Các chuyên đề nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ quan hệ thương mại việt – mỹ khi việt nam gia nhập wto

  • 263 trang
  • file .pdf
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
--o0o--
CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT – MỸ
KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
Cơ quan chủ trì: Viện Kinh tế Chính trị học
Chủ nhiệm: PGS.TS.Trần Quang Lâm
Thư ký: CN. Nguyễn Thị Minh Tân
6969-1
28/8/2008
Hà Nội, năm 2008
Môc lôc
Néi dung Trang
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ THƯƠNG 1
MẠI VIỆT – MỸ
Chuyên đề 1: Thương mại quốc tế: Lý thuyết và nội dung cơ bản 1
PGS.TS.Trần Quang Lâm
Chuyªn ®Ò 2: Lịch sử phát triển quan hệ thương mại Việt – Mỹ 11
TS.Hoàng Hải
TS. Nguyễn Duy Quang
PGS.TS.Trần Quang Lâm
Chuyên đề 3: Quá trình thể chế hóa quan hệ thương mại Việt – Mỹ 20
và sự tác động của nó tới nền kinh tế Việt Nam
PGS.TS.Trần Quang Lâm
PHẦN II: THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT – MỸ KHI 37
VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
Chuyên đề 4: Thực trạng quan hệ thương mại Việt – Mỹ trước khi 37
Việt Nam gia nhập WTO
PGS.TS.Trần Quang Lâm
Chuyên đề 5: Thực trạng quan hệ thương mại Việt – Mỹ sau khi Việt 46
Nam gia nhập WTO
PGS.TS.Trần Quang Lâm
Chuyên đề 6: Thực trạng quan hệ thương mại Việt – Mỹ qua cac 57
luồng xuất nhập khẩu và đàu tư hai chiều chủ yếu
PGS.TS.Trần Quang Lâm
Chuyên đề 7: Xuất khẩu hàng dệt may và thủy sản Việt Nam sang thị 80
trường Mỹ
TS. Nguyễn Thị Như Hà
Chuyên đề 8: Xuất khẩu một số hàng hóa Việt Nam sang thị trường Mỹ 92
Ths. Lê Bá Tâm
Chuyên đề 9: Thị trường thủy sản Mỹ - Triển vọng xuất khẩu thủy 111
sản Việt Nam
Ths. Nguyễn Thị Ngân Loan
Chuyên đề 10: Thực trạng dòng thương mại từ Mỹ vào Việt Nam từ 138
2000 - 2007
PGS.TS. Hoàng Thị Bích Loan
Chuyên đề 11: Thực trạng quan hệ thương mại Hoa Kỳ - Việt Nam 148
giai đoạn 2000 -2007
CN. Hồ Thanh Thủy
Chuyên đề 12: Đầu tư và chuyển giao công nghệ của Hoa Kỳ vào Việt 161
Nam thời kỳ 2000 – 2007
Ths. Ngô Tuấn Nghĩa
Chuyên đề 13: Những bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cøu thực 180
trạng quan hệ thương mại Việt – Mỹ sau khi Việt Nam
gia nhập WTO
PGS.TS.Trần Quang Lâm
PGS.TS. An Như Hải
Ths. Đinh Trung Thành
Chuyªn ®Ò 14 T¸c ®éng cña më réng quan hÖ ViÖt – Mü tíi gi¶i quyÕt 191
viÖc lµm vµ n©ng cao thu nhËp cña ng−êi d©n
TS Vò ThÞ Thoa
Chuyªn ®Ò 15: Thùc tr¹ng quan hÖ th−¬ng m¹i khu vùc t− nh©n cña 198
ViÖt Nam- Mü thêi kú 200-2007
Ths. Ph¹m ThÞ Tuý
Chuyªn ®Ò 16: Thùc tr¹ng dßng ®Çu t− vµ chuyÓn giao c«ng nghÖ tõ 211
Mü vµo ViÖt Nam thêi kú 2000-2007
TS §oµn Xu©n Thuû
PHẦN III: TRIỂN VỌNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT – MỸ VÀ 236
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY
Chuyên đề 17: Triển vọng quan hệ thương mại Việt – Mỹ 236
PGS.TS.Trần Quang Lâm
Chuyên đề 18: Thực trạng các quan hệ tiếp thị Việt Nam – Hoa Kỳ sau 251
khi Việt Nam gia nhập WTO
Ths. Trần Hoa Phượng
CN. Nguyễn Thị Minh Tân
Chuyên đề 19: Các giải pháp thúc đẩy phát triển quan hệ thương mại 264
Việt – Mỹ sau khi Việt Nam gia nhập WTO
PGS.TS.Trần Quang Lâm
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ L UẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ THƯƠNG
MẠI MỸ - VIỆT
------------
CHUYÊN ĐỀ 1:
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ:
LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
PGS.TS.Trần Quang Lâm
Thương mại quốc tế là một trong những lĩnh vực kinh tế phản ánh mối
quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia gắn liên với sự thăng trầm của tiến
trình lịch sử nhân loại. Mạng lưới thương mại cổ đại đã xuất hiện khoảng 3500
năm trước công lịch tại vùng Lưỡng Hà, sau đó lan rộng sang Ba Tư và hướng về
phía Tây đến Ai Cập, về phía Đông đến khu vực thuộc Pakixtan, lên phía Bắc tới
Udơbêkixtan ngày nay và lan sang Trung Quốc thành con đường tơ lụa nổi tiếng
trong lịch sử cổ đại. Như vậy, thương mại quốc tế xuất hiện rất sớm trong lịch sử
bang giao giữa các nước, tạo thành mối quan hệ phổ biến truyền thống giữa các
quốc gia, thậm chí đã hình thành trước cả quan hệ chính trị và văn hóa giữa các
nước. Do đó, nghiên cứu quan hệ thương mại giữa các nước là tiền đề lý luận và
thực tiễn để hiểu sâu và tòan diện các quan hệ khác trong lịch sử bang giao quốc
tế và quan hệ thương mại Việt – Mỹ hiện nay.
