Cầu vòm

  • 12 trang
  • file .pdf
Khoa Xây Dựng Cầu Đường - Trường Đại Học Bách Khoa
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CẦU VÒM ỐNG THÉP
NHỒI BÊTÔNG LIÊN HỢP VỚI HỆ TREO
ThS. HOÀNG MẠNH HIỀN - Cựu sinh viên 15X3, ĐHBK
PGĐ. Công ty cổ phần TV XD CTGT 5(Tecco5)
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay trên thế giới công nghệ xây dựng cầu đã có những bước phát triển
vượt bậc về sự đa dạng hoá các loại cầu cũng như khả năng vượt nhịp rất lớn. Đó
chính là quá trình phát triển và ứng dụng công nghệ tin học vào chương trình tính toán
kết cấu, đã giải quyết và xử lý rất tốt có hiệu quả các chương trình tính toán phức tạp
về sự làm việc không gian của kết cấu công trình . Đồng thời công nghệ chế tạo vật
liệu xây dựng cũng đã đạt được những tiến bộ ưu việt, cụ thể đã sản xuất được các loại
vật liệu có cường độ cao, siêu bền như: Thép cường độ cao, cáp dự ứng lực, bê tông
siêu bền,các loại phụ gia đặc biệt dùng để kết dính vật liệu…
Các dạng cầu vượt nhịp lớn được xây dựng như cầu treo dây văng, rất phong
phú về kết cấu với loại hai mặt phẳng dây, một mặt phẳng dây,cấu tạo trụ tháp cũng có
nhiều hình dạng đẹp.Cầu treo dây võng với kết cấu dầm liên tục, hệ liên tục dàn, bán
dàn được sử dụng.Các loại cầu dầm bê tông liên tục được thiết kế và thi công với công
nghệ đúc hẫng cân bằng, đúc đẩy cũng được áp dụng phổ biến. Với những nhịp lớn,
vừa và trung bình thì cầu vòm liên hợp, dầm cứng hay liên hợp với nhịp treo đều là kết
cấu có khả năng khai thác hợp lý.
Trong các dạng cầu được xây dựng thường tạo được kiến trúc đẹp là các loại
cầu treo, cầu vòm và đã được ưu tiên xây dựng ở nhiều thành phố lớn trên thế giới.Tuy
nhiên hình dạng cầu vòm với đường cong trục vòm sẽ tạo được dáng hài hoà,và khi áp
dụng những tiến bộ kỹ thuật về công nghệ thiết kế, cầu vòm sẽ khắc phục hạn chế vượt
nhịp nhỏ. Nếu sử dụng các loại vật liệu tiên tiến thì các kết cấu, cấu tạo cầu vòm sẽ
thanh mãnh, chắc chắn dáng cầu sẽ nên thơ và đẹp hơn.
Với ý tưởng như vậy trong bài viết này sẽ tập trung nghiên cứu loại cầu vòm
với dạng kết cấu cầu vòm ống thép nhồi bê tông, hệ mặt cầu bằng bê tông ứng suất
trước chất lượng cao được treo vào vành vòm.Đây cũng là một công nghệ xây dựng và
thiết kế khá mới trong ngành cầu của Thế giới và Việt Nam.
Vấn đề cần đề cập ở đây là:
- Nghiên cứu cấu tạo và sự làm việc của kết cấu ống thép nhồi bê tông.
- Nghiên cứu cấu tạo và tính toán hệ mặt cầu bằng bê tông chất lượng cao được
treo lên hệ vòm ống thép nhồi bê tông qua các dây treo thẳng đứng.
- Nghiên cứu tổng quan công nghệ chế tạo vòm ống thép nhồi bê tông và công
nghệ xây dựng cầu.
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Khái niệm chung
Với loại cầu vòm liên hợp với hệ treo có vòm ống thép nhồi bê tông là một
trong những loại cầu có kết cấu khá phức tạp. Ngoài sự làm việc của kết cấu theo dạng
vòm cần phải nghiên cứu xem xét đồng thời sự làm việc của hệ dây treo với bản mặt
cầu; sự làm việc của kết cấu liên hợp bê tông nhồi trong ống thép… ở đây với sự hạn
chế của bài viết nên chỉ xét đến khái niệm của một số tính chất làm việc đặc trưng của
loại cầu này.
