Các biện pháp khơi tăng nguồn vốn cho doanh nghiệp việt nam

  • 22 trang
  • file .doc
LỜI NÓI ĐẦU
Theo quy định của pháp luật , một doang nghiệp muốn thành lập cần phải
có một số vốn ban đầu tối thiểu bằng vốn pháp định . tiếp sau đó doanh nghiệp
muốn tiến hành các hoạt động sản xuất –kinh doanh củng cần phỉa có vốn. Chỉ
với đôi lời ngắn gọn trên chúng ta cũng có thể nhận thấy được vai trò vô cùng
quan trọng của vốn đối với một doanh nghiệp. Nó là yếu tố không thể thiếu để
một doanh nghiệp được hình thành , là điều kiện tiền đề của sản xuất kinh
doanh, là yếu tố cơ bản để doanh nghiệp tồn tại, cạnh tranh
Nhưng vấn đề đặt ra là vốn của doanh nghiệp từ đâu mà có ? Doanh nghiệp
đã huy động từ những nguồn nào?Và doanh nghiệp nên sử dụng nguồn tài trợ
nào là hiệu quả hơn ? Kết hợp sử dụng các nguồn với tỷ lệ như thế nào cho phù
hợp ?
Trong phạm vi bài viết này bằng việc liệt kê các phương pháp , phân tích
các ưu nhược điểm , so sánh lợi ích khi sử dụng các nguồn tài trợ chúng ta sẽ lần
lượt giải quyết các vấn đề trên, đồng thời trong tình trạng thiếu vốn của doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay chúng ta cần phải đưa ra các biện pháp khơi thông
nguồn vốn trong các doanh nghiệp .
1
I.Nguồn vốn và vai trò của vốn đối với doanh nghiệp doanh nghiệp :
Trong mọi doanh nghiệp ,vốn đều bao gồm 2 bộ phận : vốn chủ sở hữu và vốn
nợ ,mỗi bộ phận này lại được cấu thành bởi nhiều khoản mục khác nhau tùy theo
tính chất của chúng .
1.Nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp :
Đối với mọi loại hình doanh nghiệp ,vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp gồm bộ
phận sau :
- Vốn góp ban đầu
- Lợi nhuận không chia .
- Các quỹ của doanh nghiệp
- Tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới
1.1.Vốn góp ban đầu :
Khi doanh nghiệp được thành lập thì bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có 1
số vốn ban đầu nhất định ,và vốn ban đầu này không được thấp hơn vốn pháp
định đối với loại hình doanh nghiệp mà nhà nước quy định cụ thế :
Đối với doanh nghiệp quốc daonh ,vốn pháp định là 1000 tỉ đồng .
Đối với công ty cổ phần : nông thôn là 5 tỉ đồng
Thành thị : 70% tỉ động
Vốn góp ban đầu được hình thành thế nào là tùy thuộc vào tính chất sở hữu của
loại hình doanh nghiệp : Đối với doanh nghiệp nhà nước vốn góp ban đầu chính
là vốn đầu tư của nhà nước , đồng thời chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước
chính là nhà nước .Trong công ty tư nhân thì vốn góp ban đầu do chính chủ công
ty bỏ ra .Đối với các công ty cổ phần là do cổ đông đóng góp và mỗi cổ đông là
1 chủ sở hữu công ty , họ chỉ trịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ
nắm giữ .Vốn góp ban đầu này được ghi trong điều lệ công ty do đó còn được
gọi là vốn điều lệ .Thông thường vốn điều lệ lớn hơn vốn pháp định ,nó có thể
tăng thêm trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp .Và 1 điều lưu ý là vốn
điều lệ không nhất thiết phải góp đủ khi quyết định thành lập doanh nghiệp , mà
có thể góp sau 1 thời gian .Nếu sau 1 thời gian mà không góp đủ thì phải ghi
giảm vốn điều lệ hoặc thay đổi hình thức doanh nghiệp .