1. Thương mại quốc tế
1.1. Nội dung cơ bản của thương mại quốc tế
Có nhiều quan niệm khác nhau về quan hệ thương mại quốc tế, song định
nghĩa một cách phổ quát nhất, thì: Quan hệ thương mại quốc tế là mối quan hệ về
trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các
quốc gia thông qua hoạt động mua – bán, lấy tiền tệ làm môi giới, tuân theo
nguyên tắc trao đổi ngang giá. Quan hệ này bao gồm nhiều hoạt động khác nhau
và xét trên giác độ một quốc gia, đó chính là hoạt động ngoại thương. Về cơ bản,
các hoạt động thương mại quốc tế bao gồm: “(i) xuất, nhập hàng hóa hữu hình;
(ii) xuất, nhập khẩu các hàng hóa vô hình; (iii) gia công thuê cho nước ngoài và
1
thuê nước ngòai gia công; (iv) tái xuất khẩu và chuyển khẩu; (v) xuất khẩu tại
chỗ”1
1.2. Sự phát triển mở rộng về nội dung thương mại quốc tế trong WTO
Sau khi tổ chức thương mại thế giới (WTO) ra đời năm 1995, khái niệm
hoạt động thương mại và quan hệ thương mại, xét theo cả khía cạnh pháp lý và
thực tế, đã được mở rộng, bao gồm cả hoạt động buôn bán hàng hóa, cung cấp
dịch vụ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đầu tư. Một số vấn đề khác cũng đang được
thảo luận để bổ sung vào các thỏa thuận trong khuôn khổ WTO như: các tiêu
chuẩn về bảo vệ môi trường, quyền của người lao động, thậm chí cả vấn đề nhân
quyền. Đối với các vấn đề không thuộc lĩnh vực thương mại hàng hóa và thương
mại dịch vụ, các hiệp định của WTO cũng chỉ điều chỉnh các khía cạnh liên quan
đến thương mại. Chẳng hạn, WTO có Hiệp định về các khía cạnh của quyền sở
hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPs). Đầu tư cũng là hoạt động được
điều chỉnh trong khuôn khổ WTO, song những qui định về vấn đề này có phạm
vi khá hẹp, chỉ bao gồm các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs).
Theo quy định tại “Luật thương mại Việt Nam”, phạm vi hoạt động thương
mại chỉ bao gồm 14 hành vi liên quan đến việc mua, bán hàng hóa và các hoạt
động phục vụ cho các giao dịch này. Mặt khác, pháp luật hiện hành của Việt nam
cũng chưa có sự phân định cụ thể và chi tiết về hợp đồng dân sự, thương mại,
kinh tế nên đã dẫn đến xung đột về quyền tài phán khi giải quyết tranh chấp từ
các giao dịch này. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nội dung thương mại quốc
tế cũng phải được điều chỉnh theo khung khổ của WTO.
Giới luật gia Mỹ không quan niệm cứng nhắc về khái niệm thương mại nói
chung và ngành luật thương mại nói riêng. Đối với họ, không có tranh luận nhiều
về ranh giới của các ngành luật, về sự khác biệt giữa hợp đồng kinh tế - dân sự -
thương mại. Do có quan niệm rất rộng và năng động về pháp luật thương mại như
vậy, nên…“các đạo luật điều chỉnh hoạt động thương mại của Hoa Kỳ rất đa rạng
1
GS. PTS Tô xuân Dân “Giáo trình kinh tế học quốc tế” NXB Thống kê, HN 1999 tr34
2
và phức tạp”1. Do đó, khi quan hệ thương mại với Mỹ cần hiểu biết và phải tuân
theo những qui định đặc thù này để tránh các xung đột bất lợi.
Trong lịch sử, tính khách quan và lợi ích về thương mại quốc tế đã được
nhiều nhà khoa học nổi tiếng xây dựng và hoàn thiện thành một hệ thống lý luận
hoàn chỉnh. Có thấy rõ qua các lý thyết cơ bản dưới đây :
2. Các lý thuyết về tính khách quan của thương mại và lợi ích của
thương mại quốc tế.
2.1. Các lý thuyết về tự do thương mại quốc tế
Các lý thuyết về tự do thương mại (Trade Liberalisim) phát triển vào thế
kỷ XIX trong điều kiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất lan từ Anh
sang các nước khác, tạo ra một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất
TBCN. Đây là thời kỳ chủ nghĩa tư bản bắt đầu bành trướng ra bên ngoài, tăng
cường khai thác thuộc địa và trao đổi thương mại giữa các nước tư bản với nhau.
Adam Smith và David Ricardo là hai nhà kinh tế cổ điển Anh đã đặt nền tảng lý
luận cho chủ nghĩa tự do thương mại.
Theo A.Smith thì vai trò của cá nhân và hệ thống kinh tế tư doanh đã thúc
đẩy cho sản xuất và trao đổi quốc tế phát triển.Ông cho rằng, động cơ thúc đẩy
con người làm việc là lợi ích cá nhân, song nếu anh ta làm tốt công việc của mình
thì điều đó có lợi không chỉ cho bản thân anh ta, mà còn đem lại lợi ích cho tập
thể, xã hội và quốc gia. Trong nền sản xuất hàng hóa hình như có một bàn tay vô
hình dẫn dắt mỗi cá nhân hướng tới không chỉ lợi ích cá nhân, mà còn cả lợi ích
chung ngoài ý muốn của anh ta. Từ tư tưởng này ông khẳng định, nhà nước
không nên can thiệp vào hoạt động thương mại của các doanh nghiệp để thị
trường vận hành theo cơ chế cạnh tranh tự do thì nền kinh tế mới có hiệu quả
thực sự. Trong tác phẩm nổi tiếng “Nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc giầu có
của một quốc gia,” Ông khẳng định: “Sự giàu có của mỗi quốc gia đạt được
không phải do những quy định chặt chẽ mà do bởi tự do kinh doanh” A.Smith