TẬP SAN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 1
Khoa Xây Dựng Cầu Đường - Trường Đại Học Bách Khoa
2.2. Những vấn đề hợp lý cầu vòm liên hợp với hệ treo có vòm ống thép
nhồi bê tông
Loại kết cấu liên hợp vòm và dầm bằng BTCT có nhược điểm chủ yếu là vòm
bê tông sử dụng nhiều vật liệu, thi công khó khăn.Dầm bê tông vừa chịu uốn vừa chịu
kéo nên tốn vật liệu và cấu tạo liên kết dầm với vòm phức tạp.Như vậy cầu vòm dầm
liên hợp cũng có nhiều nhược điểm về mặt sử dụng vật liệu cũng như thi công so với
các dạng cầu tương tự khác. Nên chúng tôi đã nghiên cứu tìm cách cải tiến để khắc
phục các nhược điểm này và đề xuất một loại kết cấu mới liên hợp vòm với hệ treo,có
thanh kéo để triệt tiêu lực đẩy ngang. Khi nghiên cứu cầu treo giây văng với những
nhịp vừa phải nếu dùng trụ tháp là những cột bê tông thì cột sẽ chịu lực nén và mô
men. Nếu thay trụ tháp bằng một vòm ống thép nhồi bê tông hệ mặt cầu được treo lên
vòm bằng những dây treo thẳng đứng thì có thể khai thác triệt để khả năng chịu lực
của vật liệu. Kết cấu vòm trong trường hợp này sẽ chịu nén là chính, dây văng treo
thẳng sẽ không bị ảnh hưởng của độ cong do trong lượng bản thân dây, trị số môđun
đàn hồi của dây sẽ là môđun đàn hồi của thép nên sẽ khai thác tối đa khả năng chịu
kéo của thép và biến dạng sẽ nhỏ hơn. Dầm mặt cầu sẽ là một dầm liên tục kê trên gối
cứng ở mỗi trụ và gối đàn hồi tại các dây treo. Như vậy dầm chủ yếu chịu mô men uốn
với nhịp tương đối ngắn bằng cự ly giữa các dây. Để khắc phục lực đẩy của vòm nhất
là khi đất nền tương đối yếu có thể dùng dây căng liên kết hai chân vòm và luồn trong
hệ mặt cầu. Với kết cấu như vậy các bộ phận chịu lực rõ ràng và đơn giản nên có thể
khai thác hết khả năng vật liệu. Khi xây dựng sẽ thực hiện công nghệ thi công vòm
trước và dầm sau. Đối với vòm ống thép được chế tạo bằng cách cuốn lò xo có thể làm
thành những đoạn dài. Khi thi công có thể dùng công nghệ lắp hẫng hoặc lắp sẵn vòm
trên bờ rồi đưa lên phương tiện chở nổi để đưa ra vị trí lắp hoàn chỉnh vòm. Dùng
vành vòm treo ván khuôn để đúc hẫng các đốt dầm hoặc treo các đốt đúc sẵn để lắp
hẫng hệ mặt cầu.
3. NỘI DUNG TÍNH TOÁN
3.1. Mô hình tính toán
Cầu vòm liên hợp với hệ treo bộ gồm các bộ phận:
- Vòm : là kết cấu chịu tải trọng do các dây treo truyền lên. Vòm được bố trí
theo sơ đồ vòm không khớp liên kết cứng với mố trụ. Khi tính toán tải trọng cố định
được giả thiết là phân bố đều. Hoạt tải trên mặt cầu chuyền vào các thanh treo sẽ xác
định vị trí bất lợi nhất để tính toán. Vòm không khớp tại chân vòm có phản lực ngang,
nếu nền đất đá chắc thì phần lực ngang sẽ trực tiếp chuyền vào nền, nếu nền đất yếu
thì phải dùng thanh kéo giữ hai chân vòm để triệt tiêu lực đẩy hoặc dùng bản trượt để
khắc phục bớt lực đẩy.
