Các phương pháp quản lý tác động lên đối thủ cạnh tranh và sự vận dụng trong điều kiện các doânh nghiệp nước ta

  • 13 trang
  • file .docx
A. PHẦN MỞ BÀI
Thực tiễn của công cuộc đổi mới trong những năm qua đã đưa nước ta hội
nhập kinh tế với các nước trên thế giới như ra nhập tổ chức ASEAN, Việt - Mỹ...
đó là thành công của công cuộc đổi mới. Bên cạnh những thuận lợi đó còn có nhiều
những khó khăn với chúng ta khi tham gia vào công cuộc toàn cầu hoá này điều
này đòi hỏi phải có những chính sách chiến lược cụ thể để có thể tồn tại, cạnh tranh
với các nước khác.
Đối với doanh nghiệp của Việt Nam thì sao? Trong công cuộc hội nhập như
hiện nay các doanh nghiệp đã có biện pháp gì để đạt hiệu quả cao trong kinh
doanh? Các doanh nghiệp đòi hỏi phải có những chính sách chiến lược cụ thể để có
thể tồn tại, cạnh tranh với các nước khác. Để doanh nghiệp có thể đứng vững trên
thị trường bất ổn này có nhiều cách quản lý nâng cao hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Với tôi, tôi sẽ chọn các phương pháp quản lý tác động lên đối thủ,
các doanh nghiệp đa thành công đều chứng tỏ rằng muốn tồn tại được, muốn có khả
năng cạnh tranh cao cần phải có các phương pháp quản lý phù hợp . Cần quan tâm
đến thị trường đến khách hàng và hiệu quả quan tâm đến nhân viên và sự lãnh
đạo... Muốn làm ra hàng tốt phải quản lý kinh doanh tốt, tìm được các giảỉ pháp để
cạnh tranh có hiệu quả là tìm ra được các bí quyết của sự tăng trưởng, quyết định
vận mệnh của một doanh nghiệp.
Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường diễn ra dưới nhiều hình thức và bằng
những thủ đoạn khác nhau đều nhằm để đạt được mục đích cuối cùng là doanh
nghiệp giữ vững được vị trí, thị phần của mình và thu được lợi nhuận cao.
Chính từ những ý nghĩa quan trọng trên mà em quyết định chọn đề tài “C ác
phương pháp quản lý tác động lên đối thủ cạnh tranh và sự vận dụng trong điều
kiện các doânh nghiệp nước ta”.Do lần đầu viết tiểu luận mang tính khoa học nên
em không thể tránh khỏi hạn chế và thiếu sót. Vì em rất mong nhận được ý kiến
đóng góp, nhận xét của các thầy, cô trong khoa. Em xin chân thành cảm ơn.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. Khái quát chung về quản lý.
1. Quản lý là gì?
Quản lý được quan niệm theo hai góc độ:
- Theo góc độ chính trị rộng lớn, quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri
thức với lao động. Vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù hợp. Cơ
chế đúng, hợp lý thì xã hội phát triển ngược lại, xã hội phát triển chậm hoặc rối ren.
- Theo góc độ hành động, quản lý được hiểu là chỉ huy, điểu khiển, điều
hành.
Từ cơ sở trên ta rút ra rằng: Quản lý là sự tác động của con người để hướng
dẫn đến mục đích, đúng ý trí, và phù hợp với qui luật khách quan.