luôn phê phán sự phi lý và những hạn chế của lý thuyết trọng thương và cho rằng,
sự giàu có thực sự của một nước là tổng hàng hóa và dịch vụ có ở nước đó. Ông
còn cho rằng, hãy để những quốc gia nào có lợi thế sản xuất những loại hàng hóa
1
Uy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế GATT2000: Mở cửa thị trường dịch vụ, NXB CTQG, HN, 2000,
tr72
3
có hiệu quả hơn là để những nước khác có điều kiện khó khăn hơn sản xuất ra
chúng. Từ đó ông đã khẳng định: Nếu mọi quốc gia đều chuyên môn hóa vào sản
xuất những ngành mà họ có lợi thế tuyệt đối, thì cho phép họ sản xuất sản phẩm
có hiệu quả hơn, khi tiến hành trao đổi sản phẩm với nhau tất cả các nước đều thu
được lợi ích. Do đó, tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế sẽ làm
tăng tiêu dùng của thế giới. Lợi ích thương mại diễn ra ở tất cả những nước có lợi
thế tuyệt đối về sản xuất các sản phẩm, cho nên các nước này cần phải hy sinh
việc sản xuất ra những sản lượng kém hiệu quả để sản xuất ra sản lượng có hiệu
quả hơn. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A.Smith bước đầu đã giải thích được vấn
đề: Tại sao các nước cần phải giao dịch buôn bán với nhau? Vào thời kỳ đó, Lý
thuyết lợi thế tuyệt đối của A.Smith đã được chấp nhận và trở thành học thuyết
ngự trị suốt thế kỷ XVIII. Nhưng khi sản xuất và trao đổi hàng hóa giữa các quốc
gia mở rộng, thì đã xẩy ra hiện tượng một số nước có thể sản xuất có hiệu quả
hơn những nước khác trong hầu hết các mặt hàng chứ không phải chỉ có một số
mặt hàng. Hơn nữa, những nước không có lợi thế tuyệt đối nào cả thì chỗ đứng
của họ trong phân công lao động quốc tế là ở đâu? Và trao đổi thương mại diễn ra
như thế nào với những nước này? D.Ricardo đã trả lời câu hỏi đó trong tác phẩm
nổi tiếng của mình: “Những nguyên lý về kinh tế chính trị và thuế khóa” viết năm
1817; Trong đó ông đã đưa ra lý thuyết về lợi thế so sánh. Theo D.Ricardo thì
mọi quốc gia đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế, kể cả khi
họ chuyên môn hóa vào sản xuất một số sản phẩm nhất định và xuất khẩu chúng
để đổi lấy hàng nhập khẩu từ nước khác. Những nước có lợi thế tuyệt đối hơn
nước kia, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với nước khác trong việc sản xuất
mọi sản phẩm đều có lợi khi tham gia vào trao đổi quốc tế. Sở dĩ như vậy là vì,
mỗi nước đều có một lợi thế so sánh nhất định về một mặt hàng và kém lợi thế so
sánh về một số mặt hàng khác. Dựa trên tư tưởng của Ricardo, các nhà kinh tế
học hiện đại cũng đi đến kết luận: Khi dành vốn và nguồn lực của mình vào việc
sản xuất những mặt hàng có chi phí cơ hội thấp hơn so với các nước khác (lợi thế
so sánh), sẽ đem lại lợi ích cho tất cả các nước1. Liên kết các nền kinh tế quốc gia
trên cơ sở phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất là con đường tăng sản
1
Paul./r.Kougman – Maurice Obstfeld “ Kinh tế học quốc tế - Lý thuyết và chính sách” t1, những vấn đề
thương mại quốc tế, NXB CTQG, H1996, tr35
4
xuất và tiêu dùng cho mọi quốc gia. Vào thời ông, D.Ricacdo đã dùng mô hình
lợi thế so sánh để chứng minh rằng: Tự do thương mại đã đem lại lợi ích cho mọi
quốc gia và nhờ nó ông đã ngăn chặn được hàng rào thuế quan hạn chế nhập khẩu
lương thực của nước Anh vào lúc đó. Ngày nay, lý thuyết lợi thế so sánh của
Ricado vẫn được các nhà kinh tế chấp nhận và trở thành căn cứ để chứng minh về
những lợi ích tiềm tàng của thương mại quốc tế.
Lý thuyết về lợi ích của thương mại quốc tế được hoàn thiện hơn bởi
HECKSCHER- OHLIN (gọi tắt là lý thuyết H-O). Đây là hai nhà kinh tế học
Thụy Điển HACKSCHERvà OHLIN, họ đưa ra lý thuyết về các yếu tố thâm
dụng. Lý thuyết này đã hoàn thiện hơn lý thuyết lợi thế so sánh. Theo đó, các
nước cần xuất khẩu sản phẩm dựa trên các nhân tố sản xuất phong phú và nhập
khẩu các sản phẩm mà trong nước khan hiếm yếu tố sản xuất. Học thuyết
HECKSCHER-OHLN ra đời dựa trên những phát hiện về sự khác biệt về giá
thành sản xuất trên thị trường quốc tế và liên khu vực xảy ra do sự khác nhau về
cung ứng các nhân tố sản xuất. Nếu hàng hóa nào tập hợp được số lượng lớn
những nhân tố thuận lợi sẽ làm giá thành sản phẩm hạ thấp, nhờ đó giúp cho sản
phẩm bán được giá cả thấp hơn trên thị trường quốc tế.1 Ví như ở Trung Quốc,
nước có yếu tố nhân công dồi dào hơn so với Mỹ là nước có thuận lợi về công
nghệ hiện đại, thì Mỹ nên chuyên môn hóa vào sản xuất các phẩm có hàm lượng
công nghệ cao. Khi hai quốc gia này giao dịch với nhau, mỗi bên sẽ có được hàng
hóa có lợi thế của mình và cả hai sẽ thu được lợi ích từ sự trao đổi này. Các quốc
gia có công nghệ hiện đại (như Mỹ) nên xuất khẩu các sản phẩm thiên về sử dụng
công nghệ (như là máy tính, hàng điện tử), trong khi đó Trung Quốc xuất khẩu
các sản phẩm đòi hỏi nhiều về lao động, như hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm
nuôi trồng.