- Dầm mặt cầu : là bộ phận trực tiếp chịu tải. Sơ đồ chịu lực cũng tương tự như
dầm cầu treo dây văng. Dầm được kê trên mố, trụ bằng những gối cứng và được treo
lên vòm bằng các dây treo thẳng đứng là những gối đàn hồi, như vậy dầm mặt cầu là
một dầm liên tục kê lên hai gối cứng và những gối đàn hồi. Hệ số đàn hồi chịu ảnh
hưởng của biến dạng dây treo và chuyển vị đàn hồi của vòm
3.2. Tính toán nội lực trong vòm
+ Phương trình trục vòm:
Đối với cầu vòm liên hợp sự phân bố tải trọng cố định có thể coi là phân bố đều
nên trục vòm hợp lý chọn theo đường Parabol bậc hai:
4f 2
y= x
L2
TẬP SAN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 2
Khoa Xây Dựng Cầu Đường - Trường Đại Học Bách Khoa
X
X2 X2 ys f
X1 X1
X3 X3
(a) Y(b) l
Hình 2.1
+ Tính toán nội lực do tĩnh tải: Tĩnh tải được coi là phân bố đều nên trong vòm
chỉ có lực nén mà không có momen và lực cắt. Khi có lực nén tác dụng vòm sẽ có biến
dạng đàn hồi, biến dạng này là do tỉnh tải và hoạt tải cùng gây ra và sẽ làm thay đổi
trục vòm làm cho nội lực thay đổi. Để đơn giản việc tính toán trước hết chưa xét ảnh
hưởng này để xác định ra nội lực tính toán nén trong vòm sau đó sẽ xét ảnh hưởng của
biến dạng đàn hồi gây ra sẽ biến đổi nội lực và cộng tác dụng với nhau.
+ Nội lực do tính tải khi không xét ảnh hưởng của biến dạng đàn hồi:
(Phương pháp giải vòm không khớp theo cơ học kết cấu):
ΣM
Giải ra : Hg = và phản lực : Vg = ΣP
f
∑P: trọng lượng 1/2 nhịp)
∑M : Momen chân vòm do trọng lượng 1/2 nhịp)
+ Nội lực do biến dạng đàn hồi:
Khi có lực nén tác dụng thì trục vòm sẽ có biến dạng Δlg . Để cân bằng biến
dạng thì tại tâm đàn hồi sẽ có lực nằm ngang là ΔHg. Có thể viết bằng phương trình:
Δ lg g
ΔHg =
δ 22
l Hg Hg
Δ lg = ∫ Δdx
o
Nds Ndx Hg dx ΔHg ΔHg
Δdx = Δds cos ϕ = cos ϕ = =
EA EA cos ϕ EA ϕ
Hgdx l dx Δlg
Δ lg = ∫ = Hg ∫ cos ϕ
s EA cos ϕ o EA cos ϕ
2
l
M 2 ds N 2 ds y 2 ds cos 2 ϕds ds
δ 22 = ∫ +∫ 2 =∫ +∫ = (1 + μ ) y 2 Hình 2.2
EI EA EI EA EI
∫ cos ϕds
2
y = yo − y 1 μ=
ds l dx
∫ y EI Hg ∫o EA cos ϕ
2
μ1
ΔHg = = Hg
Thay vào trên sẽ tính được: 1+ μ 2
l y ds 1+ μ
l dx ∫o EI
∫o EA cos ϕ (Các trị số µ, µ1 có thể tra trong các sổ tay)
μ1 = 2
l y ds
∫o EI
Khi đã xác định được ΔHg có thể tính ra lực nén, momen, lực cắt trong vòm có
xét đến biến dạng đàn hồi .
μ
M = 1 Hg ( ys − y1 )
1+ μ
TẬP SAN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 3
Khoa Xây Dựng Cầu Đường - Trường Đại Học Bách Khoa
Hg μ
N= − 1 ( Hg. cos ϕ )
cos ϕ 1 + μ
μ1
Q=+ ( H .g sin ϕ )
1+ μ
+ Nội lực phụ : do khi bị nén đàn hồi trục vòm bị lệch với trục lực nén. Khi
chịu tĩnh tải gây ra lực nén trong vòm, trục vòm bị nén đàn hồi sẽ lệch với trục lực
nén. Giả thiết có 5 vị trí trục lực nén và trục vòm vẫn trùng hợp với nhau là đỉnh vòm
chân vòm, và điểm 1/4 vòm.
