xã) tham gia trực tiếp vào việc triển khai các hoạt động
giới thiệu và phát triển cây cacao ở địa bàn như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, Ban dân tộc, Hội Phụ nữ, UBND (tỉnh, huyện, xã), công ty Cargill, Cao Nguyên
Xanh, Adivoca, v.v...
 Nhóm đối tượng thứ hai được lựa chọn phỏng vấn là người dân ở hai xã Yang Tao và
Đăk Phơi. Trong nhóm đối tượng này, nhóm nghiên cứu đã thực hiện các cuộc phỏng
vấn sâu và thảo luận nhóm (2 cuộc thảo luận ở xã Đắk Phơi và 2 cuộc ở Yang Tao)
với chủ nhiệm và các thành viên của các câu lạc bộ cacao (được thành lập từ năm
2007) cũng như một số người dân đã từng tham gia nay đã bỏ hoặc chưa tham gia
trồng cây cacao. Nội dung của các cuộc phỏng vấn và thảo luận tập trung xoay quanh
các vấn đề như tập quán sinh kế và sinh hoạt văn hoá truyền thống của tộc người, trải
nghiệm cá nhân và cộng đồng trong việc tiếp nhận và phát triển các loại cây công
nghiệp phi bản địa như cà phê, điều và cacao, đặc biệt là các trải nghiệm về kỹ thuật,
hiệu quả kinh tế, thị trường (đầu ra và đầu vào), tri thức địa phương về điều kiện tự
nhiên và cây trồng ở địa bàn, v.v...
Các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm chủ yếu được tiến hành bằng tiếng Kinh với sự trợ
giúp của các phiên dịch là người địa phương. Riêng hai cuộc thảo luận nhóm với chủ nhiệm và
các thành viên của các câu lạc bộ cacao ở xã Yang Tao được thực hiện bằng tiếng M’nông do
một số thành viên của câu lạc bộ không nói được tiếng phổ thông. Sau đó, các phát hiện chính
từ hai cuộc thảo luận nhóm này được các nhóm trưởng trình bày lại cho đoàn nghiên cứu bằng
tiếng Kinh. Do đạo đức nghiên cứu, trong báo cáo này chúng tôi không đưa tên tuổi cụ thể
những người trả lời phỏng vấn.
5. Hạn chế của nghiên cứu
Theo quy hoạch, tỉnh Đắk Lắk có 6 huyện được đưa vào vùng phát triển cây cacao là Ea Kar,
Ma Đ’răk, Krông Bông, Krông Năng, Ea H’leo và huyện Lắk. Cả sáu huyện được lựa chọn
đều có nhiều tộc người thiểu số tại chỗ như Ê-đê, M'nông, Gia-rai, Xơ-đăng, Lào….1 Tuy
1
Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/2009, các tộc người thiểu số tại chỗ có số dân đông hơn cả
là Ê-đê (298,534 nhân khẩu, chiếm 17.2% dân số toàn tỉnh); M'nông (40,344 nhân khẩu, chiếm 2.3% dân số toàn
9
nhiên, do thời gian có hạn, nghiên cứu này mới chỉ được thực hiện ở khu vực đồng bào M'nông
đang sinh sống ở các xã Yang Tao và Đắk Phơi thuộc huyện Lắk. Vì vậy, kết quả của nghiên
cứu này có thể không phản ánh đầy đủ bức tranh về hiện trạng phát triển cây cacao ở tỉnh Đắk
Lắk nói riêng và ở Việt Nam nói chung.
Để có cái nhìn chân thực, khách quan hơn về những thách thức và triển vọng phát triển cây
cacao trong vùng đồng bào tộc người thiểu số tại chỗ ở Đắk Lắk nói riêng, Tây Nguyên nói
chung, những hạn chế trên đây cần sớm được khắc phục. Trong tương lai, việc nghiên cứu ở
tất cả các tộc người trong vùng quy hoạch cacao là cần thiết.
B. NHỮNG PHÁT HIỆN CHÍNH
I. TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Địa bàn và tộc người tại chỗ
1.1.1 Huyện Lắk và các xã nghiên cứu
Huyện Lắk nằm ở phía đông nam của tỉnh Đắk Lắk, có diện tích tự nhiên 1.249,65km2. Đây là
khu vực có địa hình đồng bằng trũng với độ cao 400-500m, dễ bị lũ lụt vào tháng 9, tháng 10
hàng năm. Tính đến tháng 12 năm 2010, dân số trung bình huyện Lắk là 60.997 nhân khẩu;
trong đó 22.593 người Kinh, 30.478 người M’nông, số còn lại là người của các tộc Ê-đê, Tày,
Thái…2 Huyện Lắk có 11 đơn vị trực thuộc, gồm 1 thị trấn huyện lỵ (thị trấn Liên Sơn) và 10
xã (Bông Krang, Buôn Tría, Buôn Triết, Đắk Liêng, Đắk Phơi, Đắk Nuê, Ea R’Bin, Krông Nô,
Nam Ka và Yang Tao).
Hộp 1: Khái quát vài nét về tỉnh Đắk Lắk
Đắk Lắk là một trong 5 tỉnh Tây Nguyên, có 15 đơn vị hành chính, bao gồm thành phố Buôn Ma
Thuột (trung tâm tỉnh lỵ), thị xã Buôn Hồ và 13 huyện là Ea H'leo, Ea Sup, Krông Năng, Krông Buk,
Buôn Đôn, Cư M’Gar, Ea Kar, M’Đrăk, Krông Păk, Krông Bông, Krông Ana, Cư Kuin và Lắk. Đắk Lắk
có 44 tộc người cùng chung sống, trong đó người Kinh chiếm khoảng 67%; các dân tộc thiểu số tại
chỗ như Ê-đê, M’nông chiếm khoảng hơn 20%; các tộc người thiểu số nhập cư như Tày, Nùng, Thái,
Mường, Hmông, Dao... chiếm hơn 15% dân số toàn tỉnh.3
Địa hình và khí hậu của tỉnh Đắk Lắk phù hợp với sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp đa dạng.
Nhóm đất đỏ chiếm 24,81% diện tích tự nhiên của tỉnh, phần lớn nằm trên địa hình tương đối bằng
phẳng rất phù hợp cho việc phát triển cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su v.v… Ngoài ra
còn có nhiều loại đất khác như đất xám, đất nâu, đất nâu thẫm, thích nghi với các loại cây công
nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả và một số cây lâu năm khác... Theo báo cáo của tỉnh, năm 2010, tổng
diện tích đất sản xuất nông nghiệp của toàn tỉnh là 531.087ha thì có đến 314.884ha cây công nghiệp
và cây ăn quả lâu năm; trong đó đáng kể nhất là cây cà phê (190.765ha), tiếp đến là cây điều
(33.406ha), cao su (30.289ha) và hồ tiêu (5.533ha). Diện tích đất nông nghiệp còn lại chủ yếu trồng
lúa nước, cây hoa màu (ngô, sắn) và các loại cây công nghiệp ngắn ngày như mía, đậu, lạc.