1.2.Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia :
Quy mô vốn ban đầu của chủ doanh nghiệp là 1 yếu tố quan trọng , nó phản ánh
tiềm lực ban đầu của doanh nghiệp .Tuy nhiên thông thường số vốn này cần
được tăng cường theo quy mô .Trong quá trình hoạt động sản xuất - kinh
doanh ,nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì sẽ có điều kiện thuận lợi để
tăng trưởng nguồn vốn .Lợi nhuận sau thuế sẽ được chia làm 2 phần .
- Phần 1 : chia cho các cổ đông , trả lương cho nhân viên .
- Phần 2 : giữ lại để trích lập các quỹ và bổ sung vào vốn điều lệ
1.3.Các quỹ của doanh nghiệp :
Doanh nghiệp có thể có 1 số quỹ : Qũy thặng dư vốn ,quỹ dự phòng tổn thất …
khi các quỹ này nếu có thặng dư thì sẽ được tính bổ sung vào vốn chủ sở hữu
2
1.4.Phát hành cố phiếu :
Trong quá trình hoạt động sản xuất –kinh doanh , công ti cổ phần có thể tăng
vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới. Phát hành cổ phiếu được coi
là hoạt động tài trợ dài hạncủa doanh nghiệp . Công ti có thể phát hành các loại
cổ phiếu sau:cổ phiếu thường và cổ phhiếu ưu tiên
2. Vốn nợ
Để bổ sung vốn cho quá trìng sản xuất –kinh doanh , doanh nghiệp không thể
chỉ sử dụng vốn chủ sở hữu mà còn có thể sử dụng vốn nợ thông qua các
nguồn : tín dụng ngân hàng , tín dụng thương mại , vay thông qua phát hành trái
phiếu.
2.1.Vốn từ tín dụng ngân hàng :
Nguồn vốn vay từ ngân hàng là 1 trong những nguồn vốn quan trọng
nhất ,không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà còn đối
với toàn bộ nền kinh tế quốc dân .Các ngân hàng thương mại cung cấp rất nhiều
dịch vụ tài chính cho các doanh nghiệp ,trong có việc cung ứng các nguồn vốn .
Không 1 doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc không sử dụng tín
dụng thương maịi nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thị
trường .Doanh nghiệp vay vôn của ngân hàng để đảm bảo cho hoạt đông sản
xuất – kinh doanh ,để tài trợ cho các dự án của doanh nghiệp .
Xét về mặt thời hạn ,vốn vay ngân hàng có thể được phân loại theo thời hạn vay
bao gồm : Vay dài hạn ( > 5 năm ) , vay trung hạn ( 1- 5 năm ) , vay ngắn hạn
( < 1 năm ) .Tiêu chuẩn và quan niệm về thời gian để phân loại trong thực tế
không giống nhau giữa các nước và có thể khác nhau giữa các ngân hàng thương
maị .
Tùy theo tính chất và mục đích sử dụng ,ngân hàng cũng có thể phân loại cho
vay thành các loại như : Cho vay đầu tư tài sản cố định ,cho vay tài sản lưu đông
,cho vay để thực hiện dự án ,cho vay để tiêu dùng …Cũng có những cách phân
chia khác như : Cho vay theo ngành kinh tế ,theo lĩnh vực phục vụ ,hoặc hình
thức bảo đảm tiền vay .
2.2.Tín dụng thương mại :
Các doanh nghiệp cũng thường xuyên khai thác nguồn vốn tín dụng thương mại
hay còn gọi là tín dụng của người cung cấp .Nguồn vốn này hình thành 1 cách tự
nhiên trong quan hệ mua bán chịu ,mua bán trả chậm hay trả góp .Trong 1 số
doanh nghiệp ,nguồn vốn tín dụng thương mại dưới dạng các khoản phải trả có
thể chiếm tới 20% tổng nguồn vốn ,thậm chí có thể chiếm tới 40% tổng nguồn
vốn .
2.3.Một số nguồn tài trợ ngắn hạn không do vay mượn khác như :
Các khoản nợ tích lũy ,tiền đặt cọc của khách hàng .
2.3.1.Nợ tich lũy :
Các loại nợ tích lũy chủ yếu có :nợ lương của công nhân và nợ thuế của chính
phủ
3
Lương của công nhân thường được trả hàng tháng theo chế độ tạm ứng vào
giữa mỗi tháng và thanh toán váo đầu tháng sau .Giữa 2 kì trả lương sổ sách kế
toán của doanh nghiệp cho thấy những khoản nợ lương trong kì .