Từ lý thuyết của Adam Smith, Ricardo và HECKSCHER- OHLIN có thể
khẳng định rằng, hoạt động buôn bán quốc tế mang lại lợi ích cho mọi quốc gia,
cho dù một nước hoàn toàn không có lợi thế tuyệt đối ở bất cứ mặt hàng nào. Sự
minh chứng về mặt lý thuyết này đã xóa tan đi sự e ngại của nhiều nhà kinh
doanh Mỹ khi có các quan điểm cho rằng, nếu năng xuất của Nhật Bản cao hơn
1
Sđ đ, tr 153
5
của Mỹ, thì buôn bán với Nhật sẽ phá hoại nền kinh tế Mỹ bởi lẽ không có ngành
công nghiệp nào của Mỹ có thể cạnh tranh lại được. Nhiều nhà lãnh đạo công
đoàn của Mỹ đã từng cho rằng: Mỹ bị tổn thương vì đã buôn bán với những
nước kém phát triển hơn, những nước vốn có những ngành công nghiệp kém hiệu
quả hơn Mỹ, vì họ bán sản phẩm với giá cả thấp hơn so với sản phẩm cùng loại
được sản xuất tại Mỹ, do lương công nhân ở đó thấp hơn nhiều so với Mỹ. Điều
này đã được lý thuyết của D.Ricardo bác bỏ từ thế kỹ XVIII. Sự minh chứng đầy
sức thuyết phục trong lý thuyết về lợi thế so sánh là cơ sở vững chắc cho Mỹ gạt
bỏ những quan điểm phản đối quá trình hoạch định chính sách thương mại quốc
tế mở rộng và tích cực đẩy mạnh hoạt động buôn bán với bên ngoài của các chính
phủ Mỹ.
Nhiều năm qua ở Mỹ, lý thuyết kinh tế học cổ điển cũng như lý thuyết Tân
cổ điển luôn được chú ý vận dụng. Lý thuyết về chi phí cơ hội (lợi thế so sánh)
mà Ricardo đã đặt nền móng là một trong những cơ sở lý luận để thiết lập các
quan hệ thương mại cùng có lợi giữa Mỹ với các nước đang phát triển. Việc thi
hành chính sách thương mại tự do được tạo ra là nhằm tạo điều kiện cho thị
trường một nước tham gia có hiệu quả vào thị trường thế giới. Ngay cả đối với
Mỹ, một nước có nền kinh tế phát triển cao với nhiều lợi thế trong cạnh tranh
quốc tế, khi tham gia vào thị trường thế giới cũng được tổ chức theo hướng kinh
tế thị trường tự do. Từ đó Mỹ đã thu được nhiều lợi ích hơn. Các chính phủ Mỹ
từ trước tới nay đều đi theo xu hướng tăng cường tự do hóa thương mại và giảm
bớt sự điều tiết của nhà nước, mặc dù nhà nước có khả năng tạo điều kiện hỗ trợ
cho việc mở rộng thị trường. Nhiều chuyên gia cho rằng, tự do thương mại và
cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với nhau khi thực thi lý thuyết này đã giúp Mỹ
duy trì được vị thế là cường quốc số một thế giới. Mặc dù sau chiến tranh thế giới
thứ hai, Mỹ mới thực sự thay đổi chính sách biệt lập và bảo hộ đối bên ngoài, tự
do bên trong về kinh tế. Song việc áp dụng chính sách tự do thương mại và nhờ
tận dụng được lợi thế của nước đi sau trong cuộc cách mạng công nhiệp và những
ưu thế về khả năng phát triển nền kinh tế có quy mô lớn, nên vào nửa sau của thế
kỷ XIX, nền kinh tế Mỹ đã phát triển với tốc độ nhanh và trở thành đối thủ cạnh
tranh với Anh. Trong giai đoạn 1880-1910, kim nghạch xuất khẩu của Mỹ trong
6
tổng xuất khẩu của thế giới tăng lên từ 11,9% lên 13,8%.1 Việc Mỹ giữ vai trò
hàng đầu nhờ tự do hóa thương mại nên đã duy trì được một trật tự kinh tế quốc
tế ổn định từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, đã góp phần củng cố vị trí
siêu cường số một của Mỹ. Bằng tự do hóa thương mại, Mỹ đã tạo điều kiện cho
nhiều nước vươn lên về kinh tế (Tây Âu và các nền kinh mới công nghiệp hóa
NIEs) nhờ tận dụng nguồn đầu tư quan trọng từ Mỹ và hệ thống thương mại dựa
trên những nguyên tắc tự do hóa. Quan hệ thương mại quốc tế thể hiện tập trung
ở chính sách thương mại của Mỹ luôn được định hình để phục vụ nhu cầu mở
rộng thị trường, nâng hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Từ đó
phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích các nhóm xã hội, các ngành kinh tế dựa trên lợi
thế về sức mạnh kinh tế, quân sự của Mỹ. Chính sách trên đây không chỉ phụ
thụộc vào các nhân tố bên trong của nền kinh tế Mỹ, nhất là phụ thuộc vào chính
sách của từng chính phủ vào từng thời điểm khác nhau, mà còn phụ thuộc vào
các nhân tố bên ngoài như tương quan sức mạnh kinh tế giữa các nước, những xu
hướng phát triển ngoại thương, thanh toán và giao dịch quốc tế. Tuy nhiên, việc
tìm hiểu quan hệ thương mại của Mỹ với các nước qua chính sách thương mại
của Mỹ trong thời gian dài, kể từ khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai đến
nay, có thể thấy xu hướng cơ bản là Mỹ luôn chủ chương thực hiện chính sách
thương mại tự do và bằng cách loại bỏ mọi hàng rào mậu dịch để mở rộng các
quan hệ kinh tế quốc tế có lợi. Nhờ các quan hệ này đã tạo điều kiện tối đa cho sự
tham gia của nền kinh tế Mỹ vào hệ thống phân công lao động quốc tế, hình
thành một cơ cấu hợp lý cho nền sản xuất. Sau khi kết thúc chiến tranh lạnh,
những nguyên tắc cuả thuyết tự do thương mại đã được Mỹ áp dụng một cách
rộng rải trên thế giới và có chiều hướng ngày càng gia tăng cùng với sự mở rộng
của quá trình TCH kinh tế. Mỹ là quốc gia đi đầu trong việc thúc đẩy tự do hóa
thương mại. Với sự vận dụng triệt để chính sách tự do hóa thương mại được biểu
tượng thành “Thuyết chủ nghĩa tự do mới về kinh tế”, Tổng thống Mỹ B.Clinton
trước đây và G.Bush ngày nay đã đưa nền kinh tế Mỹ tăng trưởng tương đối ổn
định trong các nhiệm kỳ tổng thống của họ dựa trên sử dụng được lợi thế trong
thương mại quốc tế.