2. Các phương pháp quản lý
Quản lý và các phương pháp quản lý trong một doanh nghiệp là làm sao để
đạt được mục tiêu của doanh nghiệp trong điều kiện cho phép. Các phương quản lý
kinh doanh rất đa dạng, phải luôn thay đổi để thích ứng với điều kiện trong từng
tình huống; tuỳ thuộc đặc điểm của đối tượng quản lý cũng như năng lực, kinh
nghiệm của nhà quản lý. Sự lựa chọnphương pháp để sử dụng không thể tuỳ tiện
theo cảm tính chủ quan, mà cần tỉnh táo nắm chắc tình hình thực tế, kịp thời điều
chỉnh, bổ sung để khắc phục các trở ngại phát sinh chưa lường trước. Quản lý có
hiệu quả nhất khi biết vận dụng các phương pháp quản lý, lựa chọn đúng và kết
hợp, điều chỉnh linh hoạt các phương pháp. Có nhiều cách phân loại phương pháp
quản lý, song cách phân loại phổ biến nhất căn cứ nội dung và cơ chế như sau:
- Các phương pháp quản lý trong nội bộ doanh nghiệp
- Các phương pháp tác động lên khách hàng
- Các phương pháp cạnh tranh với các đối thủ
- Các phương pháp quan hệ với bạn hàng (đối tác)
- Các phương pháp quan hệ với các cơ quan quản lý Nhà nước
II. Các phương pháp quản lý tác động đối các đối thủ cạnh tranh.
1. Các phương pháp cạnh tranh
Cạnh tranh là đặc trưng cơ bản của thị trường, là thuộc tính của sản xuất
hàng hoá. Chấp nhận kinh tế thị trường thì phải chấp nhận cạnh tranh và phải coi
cạnh tranh là một công cụ để đối đầu, để khẳng định mình. Đó là động cơ thúc đẩy
doanh nghiệp và xã hội phát triển đi lên.
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải sản xuất và cung ứng sản phẩm,
dịch vụ mà thị trường cần, lấy mục tiêu người tiêu dùng mà phục vụ. cạnh tranh sẽ
khuyến khích các doạnh nghiệp phát huy được tính năng động, tính sáng tạo trong
kinh doanh kinh doanh, hoạt động của các doanh nghiệp được hiệu quả hơn.
Đặc biệt đối với nước ta chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị
trường thì cạnh tranh càng có ý nghĩa càng cần thiết. Trong cơ chế bao cấp đã có
các cơ sở làm ăn kém hiệu quả và có tư tưởng ỷ lại vào nhà nước,gây thất thoát
ngân sách, kìm hãm nền kinh tế đất nước. Việc cho phép các thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh đã đánh thức các doanh nghiệp quốc doanh khỏi “giấc ngủ triền
miên”. Điều đó bắt các doanh nghiệp phải xem xét lại tất cả mọi hoạt động của
mình từ cách quản lý con người, vốn, cán bộ, kỹ thuật công nghệ, thị trường, giá
cả, sản lượng... nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, đáp ứng đầy đủ nhu cầu thị
trường nếu không sẽ bị ngã khỏi vòng xoáy của cơ chế thị trường.
Như vậy cạnh tranh là một quy luật cơ bản của nền sản xuất hàng hoá , là cơ
chế vận động của thị trường , là yếu tố kích thích kinh doanh và động lực phát triển
sản xuất. Đó là cuộc đấu tranh gay gắt giữa các chủ thể họat động trên thị trường
với nhau nhằm giành giật thị trường. Cạnh tranh sẽ loại bỏ những doanh nghiệp
làm ăn kém hiệu quả , lãng phí nguồn lực và thúc đẩy sự lớn mạnh của các doanh
nghiệp làm ăn tốt. Cạnh tranh là khả năng của một doanh ngiệp có thể bán được
nhanh chóng và nhiều sản phẩm hơn so với các doanh nghiệp khác trên cùng một
thị trường về một loại hàng cụ thể. Kết quả là tăng doanh thu, sản phẩm tiêu thụ
được nhiều hơn thúc đẩy sản xuất phát triển , mở rộng cơ cấu sản phẩm tăng thị
phần , đảm bảo duy trì và nâng cao vị trí của doanh nghiệp trên thị trường, chiếm
lĩnh thị trường mới, tăng sức mạnh kinh tế , nâng cao thu nhập của người lao động ,
tăng khả năng tái đầu tư phát triển doanh nghiệp.
* Tại sao phải cạnh tranh trên thị trường?
Sở dĩ các doanh nghiệp chấp nhận cạnh tranh và luôn tìm cách nâng cao sức
cạnh tranh của mình là do những nguyên nhân chủ yếu sau:
Một là , xuất hiện các đối thủ cạnh tranh : các bên , các thế lực đối chọi nhau
và ganh đua với nhau không giới hạn trong một phạm vi địa lý nào .
