Các giải pháp tăng cường kiểm soát hoạt động cho

  • 74 trang
  • file .doc
§Ò tµi:
CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG
CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH HÀ TÂY
Danh mục các từ viết tắt
CBTD Cán bộ tín dụng
CIC Trung tâm thông tin tín dụng
NHCT Ngân hàng công thương
NHCT HT Ngân hàng công thương Hà Tây
NHCT VN Ngân hàng công thương Việt Nam
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
TCTD Tổ chức tín dụng
\
Danh mục bảng biểu, sơ đồ
Trang
Sơ đồ 2.1 –Sơ đồ cơ cấu tổ chức NHCT HT..............................................29
Đồ thị 2.1 - Tổng vốn huy động của ngân hàng qua các năm..................33
Đồ th ị 2.2 – Doanh số cho vay của Ngân hàng qua các năm .................35
Bảng 2.1 – Tình hình huy động vốn tại NHCT HT từ 2005 đến 2007....32
Bảng 2.2 - Doanh số cho vay qua các năm...............................................34
Bảng 2.3 - Dư nợ cho vay của ngân hàng qua các năm...........................37
Bảng 2.4 – Hoạt động thanh toán quốc tế..................................................38
Bảng 2.5 – Cho vay theo hình thức đảm bảo............................................50
Bảng 2.6 – Doanh số thu nợ của ngân hàng qua các năm.......................52
Bảng 2.7 - Nợ quá hạn của Ngân hàng qua các năm................................53
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường hệ thống ngân hàng được ví như hệ thần
kinh của cả nền kinh tế, hệ thống ngân hàng quốc gia hoạt động thông suốt
lành mạnh và hiệu quả là tiền đề để các nguồn lực tài chính luân chuyển, phân
bổ và sử dụng hiệu quả, kích thích tăng trưởng kinh tế một cách bền vững.
Tuy nhiên trong kinh tế thị trường, rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân
hàng là không thể tránh khỏi, đặc biệt là rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có
phản ứng dây chuyền, lây lan và ngày càng có biểu hiện phức tạp, mà rủi ro
trong hoạt động cho vay là lớn nhất, khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính
khó khăn nghiêm trọng thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động cho
vay của ngân hàng nhưng hoạt động cho vay cũng là hoạt động đem lại nhiều
lợi nhuận nhất. Đồng thời hiện nay, nợ quá hạn của NHCT HT còn cao và
việc kiểm soát hoạt động cho vay của ngân hàng còn nhiều mặt tồn tại. Nhằm
góp phần khắc phục những tồn tại đó đồng thời giảm thiểu rủi ro và tối đa hoá
lợi nhuận dự kiến của hoạt động cho vay của NHCT HT nên tác giả đã chon
đề tài “ Các giải pháp tăng cường kiểm soát hoạt động cho vay của Ngân
hàng công thương tỉnh Hà Tây”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
 Nghiên cứu những vấn đề lý luận về cho vay và kiểm soát hoạt động cho
vay của NHTM,
 Phân tích, đánh giá thực trạng cho vay và kiểm soát hoạt động cho vay
tại NHCT HT,
 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường kiểm soát hoạt động cho vay
đối với NHCT HT.
\
3. Kết cấu chuyên đề
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu trên, chuyên để có kết cấu như
sau:
Chương 1 -Tổng quan về hoạt động cho vay và kiểm soát hoạt động cho
vay của Ngân hàng thương mại
Chương 2 Thực trạng kiểm soát hoạt động cho vay tại Ngân hàng công
thương tỉnh Hà Tây
Chương 3 Các giải pháp tăng cường kiểm soát hoạt động cho vay tại
Ngân hàng công thương tỉnh Hà Tây
Chương 1
Tổng quan về hoạt động cho vay
và kiểm soát hoạt động cho vay
của Ngân hàng thương mại
1.1. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm và vai trò của hoạt động cho vay
Với vai trò là một trung gian tài chính, các NHTM hiện nay ngày càng
thực hiện thêm rất nhiều dịch vụ ngân hàng như mua bán ngoại tệ, thanh toán,
bảo lãnh, cho thuê tài chính, uỷ thác, tư vấn, môi giới đầu tư chứng khoán,
bảo hiểm, cung cấp các dịch vụ đại lý… nhưng nó không hề quên đi nhiệm vụ
chính là dẫn vốn từ những nơi thừa vốn tạm thời đến những nơi thiếu vốn
giúp cho nền kinh tế vận động linh hoạt hơn. Đó là chức năng huy động vốn
và cho vay.