1
Nguyễn Điền “Quy chế tối huệ quốc trong quan hệ thương mại giữa Mỹ và Việt Nam” Nghiên cứu kinh tế số
3tr 18-24
7
Về mặt lý luận, thuyết tự do thương mại cung cấp những cơ sở lý luận
khoa học cho việc tìm hiểu bản chất cũng như dự đoán quá trình phát triển của
quan hệ thương mại quốc tế, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Mặc
dù thuyết này xem nhẹ những mặt trái của quá trình tự do hóa, thương mại quốc
tế, song đây là một trong những cơ sở quan trọng trong việc hình thành quan hệ
thương mại quốc tế và hoạch định chính sách thương mại quốc tế của các quốc
gia nói chung và của Mỹ -Việt nam nói riêng
2.2. Lý thuyết chiết trung về thương maị và đầu tư quốc tế của
Dunning.
Đầu tư nước ngoài luôn gắn liền với thương mại quốc tế đồng thời là một
vấn đề có tính chất quy luật chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau. Dòng
vốn đầu tư nước ngoài diễn ra dưới nhiều hình thức và khối lượng vốn dĩ
chuyển giữa các quốc gia ngày càng tăng lên nhanh chóng, đặc biệt trong điều
kiện dòng vận động của tư bản hàng hóa tăng nhanh dưới sự thúc đẩy của toàn
cầu hóa và khu vực hóa. Trên thực tế đã có nhiều lý thuyết giải thích khác nhau
về bản chất của hoạt động đầu tư quốc tế dưới sự chi phối của sự vận động
luồng hàng hóa dịch vụ, trong đó có chủ nghĩa chiết trung của Dunning. Đây là
một trường phái đưa ra cách giải thích có tính chất trung hòa giữa các trường
phái trước đó về đầu tư quốc tế và quan hệ của nó với tự do thương mại. Chủ
nghĩa chiết trung lập luận rằng, hoạt động đầu tư nước ngoài chỉ diễn ra khi có
đủ các yếu tố lợi thế hội tụ về địa điểm để thực hiện hoạt động đầu tư, lợi thế về
sở hữu và lợi thế về khai thác các quan hệ nội bộ công ty (lợi thế của việc nội
hóa các hoạt động sản xuất và các giao dịch).Nội dung cơ bản của lý thuyết này
thể thể hiện ở các điểm sau:
Thứ nhất, lợi thế về địa điểm (hay vị trí thực hiện hoạt động đầu tư )
được thể hiện ở nơi hoạt động đầu tư có nguồn tài nguyên tự nhiên dồi dào,
nguồn lao động sẵn có và giá rẻ, thuận tiện cho việc phát triển các quan hệ giao
lưu kinh tế quốc tế, nhất là thương mại quốc tế… Lợi thế này có thể do chính
sách thu hút đầu tư tạo ra nhờ sự kích thích của tự do thương mại như việc hình
thành các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, khu thương mại tự do, khu
công nghệ cao với hệ thống sân bay, bến cảng được nâng cấp, các dịch vụ được
8
phát triển mạnh, đặc biệt là thương mại… Lợi thế về địa điểm có thể được xem
xét cả góc độ kết hợp giữa các lợi thế do tự nhiên mang lại hoặc lợi thế được
chính sách đầu tư tạo nên. Thực tế cho thấy, những vùng có địa điển thuận lợi
sẽ là nơi thu hút mạnh đầu tư nước ngoài như các nước của châu Á, trong đó có
Việt nam là nơi có nguồn tài nguyên dồi dào, giá lao động rẻ và có tốc độ tăng
trưởng cao, năng động nên đã trở thành khu vực dẫn đầu thế giới không chỉ hấp
thu luồng hàng hóa dịch vụ, mà còn cả về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
Thứ hai, lợi thế về sở hữu (chủ yếu lợi thế về quyền sở hữu công nghiệp)
là lợi thế của các loại tài sản, đặc biệt như lợi thế về sáng chế, bí quyết, kiểu
dáng công nghiệp, tên gọi hàng hóa, các chương trình phần mềm máy tính hoặc
các kỹ năng quản lý và nó chỉ được chuyển giao thông qua con đường thương
mại. Ở đây, thương mại quốc tế trở thành kênh truyền dẫn đầu tư nhanh chóng.
Lợi thế này được tạo ra nhờ chính sách bảo hộ sở hữu của chính phủ. Mỹ
thường là nước dẫn đầu thế giới về hoạt động đầu tư ra nước ngoài cũng như
thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài mà một trong số những lý do là thể chế
bảo hộ cho các tài sản, đặc biệt là các sản phẩm thuộc quyền sở hữu trí tuệ cao.
Ngoài ra, lợi thế về sở hữu còn được thể hiện ở việc chính phủ bảo hộ vốn và
các tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của các nhà đầu tư nước ngoài. Cơ chế
chính sách về vốn và các tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị trưng dụng
hoặc bị tịch thu bằng biện pháp quốc hữu hóa ở nước tiếp nhận đầu tư cũng là
một lợi thế. Đây là lợi thế do nước tiếp nhận FDI tạo ra các chính sách cởi mở,
ổn định bảo đảm cho nhà đầu tư yên tâm đầu tư lâu dài với số vốn đầu tư lớn
và tự do kinh doanh theo pháp luật. Ngoài ra, lợi thế về sở hữu còn cho biết
mức độ ảnh hưởng của các bên trong một dự án đầu tư. Những lợi thế này thuộc
cả về nước đầu tư buôn bán và nước nhận đầu tư, trong đó có cả Mỹ và Việt
nam.Do đó dòng FDI chỉ được khởi động khi các chính sách về thương mại,
đầu tư được xây dựng đầy đủ và cởi mở. Đây là lợi thế do con người chủ động
tạo ra.