Huyện Lắk về cơ bản là một huyện thuần nông với phần lớn diện tích tự nhiên là đất nông -
lâm nghiệp. Thổ nhưỡng, khí hậu của huyện Lắk thích hợp cho việc trồng lúa nước, các loại
hoa màu (ngô, sắn) và các loại cây công nghiệp ngắn ngày (mía, lạc, đậu đỗ). Vì vậy, nông
tỉnh) và Gia-rai (16,129 nhân khẩu, chiếm 0.93% dân số toàn tỉnh). (Tổng cục Thống kê 2010 “Tổng điều tra dân
số và nhà ở năm 2009”, Nxb Thống kê, Hà Nội)
2
Phòng Thống kê huyện Lắk (2011) “Niên giám thống kê 2010”, tr.3.
3
UBND tỉnh Đắk Lắk - Sở NN&PTNT (2011), Báo cáo tóm tắt Quy hoạch cây công nghiệp và cây ăn quả chủ
yếu trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020.
10
nghiệp huyện Lắk chủ yếu dựa vào hệ thống canh tác các loại cây lương thực có hạt,4 diện tích
trồng cây công nghiệp lâu năm (cà phê, tiêu, điều…) chỉ có 2.515ha.5 Diện tích rừng của huyện
Lắk tương đối lớn, độ che phủ của toàn huyện đạt 61,77%. Tính đến cuối năm 2010, nông -
lâm nghiệp chiếm 61,90% cơ cấu kinh tế; thu nhập bình quân đầu người theo giá hiện hành vào
khoảng 9 triệu đồng. Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010, tỷ lệ hộ nghèo của huyện Lắk là
18,26% 6, cao gấp hơn 2 lần so với tỷ lệ nghèo chung của tỉnh.7 Nếu tính theo chuẩn nghèo giai
đoạn 2011-2015, tỷ lệ hộ nghèo của huyện Lắk không dưới 40%.
Trong cơ cấu cây công nghiệp, diện tích trồng cacao ở huyện Lắk chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ và
trong Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an
ninh năm 2010 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 của UBND huyện Lắk không
có các số liệu về cây cacao. Theo số liệu của Phòng Thống kê huyện Lắk, đến cuối năm 2010,
cả huyện chỉ có 61,3ha cacao 8. Trong 9 tháng đầu năm 2011, diện tích trồng cacao của huyện
đã đạt khoảng 205ha9.
Là một địa bàn được chọn trong nghiên cứu, xã Yang Tao nằm ở khu vực phía Bắc trung tâm
huyện Lắk. Trong tổng diện tích 5.747ha đất nông nghiệp10, Yang Tao có 2.556ha đất lâm
nghiệp, 807ha đất trồng lúa, 888ha đất trồng cây hàng năm và chỉ có 19ha đất trồng cây lâu
năm. Trong cơ cấu cây trồng, lúa nước và các loại hoa màu (ngô, sắn) đóng vai trò chủ đạo,
các loại cây công nghiệp dài ngày và cây lưu niên chỉ có diện tích rất hạn hẹp. Diện tích đất
chưa sử dụng của xã còn hơn 724ha, trong đó có 700ha đất đồi núi, chỉ có hơn 24ha đất bằng.
Tính đến tháng 6 năm 2011, xã Yang Tao có 1.707 hộ gia đình với 7.779 nhân khẩu, hơn
92.5% dân số của cả xã là người M’nông, số còn lại là người Kinh, người Ê-đê và một bộ phận
nhỏ người Thái mới di cư đến.11
Tuyệt đại đa số bà con nông dân Yang Tao vẫn dựa trên truyền thống đa canh/xen canh/rải
vụ/gối vụ, đa dạng hóa các sản phẩm trồng trọt nhằm giảm thiểu rủi ro và đảm bảo an ninh
lương thực. Bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi cũng có vị trí đáng kể.12 Không thể phủ nhận là một
số giống lúa lai, ngô lai đã được bà con nông dân tiếp nhận, nhưng những giống cây trồng địa
phương cũng vẫn có vai trò rất quan trọng bởi tính chống chịu cao và phù hợp với khẩu vị
quen thuộc của người dân. Yang Tao có tỷ lệ nghèo đói cao. Theo chuẩn nghèo mới (2011-
2015), đến tháng 6 năm 2011, cả xã có 858/1.707 hộ nghèo, chiếm 50,26%.13
4
Toàn huyện có khoảng 7,618ha ruộng nước 2 vụ; 5,796ha đất trồng mầu, các loại cây công nghiệp hàng năm và
rau đậu.
5
Phòng Thống kê huyện Lắk (2011) “Niên giám thống kê 2010”, tr.15.
6
UBND huyện Lắk (2010): Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng –
an ninh năm 2010 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011.
7
Nếu tính theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010, năm 2010, toàn tỉnh có 28,992 hộ nghèo trên tổng số 389,322
hộ, chiếm 7,45%; nhưng nếu tính theo chuẩn nghèo giai đoạn 1011-2015, số hộ nghèo của toàn tỉnh là 81,053 hộ,
chiếm 20.82%.7
8
Tổng UBND huyện Lắk (2010): Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc
phòng – an ninh năm 2010 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011.
9
Phòng NN&PTNT: “Báo cáo tình hình công tác 9 tháng đầu năm và phương hướng nhiệm vụ 3 tháng cuối năm
2011”.
10
Xã Yang Tao có tổng số diện tích tự nhiên 6,870ha.
11
UBND xã Yang Tao (2011): Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc
phòng – an ninh 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2011.
12
Tính đến cuối năm 2010, tổng đàn trâu của Yang Tao có 102 con; đàn bò có 2,605 con; đàn dê có 108 con; đàn
heo có 1,550 con; đàn gia súc gia cầm ước có 16,800 con (theo UBND xã Yang Tao, 2010- Báo cáo kết quả thực
hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh năm 2010 và kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội năm 2011)
13
UBND xã Yang Tao (2011): Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc
phòng – an ninh 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2011.