Hai là, vì mục tiêu lợi nhuận: do các đơn vị sản xuất kinh doanh tồn tại độc
lập và khác nhau về lợi ích kinh tế nên mỗi doanh nghiệp luôn tìm mọi biện pháp
để tăng lợi ích hiện có của mình do vậy dẫn tới cạnh tranh.
Ba là , vì sự tồn tại sống còn của mỗi doanh nghiệp : trong môi trường cạnh
tranh gay gắt và khốc liệt , các đối thủ có thể tiêu diệt lẫn nhau bằng mọi biện pháp
và thủ đoạn do đó mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì họ phải tìm
cách nâng cao sức cạnh tranh của mình .
+Đối với doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là nhân tố quan trọng quyết định sự
tồn tại và phát triển hay diệt vong của mỗi doanh nghiệp. Cạnh tranh có tác động
trực tiếp tới công tác tiêu thụ sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng
của quá trính sản xuất kinh doanh do đó nó đóng vai trò quyết định đối với các
doanh nghiệp trong việc lựa chọn: Sản xuất mặt hàng gì , số lượng bao nhiêu , bán
cho ai và vào thời điểm nào. Trong thực tế cạnh tranh còn tạo ra môi trường , động
lực thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải nghiên
cứu , lựa chọn các biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh .
Cạnh tranh sẽ quyết định vị thế của doanh nghiệp trên thị trường thông qua tỉ
trọng thị phần mà doanh nghiệp chiếm giữ. Kết quả là cạnh tranh sẽ làm cho uy tín
của doanh nghiệp được phát huy và bị suy giảm. cạnh tranh còn là một áp lực mạnh
mẽ đối với mỗi doanh nghiệp phải luôn tìm tòi các biện pháp để giảm chi phí ,
giảm giá thành tiến tới giảm giá bán trên thị trường do đó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp
phải thường xuyên quan tâm tới việc đổi mới cung cách quản lý, kĩ thuật, công
nghệ, , vận đụng linh họat các đòn bẩy kinh tế và không nghừng nâng cao trình độ
ngành ngề của người lao động.
Khả năng cạnh tranh được phản ánh thông qua sự kết hợp hài hòa giữa các
chỉ tiêu trước mắt và chỉ tiêu dài hạn nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của
doanh nghiệp. Nó phải được tạo ra từ chất lượng cao hơn trong quản lý sử dụng tối
ưu các nguồn lực thông qua tăng năng suất và hiệu quả của nguồn tài sản và các
quá trình .
Các doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh bằng cách đưa ra những nhận
thức mới về quản lý , phát hiện ra những phương pháp mới , tiến bộ hơn như cải
tiến công nghệ , hoàn thiện và đổi mới sản phẩm , thay đổi quá trình , cách tiếp cận
mới đối với thị trường , hình thức phân phối mới nhằm đảm bảo sản xuất sản phẩm
chất lượng cao hơn với chi phí thấp hơn và có khả năng tiết kiệm cả thời gian và tài
chính.
Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, phát triển thị trường, cả thị trường đầu
ra và thị trường đầu vào. Nghiên cứu thị trường để nắm bắt được nhu cầu của khách
hàng, những biến động của thị trường, khả năng của đối thủ cạnh tranh để biết
được khách hàng cần những sản phẩm gì, số lượng? Kết hợp với việc nghiên cứu
thị trường các yếu tố sản xuất đảm bảo cung cấp các yếu tố đầu vào, dựa trên khả
năng thực tế của doanh nghiệp sẽ sản xuất được những sản phẩm hàng hoá dịch vụ
có chất lượng cao, mẫu mã đa dạng, giá cả hợp lý, đáp ứng được tối đa nhu cầu của
khách hàng, nâng cao uy tín, thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Nếu công tác nghiên cứu thị trường được làm tốt, chính xác, sẽ là cơ sở cho
việc nghiên cứu thiết kế sản xuất ra những sản phẩm thoả mãn được nhu cầu của
khách hàng.