Thứ ba, lợi thế về nội hóa các hoạt động sản xuất hoặc các giao dịch,
trước hết được ưu tiên thực hiện giao dịch thương mại trong nội bộ công ty giữa
9
các chi nhánh hoặc thực hiện việc phân công và chuyên môn hóa trong việc tạo
ra giá trị gia tăng giữa công ty mẹ và các công ty con. Lợi thế của cách tổ chức
thực hiện sản phẩm và tăng giá trị sản phẩm này sẽ khắc phục được tình trạng
tiến hành sản xuất làm ăn thua lỗ ở các chi nhánh nước ngoài, nâng cao hiệu
quả kinh doanh tổng thể của công ty, khai thác đựợc những lợi thế của hoạt
động chuyển giá trị trong nội bộ, tránh đựợc hàng rào thuế quan nên tiết kiệm
được chi phí và giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh. Lợi thế này
còn đựợc thể hiện ở công ty không phải phụ thuộc quá lớn vào bạn hàng, góp
phần tăng mức độ chủ động của các công ty trong quá trình thực hiện chiến
lược. Chủ nghĩa chiết trung khác với trừờng phái cận biên cho rằng, hoạt động
đầu tư diễn ra là do sự khác biệt về giá trị sản phẩm cận biên của vốn đầu tư,
hoặc một số quan điểm khác cho rằng hoạt động di chuyển vốn quốc tế diễn ra
là do chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch vẫn còn tồn tại dưới nhiều hình thức khác
nhau. Hoạt động đầu tư là nhằm tránh được các hàng rào ngăn cản sự vận động
của luồng hàng hóa nhờ đầu tư chiếm lĩnh các thị trường trước khi luồng hàng
hóa vận động. Hoặc cũng có quan điểm cho rằng, việc thực hiện đầu tư là để
nhằm phân tán rủi ro (rủi ro về chính trị, kinh tế, tài chính, cạnh tranh…) hoặc
tạo ra những lợi thế kinh tế mới nhờ mở rộng quy mô thị trường.
Lý thuyết chiết trung về đầu tư quốc tế của Dunning được coi là một
trong những cơ sở quan trọng cho việc định hình chính sách thương mại quốc
tế của Mỹ. Chính quyền Mỹ luôn coi trọng mục tiêu giành giật thị trường đầu tư
ra nước ngoài thể hiện sâu sắc nhất ở việc giành giật ngôi thứ đứng đầu về xuất
khẩu tư bản và hàng hóa trên thế giới.
10
CHUYÊN ĐỀ 2:
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT – MỸ
PGS.TS.Trần Quang Lâm
TS. Hoàng Hải
TS. Nguyễn Duy Quang
1. Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển quan hệ thương mại
Việt - Mỹ qua các thời kỳ
1.1. Quan hệ thương mại Việt - Mỹ thời kỳ trước năm 1954
Trong lịch sử, những cơ hội cho việc hình thành và phát triển quan hệ
thương mại Việt - Mỹ đã xất hiện rất sớm, chỉ ít năm sau khi Mỹ tuyên bố độc
lập. Năm 1787, công sứ Mỹ tại Pháp, ông T. Jefferson- người, soạn thảo bản
“Tuyên ngôn độc lập”cho G Washingtơn đọc 1776, sau này trở thành Tổng
thống thứ 13 của Mỹ, đã trình lên chính phủ Mỹ thời kỳ đó một bản báo cáo về
thị trường lúa gạo Nam Kỳ của Việt Nam. Sau này, T. Jefferson có ý định thông
qua một nhà thực vật học người Pháp tìm kiếm giống lúa của Nam kỳ đưa về
trồng tại Mỹ, nhưng việc này không được thực hiện ngay. Từ năm 1799 và kéo
dài 30 năm sau đó, một số thương thuyền của thương nhân Mỹ đã cập bến tại
Nam Kỳ để bán dầu hỏa và một số sản phẩm công nghiệp, mua thóc giống, lụa
và đường. Tên gọi Chiếc đèn Hoa Kỳ thắp bằng dầu hỏa thay thế đèn bát thắp
bằng dầu thực, động vật vẫn còn ghi lại dấu ấn của quan hệ thương mại tự nhiên
Việt – Mỹ đến tận ngày nay. Tuy nhiên, “quan hệ thương mại giữa hai nước
chưa được thiết lập vì nhiều lý do khác nhau, đặc biệt là do những tư tuởng bài
ngoại nổi lên rất mạnh trong thời kỳ này đã khiến cho giao thương của Việt
Nam với các nước bên ngoài không có cơ hội phát triển”1.
Trong lịch sử bang giao Việt- Mỹ còn ghi rõ Bùi Viện (1821-1882) một
ông quan triều Nguyễn đã sang tận Mỹ gặp Tổng thống thứ 18 của nước Mỹ là
Ulisse S.Grant (1869-1877) để thiết lập ngoại giao nhưng không thành, do các
thủ tục ngoại giao không tương đồng. Sau 169 năm, kể từ khi G. Washington
tuyên đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”tư tưởng ưu tú của nó đã được chủ tịch Hồ
1
Công ty tư vấn đầu tư và chuyển giao công nghệ “Tìm hiểu Hoa Kỳ vì mục đích kinh doanh” NXB CTQG,
H.2002, tr.194
11
Chí Minh trích dẫn để mở đầu bản “Tuyên ngôn độc lập”của Việt Nam vào năm
1945. Sự thật là trong cuộc cách mạng tháng tám năm 1945, Mỹ là quốc gia duy
nhất đứng cạnh Việt minh với tư cách lực lượng đồng Minh chống phát xít.
Về phia Việt Nam, ngay sau cách mạng tháng tám thành công năm 1945,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi nhiều bức thư, điện, công hàm cho Tổng thống
Truman, chính phủ và bộ ngoại Mỹ, đề nghị công nhận nền độc lập của Việt
Nam, ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên Hiệp quốc. Nhưng chính quyền Mỹ thời
đó không đáp lại thiện chí của nhà nước ta.
Năm 1946, Chủ Tịch Hồ Minh đã cử Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch thay
mặt chính phủ Việt Nam sang Thái Lan gặp đại diện chính phủ Mỹ. Không
những khước từ các đề nghị của Việt Nam, mà trái lại, Mỹ dần dần dính líu sâu
vào Việt Nam, rồi thế chân Pháp dựng lên các chính quyền thân Mỹ ở Nam
Việt Nam nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta, lôi kéo Nam Việt Nam và quỹ đạo
ảnh hưởng, phụ thuộc vào Mỹ.