Doanh nghiệp nộp thuế doanh thu túy theo mức doanh thu hàng tháng và nộp
thuế lợi tức năm truớc vào đầu năm sau sau khi đã được duyệt quyết toán .
Các khoản nợ tích lũy này tự phát thay đổi cùng với các hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp .Khi doanh nghiệp mở rộng hoạt động ,các khoản nợ này
cũng tự động tăng và khi thu hẹp sản xuất chúng cũng giảm theo .
2.3.2.Tiền đặt cọc của khách hàng :
Đây cũng là 1 nguồn tài trợ ngắn hạn “ tự động ” khi doanh nghiệp mở rộng sản
xuất, số lượng khách tăng ,làm tăng các khoản tiền đặtt cọc , và khi thu hẹp sản
xuất thìh các khoản tiền này cũng giảm theo
2.4 Phát hành trái phiéu công ty
Trái phiếu là một tên chung của các giấy vay nợ dài hạn và trung hạn . Trái
phiếu có thể do chính phủ hay công ty phát hành. Nếu do chính phủ phát hành
thì gọi là trái phiếu chính phủ còn nếu do công ti phát hành thì gọi là trái phiếu
công ti .Thời hạn phổ biến của các loại trái phiếu làcác loại 1năm ,
3năm,5năm,10năm rất ít công ti phát hành trái phiếu có kì hạn tới 20 năm.Trong
phần này chùng ta chỉ xem xét trái phiếu cua công ti trên một số khía cạnh cơ
bản .
Một trong những vấn đề cần được xem xét trước khi phàt hành làlựa chọn loại
trái phiếu nào phù hợp với điều kiện của công ti và tình hình trên thị trường tài
chính.vd:sẽ phát hành trai phiếu với thời hạn và lãi suất bao nnhiêu cho thích
hợp. Việc làm này rất quan trọng vì nó liên quan đến việc hấp dẫn của trái phiếu,
khả năng lưu hành.Trước khi phát hành cần hiểu rõ đặc điểm và ưu nhược điểm
của mỗi loại trái phiếu .Trên thị trường nhiều nước hiện nay thường lưu hành
nhiều loại trái phiếu công ti sau;
2.4.1Trái phiếu có lãi suất cố định
Laọi trái phiều này thường được sử dụng phổ biến , cho nên khi nói đến trái
phiếu công tin gười ta thường hiểu là trái có lãi suất cố định. Lãi suất được ghi
ngay trên mặt trái phiếu và không thăy đổi trong suốt kì hạn của nó . Như vậy cả
công ti (người đi vay) và người sở hữu trái phiếu (người cho vay) đều biết rõ
mức lãi suất của kghoản nợn trong suốt thời gian tồn tại của trái phiếu . Cách
thức thanh toán lãi của trái phiếu cũng thường được quy định rõ . vd: trả 2 lần
trên năm vào ngày 30/6 và 31/12 hoặc trả 1 năm một lần vào đầu năm hoặc cuối
năm . Trái phiếu thường hấp dẫn người đầu tư không ưa mạo hiêm vì giá trái
phiếu không biến động nên xuống nhiều như khi mua cổ phiếu .
Để huy động vốn trên thị trường bằng trái phiếu phải tính đến mức độ hấp dẫn
của trái phiếu . Tính hấp dẫn phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Thứ nhất :lãi suất của trái phiếu
Nói đến vấn đề lãi suất thì có sự đối lập về lợi ích giữa công ty phát hành và
công chúng đầu tư .Đương nhiên công chúng đầu tư muốn mua trái phiếu có lãi
suất cao còn công ty phát hành thì lại ngược lại ,muốn phát hành trái phiếi có lãi
4
suất thấp để giảm chi phí sử dụng vốn .Vì vậy để trung hòa 2 nhu cầu trên thì
buộc công ty phát hành phải cân nhắc lãi suất có thể chấp nhận được đối với trái
phiếu của họ chứ không thể trả quá cao hay quá thấp cho nhà đầu tư .