* Đối sách và vũ khí cạnh tranh:
Đó là sự điều khiển quản lý của những người đứng đầu doanh nghiệp để sử
dụng có hiệu quả các tiềm năng và cơ hội của hệ thống kinh tế nhằm đạt được mục
tiêu trước mắt và lâu dài trong điều kiện biến động của môi trường. Việc đưa ra
những đối sách hợp lý đúng đắn trong từng trường hơp còn tuỳ thuộc khá lớn vào
tài nghệ, bản lĩnh, nhân cách, trí tuệ, bề dày kinh nghiệm hay tài đối ngoại của
người lãnh đạo doanh nghiệp. Đó là một công cụ cạnh tranh rất hiệu quả nhưng
cũng rất khó thực hiện được. Để làm được điều đó đòi hỏi các nhà quản trị kinh
doanh luôn luôn nâng cao trí tuệ, hiểu biêt,không ngừng học hỏi và phải sáng tạo
trong công việc.
2. Các phương pháp thương lượng
Cần quan tâm xây dựng mục tiêu, chiến lược, phương pháp quản lý dài hạn
dài hạn cho mỗi doanh nghiệp... Vì thông qua đó, mỗi doanh nghiệp mới có thể tự
đánh giá được điểm mạnh, yếu của mình so với các đổi thủ cạnh tranh, nắm bắt rõ
hơn nhu cầu của người tiêu dùng, của thị trường. Từ đó sẽ đưa ra được các mục
tiêu về phát triển trong doanh nghiệp một cách cụ thể và chính xác. Chiến lược phải
bao hàm từng loại sản phẩm hàng hoá dịch vụ cụ thể đồng thời có sự phối hợp với
từng sản phẩm trong môi trường tổng thể, gắn liền với chiến lược phát triển chung
của doanh nghiệp. Chỉ có thông qua việc xây dựng và thực hiện chiến lược cạnh
tranh lâu dài thì doanh nghiệp mới có thể khẳng định được vị trí của mình trên thị
trường, tạo được sự tín nhiệm đối với khách hàng và có cơ sở để phát triển bền
vững lâu dài trong tương lai.
Cạnh tranh giành giật thị trường, thị phần và khách hàng đó là một đối sách
trong quản lý tác động lên đối thủ . Nhưng với nền kinh tế phức tạp và đầy biến
động như hiện nay cạnh tranh thôi chưa đủ cần có sự hợp tác, phối hợp giữa các
doanh nghiệp . Như sự liên minh, liên kết giữa các khối, tổ chức kinh tế và các
doanh nghiệp. Thoả thuận, thương lượng giữa các doanh nghiệp để chia xẻ thị
trường một cách ôn hoà các bên đều có lợi. Thường sử dụng kỹ thuật tính toán của
lý thuyết trò chơi để lựa chọn chiến lược cạnh tranh; trong đó giải pháp cần đạt là
các phía không cần chi phí chiêu thị nhiều mà kết quả đều thu được lợi nhuận
bằng nhau, tránh giải pháp quyết liệt là ” một mất một còn”.
2. Các phương pháp né tránh
Trong trường hợp doanh nghiệp kém ưu thé rõ ràng thì tìm cách rút lui khỏi
cuộc cạnh tranh không cân sức, chấp nhận chuyển sang thị trường khác dù kém
hiệu quả hơn để tồn tại và tìm cơ hội mới. Cũng có khi phải từ bỏ một vài mặt hàng
bất lợi để chuyển sang mặt hàng khác, hoặc tạm thời chịu lỗ khi chưa có giải pháp.
Các công ty thuộc nhóm này có thể áp các chiến lược cạnh tranh. Họ có thể
tấn công các doanh nghiệp dẫn đầu hay các đối thủ cạnh tranh khác để dành thị
phần lớn hơn khi có cơ hội, hoặc lùi một bước để tiến hai bước hoặc cùng loạt với
đối thủ trong hoà bình. Cần hiểu rõ tình hình doanh nghiệp mình đâu là ưu, nhược
điểm từ đó tìm giải pháp, phương pháp quản lý cho thích hợp với doanh nghiệp né
tránh được đối thủ.