1.2. Quan hệ thương mại Việt - Mỹ thời kỳ 1954 - 1975
Trong giai đoạn này, Mỹ chỉ có quan hệ kinh tế, thương mại với chính
quyền miền Nam Việt Nam. Mỹ là chỗ dựa của chính quyền miền Nam về quân
sự và kinh tế, coi Việt Nam Dân chủ cộng hòa là kẻ thù. Mỹ luôn nhận thức rõ,
Việt Nam có vị trí chiến lược về quân sự trong việc ngăn chặn ảnh hưởng của
chủ nghĩa cộng sản đối với khu vực Đông Nam Á, do đó xây dựng chiến lược
chiếm đóng miền Nam lâu dài. Để vực dậy nền kinh tế của miền Nam, Mỹ tăng
cường quan hệ thương mại, viện trợ cho chính quyền Sài Gòn. Tổng giá trị viện
trợ là 16.762 triệu USD và viện trợ kinh tế là 8.540 triệu USD .Đó là chỉ tính
viện trợ theo Đạo luật viện trợ nước ngoài của Mỹ (US Foerign Assistance
Act).Ngoài ra, còn có những khoản viện trợ quân sự lớn hơn nhiều theo Đạo
luật tương trợ an ninh (Mutual Security Act) được dùng chủ yếu cho quân đội,
cảnh sát, mua sắm súng đạn, phương tiện chiến tranh và chi cho các cuộc hành
quân… Một phần viện trợ này được dùng để xây dựng các công trình phục vụ
cả mục đích quân sự lẫn các hoạt động kinh tế như đường sá, cầu cống, bến
cảng, sân bay… Tổng viện trợ kinh tế của Mỹ cho chính quyền miền Nam trong
21 năm, Từ 1954 đến 1975lên tới hơn 540 tỷ USD.Số viện trợ này vượt xa số
12
viện trợ của Mỹ cho bất kỳ quốc gia và lãnh thổ nào trên thế giới trong thời kỳ
khoảng hai ba chục năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, kể cả so với Ixraen,
Hàn Quốc và Đài Loan.
Về quan hệ thương mại, từ những năm 1950, Mỹ dần dần chi phối thị
trường miền Nam Việt Nam thông qua viện trợ có điều kiện kết hợp với những
biện pháp hành chính khác. Từ tháng 12 năm 1961, Mỹ đình chỉ việc cho phép
chính quyền Sài Gòn dùng tiền viện trợ của Mỹ để nhập hàng hóa nước khác,
tạo điều kiện để hàng hóa Mỹ ngày càng chi phối thị trường miền Nam Việt
Nam. Đến 1973, hàng hóa Mỹ đã chiếm quá nửa số hàng nhập khẩu của miền
Nam Việt Nam. Cũng vào thời gian này, Mỹ cho phép một số nước Đông Nam
Á như Thái Lan, Philippins, Singapore cung cấp hàng nhu yếu phẩm cho quân
đội Mỹ và quân đội Sài Gòn xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường miền Nam. Từ
đó biến nền kinh tế miền Nam Việt Nam thành nền kinh tế tiêu dùng phục vụ
cho chiến tranh và phụ thuộc chặt chẽ vào Mỹ
1.3. Quan hệ thương mại Việt –Mỹ thời kỳ từ 1975-1994
Mỹ bắt đầu cấm vận chống miền Bắc Việt Nam từ năm 1954 cho đến sau
năm 1975. Khi Việt Nam được thống nhất, tuy không có văn bản chính thức,
nhưng trên thực tế chính sách cấm vận này vẫn tiếp tục áp dụng với toàn bộ
Việt Nam thống nhất. Cơ sở pháp lý của các chính sách này là dựa trên một số
loại văn bản khác nhau: Trước hết là Đạo luật mở rộng các hiệp định thương
mại (TAEA) được quốc hội Mỹ thông qua năm 1951, trong đó quy định không
cấp quy chế MFN (nay là quy chế thương mại bình thường) cho các nước cộng
sản và các nước xung đột vũ trang với Mỹ. Ngoài ra, còn có các luật và quy
định khác, như quy chế kiểm soát các tài sản của nước ngoài (FACR), thực chất
là quy chế cấm vận buôn bán và tu chính án Jackson-Vanik, do Quốc hội thông
qua năm 1974
Chính sách cấm vận của Mỹ biểu hiện trên các mặt chủ yếu sau: 1)Cấm
quan hệ đi lại, giao lưu của công dân hai nước; 2) cấm các hoạt động kinh
doanh, buôn bán và đầu tư của doanh nhân hai nước; 3)Trừng phạt các công ty
nước thứ ba có quan hệ kinh doanh với Mỹ nhưng lại kinh doanh với Việt Nam;
13
4)Phong tỏa các tài sản của Việt Nam tại các ngân hàng Mỹ; và 5)Ngăn cản các
tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF, ADB cho Việt Nam vay vốn.
Với những chính sách như vậy, quan hệ thương mại Việt- Mỹ đã trải qua
một thời kỳ bế tắc, gây thiệt hại lớn cho cả hai phía. Trong đó, Việt Nam là
nước chịu thiệt thòi hơn, bởi ngoài Mỹ ra, các đồng minh và đối tác của Mỹ khi
quan hệ với Việt Nam buộc phải đặt lên bàn cân lợi ích khi lựa chọn giữa Mỹ
và Việt Nam. Hầu hết các trường hợp, thường Mỹ là đối tượng lựa chọn thương
mại của họ. Điều này đã ngăn cản mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam với
các nước, đặc biệt là các nước có thị trường lớn như Nhật bản, EU, ÚC, Cũng
như các nước ASEAN trước khi Việt Nam gia nhập khối kinh tế này
1.4 Quan hệ thương mại Việt – Mỹ. Thời kỳ từ 1994 đến nay
Trong giai đoạn này, quan hệ ngoại giao, kinh tế và thương mại giữa
Việt- Mỹ đã được chính thức thiết lập và có bước phát triển nhanh chóng. Động
thái mới này xuất phát từ các sức ép lợi ích và xu hướng mới diễn ra ở khu vực
Châu Á-Thái Bình Dương: Một là, sự bành chướng mạnh mẽ của của Nhật Bản
và NICs ở Châu Á cùng với sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc đã làm
cho Mỹ phải lo ngại và tìm cách củng cố vai trò của mình tại khu vực. Hai là,
chính sách mở cửa và đổi mới của Việt Nam đã làm cho lợi ích của cả hai phía
từng bước xích lại gần nhau. Mỹ kỳ vọng ở Việt Nam - một thành viên
ASEAN, đầy năng động và triển vọng phát triển – một thị trường rộng lớn với
hơn 80 triệu dân, giầu tài nguyên và giá công nhân rẻ. Ba là, chính sách của các
chính phủ Mỹ đã dựa trên nguyên tắc thực dụng, tức là đặt lợi ích của nước Mỹ
trước hết là lợi của các công ty Mỹ, lên trên hết. Không có lý gì để các công ty
của Mỹ đứng ngoài nhìn các công ty Nhật Bản, EU chiếm lĩnh và khai thác thị
trường Việt Nam trong khi Việt Nam không hề đe dọa lợi ích của nước Mỹ. Do
đó, việc không thiết lập quan hệ với Việt Nam, Mỹ đã tự làm giảm vai trò của
mình trong khu vực và ngăn cản các công ty Mỹ chiếm lĩnh các không gian lợi
ích chính đáng ở quốc gia giàu tiềm năng này.