11
Xã Đắk Phơi nằm ở phía Nam trung tâm huyện Lắk, với diện tích đất nông nghiệp 9.692ha.14
Trong diện tích đất sản xuất nông nghiệp, đất trồng cây công nghiệp và cây lâu năm có hơn
1.029ha. Trong tổng số diện tích 1.106ha đất trồng cây hàng năm, chỉ có hơn 338ha trồng lúa
nước, còn lại là đất trồng hoa màu, rau đậu và các loại cây tạp khác. Đắk Phơi có 4.090ha đất
chưa sử dụng, chiếm tới 29,21% tổng diện tích tự nhiên của cả xã.15 Tính đến tháng 9 năm
2011, xã Đắk Phơi có 3.093 hộ gia đình với hơn 5.500 nhân khẩu; khoảng 61,7% dân số của cả
xã là người M’nông, số còn lại là người Kinh và các tộc Tày, Nùng, Mường, Thái mới di cư
đến trong những năm 1980 từ các tỉnh miền núi phía Bắc.16
Khác với Yang Tao, Đắk Phơi có thế mạnh về cây công nghiệp lâu năm (cà phê và điều). Tuy
nhiên, theo kết quả phỏng vấn sâu, phần lớn diện tích cà phê trong xã thuộc về người Kinh và
người dân các tộc người thiểu số nhập cư; một số trang trại hoặc vườn cà phê không phải của
người Đắk Phơi, mà do người Kinh ở nơi khác đến mua đất rồi thuê người làm. Đại bộ phận bà
con nông dân các tộc người thiểu số tại chỗ vẫn sống nhờ vào việc trồng lúa, ngô, các loại đậu
đỗ và cây thực phẩm truyền thống. Theo chuẩn nghèo cũ (2006-2010), đến cuối năm 2009,
Đắk Phơi vẫn còn 464 hộ nghèo, chiếm 15% tổng số hộ của cả xã.17
1.1.2. Mấy nét khái quát về tộc người M'nông ở huyện Lắk
Người M’nông vốn phân bố trên một vùng rộng lớn thuộc Tây Nguyên, thường được gọi là
Cao nguyên M’nông. Địa bàn này kéo dài từ trung lưu sông Đồng Nai ở phía đông và trung
tâm sông Xrê Pôk ở phía bắc cho đến bờ sông Mê Kông ở phía tây, tới vùng đồng bằng Stung
Cheng (Cămpuchia). Hiện nay, phần đất Cao Nguyên M’nông ở Việt Nam nằm phía nam Tây
Nguyên, chủ yếu là thuộc địa bàn tỉnh Đăk Nông và một số vùng lân cận của 3 tỉnh thuộc phía
nam của tỉnh Đăk Lăk, phía đông nam của tỉnh Lâm Đồng, phía bắc của tỉnh Bình Phước và
phía đông của Cămpuchia.
Hộp 2: Người M’nông ở Việt Nam
Tộc người M'nông thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở
ngày 1/4/2009, tộc M'nông ở Việt Nam có 102,741 người, cư trú tại 51 trên tổng số 63 tỉnh/thành
phố; trong đó tập trung nhiều nhất tại các tỉnh Đắk Lắk (40,344 người, chiếm 39.3 % tổng số người
M’nông tại Việt Nam), Đắk Nông (39,964 người, chiếm 38.9 % tổng số người M’nông tại Việt
Nam), Lâm Đồng (9,099 người), Bình Phước (8,599 người) và Quảng nam (4,026 người).
Tộc người M'nông có nhiều nhóm/nhánh khác nhau: M’nông Preh, M’nông Noong, M'nông Prâng,
M'nông Bu Nơ, M’nông Kuênh, M’nông R’Lâm, M’nông Gar, M’nông Chil, M’nông Biăt và Bu Prâng.
Hoạt động kinh tế của người M'nông khá đa dạng, thích nghi với các điều kiện cụ thể của môi
trường sinh thái. Bộ phận người M’nông ở cao nguyên chủ yếu canh tác trên rẫy với các cây trồng
chính là lúa, ngô, các loại đậu đỗ, dưa leo, bầu bí… Một bộ phận khác sinh sống ở vùng thấp sống
dựa vào việc trồng lúa nước kết hợp với các loại cây hoa màu (ngô, sắn, khoai lang…).
Bon là đơn vị xã hội cơ bản nhỏ nhất của người M’nông. Trong thiết chế tự quản truyền thống của
người M'nông, luật tục (nau vay) đóng vai trò quan trọng, bao quát toàn diện đời sống cộng đồng
bon. Xưa kia, toàn bộ cộng đồng M’nông đều quan niệm. Quan niệm vạn vật hữu linh (ndrăp ndơ
geh huêng) - mọi vật đều linh thiêng của người M’nông được biểu hiện thành một hệ thống thần linh,
bùa ngải (gun rđang) và tục thờ cúng rất đa dạng. Hàng năm, người M'nông có các nghi lễ liên quan
14
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011): Thống kê, kiểm kê diện tích đất đai xã Đắk Phơi, huyện Lắk, tỉnh Đắk
Lắk – Biểu số 08-TKĐĐ: Xã Đắk Phơi có tổng diện tích tự nhiên 14,058ha; Đất sản xuất nông nghiệp có hơn
2,135ha, đất lâm nghiệp có hơn 7,542ha.
15
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011) – đã dẫn.
16
Chi cục Thống kê huyện Lắk (2011): Niên giám Thống kê huyện Lắk năm 2010.
17
UBND xã Đắk Phơi (2010): Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội - an ninh quốc
phòng năm 2010 và phương hướng năm 2011.
12
đến nông nghiệp (cúng thần Lúa, cúng hồn công cụ sản xuất…); các nghi lễ cúng bói chữa bệnh; và
các nghi lễ liên quan đến chu kỳ vòng đời. Từ khi có sự du nhập của Công giáo và đạo Tin lành,
quan niệm về tín ngưỡng dân gian và các thực hành văn hóa của người M’nông có nhiều thay đổi.
Người M’nông duy trì loại hình gia đình nhỏ mẫu hệ (rnoi deh mpeh ma me). Theo phong tục/tập
quán, sau hôn lễ, người chồng cư trú bên nhà vợ; đến khi họ có con thì được chia tài sản và tách ra
ở riêng thành một gia đình mẫu hệ khác. Trong gia đình M’nông, về lý thuyết, người mẹ có quyền
cao nhất, điều hành và quyết định mọi hoạt động trong gia đình cũng như ứng xử với bên ngoài xã
hội. Chị em gái cùng những anh em trai trong gia đình bên mẹ là những người có quyền trực tiếp
quyết định việc cưới chồng, cưới vợ cho con cái trong gia đình, chứ không phải là anh em dòng họ
bên người cha. Việc chia tài sản cũng do bên người mẹ quyết định. Tài sản quan trọng bao giờ cũng
được phân chia phần nhiều hơn cho người con gái út.