Xác định mục tiêu chiến lược và đối thủ cạnh tranh: Doanh nghiệp thuộc
nhóm này cần xác định rõ mục tiêu chiến lược của mình. Phần lớn các doanh
nghiệp đều cố gắng tăng cường khả năng sinh lợi bằng mở rộng thị phần. Mục tiêu
cạnh tranh của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào đối thủ là ai? Khả năng chống đỡ
của đối thủ,chiến lược cạnh tranh như thế nào dẫn đến điều quan trọng của doanh
nghiệp là lựa chọn đối thủ từ đó xây dựng chiến lược cạnh tranh phù hợp.
III. Thực trạng và xu thế vận dụng các phương pháp quản lý vào doanh
nghiệp ở nước ta.
1. Xu thế:
Xu thế mới trong cạnh tranh là các lợi thế cạnh tranh dựa trên lao động rẻ, tài
nguyên thiên nhiên đang giảm dần ý nghĩa so với lợi thế cạnh tranh tiên tiến dựa
trên tri thức quản lý hiện đại , tay ngề và kĩ năng lao động.
Các chủ thể tham gia ngày càng mạnh mẽ hơn về khả năng và tiềm lực với
sự xuất hiện của các công ty xuyên quốc gia có lợi thế về quy mô, sản xuất bằng
công nhgệ hiện đại , giá thành hạ. Điều này tạo ra sức ép rất lớn buộc các doanh
nghiệp ở các nước đang phát triển phải có cách đi thích hợp để tham gia vào cạnh
tranh trên thị trường thế giới.
Khả năng cạnh tranh được phả ánh thông qua sự kết hợp hài hòa giữa các chỉ
tiêu trước mắt và chỉ tiêu dài hạn nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh
nghiệp. Nó phải được tạo ra từ chất lượng cao hơn trong quản lý sử dụng tối ưu các
nguồn lực thông qua tăng năng suất và hiệu quả của nguồn tài sản và các quá trình .
Các doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh bằng cách đưa ra những nhận
thức mới về quản lý , phát hiện ra những phương pháp mới , tiến bộ hơn như cải
tiến công nghệ , hoàn thiện và đổi mới sản phẩm , thay đổi quá trình , cách tiếp cận
mới đối với thị trường , hình thức phân phối mới nhằm đảm bảo sản xuất sản phẩm
chất lượng cao hơn với chi phí thấp hơn và có khả năng tiết kiệm cả thời gian và tài
chính.
Thị trường thế giới với sự tham gia của nhiều lực lượng hơn làm tăng tính
quyết liệt của cạnh tranh. Thị trường không còn là sự độc quyền của một số nước
lớn mà các nước kèm phát triển hơn cũng tăng cường khả năng cạnh tranh và tham
gia vào sự phân chia thị trường thế giới với những lợi thế của mình. Chính phủ mỗi
nước đều cố gắng tìm kiếm những chính sách và môi trường thuận lợi chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng có khả năng cạnh tranh cao hơn nhằm tạo lợi thế cạnh
tranh giúp các doanh nghiệp có khả năng xuất khẩu và kinh doanh quốc tế nhiều
hơn. Hơn nữa cạnh tranh còn vượt ra khỏi phạm vi quốc gia , đó là cạnh tranh giữa
các khối , các khu vực kinh tế. Bằng việc tăng cường phát triển hợp tác trong các
khối kinh tế làm cho xu hướng bảo hộ mậu dịch cũng tăng. Các khối kinh tế cố
gắng tạo ra môi trường thuận lợi để nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp trong khối đó , đồng thời cũng tạo ra những trở ngại thương mại nhất định
đối với một số mặt hàng bên ngoài muốn tham gia vào thị trường này .