Về phần mình, Việt Nam cũng mong muốn tiếp cận thị trường rộng lớn
của Mỹ, tiếp thu nguồn vốn đầu tư kỹ thuật, công nghệ nguồn, những kinh
nghiệm quản lý hiện đại của Mỹ. Hơn nữa, việc thiết lập quan hệ với Mỹ cũng
14
là một biện pháp thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế
giới và củng cố vị thế của quốc gia.
Với những lý do trên, việc bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ trở thành
nhu cầu từ cả hai phía và đã được hình thành ngay từ đầu năm 1990 với những
bước đi chậm chạp và thận trọng.
-Tháng 4/1991, chính quyền G.Bush đã đề ra lộ trình bốn bước nhằm tiến
tới bình thường hóa quan hệ hai nước.
-Tháng 2/1994, Tổng thống Bill Clinton đã bãi bỏ lệnh cấm vận đối với
Việt Nam, cho phép các doanh nghiệp Mỹ tiến hành các giao dịch tài chính,
thương mại đối với Việt Nam và cho phép thiết lập các văn phòng ngoại giao
tại Washington và Hà nội.
-Tháng 7/1995, Tổng Thống Bill Clinton đã thông báo hai nước sẽ thiết
lập quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ .
-Tháng 5/1996, Tổng Thống Bill Clinton đã tuyên bố chấn dứt quy chế
chiến sự đối với Việt Nam và chính thức đề nghị cử P. Petérson làm đại sứ Hoa
Kỳ đầu tiên tại Hà Nội.
- Tháng 3/1998, Tổng Thống Bill Clinton tuyên bố miễn áp dụng Tu
chính án Jackson – Vanik đối với Việt Nam. Quyết định này đồng nghĩa với
việc tạo điều kiện cho các cơ quan chính phủ như ngân hàng xuất nhập khẩu
(EXIMBANK), Công ty đầu tư tư nhân hải ngoại (OPIC), cơ quan phát triển
quốc tế (TDA)…được phép hoạt động và hỗ trợ cho các công ty Mỹ làm ăn tại
Việt Nam để thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước.
- Ngày 14/7/2000: tại Washington D.C, đại diện hai nước ký hiệp định
thương mại song phương sau nhiều vòng đàm phán.
Thượng viện Mỹ thông qua ngày 18/10/2001, được Tổng Thống Bush và
Chủ tịch nước Trần Đức Lương ký phê chuẩn ngày 7/12/2001.
- Từ ngày 16/đến ngày 19/11/2000, Tổng Thống Mỹ Bill Clinton thăm
chính thức Việt Nam.
- Ngày 10/12/2001, Bộ trưởng thương mại Việt Nam Vũ Khoan và đại
diện thương mại Mỹ Rober Zoellick trao đổi thư phê chuẩn của chính phủ hai
15
nước và hiệp định thương mại mở ra thời kỳ mới bình thường hóa hoàn toàn
quan hệ hai nước và đáp ứng nguyện vọng của cả hai phía .
- Từ 19đến 22/6/2005, Thủ Tướng Phan Văn Khải thăm Mỹ. Hai bên đã
ra Tuyên bố chung khẳng định mong muốn xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác
nhiều mặt, ổn định, lâu dài.
- Từ 17 đến 20/11/2006 : Tổng Thông Geroge W.Bush thăm chính thức
Việt Nam nhân dịp tham dự Hội nghị APEC.
1.5 Quan hệ thương mại Việt- Mỹ Sau khi Việt Nam gia nhập WTO
Quan hệ thương mại Việt- Mỹ thời kỳ này bước sang một giai đoạn phát
triển năng động chưa từng thấy trong quan hệ hai nước.
Sau hơn một thập kỷ, kề từ khi hai nước Việt – Mỹ thiết lập quan hệ
ngoại giao chính thức, đây là khoảng thời gian không dài so với thời gian hai
nước có những cọ sát tiếp xúc và hiểu biết về nhau trong lịch sử. Song đây là
thời kỳ phát triển nhanh chóng và khá năng động giữa hai quốc gia vốn ở hai
bên chiến tuyến.
Cả Việt Nam và Mỹ đều nỗ lực mở rộng quan hệ hợp tác trong nhiều lĩnh
vực: Từ những hợp tác nhỏ, bó hẹp trong những vấn đề nhân đạo, đã phát triển
sang những vấn đề y tế, giáo dục, chính trị, quốc phòng, chống khủng bố, ma
túy, tội phạm xuyên quốc gia và đặc biệt là quan hệ thương mại và đầu tư phát
triển vượt bậc.
Trong quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước, thương mại luôn là lĩnh vực
trọng tâm và cũng là lĩnh vực đạt nhiều kết quả tích cực nhất. Kể từ khi Hiệp
định Thương mại Việt – Mỹ được ký kết vào tháng 7/2000 và có hiệu lực vào
tháng 12/2001 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thúc đẩy quan hệ hợp
tác kinh tế - thương mại và đầu tư giữa hai nước liên tục phát triển đến các tầm
cao mới:
Kim ngạch buôn bán hai chiều năm 2005 đạt 8,7 tỷ USD, tăng gấp 5 lần
gấp 5 lần so với năm 2001 (1,5 tỷ USD). Tờ PRWEB đánh giá: Năm 2007, tổng
giá trị giao dịch thương mại song phương có thể đạt 12tỷ đô la, tăng gấp 7lần
kkể từ khi hiệp định Thương mại song phương Việt Nam –Mỹ có hiệu lực. Ông
Muessel chủ tịch phòng thương mại Mỹ tại Việt Nam nhấn mạnh: “Chúng tôi
16