“Cho vay là một hình thức cấp tín dụng theo đó TCTD giao cho khách
hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thoả
thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”1
Đối với ngân hàng - Là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hoá
đăc biệt - tiền tệ, hoạt động cho vay được coi là hoạt động cơ bản nhất, mang
lại thu nhập lớn nhất cho các ngân hàng, ”khoản mục cho vay chiếm quá nửa
giá trị tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng” 2. Do đó các
ngân hàng sử dụng mọi nỗ lực của mình để nâng cao chất lượng và số lượng
cho vay nhưng trên cơ sở tối đa lợi nhuận và đảm bảo an toàn.
1
TS Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, NXB Thống kê, tr 225.
2
Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài chính, 2004.
\
Còn đối với nền kinh tế, hoạt động cho vay của ngân hàng nói riêng, của
các TCTD nói chung là đòn bẩy kinh tế để thực hiện tái sản xuất mở rộng,
ứng dụng công nghệ tiên tiến hiện đại, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh
tế. Ngoài ra hoạt động cho vay còn là công cụ tài trợ cho các dự án tạo việc
làm, tăng thu nhập, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo và sự nghiệp dân
giàu nước mạnh, góp phần giải quyết một số tệ nạn xã hội, khai thác có hiệu
quả các nguồn lực quốc gia… Hoạt động cho vay thúc đẩy quá trình tích tụ
tập trung vốn sản xuất, mở rộng quá trình phân công lao động và hợp tác kinh
tế quốc tế.
Với vai trò đặc biệt quan trọng trên thì Nhà nước cũng như các ngân
hàng cần mở rộng hoạt động cho vay giúp nên kinh tế đất nước tăng trưởng
và hội nhập quốc tế.
1.1.2. Phân loại hoạt động cho vay
1.1.2.1. Theo mục đích sử dụng vốn vay
 Cho vay kinh doanh, sản xuất: các mặt hàng không bị pháp luật cấm và
trong danh mục cho vay của NHCT VN.
 Cho vay tiêu dùng: mua vật dụng gia đình, phương tiện giao thông, sửa
chữa nhà cửa,…
1.1.2.2. Theo thời hạn cho vay
 Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng;
 Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng
đến 60 tháng;
 Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn từ trên 60 tháng trở lên.
1.1.2.3. Theo đối tượng cho vay
 Cho vay các tổ chức kinh tế;
 Cho vay cá nhân, hộ gia đình.
1.1.2.4. Theo hình thức cho vay
 Cho vay thấu chi: Là hình thức cho vay qua đó ngân hàng cho phép người
vay được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một
giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định.
 Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay khi khách hàng có nhu cầu
vay không thường xuyên.
 Cho vay theo hạn mức: là hình thức cho vay theo đó ngân hàng thoả thuận
cấp cho khách hàng một hạn mức nhất định có thể cho cả kỳ hoặc cuối kỳ.
khách hàng không được vượt hạn mức đó.
 Cho vay luân chuyển: Là hình thức cho vay dựa trên luân chuyển hàng hoá.
Ngân hàng cho khách hàng vay để mua hàng hoá và sẽ thu nợ khi họ bán
được hàng.
 Cho vay trả góp: là hình thức cho vay theo đó ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn đã thoả thuận.
 Cho vay gián tiếp: Thông qua các tổ, đội, nhóm…
1.1.2.5. Theo hình thức đảm bảo
 Cho vay có tài sản đảm bảo: là việc cho vay mà theo đó nghĩa vụ trả nợ
của khách hàng được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế
chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hoặc bảo lãnh bằng
tài sản của bên thứ ba.
 Cho vay không có tài sản đảm bảo: là việc cho vay không có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.
1.1.3. Quy trình cho vay của Ngân hàng thương mại3
Bước1: Hướng dẫn, tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ vay vốn và sao gửi hồ sơ
cho phòng quản lý rủi ro.
Người thực hiện là CBTD. Nội dung thực hiện:
3
Tham khảo tại “Quyết định về việc cho vay theo dự án đầu tư đối với khách hàng là tổ chức kinh tế.