Người M'nông ở huyện Lắk chủ yếu thuộc nhóm M'nông R’Lâm. Do họ sinh sống ở vùng thấp
nên người M’nông ở đây có vốn tri thức dân gian phong phú về các hệ thống canh tác trên các
chân ruộng nước cũng như làm rẫy (xen canh, gối vụ, rải vụ, luân khoảnh…). Bên cạnh trồng
trọt, người M'nông còn chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm. Hiện nay, một số hộ gia đình đã
đào ao thả cá. Người M'nông từng có một số nghề thủ công, đủ sức đáp ứng các nhu cầu thiết
yếu của cuộc sống hàng ngày như dệt vải, đan lát mây tre, nghề mộc, nghề rèn… Ngoài ra,
người M'nông còn rất giỏi trong việc nhận biết giá trị và khai thác các sản vật từ rừng, từ sông
suối, hồ đầm. Các loại muông thú, rau rừng, măng, nấm, mật ong, đọt mây… lấy từ rừng; các
loại cá tôm, cua ốc,… bắt được ở sông suối, ao hồ một thời được coi là nguồn thức ăn chính
của các gia đình. Nhiều hộ gia đình M'nông ở huyện Lắk đến nay vẫn lưu giữ các khí cụ săn
bắn hoặc công cụ đánh bắt động vật thủy sinh (bẫy chông, bẫy sập, cung tên, giáo mác, chài
lưới, v.v...). Đặc biệt, người M’nông ở huyện Lắk từng có truyền thống săn bắt và thuần dưỡng
voi rừng.18 Đến nay, đàn voi của huyện Lắk vẫn được duy trì, tuy không còn đông đúc như
xưa.
Phân công lao động ở người M'nông chủ yếu vẫn dựa theo lứa tuổi và giới tính. Nam giới đảm
nhiệm những công việc nặng nhọc hơn, nhưng phụ nữ cũng tham gia vào tất cả các hoạt động
sản xuất nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi). Đối với các nghề thủ công, phụ nữ là lao động
chính trong nghề dệt, nam giới làm nghề mộc, nghề rèn và đan lát mây tre. Trong khai thác các
nguồn lợi tự nhiên, nam giới săn bắn, đánh bắt cá, phụ nữ chủ yếu hái lượm. Đặc biệt, ở người
M'nông rất phổ biến các hình thức vần công, đổi công trong hoạt động sản xuất.
Nhìn chung, người M’nông ở các điểm nghiên cứu đang trong quá trình chuyển đổi sâu sắc.
Nhiều đặc trưng văn hóa truyền thống (thể hiện cả trong văn hóa mưu sinh, văn hóa vật chất và
văn hóa tinh thần) đã không còn được bảo lưu nguyên trạng. Đạo Tin lành ảnh hưởng lớn đến
các thực hành văn hóa của người dân. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các yếu tố truyền
thống đã hoàn toàn bị loại bỏ. Về cơ bản, bà con nông dân M’nông vẫn có tâm lý bảo lưu hệ
thống nông nghiệp đa canh/xen canh với cây lúa làm trọng tâm nhằm đảm bảo an ninh lương
thực và cách thức tổ chức lao động truyền thống, dựa trên nền tảng nền tảng cộng đồng (đổi
công, vần công).
1.2. Sự du nhập của cây cacao và chủ trương phát triển cacao của tỉnh Đắk Lắk
Cây cacao lần đầu tiên được người Pháp đưa vào Việt Nam từ khoảng giữa thế kỷ XX, nhưng
chưa bao giờ được coi là loại cây hàng hóa. Trong những năm 1960, người Mỹ lại đưa cacao
vào miền Nam. Thời gian đó, chiến sự đang diễn ra và tình hình bất ổn ở khu vực nông thôn
18
Trước 1945, vua Bảo Đại có một đội voi giao cho người địa phương ở Lắk nuôi giữ, chuyên phục vụ cho các
cuộc sắn bắn của nhà vua.
13
khiến cho cacao không có cơ hội phát triển. Trong những năm 1980, Nhà nước đã cố gắng đưa
cây cacao trở lại với sự hỗ trợ của một số doanh nghiệp quốc doanh. Hàng ngàn nông dân đã
tham gia trồng giống cacao Theobroma tại một số tỉnh thuộc miền Trung và đồng bằng sông
Cửu Long. Chỉ tính riêng tại tỉnh Quảng Ngãi, đã có khoảng 3.000ha cacao được trồng trong
thời kỳ này. Một nhà máy nghiền hạt cacao với trang bị kỹ thuật cao và hiện đại cũng đã được
xây dựng vào giữa những năm 1990 nhưng lại không có người thu mua hạt cacao tại địa
phương và không có sự tiếp cận với thị trường quốc tế, trừ một số ít nông dân chủ yếu sử dụng
cacao cho tiêu dùng trong gia đình dưới dạng rượu cacao nên đa số nông dân đã từ bỏ sản xuất
cacao. Tiếp đó nhà máy nghiền cacao cũng đã đóng cửa. Đầu năm 2000, các nhà nghiên cứu
thuộc trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh (NLU) đã cố gắng mang cây cacao
trở lại nhưng họ đã không thành công như mong đợi. Nhờ những chủ trương mới của Chính
phủ và Bộ NN&PTNT, hiện nay cây cacao đã được đón nhận ở nhiều địa phương thuộc miền
Tây Nam Bộ và Tây Nguyên.19
Tại Đắk Lắk (cũ), những cây cacao đầu tiên được người Pháp đưa vào trồng thử ở Buôn Hồ,
nhưng vì nhiều lý do, cacao đã không thể phát triển. Giữa những năm 1980, hai kỹ thuật viên
của tỉnh được gửi đến Cuba để tìm hiểu kỹ thuật trồng cacao. Năm 1987, phong trào trồng
cacao được phát động và diện tích trồng cacao của tỉnh có lúc đã đạt khoảng 1.000 ha. Tuy
nhiên, với những khó khăn trong việc tiếp cận thị trường thế giới, cây cacao đã dần dần bị chặt
phá. Đến năm 1999, trong khuôn khổ của chương trình phát triển cacao của Quỹ Cacao thế
giới và DANIDA (hợp tác với NLU), các mô hình cacao đã hình thành ở Đức Lập, Đăk Min,
Krông Bông, Cư M'nga, Ma Drak, Krông Nô, Ea Kar và huyện Lắk. Giống cacao được trồng
trong giai đoạn này chủ yếu là giống lai nhập khẩu từ Malaysia. Cacao được trồng độc canh
với các loại cây che bóng tạm thời như muồng hoa vàng và chuối.
Ngoại trừ một số mô hình tích hợp giữa cacao và điều, hầu hết các trang trại đã không thành
công vì nông dân không đầu tư chăm sóc thích hợp, duy trì đầy đủ màu và cây chắn gió. Năm
2001, GTZ tài trợ một dự án cho Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh (NLU) để đánh
giá hiệu quả của mô hình cacao lai được xây dựng trong các chương trình của DANIDA và sau
đó phát triển các mô hình mới.