Điểm i trên trục vòm có toạ độ yi, trên trục lực nén là i' tọa độ yi' thì:
y' = Mi/Hx.Δy = yi - yi' : là độ lệch của trục vòm và trục lực nén tại i.
Do độ lệch này sẽ sản sinh momen: Mp = Hx. yi - Mi = Hx.Δy
Do tồn tại Mp nên tại tâm đàn hồi sẽ sản sinh lực thứ cấp X1 ; X2
Mpds Mp1 Δx Trôc lùc nÐn
X1 =
Δ 1M ∫
= − s EI = −∑
n
EI 1 cos ϕ Hx
δ 11 ds l dx
∫s EI i =0
∫o EI y'i yi
i
X2
y1 − y s
n
Mp1 y1 Δx X1
Δ ∫s EI
Mp ds ∑ EI cos ϕ
i'
Trôc vßm
X 2 = 2M = − = i =0 2
δ 22 ( y1 − y s ) 2
y ds
∫s EI ds EI
l/4 l/4
n - Số đoạn phân chia trên nửa vòm
Δx - Chiều dài đoạn
Nội lực thứ cấp sẽ tính toán theo
ΔN = X2 cosϕ
ΔM = X1 + X2 (y1+ys)+Hg Δy
ΔQ = X2 sinϕ
Trị số nội lực này sẽ lớn khi chiều dài nhịp lớn vì vậy những vòm có nhịp lớn,
nhất thiết phải xét ảnh hưởng này.
3.3. Tính toán nội lực bản cầu
3.3.1. Sơ đồ tính toán nội lực bản mặt cầu và thanh kéo
H×nh 2.3 Vßm cøng
D©y
treo Thanh
kÐo
l1 l2 li l i+1 l i+1 li l2 l1
H×nh 2.4
p1 p2 pi pi+1 pi p2 p1
TẬP SAN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 4
Khoa Xây Dựng Cầu Đường - Trường Đại Học Bách Khoa
3.3.2. Nguyên lý tính toán nội lực bản mặt cầu:
Sơ đồ tính hệ dầm bản mặt cầu được xem như là một dầm liên tục kê trên hai
gối cứng và các gối tựa đàn hồi. Các gối tựa đàn hồi này ở ngay tại vị trí của dây treo
bản mặt cầu và vành vòm.
Vấn đề quan trọng khi giải bài toán này là phải xác định độ cứng của gối tựa
đàn hồi. Độ cứng gối tựa đàn hồi phụ thuộc vào chuyển vị của vòm và biến dạng của
dây treo. Tuy nhiên sự chuyển vị của vòm cứng đối với chiều dài nhịp không lớn có
giá trị bé nên trong những trường hợp này chỉ xét đến ảnh hưởng biến dạng của dây
treo.
Pi.Li
Độ cứng gối tựa đàn hồi được xác định theo công thức: = 1 . Độ cứng đàn
EFi
hồi chính là giá trị lực Pi gây ra chuyển vị 1 đơn vị . Thực tế để đơn giản trong quá
trình thi công và cấu tạo, dây treo được thiết kế với một chủng loại thép có cùng cường
độ và có một tiết diện như nhau nên:
Pi.Li
=1
EF
Trong đó: Pi : là lực tác dụng ( Độ cứng đàn hồi.
Li : Chiều dài dây treo.
E : Moduyn đàn hồi của dây.
F : Tiết diện dây.
Như vậy độ cứng gối tựa đàn hồi tại mỗi vị trí có giá trị khác nhau phụ thuộc
chiều dài dây treo Li.
Xác định được giá trị độ cứng gối đàn hồi (Pi) tại từng vị trí gối để cơ sở tính
toán dầm bản mặt cầu.
3.3.3. Tính toán bản mặt cầu:
+ Theo sơ đồ tính đã được xác định các độ cứng gối đàn hồi (Hình 2.4).