MS:QT.05.01.”
\
 Hướng dẫn khách hàng lập và hoàn thiện hồ sơ:
+ Đối với khách hàng vay vốn lần đầu: CBTD hướng dẫn khách hàng
thiết lập hồ sơ vay vốn và cung cấp những thông tin cần thiết theo quy định
của NHCT.
+ Đối với khách hàng đã có quan hệ cho vay: CBTD hướng dẫn khách
hàng bổ sung hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu.
Hồ sơ xin vay gồm: Đơn xin vay, Phương án sử dụng vốn, các báo cáo về tình
hình tài chính của tổ chức, đơn vị trong thời gian gần đây, giấy tờ về tài sản
thế chấp nếu có, chứng minh thư (bản sao) và một số giấy tờ khác.
 Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ
+ Nếu hồ sơ đầy đủ và đúng quy định, CBTD báo cáo lãnh đạo phòng
và tiếp tục tiến hành các bước tiếp theo của quy trình.
+ Nếu hồ sơ chưa đầy đủ. CBTD yêu cầu khách hàng bổ sung hồ sơ và
kiểm tra cho đến khi đầy đủ và đúng quy định.
 Khai thác thông tin từ CIC: CBTD gửi yêu cầu cho CIC đề nghị cung cấp
thông tin về khách hàng, quan hệ tín dụng của khách hàng tại các TCTD đến
thời điểm gần nhất.
 Nếu khoản vay phải thẩm định rủi ro tín dụng độc lập theo quy định thì
CBTD sao gửi hồ sơ khoản vay cho phòng quản lý rủi ro.
 Trong thời hạn tối đa 2 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ. Phòng quản lý rủi ro
xem xét hồ sơ và đề nghị phòng khách hàng bổ sung các hồ sơ, thông tin liên
quan còn thiếu. Nhận được đề nghị của phòng quản lý rủi ro, phòng khách
hàng làm việc với khách hàng để yêu cầu bổ sung hồ sơ và giải trình các vấn
đề, thông tin còn chưa rõ.
Bước 2: Thẩm định/ tái thẩm định khách hàng vay vốn, dự án đầu tư,
biện pháp bảo đảm tiền vay và trình duyệt tờ trình thẩm định/ tái thẩm định.
 Căn cứ vào các thông tin thu thập được từ phỏng vấn khách hàng và từ
điều tra để thẩm định/ tái thẩm định khách hàng vay vốn, Phương án sử dụng
vốn, các báo cáo tài chính của tổ chức, dự án đầu tư, các biện pháp bảo đảm
tiền vay. Từ đó xác định lãi suất cho vay.
 Sau đó, CBTD lập tờ trình thẩm định/ tái thẩm định ghi rõ ý kiến đề xuất
cho vay đối với khách hàng, ký và trình lãnh đạo phòng khách hàng.
Trong quá trình thẩm định/ tái thẩm định, nếu cần lấy ý kiến tham gia của
các phòng ban, cá nhân khác, CBTD báo cáo lãnh đạo phòng để trình giám
đốc xem xét.
Nếu dự án đầu tư có quy mô lớn, phức tạp, CBTD báo cáo lãnh đạo phòng
để trình giám đốc xem xét, quyết định mua thông tin, thuê cơ quan tư vấn có
chức năng thẩm định để thẩm định độc lập.
 Nhận được tờ trình, lãnh đạo phòng khách hàng kiểm tra, rà soát hồ sơ
trình và nội dung tờ trình (yêu cầu CBTD bổ sung chỉnh sửa và làm rõ các nội
dung còn thiếu hoặc các thông tin chưa đầy đủ nếu cần), ký tắt trên từng trang
tờ trình thẩm định/ tái thẩm định, ghi rõ ý kiến đề xuất cho vay/ không cho
vay, ký trình người có thẩm quyền quyết định cho vay.