Ngày 2/4/2002, UBND tỉnh Đắk Lắk (cũ) ban hành Quyết định số 821/QĐ-UB về việc phê
duyệt dự án quy hoạch vùng phát triển cây cacao trên địa bàn tỉnh đến năm 2010 là 10.000ha
(sau này, khi tách tỉnh, diện tích cacao được quy hoạch nằm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk là
6.000ha). Các huyện được quy hoạch phát triển cacao ở tỉnh Đắk Lắk là Ea Kar, Ma Đ’răk,
Krông Bông, Krông Năng, Ea H’leo và huyện Lắk. Được sự khuyến khích bởi chủ trương của
tỉnh, năm 2002, Công ty ED&F Man thực hiện chương trình phát triển cacao ở huyện Đắk Min
(lúc đó còn thuộc về tỉnh Đắk Lắk), trên những diện tích đất màu mỡ, phù hợp nhưng không
thuận lợi cho việc phát triển cà phê (cây cacao cần ít nước hơn cà phê). Trong chương trình
này, ED&F Man và NLU cung cấp cây giống vô tính cho nông dân và ký kết hợp đồng mua
hạt cacao. Các giống cacao có năng suất cao đã được giới thiệu trên một quy mô lớn. Nhiều hộ
nông dân bắt đầu phát triển cacao để thay thế cây cà phê cũ. Một số công ty cà phê đã chuyển
những diện tích cà phê cũ sang trồng cacao20. Năm 2003, một Chương trình hợp tác Hà Lan với
các thị trường gắn kết (PSOM) được thực hiện, có sự kết hợp giữa sự bảo trợ của chính phủ Hà
Lan với NLU và tập đoàn Cargill. Trong chương trình này, các chuyên gia của NLU phụ trách
đào tạo kỹ thuật cho nông dân trồng trọt, thu hoạch và lên men để đảm bảo chất lượng hạt
cacao. Công ty Cargill đã thiết lập một hệ thống thu mua với mạng lưới ở nhiều huyện. Cargill
cũng đã ký hợp đồng mua phân bón cung cấp cho các hộ nông dân trồng cacao.
19
Helvetas (2008): Nghiên cứu khả thi Cacao hữu cơ và Thương mại công bằng tại Việt Nam.
20
Công ty Krông Ana 240ha; Công ty cà phê Buôn Hồ 144ha; Công ty cà phê Tháng Mười 150ha.
14
Trong năm 2007, chương trình Success Alliance được tài trợ bởi chính phủ Hoa Kỳ bắt
đầu hoạt động ở huyện Lắk, Ea Hleo và Ea Kar. Trong 2 giai đoạn của dự án, 84 câu lạc bộ
nông dân trồng cacao đã được thành lập với 3.440 hộ tham gia. Mỗi hộ nông dân tham gia câu
lạc bộ được cấp 150 cây giống cacao ghép, được đào tạo kỹ thuật về trồng và chế biến cacao.
Các khóa đào tạo được thực hiện hàng tháng trong những năm mà dự án triển khai. Kết thúc dự
án (tháng 9/2011), toàn tỉnh vẫn duy trì được 79 câu lạc bộ cacao, với sự tham gia của 2.577 hộ
nông dân.21
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng đến năm 2010, diện tích cacao toàn tỉnh chỉ đạt 1.935ha,
xấp xỉ 1/3 kế hoạch đề ra trong Quyết định số 821/QĐ-UB, ngày 2/4/2002 về việc phê duyệt
dự án “Quy hoạch vùng phát triển cây Cacao trên địa bàn tỉnh đến năm 2010” là 6.000ha (sau
khi đã trừ diện tích do chia tách tỉnh Đắk Nông). Những trở ngại chính cho sự phát triển của
cacao được chỉ ra là: i) Cacao là cây trồng mới, chưa thể hiện tính hiệu quả vượt trội so với các
cây trồng khác; ii) Chưa có bộ giống đảm bảo chất lượng; iii) Dự án chỉ triển khai tại các
huyện nghèo, nông dân thiếu vốn đầu tư; iv) Thiếu các chính sách cụ thể trong việc hỗ trợ
nông dân, nhất là chính sách hỗ trợ vốn; và v) Chưa chú trọng tới việc lồng ghép kế hoạch phát
triển cacao với các chương trình/dự án của Nhà nước như chương trình 134, chương trình 135
hoặc chương trình xóa đói giảm nghèo.22
Riêng tại huyện Lắk, hiện có 5 xã tham gia dự án “Phát triển sản xuất Cacao bền vững tại các
nông hộ”: Đắk Phơi, Yang Tao, Bông Krang, Đắk Nuê và Đắk Liêng. Từ năm 2007 đến nay,
Trung tâm Khuyến nông tỉnh đã xây dựng 3 mô hình trình diễn ở huyện Lắk, thành lập và duy
trì 39 câu lạc bộ sản xuất cacao với 1.332 hộ nông dân tham gia. Một đội ngũ tập huấn viên là
người dân tộc thiểu số được xây dựng với hơn 20 cán bộ nòng cốt. Các tập huấn viên được đào
tạo bài bản, liên tục theo chu trình phát triển của cây trồng và những tình huống sâu bệnh phát
sinh. Đặc biệt, trong khuôn khổ của dự án lần này, công tác liên kết thị trường và thông tin
được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu. NLU đã tổ chức nhiều lớp tập huấn lên men cho
nông dân và hình thành mạng lưới thu mua cacao tươi tại chỗ. Với 8 điểm thu mua và lên men,
đầu ra của nông dân sản xuất cacao huyện Lắk cơ bản được giải quyết. Tính đến năm 2011,
huyện Lắk đã trồng được 205ha cacao thuần. Các vườn cacao trồng trong những năm 2007-
2008 đã bắt đầu cho thu hoạch và sản lượng hạt cacao năm 2010 ở huyện Lắk đã đạt hơn
5.000kg.23
Mặc dù được Ban Quản lý Dự án đánh giá là thành công, câu chuyện về cây cacao ở huyện
Lắk vẫn đang đặt ra nhiều vấn đề. Ban đầu, Ban Quản lý Dự án đã thành lập ở đây 40 câu lạc
bộ sản xuất cacao với 2.106 hộ nông dân, chủ yếu là người dân tộc thiểu số tại chỗ; nhưng kết
thúc dự án, chỉ còn 39 câu lạc bộ hoạt động với sự tham gia của 1.332 nông hộ (63,24%). Sức
lan tỏa của cây cacao không lớn và nếu không có sự hỗ trợ của Dự án, không có hộ nông dân
dân tộc thiểu số tại chỗ nào chủ động trong việc trồng cacao.