Một đặc điểm nữa là, sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học công
nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và luồng chuyển giao công nghệ mạnh mẽ đã
tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát huy lợi thế đi sau, nâng
cao khả năng cạnh tranh của mình, vươn ra những thị trường rộng lớn hơn , thoả
mãn nhu cầu khách hàng trên cơ sở giảm chi phí.
2. Giải pháp
Đối với công nhân, cần được đào tạo nâng cao tay nghề, có khả năng vận
hành khai thức sử dụng công nghệ có hiệu quả bằng cách cử công nhân đi học các
lớp ngắn hạn, đào tạo tại doanh nghiệp và đào tạo lại trình độ cho công nhân ở mỗi
vị trí công tác (đây là hình thức đào tạo vừa thu hút được tập thể tham gia vừa
mang tính hiệu quả cao sau các khoá đạo tạo bồi dưỡng người học không chỉ được
bổ xung thêm kiến thức mà cái cơ bản là họ được đào tạo với các kĩ năng phù hợp
với công việc mà họ đang làm hiện nay hầu hết các công ty và liên doanh của nước
ngoài tại việt nam đều sử dụng hình thức đào tạo lại mỗi khi tiếp nhận nhân công ) ,
tổ chức thi tay nghề hàng năm . Có thưởng phạt thích đáng. Đối với cán bộ quản lý
cần được đào tạo những kiến thức về quản lý, nâng cao trình độ tổ chức quản lý.
Cán bộ quản lý có trình độ cao, khả năng nhạy bén, nắm bắt kịp thời những biến
động trên thị trường sẽ nắm bắt được kịp thời những cơ hội thị trường tạo ra từ đó
tạo được thế cạnh tranh rất lớn cho mỗi doanh nghiệp. Có chính sách khuyến khích
phát huy tinh thần sáng tạo của mọi người.
 Ví dụ về các chiến lược trong cạnh tranh
1). Quản lý nhiều người cũng như quản lý ít người đều phải xây dựng cơ cấu tổ
chức cho phù hợp; phải chú ý và sắp xếp các nguồn lực theo định hướng cạnh tranh
trong kinh doanh, tạo dựng vị thế có lợi cho công ty trong thị trường.
2). Lãnh đạo công ty cạnh tranh với đối thủ mà không thất bại là sử dụng 2 chiến
lược: trực tiếp và gián tiếp. Trực tiếp được hiểu là cách cạnh tranh đối đầu về giá
cả sản phẩm, về chủng loại sản phẩm, về khả năng vốn đầu tư để đổi mới công
nghệ, v.v... Gián tiếp là cách cạnh tranh không trực diện bằng những hình thức lạ,
bất ngờ với đối phương tại từng phân khúc của thị trường, thực hiện đào tạo và tập
huấn CBNV nghiêm túc, nâng cao trình độ CBNV.v.v...
3). Điều hành công ty phải biết cả hai chiến lược Gián tiếp –Trực tiếp, phối hợp cả
hai chiến lược chặt chẽ và uyển chuyển
4). Cho nên người lãnh đạo giỏi là người biết xây dựng và tạo vị thế phát triển vững
chắc cho doanh nghiệp Khi đó cho dù doanh nghiệp có bị cạnh tranh ác liệt nhưng
vẫn không bị sa sút.
5). Người lãnh đạo giỏi phải luôn tạo cho doanh nghiệp mình thế chủ động trên
thương trường, thường xuyên đưa ra các hình thức kinh doanh mới để dẫn dắt thị
trường, và cũng đôi khi bỏ lửng một số thị phần để đem lại lợi nhỏ nhử các doanh
nghiệp cạnh tranh nhảy vào, sau đấy dùng thế chủ động tung vốn người và của ra
để áp đảo đối phương, vừa dành lại thị phần, vừa làm đối phương hao tiền tốn của.
6). Người lãnh đạo phải biết lợi dụng tình hình thị trường để tạo thành công cho
doanh nghiệp. Tuỳ theo khả năng của cấp dưới mà giao việc. Khi đó thương trường
có thể ví như sườn núi dốc , nhân viên được đào tạo- rèn luyện có thể ví như việc
gọt rũa viên đá ghồ ghề cạnh thành hòn đá hình tròn