Bước 3: Thẩm định rủi ro tín dụng độc lâp và trình duyệt báo cáo kết
quả thẩm định rủi ro tín dụng (áp dụng cho các trường hợp phải thẩm định
rủi ro theo quy định của Tổng giám đốc hoặc khi người có thẩm quyền quyết
định cho vay yêu cầu)
Bước 4: Xét duyệt khoản vay
 Trong trường hợp khoản vay thuộc thẩm quyền của người có thẩm quyền
quyết định cho vay tại Chi nhánh: người có thẩm quyền kiểm tra toàn bộ hồ
sơ khoản vay và tờ trình có chữ ký của CBTD và lãnh đạo phòng khách hàng,
báo cáo kết quả thẩm định rủi ro tín dụng (nếu có) đã có chữ ký của cán bộ
\
phòng quản lý rủi ro (nếu cần thì yêu cầu bổ sung hồ sơ và các điều kiện cần
thiết), sau đó ghi ý kiến đồng ý hay không đồng ý cho vay.
 Còn trong trường hợp khoản vay vượt thẩm quyền của người có thẩm
quyền quyết định cho vay tại chi nhánh thì người có thẩm quyền quyết định
cho vay tại chi nhánh chuyển hồ sơ lên phòng khách hàng Trụ sở chính.
Bước 5: Thông báo cho khách hàng
 Trường hợp khoản vay thuộc thẩm quyền phê duyệt của Giám đốc/ phó
giám đốc chi nhánh: CBTD soạn thảo công văn thông báo ý kiến của người
có thẩm quyền quyết định cho vay, trình lãnh đạo phòng kiểm soát, trình
người có thẩm quyền quyết định cho vay ký phê duyệt, gửi thông báo cho
khách hàng và lưu bản chính tại hồ sơ tín dụng;
 Trường hợp khoản vay thuộc thẩm quyền phê duyệt của Hội đồng tín
dụng cơ sở: Thư ký hội đồng tín dụng soạn thảo công văn thông báo ý kiến
của hội đồng tín dụng cơ sở, trình chủ tịch hội đồng tín dụng cơ sở (hoặc
người được uỷ quyền) ký duyệt và thông báo cho khách hàng;
 Trương hợp khoản vay vượt thẩm quyền của chi nhánh: căn cứ công văn
thông báo của trụ sở chính NHCT VN và ý kiến của người có thẩm quyền
quyết định cho vay tại chi nhánh, CBTD soạn thảo công văn thông báo ý kiến
của người có thẩm quyền quyết định cho vay, trình lãnh đạo phòng khách
hàng kiểm soát và trình giám đốc/ phó giám đốc phê duyệt và thông báo cho
khách hàng.
Bước 6: Soạn thảo Hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm, ký kết hợp
đồng, làm thủ tục giao nhận tài sản đảm bảo và giấy tờ tài sản bảo đảm và
nhập các thông tin về khoản vay, kiểm tra giảm sát việc nhập thông tin trên
hệ thống INCAS
 Sau khi ký kết hợp đồng, CBTD nhập dữ liệu vào hệ thống máy tính thuộc
phần hành công việc của mình theo hướng dẫn tại “Quy định tạm thời về quy
trình xử lý nghiệp vụ cho vay trên hệ thống INCAS”.
 Lãnh đạo phòng khách hàng kiểm soát nhập dữ liệu vào hệ thống của
CBTD và thực hiện các công việc thuộc phần hành của mình theo “Quy định
tạm thời về quy trình xử lý nghiệp vụ cho vay trên hệ thống INCAS”. Chuyển
1 bản sao Hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm đã ký cho phòng quản lý rủi
ro để kiểm tra, giám sát việc nhập dữ liệu của khoản vay, tài sản bảo đảm trên
hệ thống INCAS theo hướng dẫn.
Bước 7: Giải ngân
CBTD căn cứ vào Hợp đồng tín dụng đã ký kiểm tra các hồ sơ, hoá đơn,
chứng từ do khách hàng cung cấp để tiến hành giải ngân. Lãnh đạo phòng
khách hàng, người có thẩm quyền quyết định cho vay tại chi nhánh kiểm tra
lại và ký duyệt giải ngân. CBTD chịu trách nhiệm nhập các dữ liệu về giải
ngân vào hệ thồng INCAS chịu sự kiểm soát và giám sát của lãnh đạo phòng
khách hàng và phòng quản lý rủi ro.