II. NHỮNG RÀO CẢN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN CÂY CACAO Ở HUYỆN LẮK
1. Lợi ích kinh tế không vượt trội
Yang Tao là một trong những xã không có điều kiện thuận lợi để phát triển các loại cây công
nghiệp lâu năm. Người M'nông ở Yang Tao từ nhiều đời nay chỉ sống dựa vào trồng lúa và hoa
21
Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk – Dự án Phát triển sản xuất Cacao bền vững tại các nông hộ (2011): Báo
cáo Tổng kết thực hiện “Dự án Phát triển sản xuất Cacao bền vững tại các nông hộ giai đoạn 2010-2011”.
22
Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk (2011): “Báo cáo tình hình thực hiện dự án 6.000ha Cacao”.
23
Các số liệu trên được tổng hợp từ Báo cáo Tình hình công tác 9 tháng đầu năm và phương hướng nhiệm vụ 3
tháng cuối năm của Phòng NN&PTNT huyện Lắk và Báo cáo Tổng kết thực hiện dự án “Phát triển sản xuất
Cacao bền vững tại các nông hộ” của Trung tâm Khuyến nông Tỉnh.
15
màu. Các khu vườn tạp mà ngày nay một số hộ gia đình đã chuyển sang trồng cacao vốn không
cho nhiều thu nhập kinh tế. Thực tế là hầu hết các vườn trồng cacao mới ra quả bói nên người
dân cũng chưa hạch toán được hết các chi phí về kinh tế. Trong một cuộc thảo luận nhóm, khi
xếp hạng ưu tiên, nhóm nam nông dân tham gia các câu lạc bộ của dự án SA đã coi cây cacao
là loại cây ưu tiên số 2, sau cây lúa. Theo họ, cây cacao tuy không cho nhiều lợi nhuận, nhưng
chí ít cũng cho các khoản thu nhập tiền mặt có ý nghĩa nào đó đối với đời sống gia đình.
Tuy nhiên, bộ phận người dân không tham gia câu lạc bộ, chưa trồng cây cacao, hoặc có trồng
nhưng chưa nhiều lại tỏ ra nghi ngờ về lợi ích kinh tế của cây cacao so với các loại cây trồng
khác. Một nông dân 28 tuổi, người Ê-đê đến ở rể tại buôn Yooc Đuôn đã được 5 năm thì đưa
ra nhận xét rằng, người M'nông ở Yang Tao không thích trồng cây công nghiệp mà chỉ thích
trồng lúa. Khi về làm rể, anh đã là người đầu tiên trồng sắn, thu hoạch được năng suất cao.
Theo anh, trồng sắn (và cả lúa mỳ) dễ hơn cacao nhiều, mà sản phẩm lại nhìn thấy rõ. “Trồng
sắn không cần bón phân, chỉ cần làm cỏ, làm dễ hơn cả trồng ngô. Mấy sào sắn nhà em có khi
thu được đến 30-40 triệu”. Anh cũng cho biết nếu được chọn cũng thích trồng tiêu, vì dễ bán,
bán tươi cũng được, khô cũng được, còn “thực ra cây cacao vì cho không nên dân mới trồng
thử thôi”.
Cây cacao dường như không có lợi thế so sánh so với một số cây công nghiệp, đặc biệt là
café. Tại Đắk Phơi, một nhóm nông dân người M’nông và người Tày đã giúp các nghiên cứu
viên phân tích lợi nhuận của việc sản xuất cacao qua việc xem xét dòng doanh thu và chi phí
theo thời gian, từ lúc đầu tư ban đầu cho việc hình thành vườn cacao tới chi phí cho cơ sở hạ
tầng và trang thiết bị và chi phí sản xuất, bao gồm cả chi phí vật tư và nhân công. Phân tích
được tiến hành theo giá cố định ở thời điểm điều tra và dựa trên kinh nghiệm trồng cà phê và
tài liệu kỹ thuật trồng cacao để ước tính các chi phí và doanh thu trung bình trên một đơn vị
diện tích là 1.000m2. Giả định rằng tới năm thứ 6 thì sản lượng Cacao ở trạng thái ổn định, các
dòng chi phí và doanh thu cũng ở tình trạng ổn định. Kết quả phân tích như sau:
Bảng 1: So sánh giá trị kinh tế giữa hai cây café và cacao
Năm Công việc Chi phí cho cacao Chi phí cho café
(đơn vị: 110 cây/1 sào – 1000 m2) (đơn vị: nghìn đồng) (đơn vị: nghìn đồng)
1 Đào hố 200.000 200.000
Xử lý hố, xục bồn 300.000 200.000
Cây giống 660.000 330.000
Cố định cây, trồng 300.000 100.000
Phân bón 132.000 324.000
Tưới nước 200.000 200.000
Làm cỏ 800.000 800.000
Thuốc mối, rầy, rệp 550.000 175.000
Làm túp 200.000
Tổng chi 3.342.000 2.329.000
2 Làm cỏ vườn 400.000 400.000
Trồng giặm 190.000 80.000
Thuốc rệp 500.000 250.000
Phân bón 265.000 650.000
Làm cỏ bồn 400.000 500.000
Tưới nước 600.000 800.000
Tỉa chồi 100.000 300.000
Tổng chi 2.455.000 2.980.000
3 Làm cỏ 400.000 400.000
Thuốc sâu 650.000 600.000
Tỉa chồi 100.000 400.000
16
Tưới nước 800.000 1.200.000
Phân bón 850.000 1.400.000
Tổng chi 2.800.000 4.000.000
Thu bói 350.000 840.000
4 Làm cỏ 200.000 300.000
Thuốc sâu 130.000 130.000
Tỉa chồi 100.000 400.000
Tưới nước 800.000 1.200.000
Phân bón 800.000 1.200.000
Thu hoạch 100.000 400
Phơi khô 200
Tổng chi 2.130.000 2.631.200
Bán 2.310.000 6.000.000
5 Làm cỏ 200.000 300.000
Thuốc sâu 130.000 130.000
Tỉa chồi 100.000 400.000
Tưới nước 800.000 1.200.000
Phân bón 800.000 1.200.000
Thu hoạch 100.000 400.000
Phơi khô 200.000
Tổng chi 2.130.000 2.631.200
Tổng thu 3.850.000 9.000.000
TỔNG CHI 5 NĂM 13.037.000 14.571.400
TỔNG THU 5 NĂM 6.510.000 15.480.000
(Nguồn: thảo luận nhóm của đại diện các hộ trồng cây cacao tại xã Đắc Phơi, huyện Lăk ngày 3/11/2011).
Bảng 1 cho thấy, nếu dựa trên phân tích chi phí – thu nhập giữa cà phê và cacao thì nhóm
người dân trồng cacao tại Đăk Phơi sẽ lựa chọn cà phê để phát triển chứ không phải cacao.