+ Xác định các giá trị nội lực tại các tiết diện của dầm dưới tác dụng của tải
trọng bao gồm: Tĩnh tải và hoạt tải.
+ Vì đây là một dầm liên tục có nhiều nhịp nên có thể dùng các phần mềm để
tính toán như SAP ; RM8 ... hoặc các phần mềm chuyên dụng .
+ Sau khi xác định được giá trị nội lực tại từng tiết diện của dầm, tiến hành tính
toán kết cấu và cấu tạo cho dầm.
3.4. Tính thanh kéo
Việc tính toán thanh kéo được xác định trong sơ đồ tính cho toàn bộ vòm cụ thể
là:
- Ta xem như vẫn có đường xe chạy để sắp các tải trọng tính toán cho vòm có
thanh kéo AB (Hình 2.3).
- Xây dựng các đường ảnh hưởng để tính toán nội lực sau khi chất tải xác định
được giá trị nội lực của thanh kéo AB.
- Tính toán kết cấu (tiết diện thanh kéo)
3.5. Tính toán và thiết kế tiết diện vành vòm ống thép nhồi bê tông
- Thực hiện tính toán theo bài toán Sức bền vật liệu để chọn được các thông số
tiết diện ống thép và vật liệu bê tông ứng với khả năng chịu tải trọng .
TẬP SAN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 5
Khoa Xây Dựng Cầu Đường - Trường Đại Học Bách Khoa
4. NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN CÔNG NGHỆ THI CÔNG ỐNG THÉP NHỒI
BÊTÔNG VÀ CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG CẦU
Việc chế tạo các bộ phận cấu tạo và kết cấu của cầu cũng như thi công lắp đặt
hoàn thiện toàn công trình phải trãi qua nhiều công đoạn.Trên cơ sở số liệu tính toán
,thực hiện thiết kế chế tạo và thi công vành vòm và những cấu tạo khác.Thi công ống
thép và lắp đặt vành vòm vào vị trí thiết kế cũng là một vấn đề rất quan trọng, nó quyết
định rất lớn đến chất lượng công trình.Đây cũng là vấn đề phức tạp cần phải nghiên
cứu sâu hơn và công việc này ảnh hưởng rất lớn bởi cách chọn công nghệ thi công và
sẽ được đề cập trong một chuyên mục khác.Trong bài này chỉ lưu tâm nhiều đến công
nghệ lao lắp hệ vòm cầu,cụ thể là:
4.1. Công nghệ thi công bơm bê tông vào vành vòm
+ Sau khi thi công lắp ghép các ống thép thành một hệ vòm hoàn chỉnh, tiến
hành thi công đổ bê tông trong ống. Với phương pháp này thì quá trình thi công đổ bê
tông ống được liên tục khép kín, việc lắp dựng các đoạn ống rổng chưa có bê tông sẽ
nhẹ và dễ lắp đặt.
* Công nghệ thi công tổng quát được xác định như sau:
Trên cơ sở hệ vòm ống thép đã lắp đặt vào vị trí thiết kế. Thiết kế công nghệ thi
công bơm vữa bê tông vào vòm ống gồm các hạng mục công việc chủ yếu là:
+ Thiết kế hệ trạm trộn bê tông tươi trên bờ và dùng hệ bơm áp lực đẩy bê tông
lên hệ trung chuyển. Hệ thống trung chuyển bê tông được đặt trên hệ sà lan và neo
ngay giữa nhịp vòm.
+ Ngay tại giữa vòm sẽ lắp ráp hệ cần cẩu tháp được định vị và liên kết vào hệ
vòm, dùng để làm mặt bằng và để thi công bơm bê tông. Xác định khối lượng bê tông
bơm cho toàn bộ một vành vòm, để thiết kế hệ thống cung cấp bê tông liên tục.
+ Bê tông sẽ được bơm vào lỗ hở đoạn vòm ngay giữa nhịp bằng máy phun bê
tông có áp lực đến 10atm. Bê tông được phun liên tục cho đến khi đầy và chặt vành
vòm. Phun vữa bê tông có thể ở điểm giữa vòm hoặc tại từng phân đoạn. Sau khi hoàn
thiện dổ bê tông cho chuyển tiếp đến các đoạn kế tiếp cho đến khi hoàn thành công tác
đổ bê tông.