Bước 8: Kiểm tra, giám sát vốn vay
Sau khi giải ngân, CBTD dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của lãnh đạo
phòng tiến hành kiểm tra định kỳ hay bất thường về tình hình sử dụng vốn
vay của khách hàng để xem các khoản vay do ngân hàng cung cấp cho khách
hàng có được sử dụng đúng mục đích như cam kết trong hợp đồng tín dụng
hay không, mặt khác có thể xem xét tình hình hoạt động kinh doanh của
khách hàng đồng thời có thể dự báo được những rủi ro, phát hiện kịp thời các
khoản nợ co vấn đề để nhanh chóng có biện pháp xử lý. Tránh tình trạng
khoản vay chuyển sang nợ xấu mới phát hiện ra và từ đó mới có biện pháp xử
lý nợ có vấn đề.
\
Bước 9: Thu nợ gốc, lãi, phí và xử lý các phát sinh
CBTD theo dõi việc thu nợ theo từng Hợp đồng tín dụng đã ký và thông
báo cho khách hàng khoản vay đến hạn trả nợ gốc, lãi và phí.
Đến hạn trả nợ, căn cứ thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, bộ phận kế
toán thực hiện thu nợ theo quy trình và phương pháp hạch toán cho vay.
Về việc xử lý các phát sinh:
 Đối với những vấn đề phát sinh làm ảnh hưởng đến kết quả thẩm định ban
đầu các dự án ( như điều chỉnh tăng số tiền vay, thay đổi cơ cấu nguồn vốn,
danh mục đầu tư của dự án…), CBTD lập tờ trình, xem xét khả năng ảnh
hưởng của vấn để phát sinh tới kết quả thẩm định ban đầu, từ đó đề xuất
hướng xử lý, trình lãnh đạo phòng kiểm soát và ký trình người có thẩm quyền
quyết định cho vay.
 Đối với những vấn đề phát sinh không làm ảnh hưởng đến kết quả thẩm
định ban đầu (như trả nợ trước hạn…), CBTD soạn thảo phụ lục hợp đồng,
văn bản sửa đổi bổ sung và trình lãnh đạo phòng và người có thẩm quyền
quyết định cho vay
 Đối với các vấn đề phát sinh liên quan đến quản lý và xử lý nợ có vấn đề ,
xử lý tài sản đảm bảo tiền vay thì CBTD thực hiện theo quy trình và các quy
định của NHCTVN.
Bước 10: Thanh lý hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm, giải chấp tài
sản
 Trường hợp hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm quy định là hết hiệu
lực khi bên vay trả xong nợ gốc, lãi và các khoản phí thì các hợp đồng này
đương nhiên hết hiệu lực, các bên không cần lập biên bản thanh lý hợp đồng.
 Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm có thoả thuận
phải thanh lý hợp đồng thì CBTD soạn thảo biên bản thanh lý hợp đồng trình
lãnh đạo phòng kiểm soát và trình giám đốc hoặc người được uỷ quyền ký.
 Khi thanh lý hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm thì CBTD cũng phải
tiến hành giải chấp tài sản cho khách hàng.
Bước 11: Luân chuyển, kiểm soát, lưu trữ hồ sơ
Sử dụng phiếu giao nhận hồ sơ trong quá trình giao nhận và chuyển hồ
sơ của NHCT VN.
Thời hạn thực hiện lưu trữ hồ sơ tín dụng/ hồ sơ bảo đảm tiền vay được
thực hiện theo quy định của NHNN và hướng dẫn của tổng giám đốc NHCT
VN về lưu trữ hồ sơ chứng từ.
1.2.Kiểm soát hoạt động cho vay
1.2.1.Các khái niệm
Kiểm soát là quá trình giám sát đo lường chấn chỉnh sự việc hiện tượng
nhằm đảm bảo thực hiện kế hoạch với hiệu quả cao trong điều kiện môi
trường luôn luôn biến đổi.
Kiểm soát là chức năng cuối cùng của quy trình quản lý (một quy trình
quản lý gồm 4 chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát).
Kiểm soát là không thể thiếu được trong quy trình quản lý, nếu việc lập kế
hoạch, tổ chức, lãnh đạo làm tốt mà chức năng kiểm soát không được thực
hiện hoặc thực hiện không tốt thì kết quả có thể sẽ không đúng như kế hoạch
đề ra, hoặc do những biến động của môi trường hoặc do chủ định của những
người thực hiện.
Hoạt động của ngân hàng luôn diễn ra trong môi trường biến động, đặc
biệt hoạt động cho vay, ngoài ra còn phụ thuộc nhiều vào nhân tố con người
(cả CBTD và khách hàng vay vốn) do đó việc kiểm soát lại rất cần thiết.