Laĩ suất của trái phiếu phải được đặt ra trong mối tương quan so sánh với lãi
suất trên thị trường vốn ,đặc biệt phải tính đến sự cạnh tranh với trái phiếu của
các công ty khác và trái phiếu chính phủ .Gỉa sử tại 1 thời điểm trái phiếu chính
phủ kì hạn 10 năm có lãi suất 8% /năm ,trái phiếu trung bình của 1 số công ty
khác có cùng kì hạn là 9% /năm .tuy nhiên 1 khía cạnh khác cần được quan tâm
là công ty có gánh nổi chi phí lãi vay này hay không ? Ngoìa ra nếu đưa thêm
yếu tố khuyến khích vào trái phiếu thì có thể không cần nâng cao mức lãi suất .
Thứ hai : Kì hạn của trái phiếu ;
Đây cũng là 1 yếu tố quan trọng khi cân nhắc phát hành trái phiếu của công
ty .Nếu thời hạn quá dài sẽ không hấp dẫn công chúng đầu tư vì thời hạn càng
dài thì rủi ro càng cao .Mặt khác thời hạn càng dài thì lãi suất trái phiếu cũng
càng cao .
Thứ ba : Uy tín tài chính của của công ty và mức độ rủi ro :
Mức độ thuận lợi và tính hấp dẫn của trái phiếu công ty luôn luôn phụ thuộc
vào uy tín của công ty nhất là độ tin cậy về tài chính .Nếu công ty có uy tín lớn ,
tiềm lực tài chính mạnh thì tính thanh khoản của trái phiếu trên thị trường chứng
khoán sẽ cao hơn do nhà đầu tư phải đánh giá uy tín của doanh nghiệp thì mới
quyết định mua hay không mua .Các doanh nghiệp có uy tín và vững mạnh thì
dễ dàng hơn trong việc phát hành trái phiếu ra công chúng .VD :Khi các công ty
lơn như công ty sữa Vinamilk ,công ty bánh Kinh Đô ,Hải Hà phát hành trái
phiếu huy động vốn thì sẽ dề dàng hơn các công ty nhỏ vì đây là các công ty
lớn , khi nhắc đến ai cũng biết do đó họ tin tưởng hơn vào khả năng trả nợ của
công ty .
Ngoài ra khi phát hành trái phiếu ,cũng cần chú ý đên mệnh giá của trái phiều vì
nó liên quan đến sức mua của dân chúng đặc biệt ở Việt Nam khi phát hành trái
phiếu ,doanh nghiệp cần xác điịnh 1 mức mệnh giá thích hợp để nhiều người có
thể mua được ,tạo ra sự lưu thông dễ dàng của trái phiếu trên thị trường .Nếu
mệnh giá quá lớn sẽ ít có công chúng có khả năng mua ,chỉ đa phần các nhà đầu
tư lớn mua ,như vậy tính thanh khoản trên thị trường sẽ rất kém .
2.4.2.Trái phiếu có lãi suất thay đổi :
Loại trái phiếu này không phải là phổ biến đối với trái phiếu .Gọi là trái phiếu
có lãi suất thay đổi là do lãi suất của nó phụ thuộc vào 1 số yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến lãi suất trên thị trường tài chính quốc tế .VD :Lãi suất LIRBOR (
London Interbank Offered Rate ) hoặc lãi suất cơ bản do ngân hàng TW quy
định .Có trường hợp lãi suất thông báo của 1 trái phiếu được ấn định như sau : i
= LIBOR + 1%/năm .
Một vấn đề đặt ra là đối với trái phiếu thả nổi thì sao ? Khi nào thì doanh
nghiệp nên phát hành loại trái phiếu này ? Trong diều kiện có mức lạm phát khá
cao và lãi suất thị trường không ổn định ,doanh nghiệp có thể khai thác tính ưu
việt của loại trái phiếu này .Do các biến động của lạm phát kéo theo sự giao
5
động của lãi suất thực ,các nhà đầu tư mong muốn được hưởng một mức lãi suất
thỏa đáng khi so sánh với tình hình thị trường .