+ Xử lý hàn bịt chặt lỗ (đã dùng để đút vòi bơm bê tông) bằng thép tấm với các
đường hàn chịu lực.
+ Sau khi đổ bê tông cho vành vòm thứ nhất, tiến hành đổ bê tông cho vành
vòm thứ hai và các ống thanh giằng ngang nối hai vành vòm với nhau.
* Công tác đầm nén bê tông:
+ Với công nghệ đổ bê tông như thế này, việc đầm nén bê tông khó có thể dùng
biện pháp cơ học được. Để đảm bảo độ chặt bê tông, hiện nay trên thế giới đã dùng
loại phụ gia đặc biệt có tác dụng sắp xếp chặt các loại cốt liệu trong thành phần hỗn
hợp bê tông, tạo cho bê tông tự nén chặt. Bê tông có dùng loại phụ gia này được gọi là
bê tông tự dầm. Theo các số liệu thực nghiệm của các nước thì độ chặt đảm bảo thiết
kế. Tuy nhiên khi phân ra từng đoạn vòm nhỏ để đổ bê tông thì ngoài việc gõ ngoài
thành ống có thể dùng đầm dùi vào trong bê tông của ống hỗ chợ thêm để có tác dụng
làm thoát không khí ra ngoài bê tông.
* Về vật liệu bê tông:
+ Xác định thành phần cấp phối bê tông bằng các thí nghiệm và luôn được kiểm
soát chất lượng đúng quy trình quy phạm và có đối chứng với các mẫu thử.
+ Phải đặc biệt chú ý đến độ sụt của bê tông. Độ sụt của bê tông được thiết kế
(15-20) cm. Cho dùng các phụ gia hóa dẻo và phụ gia nở để khắc phục sự co ngót của
bê tông.
TẬP SAN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 6
Khoa Xây Dựng Cầu Đường - Trường Đại Học Bách Khoa
* Về kiểm soát chất lượng bê tông thành phẩm:
+ Để xác định sự lèn chặt của bê tông và những nơi có khuyết tật (nếu có) có
thể dùng phương pháp siêu âm. Thiết bị máy siêu âm sẽ được kiểm tra theo suốt dọc
vành vòm.
+ Tại vị trí nào bê tông phát hiện bị rỗng hoặc rỗ có thể cho khoan vỏ ống thép
và bơm vữa bê tông áp lực lớn để bổ sung sau đó hàn bịt lại.
4.2. Công nghệ lao lắp vòm
Việc thi công lắp ghép các phân đoạn ống để tạo vòm cầu phụ thuộc vào công
nghệ thi công hoàn chỉnh lắp đặt cho hệ vòm vào vị trí thiết kế. Có hai phương pháp
để thi công lắp đặt hệ vòm cụ thể là:
4.2.1. Lao lắp hẫng hệ vòm thép bằng giá treo:
4.2.1.1. Công nghệ thi công.
+ Thiết kế hệ giá treo lắp đặt thi công vòm trên mặt bằng đỉnh trụ mở rộng.
Chiều cao giá treo được tính toán sao cho có thể
neo giữ và lắp ráp cho đoạn ống thép ở giữa nhịp.
Việc lắp đặt hoàn thiện cho một nhịp vòm được
tiến hành từ hai phía, tại đoạn giữa sẽ được thi
công hợp long vòm bởi phân đoạn cuối cùng.
+ Trong quá trình thi công vành vòm từng
phân đoạn vòm sẽ được treo giữ vào hệ giá bởi
các thanh căng (dây cáp treo). Các cáp treo dùng
nâng các phân đoạn vòm được thiết kế chịu lực,
có xét đến các tổ hợp lực bất lợi trong quá trình
thi công và chỉ được tháo bỏ khi hệ vòm cầu đã
hợp long xong và đã đảm bảo chịu lực. Hìình 2.5
+ Tất cả các cấu kiện ống thép được chở
bằng hệ nổi và dùng hệ dàn cẩu lắp đặt phối hợp với hệ treo giữ ổn định tại đỉnh trụ.