Kiểm soát hoạt động cho vay có thể được định nghĩa như sau: Kiểm soát
hoạt động cho vay là quá trình kiểm tra, giám sát, đo lường, chấn chỉnh hoạt
\
động cho vay và khách hàng vay vốn nhằm giảm thiểu rủi ro, tối đa hoá lợi
nhuận dự kiến của hoạt động cho vay.
1.2.2. Sự cần thiết và Mục đích của kiểm soát hoạt động cho vay
NHTM là những định chế trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
nhận tiền gửi tiết kiệm và hoàn trả, đầu tư cho vay; cung cấp các dịch vụ ngân
hàng; kinh doanh chứng khoán... Hoạt động NHTM với những đặc trưng cơ
bản như thế nên chịu tác động của nhiều yếu tố như: Môi trường kinh tế,
chính trị, xã hội, các cơ chế chính sách quản lý điều hành vĩ mô và vi mô. Mà
các yếu tố này có thể thay đổi để phù hợp với diễn biến thực tế của nền kinh
tế. Đặc biệt trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá như hiện
nay, ngày càng làm gia tăng các nguy cơ rủi ro cho hoạt động NHTM và khi
rủi ro xảy ra thì hậu quả của nó sẽ rất nặng nề.
Hoạt động cho vay đặc biệt quan trọng đối với một ngân hàng, tuy nhiên
nó cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Hoạt động cho vay phải
tuân theo nguyên tắc: “sử dụng vốn đúng mục đích và hoàn trả nợ gốc và lãi
vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng”4. Nếu không
tuân thủ nguyên tắc trên thì khoản cho vay của ngân hàng gặp rủi ro. “Rủi ro
trong hoạt động cho vay là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho
ngân hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc trả không
đầy đủ khoản tiền vay”5. Rủi ro khi khách hàng sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ
theo hợp đồng bao gồm vốn gốc và/ hoặc lãi vay (sự sai hẹn này là do trễ hạn)
là rủi ro đọng vốn còn rủi ro khi khách hàng sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ theo
hợp đồng bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi vay (sự sai hẹn này là do không thanh
toán) là rủi ro mất vốn.
4
TS Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, NXB Thống k ê, tr 225
5
Tài liệu nghiệp vụ cho vay khách hàng cá nhân, hộ gia đình, Ngân hàng công thương Việt Nam, 2006, tr 41
Rủi ro sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho hoạt động kinh doanh
của ngân hàng như ảnh hưởng tới kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng, gây
khó khăn cho việc chi trả người gửi tiền, khả năng thanh toán, lợi nhuận và uy
tín của ngân hàng bị giảm sút, thậm chí có thể dẫn tới phá sản ngân hàng.
Việc ngân hàng không thu hồi được vốn như hợp đồng đã kí (rủi ro) có
thể là do ngân hàng đã buông lỏng quản lý, áp dụng một chính sách tín dụng
kém hiệu quả hay do những nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, dịch
bệnh, chiến tranh hay nền kinh tế đi xuống không lường trước; cũng có thể
những rủi ro đó xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan từ phía người vay
như yếu kém trong quản lý, kinh doanh hay chủ định lừa đảo.
Rủi ro nói chung luôn tồn tại trong kinh doanh, rủi ro và lợi nhuận bao giờ
cũng chứa đựng nghịch lý: lợi nhuận cao thì rủi ro cao và ngược lại không có
rủi ro cao tức là không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận rất thấp. Ngân hàng biết
rằng hoạt động cho vay là rủi ro nhưng tại sao ngân hàng lại cho vay để rồi
phải lo rủi ro. Có hai lý do: Thứ nhất, rủi ro là sự không chắc chắn, nếu biết
chắc chắn là cho vay sẽ mất vốn thì ngân hàng đã không cho vay. Thứ hai, rủi
ro vừa tiềm ẩn thiệt hại vừa tiềm ẩn lợi nhuận, ngân hàng cho vay là kỳ vọng
tìm kiếm lợi nhuận, nếu biết cho vay không có lợi nhuận ngân hàng đã không
cho vay. Vì vậy đứng về phía ngân hàng thì kiểm soát hoạt động cho vay là
rất cần thiết.