Trên cùng diện tích 1000m2, tổng chi phí trồng cà phê cao hơn so với chi phí trồng cacao
tương ứng với 14.571.000 đồng và 13.037.000 đồng. Trong khi đó doanh thu thì ngược lại,
tổng doanh thu từ cà phê trong 5 năm là 15.480.000 đồng so với 6.510.000 đồng từ cacao. Đa.
Dễ dàng nhận thấy là mặc dù chi phí lớn hơn, nhưng cây cà phê cũng mang lại lợi ích kinh tế
cao hơn nhiều so với cacao.
Bản thân cán bộ trạm thu mua của công ty Cargill tại Buôn Ma Thuột cũng thẳng thắn thừa
nhận rằng, trên cùng một đơn vị diện tích, cây cacao không thể so sánh được với cây cà phê về
sản lượng và hiệu quả kinh tế. Thảo luận nhóm cán bộ xã Đăk Phơi cũng cho biết, hiện nay
cây cacao không phải là cây mang tính chất hàng hóa ở đây, mà là điều và cà phê. Một cán bộ
địa chính cho biết tính ra cây điều lãi hơn và ít rủi ro hơn cây cacao. Cây điều chịu được thời
tiết, chỉ cần bón phân vừa phải, không cần che chắn, một hectar có thể thu được khoảng 60
triệu. Tuy nhiên cây điều phải trồng cách nhau 10m, nên có thể xen cây cacao vào trồng cùng
được. Còn cây café được trồng tại các đồn điền từ thời Pháp thuộc, qua một thời gian dài đã trở
thành một loại cây bản địa. Theo một cán bộ ở Sở Nông nghiệp tỉnh, người dân ở đây hiểu cây
cà phê như người đồng bằng hiểu cây lúa. Cà phê đồng thời lại là loại cây đem lại hiệu quả
kinh tế cao nhất tại địa phương. Do đó cà phê luôn là loại cây được chọn trồng đầu tiên trong
các loại cây công nghiệp. Theo đánh giá của Agrifood Consulting International (2008), những
trở ngại cho việc người dân chuyển từ cây café sang cây cacao là rất rõ ràng:
Trong khi giá cacao cao và đang gia tăng thì tình hình cũng tương tự đối với cà phê. Đặc
biệt là tại những khu vực sản xuất lớn như Tây Nguyên, động lực thúc đẩy nông dân bỏ
cà phê để chuyển sang trồng cacao hay thậm chí chỉ trồng xen canh với cà phê là thấp.
Với giá cả hiện nay thì cà phê mang lại thu nhập cao hơn; thời gian thu hoạch tập trung
17
trong khi đó thời gian thu hoạch đối với cacao kéo dài trong vài tháng. Ngoài ra, hầu hết
nông dân đều đã quen với cây cà phê trong khi đó cacao là một cây trồng khá mới mẻ.
Cao su có thể là cây trồng thay thế cacao. Có một số điểm khiến mọi người ủng hộ cacao
như cacao ít rủi ro, sử dụng ít phân hoá học và nước hơn, đòi hỏi ít công chăm sóc hơn,
vốn đầu tư ban đầu ít hơn, mang lại lợi ích về đa dạng sinh học và linh hoạt hơn trong
việc thích nghi với các điều kiện sinh thái nông nghiệp có phạm vi rộng hơn so với cà phê
và cao su. Chính phủ có chương trình cho vay vốn ưu đãi để trồng cây cao su nhưng lại
chưa có một chương trình như vậy đối với cây cacao. Ngoài cà phê và cao su, còn có
những cây trồng khác cũng có thể thay thế cho cacao. Minh chứng về những lợi thế của
cacao so với các cây trồng cạnh tranh khác cần được trình diễn, giới thiệu và phổ biến tới
người nông dân. Sự phát triển của ngành sản xuất cacao có thể bị làm chậm lại trừ khi
thực hiện một nỗ lực liên tục theo hướng này.
Do cacao không có những lợi thế ‘siêu việt’ hơn cây cafe, theo đánh giá của một số bên liên
quan, nên chỉ có thể được trồng tại những vùng đất không thích hợp hoặc quá hẹp để trồng cà
phê. Về điều này, một lãnh đạo của Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk phân tích: nếu trên
các khu vực thuận lợi cho việc trồng cà phê, cao su và hồ tiêu, cây cacao không thể cạnh tranh
được. Nhưng ở các khu vực khác, cây cacao có thể là sự lựa chọn hợp lý hơn của người dân.
Lý do được đưa ra là các nghiên cứu so sánh trước đó đã tính đến tất cả các yếu tố đầu vào và
đầu ra của dòng sản phẩm cacao.
Cacao không phải là cây dành cho người nghèo vì nó không chỉ đòi hỏi phải có đất canh tác
mà trong giai đoạn kiến thiết vườn (3-4 năm) nó đòi hỏi phải có nguồn vốn tài chính lớn. Các
yếu tố kỹ thuật thì người nông dân có thể học hỏi và khắc phục được, nhưng tiền vốn luôn là
một thách thức không dễ vượt qua đối với người nghèo và người dân các tộc người thiểu số tại
chỗ. Dưới góc độ này, cacao không thể cạnh tranh với lúa và hoa màu, những loại cây trồng có
thể cho thu hoạch chỉ trong một thời gian ngắn.
Sản xuất cacao đòi hỏi phải có vốn lớn, đặc biệt là trong những năm đầu. Kết quả đánh giá
tại thực địa, các tập huấn viên cho biết: Đối với cacao thì chi phí vật tư bao gồm phân bón (cả
phân hữu cơ và hoá học) và việc xử lý đất (như vôi), thuốc diệt nấm, thuốc trừ sâu, điện cho
tưới tiêu và đầu tư cho cây chắn gió và che bóng tạm thời và lâu dài. Trong các năm thứ 1, 2,
và 3, mỗi cây cacao cần một lượng phân NPK 16-16-8 tương ứng là 200, 400, và 600 gram.
Bắt đầu năm thứ 4, công thức bón phân thay đổi sang sử dụng NPK 16-16-26 với tỷ lệ 0,9 và
1,5 kg/cây tương ứng trong các năm thứ 5 và năm thứ 6 trở đi. Vôi cần được sử dụng với tỷ lệ
0,5kg/cây trong năm đầu và 0,3kg/cây từ năm 2 trở đi. Bên cạnh đó, phân chuồng cũng luôn
cần được sử dụng nhằm duy trì chất hữu cơ cho đất với tỷ lệ là 10kg/cây trong năm đầu và
5kg/cây từ năm 2 trở đi. Đó sẽ là một chi phí rất lớn nếu người nông dân canh tác cacao trên
diện rộng. Theo một chủ nhiệm câu lạc bộ, một trong những người đầu tư trồng cacao nhiều
nhất Yang Tao với 1000 cây, cho biết giá phân NPK 16-16-8 hiện nay là 600 nghìn đồng/1 bao
50kg. Phân chuồng chỉ bón được trong mùa khô, còn mùa mưa bắt buộc phải dùng phân hóa
học. Vườn cacao nhà bà còn một năm nữa mới bói quả, hiện đang bị thiếu phân nhưng bà
không biết vay mượn ở đâu để mua.