+ Ngoài ra còn có thể lắp hẩng hệ vòm thép bằng hệ giàn giáo lắp đặt phía dưới.
Phương pháp này chỉ áp dụng khi mặt bằng thuận lợi, sông không sâu địa hình khá
bằng phẳng. Việc lắp ráp ống thép sẽ dùng cẩu để phối hợp.
Hình 2.6 Hình 2.7
4.2.1.2. Ưu nhược điểm :
+ Về ưu điểm là kinh phí thi công sẽ thấp hơn phương pháp lắp theo hệ nổi. Thi
công từng cấu kiện gọn nhẹ do đó thao tác công nghệ thi công không phức tạp hơn so
với phương pháp khác
TẬP SAN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 7
Khoa Xây Dựng Cầu Đường - Trường Đại Học Bách Khoa
+ Việc thi công trực tiếp tại hiện trường do vậy chịu ảnh hưởng trực tiếp của
các tác động thiên nhiên đến quá trình thi công nhiều như gió, mưa... việc kiểm soát và
làm chủ tiến độ thi công có khó khăn. Đặc biệt chịu ảnh hưởng các tác động lớn khi
cầu gồm nhiều nhịp và nhịp vòm dài. Thời gian thi công theo phương pháp này sẽ lớn
hơn phương pháp khác.
Vì có đoạn hợp long vòm ở giữa nên quá trình thi công các phân đoạn vòm
phải yêu cầu độ chính xác cao và phải kiểm soát thường xuyên chặt chẽ hệ thống quản
lý chất lượng.
4.2.2. Lao lắp hệ vòm thép bằng hệ chở nổi:
4.2.2.1. Công nghệ thi công:
+ Hệ vòm thép được lắp đặt và chế tạo trên mặt
bằng thi công của công trường sát bờ sông. Lắp nối hoàn
thiện toàn bộ vành vòm từ các phân đoạn vòm đã được
chế tạo hoàn chỉnh.
+ Trước hết lắp đặt và hàn liên kết từng vành
vòm hoàn chỉnh đặt nằm trên mặt bằng. Sau đó dùng hệ
cẩu để dựng hai vành vòm lên nằm đúng vị trí thiết kế,
cho thi công các giằng ngang tạm thời và vòm để cố
định hệ vòm. Thi công các giằng ống ngang giữa hai
vành vòm. Riêng tại vị trí hai chân vòm sẽ được thi công
một giằng thép tạm để giữ ổn định. H×nh 2.9
+ Hệ vòm này được lắp đặt trên một hệ đỡ có gắn
các đường trượt thi công để vận chuyển ra bến
thi công. Sau khi thi công chế tạo vòm xong
sẽ kéo hệ vòm ra bến và được chở trên hệ xà
lan nổi, đưa ra vị trí lắp đặt vào vị trí thiết kế.
+ Với phương pháp này đoạn ống thép
chân vòm khối Ko được thi công trước. Khi
chở ra đúng vị trí thiết kê,ỳ cho định vị chính
xác vị trí vòm thiết kế sau đó cho hạ hệ vòm
xuống ngay vị trí tiếp giáp 2 đoạn chân vòm
ống thép khối Ko. Phải thiết kế hệ thống ổn
định cho vòm trong quá trình vận chuyển lắp
ráp vòm và đưa vòm vào vị trí để đảm bảo an H×nh 2.10
toàn và đạt độ chính xác yêu cầu.
H×nh 2.11 H×nh 2.12
TẬP SAN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 8
Khoa Xây Dựng Cầu Đường - Trường Đại Học Bách Khoa
+ Khi đã kiểm tra đúng vị trí lắp đặt, cho hàn nối liên kết hệ vòm với chân vòm
tại 4 vị trí trên đỉnh trụ. Tiến hành kiểm tra nghiệm thu chất lượng liên kết. Cho đổ bê
tông bọc chân vòm có cốt thép chịu lực đã được chừa sẵn trong bệ đỉnh trụ. Khi đã
đảm bảo yêu cầu thiết kế cho dời hệ xà lan nổi ra khỏi vị trí và lắp đặt cho các nhịp
khác. Với phương pháp này việc thi công các kết cấu khác như thi công hệ dây treo,
bản mặt cầu cũng được dùng hệ nổi chở cấu kiện và làm mặt bằng thi công.