Mục đích của việc kiểm soát hoạt động cho vay là kịp thời phát hiện và
ngăn ngừa, xử lý những rủi ro trong quá trình cho vay; bảo đảm việc tuân thủ
đúng pháp luật và các quy đình hiện hành về việc cho vay. Với mục tiêu cuối
cùng là giảm thiểu rủi ro của hoạt động cho vay, tối đa hoá lợi nhuận dự kiến
từ hoạt động cho vay của ngân hàng. Vì vậy tăng cường kiểm soát hoạt động
cho vay không phải là hạn chế cho vay tới mức tối thiểu mà tăng cường kiếm
\
soát hoạt động cho vay ở đây là giúp cho việc cho vay có hiệu quả hơn (giảm
thiểu rủi ro, tối đa hoá lợi nhuận từ hoạt động cho vay).
1.2.3.Quy trình kiểm soát hoạt động cho vay
Trong các giai đoạn của quy trình cho vay: trước giải ngân, giải ngân và
sau giải ngân, quy trình kiểm soát đều gồm các bước sau:
 XĐ mục tiêu, nội dung, các chỉ số kiểm soát
 XĐ hệ thống kiểm soát: chủ thể kiểm soát là ai, công cụ kiểm soát là gì…
 Tiến hành giám sát đo lường
 Đánh giá sự thực hiện: xem xét chính sách cho vay của ngân hàng có
được thực hiện đúng theo quy định không, việc sử dụng vốn vay của
khách hàng có đúng mục đích không, thời hạn trả nợ gốc và lãi có đúng
thời hạn như Hợp đồng tín dụng không?...
 Điều chỉnh
 Đưa ra kết luận
1.2.4.Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng công tác kiểm soát hoạt động
cho vay của Ngân hàng thương mại
1.2.4.1. Nợ quá hạn
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của thống đốc
NHNN quy định về việc phân loại nợ, các khoản nợ được chia thành 5 nhóm:
 Nhóm 1: (nợ đủ tiêu chuẩn) là các khoản nợ được TCTD đánh giá là
có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn.
 Nhóm 2: (nợ cần chú ý) là các khoản nợ có khả năng thu hồi đầy đủ cả
gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ.
 Nhóm 3: (nợ dưới tiêu chuẩn) là các khoản nợ không có khả năng thu
hồi gốc và lãi khi đến hạn.
 Nhóm 4: (nợ nghi ngờ) là các khoản nợ được các TCTD đánh giá là
khả năng tổn thất cao nhất.
 Nhóm 5: (nợ có khả năng mất vốn) gồm các khoản nợ không còn khả
năng thu hồi.
Tổng dư nợ nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 phản ánh nợ xấu (nợ quá hạn).
Nếu TCTD nói chung, ngân hàng nói riêng có tỉ lệ số dư nhóm 1 cao,
không có số dư các nhóm 2,3,4,5 thì có thể kết luận rằng công tác kiểm soát
hoạt động cho vay của ngân hàng có hiệu quả đặc biệt. Trường hợp này trên
thực tế hầu như không xảy ra.
Nếu tỉ lệ số dư nhóm 2,3 thấp và không có số dư nhóm 4,5 thì công tác
kiểm soát hoạt động cho vay là bình thường.
Nếu tỉ lệ số dư nhóm 3,4,5 cao sẽ cho thấy công tác kiểm soát hoạt động
cho vay không hiệu quả.
1.2.4.2. Dư nợ cho vay
Dư nợ cho vay là tổng số tiền mà ngân hàng cho vay đối với nền kinh tế
tại một thời điểm nhất định.
Dư nợ cho vay của ngân hàng là một chỉ tiêu rất quan trọng, phản ánh
hoạt động cho vay của ngân hàng, ta cũng thấy được tình hình kiểm soát hoạt
động cho vay từ chỉ tiêu này qua hai tiêu chí sau:
 Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế:
Nếu tỉ lệ này lớn hơn 1 tức là tốc độ tăng trưởng cho vay lớn hơn tốc độ
tăng trưởng kinh tế cho thấy chính sách cho vay được nới lỏng, khó kiểm
soát, chất lượng hoạt động kiểm soát không tốt.
Ngược lại, nếu tỉ lệ này nhỏ hơn 1, hoạt động cho vay không đáp ứng nhu
cầu của nền kinh tế, điều này có thể do nguyên nhân từ phía ngân hàng không
\
đáp ứng được nhu cầu đó, cũng có thể do việc kiểm soát hoạt động cho vay
quá chặt chẽ, như vậy cũng không phải việc kiểm soát có hiệu quả.