Chi phí cho thuốc diệt nấm và thuốc trừ sâu cũng rất đáng kể. Theo một cán bộ khuyến
nông huyện Lắk, cây cacao ở đây thường gặp khá nhiều loại sâu bệnh. Đối với sâu hại, trong
năm đầu tiên mối là nguy cơ lớn nhất; trong giai đoạn cacao cho sản lượng, bọ xít muỗi là vấn
nạn chính. Điều này cũng được tất cả các nông dân trồng cacao xác nhận. Để ngừa mối, bà con
nông dân thường sử dụng thuốc Chlorpyrifos; để kiểm soát bọ xít muỗi, bà con nông dân
thường dùng các loại thuốc Cypermethrin và Dimethoate. Các loại bệnh mà cacao ở huyện Lắk
thường gặp là bệnh thối đen quả và bệnh gỉ nấm (agal rust). Các kỹ thuật viên thường khuyến
cáo nông dân sử dụng các thuốc diệt nấm như Metalaxyl, Cuprous oxide, Phosphonate
potassium và Fosetyl-Al có thể được sử dụng trong trường hợp có áp lực cao về dịch bệnh.
18
Riêng với bệnh gỉ nấm, cần sử dụng ô xít đồng và thuốc diệt nấm phổ rộng (broad spectrum)
để kiểm soát. Một người nông dân buôn Liêng Kéh, xã Đăk Phơi đang trồng 50 cây cacao do
dự án cho giống cho biết cây bị sâu bệnh nhiều mà không có tiền mua thuốc sâu nên “kệ, cây
nào sống thì sống, chết thì chết”.
Chi phí về nhân công cho sản xuất cacao bao gồm công đào hố và trồng (vào thời điểm thành
lập vườn), sử dụng phân bón và chăm sóc cây, tưới, tỉa cành và làm cỏ, thu hoạch, lên men và
sấy khô (trong giai đoạn chăm sóc và kinh doanh). So với các loại cây khác như cà phê hay cao
su, chi phí nhân công cho cacao được đánh giá là thấp hơn. Nhưng do thời gian thiết kế vườn
kéo dài (3-4 năm), cộng gộp chi phí nhân công cũng rất đáng kể. Ngoài ra, các cơ sở sản xuất
cacao còn cần có các khoản chi để mua bình phun thuốc và máy bơm. Riêng các cơ sở lên men
còn cần trang bị thêm các thùng lên men.
Chi phí ở khâu thu mua và chi phí cho những rủi ro về chất lượng cacao cũng là một yếu
tố cần tính đến. Theo phỏng vấn cán bộ của Cargill, hiện nay Cargill không thu mua tại chỗ mà
chỉ thu mua qua pháp nhân. Người có pháp nhân phải chở cacao đến trạm thu mua. Trong khi
đó, mạng lưới thu mua chưa phát triển. Hơn nữa, rủi ro trong khâu chế biến, bảo quản dẫn đến
việc nếu bị trả lại vì thối hoặc có mùi thì cũng làm tăng chi phí cho người dân trong việc trồng,
lên men và kinh doanh cacao.
Việc vay vốn để trồng cacao khó hơn so với vay vốn trồng café hay các loại cây ngắn ngày.
Năng suất và chất lượng cacao phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giống cây trồng, kỹ thuật chăm sóc
(che nắng, chắn gió), sự kiểm soát sâu hại dịch bệnh và mức độ dinh dưỡng của đất. Trong các
yếu tố kể trên, sự kiểm soát sâu hại dịch bệnh và mức độ tăng cường dinh dưỡng cho đất có
ảnh hưởng rất lớn đến năng suất. Cả 2 yếu tố này đều cần đến sự đầu tư mạnh về tài chính. Tuy
nhiên các cuộc phỏng vấn sâu tại các điểm nghiên cứu cho thấy vay vốn cho cacao khá khó,
đồng thời người dân cũng ngại ngần để vay. Điều này được lý giải rằng người cho vay lo ngại
về lợi ích kinh tế thu được từ cacao, cũng như những rủi ro có thể xảy ra do qui trình kỹ thuật
quá phức tạp:
“Ngân hàng không cho mình vay vốn trồng cacao như cách cho người Duôn vay để trồng
cà phê đâu, mà vay bên ngoài thì không vay dài được. Vay vốn trồng ngô chỉ một năm là trả
được rồi chứ vay trồng cacao thì hết hạn vay chưa được lời, sao trả nổi nợ. Người có tiền
không dám cho vay mà mình cũng sợ không dám vay vì biết có trả được không mà vay.”
(người dân, bon Tlông, xã Đắc Phơi).
Hiện chưa có các chương trình hỗ trợ tiếp cận nguồn tín dụng trung hạn cho cacao (tương tự
như đã xảy ra trước đây trong việc phát triển cà phê hoặc cao su tiểu điền). Theo các cán bộ xã
Đăk Phơi, người dân nếu muốn trồng ngô thì rất dễ vay vốn, cả của ngân hàng nhà nước và tư
nhân vì vụ ngắn ngày, có thể trả được; và nếu vay của tư nhân, khi thu hoạch có thể bán luôn
cho chủ nợ. Nhưng cây cacao trồng vài năm vẫn chưa thấy sản phẩm, nên việc vay được tiền
sẽ khó. Theo Agrifood Consulting International (2008), các nông hộ sản xuất cacao chỉ đạt đến
điểm hòa vốn vào năm thứ 4, từ năm thứ 5 trở đi mới bắt đầu kinh doanh. Như vậy, toàn bộ
thời gian từ năm thứ 4 trở về trước, sản xuất cacao đồng nghĩa với việc chi phí không lợi
nhuận. Đối với các nông hộ nghèo, các hộ dân tộc thiểu số tại chỗ - những người thuộc nhóm
yếu, rất hạn chế về đất trồng và các dòng tín dụng - đó là một thách thức không dễ vượt qua.
Với nguồn tín dụng trung hạn (2-4 năm) như hiện nay, cây cacao khó có thể phát triển. Thậm
chí đối với những nông dân khá giả hơn thì những trở ngại về tài chính cũng sẽ là vấn đề khi
họ áp dụng hình thức canh tác độc canh trên diện rộng.
2. “Cacao kén người trồng” - Kỹ thuật chăm sóc và chế biến khó và rủi ro cao
19