4.2.2.2. Ưu nhược điểm:
+ Chế tạo và lắp đặt hoàn thiện toàn bộ phần chính của vòm trên mặt bằng thi
công do đó có điều kiện kiểm tra các kích thước cấu tạo kết cấu liên kết về. Tổng thể
và chi tiết. Mặt bằng thi công nằm trên cạn nên rất thuận lợi cho việc sửa chữa khắc
phục dễ dàng nếu có hư hỏng hoặc sai khác.
- Thời gian thi công nhanh và ảnh hưởng do điều kiện khó khăn trong thi công
như thời tiết, các điều kiện bất khả kháng khác rất ít.
- Nhược điểm chính của phương án này là việc vận chuyển một hệ vòm có kích
thước chiều cao kiến trúc lớn nên độ ổn định kém, cần phải thiết kế hệ ổn định rất tốt
để đảm bảo an toàn cho kết cấu và quá trình thi công.
- Việc lắp đặt hệ vòm đúng vào thiết kế đòi hỏi công nghệ và độ chính xác
cao.Sai số tại vị trí lắp đặt khống chế rất thấp do vậy toàn bộ quá trình thi công lắp và
dựng vòm phải được kiểm soát chất lượng chặt chẽ và trình độ thi công phải đạt mức
độ chuyên môn háo và hiện đại hóa cao.
- Kinh phí xây lắp sẽ tăng nhiều so với phương án khác. Tuy nhiên đây là một
phương án thi công hiện đại và mới mẻ nên việc mạnh dạn sử dụng công nghệ này sẽ
thúc đẩy việc xây dựng các công trình tương tự.
4.3. Phương pháp lắp hệ mặt cầu và dây treo
4.3.1. Lắp hệ mặt cầu:
Hệ mặt cầu được thiết kế dạng lắp ghép từng phân đoạn dầm. Các đoạn được
chế tạo tại công xưởng ở trên bờ được chở ra vị trí bằng xà lan và dùng cần cẩu để lắp
ghép vào phân đoạn từ đỉnh trụ trở ra cho đến hết nhịp. Với chiều dài từng phân đoạn
dầm chỉ bằng 1/2 khoảng cách giữa hai dây treo (khoảng từ 3-4m). Tại các đầu phân
đoạn dầm bản này được thiết kế các cấu tạo gờ bê tông để tạo mối nối âm dương. Bố
trí các thanh thép cường độ cao chịu lực trong từng phân đoạn và được chừa ra ngoài ở
một đầu để liên kết vào phân đoạn tiếp theo, giải quyết chịu lực cho kết cấu nhịp.
Riêng để liên kết với đoạn dầm nối với nhau bằng phương pháp lắp hẫng được gắn kết
bởi keo Epoxi tại hai mặt tiếp giáp và các thanh thép cường độ cao chịu lực. Mối nối
âm dương được xác định đảm bảo chịu lực cắt và momen của kết cấu nhịp tại vị trí
chịu lực tương ứng.
Tại vị trí lắp ghép hẩng từng hai phân đoạn dầm cách quãng nhau cũng là vị trí
để bố trí cấu tạo ụ neo cho dây treo nhịp bản, tức là ngay tại vị trí dầm ngang và dầm
chính của bản.
+ Để lắp ráp dầm bản mặt cầu dùng hệ nổi chở bản và dùng các cần cẩu để lắp
ráp kết hợp với các dây treo thi công đỡ bản liên kết tạm vào vành vòm
4.3.2. Lắp hệ dây thép treo:
Hệ dây treo dùng thép cường độ cao, cường độ chịu lực của thép và tiết diện
thép được xác định theo tính toán.
+ Chiều dài dây thép treo được tính toán có xét đến độ giãn dây do biến dạng và
dộ võng của kết cấu nhịp. Mỗi vị trí dây thép treo vòm có chiều dài được các định cụ
thể.
TẬP SAN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 9