Tỉ lệ này tốt nhất là bằng 1. Nói như vậy không có nghĩa là khi đó hoạt
động kiểm soát đạt hiệu quả tốt
 Tỷ lệ dư nợ cho vay/ tổng vốn huy động: tỉ lệ này phản ánh số tiền mà
ngân hàng cho vay tại một thời điểm trên số vốn huy đồng được tại thời điểm
đó tính theo đơn vị (%) .
Nếu tỷ lệ này > 1, ngân hàng áp dụng chính sách cho vay mạo hiểm, cho
vay vượt quá khả năng huy động.
Nếu < 1, chính sách cho vay bảo thủ được áp dụng, chính sách này có thể
bỏ qua nhiều khách hàng,
Nếu tỷ lệ này bằng 1, việc kiểm soát hoạt động cho vay tương đối tốt.
1.2.4.3. Thu hồi nợ xấu
Tình hình thu hồi nợ xấu phản ánh công tác khắc phục tổn thất từ quyết
định cho vay của cán bộ ngân hàng. Nếu tỷ lệ thu hồi nợ xấu càng cao thì
càng chứng tỏ tinh thần trách nhiệm của cán bộ ngân hàng cũng như lãnh đạo
ngân hàng trong việc rút kinh nghiệm trong việc cho vay và tính nghiêm túc
trong công tác kiểm soát hoạt động cho vay để tránh gặp phải những sai sót
tương tự gây tổn thất lớn cho ngân hàng
1.2.4.4. Số trích lập và sử dụng quỹ dự phòng rủi ro
Theo quyết định 493, các NHTM sẽ phải trích lập quỹ dự phòng rủi ro từ
lợi nhuận sau thuế tuỳ thuộc vào số dư nợ nhóm 1,2,3,4,5 (nhóm 1 không phải
trích lập dự phòng rủi ro, nhóm 2 trích 5%, nhóm 3 là 20%, nhóm 4 là 50%,
nhóm 5 trích toàn bộ). Ngoài ra để đảm bảo an toàn các ngân hàng cũng
thường có một khoản trích thêm để đảm bảo an toàn cho bản thân ngân hàng.
Nếu theo quy định tỉ lệ số trích lập quỹ dự phòng rủi ro so với số vốn cho vay
thấp cho thấy công tác kiểm soát hoạt động cho vay tương đối hiệu quả.
Việc sử dụng quỹ dự phòng rủi ro càng thấp có nghĩa là rủi ro xảy ra
càng ít và nó cũng nói lên phần nào chất lượng của công tác kiểm soát hoạt
động cho vay.
Ngoài các chỉ tiểu trên, để đánh giá chất lượng công tác kiểm soát hoạt
động cho vay còn rất nhiều chỉ tiêu khác như: số lần phát mãi tài sản đam bảo
trên số món vay; tỉ lệ phát hiện sai sót về chữ kí, giấy phép kinh doanh, quyền
sử dụng đất….
1.3.Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác kiểm soát hoạt động cho vay của
Ngân hàng thương mại
1.3.1.Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
1.3.1.1.Môi trường kinh tế vĩ mô
Khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định thì hoạt động cho vay có độ rủi ro
không lớn và ngược lại, khi nền kinh tế tăng trưởng chậm, sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp bị thu hẹp, không hiệu quả và gặp khó khăn,
nhiều khoản nợ vay không được thu hồi đúng hạn và cũng gây khó khăn cho
việc kiểm soát.
Chính sách kinh tế của chính phủ về khuyến khích hay hạn chế sự phát
triển của một ngành hay một lĩnh vực cũng có ảnh hưởng đến hoạt động cho
vay của các NHTM, các NHTM phải dựa vào đó để đưa ra chính sách cho
vay hợp lý.
Lạm phát cũng ảnh hưởng tới kiểm soát hoạt động cho vay vì gây
khó khăn lớn đến việc xác định mức lãi suất cho vay hợp lý. Việc kiểm soát
hoạt động cho vay tốt yêu cầu phải dự báo được tỉ lệ lạm phát để có thể đưa ra
được mức lãi suất cạnh tranh.
\