VD : Khi mức lạm phát tăng nhanh và ở mức cao ,nếu lãi suất trái phiếu giữ ở
mức cố định thì lãi suất thực tế của trái phiếu giảm xuống do đó giảm hấp
dẫn .Vì vậy mà một số người ưa thích trài phiếu thả nổi .Tuy nhiên loại trái
phiếu này có một vài nhược điểm ,đó là : Doanh nghiệp không biết trước được
về chi phí lãi vay của trái phiếu ,điều này gây khó khăn 1 phần cho việc lập kế
hoạch tài chính của công ty .
Thứ hai:việc quản lí trái phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn và phức tạp
hơn do phải theo dõi và thông báo cáclần điều chỉnh lãi suất cho người mua cổ
phiếu .
2.4.3 Trái phiếu có thể thu hồi
Một số doanh nghiệp lựa chọn việc phát hành các trái phiếu có thể thu hồi
, tức là doanh nghiệp có thể thu hồi vào một thời điểm nào đó . Trái phiếu như
vậy phải được quy định ngay khi phát hành trái phiếu để người mua trái phiếu
được biết. Doanh nghiệp phải quy định rõ thời hạn thu hồi và giá cả khi doanh
nghiệp chuộc lại trái phiếu . Thông thường người ta quy định thời gian tối thiểu
mà trái phiếu sẽ bị thu hồi , vd trong thời gian 36 tháng
Loại trai phiếu này có những ưu điểm là :
Thứ nhất : có thể sử dụng như một cách điều chỉnh vốn sử dụng . Khi không cần
thiết , công ti có thể mua lại các trai phiếu , tức là giảm số vốn vay .
Thứ hai : công ti có thể thay trái phiếu loại này bằng nguồng tài chính khác
bằng cách mua lại các trái phiếu đó . Tuy nhiên nếu không có những hấp dẫn
nào đó thì loại trái phiếu này sẽ không được ưu thích vì số vốn của họ sẽ bị biến
động , họ sẽ phải chuyển hướng đầu tư khi mà bỗng nhiên doanh nghiệp mua lại
trái phiếu
2.4.4 .Chứng khoán có thể chuyển đổi :
Các doanh nghiệp đặc biệt là các công ti mỹ , thường phát hành những
chứng khoán kèm theo những điều kiện có thể chuyển đổi được . Nói chung , sự
chuyển đổi và lựa chọn cho phép các bên (doanh nghiệp , người đầu tư )có thể
lựa chọn cách thức đầu tư có lợi và thích hợp . Có một số hình thức chuyển đổi ,
ở đây chỉ đề cập hai loại phổ biến :
Giấy bảo đảm :người sở hữu giấy bảo đảm có thể mua một số lượng cổ
phiếu thường , được quy định với giá cả và thời gian xác định
Trái phiếu chuyuển đổi : là loại trái phiếu cho phép sau một thời gian nhất
định có thể chuyển đổi thành một số lượng nhất định cổ phiếu thường . Nếu thị
giá cổ phiếu tăng lên thì người giữ trái phiếu có cơmay nhận được lợi nhuận cao
do đó loại trái phiếu này có thể hấp dẫn
2.5 Vốn vay của nước ngoài hay hình thành liên doanh với nước ngoài
Khhi một doanh nghiệp cần vốn thì một biện pháp có thể thực hiện là liên doanh
với nước ngoài . Khi đó doanh nghiệp sẽ nhận được vốn và kĩ thuật từ phía nước
ngoài . Bên chúng ta đa phần là góp quyền sử dụng đất , lựng vốn bỏ ra thường
là ít . Hoặc là có thể vay của các tổ chức quốc tế , các nguồn như ODA, FDI….
6
II/ Ưu điểm và nhược điểm khi sử dụng các nguồn vồn nói trên
1. Nguồn vốn chủ sở hữu
1.1Vốn tự có của doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp nhà nước thì vốn góp ban đầu do nhà nước cấp từ
ngân sách nhà nước , được cấp đất xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh . Tuy
nhiên phải nhình nhận thực tế Việt Nam là ngân sách rất hạn chế . Thường
xuyên bị thâm hụt ngan sách , do đó việc doanh nghiệp chờ được cấp vốn là
rất khó khăn , số lượng hạn chế . HiỆN tại doanh nghiệp nhà nước đang dần
được cổ phần hóa , số lượng doanh nghiệp nhà nước còn lại không nhiều và
thực tế việc sử dụng vốn của nhà nước của các doanh nghiệp này là không
hiệu quả . Lợi nhuận các doanh nghiệp này là không cao , thậm chí còn bị
thua lỗ trong thời gian dài . Trong giai đoạn hiện nay thì nguồn tài trợ này là
khkông hiệu quả, do đó đây không phải là nguồn tài trợ tối ưu , nguồn này
chỉ có hiệu quả trong cơ chế bao cấp trước đây
Với công ti tư nhân thì vốn góp ban đầu do chủ công ti bỏ ra . Do đó
lượng vốn này thường không lớn lắm .
1.2Nguồn vốn bổ sung từ lợi nhuận không chia
Tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ là con đường tốt nhất và khá hấp dẫn
của doanh nghiệp . Vì doanh ngghiệp giảm được chi phí, giảm bớt sự phụ
thuộc vào bên ngoài . Rất nhiều doanh nghiệp coi trọng chính sách tái đầu tư
từ lợi nhuận để lại , họ đặt ra phải có một khối lượng lợi nhuận để lại đủ lớn
nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng .
Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được nếu
như doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận , đuợc phép đầu tư .
Đối với doanh nghiệp nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc không chỉ vào
khả năng sinh lợi của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính
sách khuyến khích tái đầu tư của nhà nước
Tuy nhiên , đối với các công ti cổ phần thì việc để lại lợi nhuận còn liên
quan đến một số yếy tố rất nhạy cảm . Khi công ty quyết định để lại một
phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư , tức là không dùng đến số lợi nhuận
đó , không dùng để chia lãi cổ phần (lợi tức) hoặc mức cổ tức bị giảm , như
vậy ảnh hưởng đến quyền lợi hiện tại của cổ đông do đó cần phải giữ một tỉ
lệ thích hợp . Nhưng bù lại họ lại có quyên sở hữu số vốn cổ phần tăng lên
của công ti mà họ không cần phải góp thêm
Như vậy giá tự ghi dổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cung với việc tự tài
trợ bằng nguồn vốn nội bộ . Điều này một mặt khuyến khích cổ đông giữ cổ
phiếu lâu dài , nhưng mặt khác dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong
thời ki trước mắt (ngắn hạn)do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ
hơn. Nếu tỉ lệ chi trả cổ tức thấp , hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá
cổ phiếu có thể bị giảm sút
Khi giải quyết vấn đề cổ tức và tái đầu tư , chính sách phân phối của
công ti cổ phần phải lưu ý đến một số yếu tố có liên quan như:
7
- tổng số lợi nhuận ròng trong kì
- mức chia lãi trên một cổ phiếu các năm trước
- sự xếp hạng của cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ
phiếu của công ti , tâm lí va đánh giá của công chúng về cổ phiếu đó
- hiệu quả của việc tái đầu tư
1.3Tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu mới(cổ phần hóa)
Để huy động vốn kinh doanh có thể bán số lượng cổ phiếu cho người mua
(cổ đông)tùy theo số vốn cần có . Nếu chỉ bán cho vài người thi thủ tục đơn
giản dễ dàng , không phải đăng kí cổ phiếú . Có hai loại cổ phiếu :cổ phiếu
thường và cổ phiếu ưu tiên
1.3.1 Cổ phiếu thường:
Là loại cổ phiếu thông dụng nhất vì nố có ưu thế trong việc phát hành ra
công chúng .và trong quá trình lưu hành trên thị trường chứng khoán. Cổ
phiếu thường là chứng khoán quan trọng nhất được lưu hành trên thị trường
chứng khoán , điều đó cũng đủ minh chứng sự quan trong của nó so vói các
công cụ tài chính khác . Việc chuyển nhượng cổ phiếu dễ dàng là một cách
thu hút người mua , thu hút các nhà đầu tư trước các hình thức đầu tư rất khó
chuyển nhượng vốn đầu tư
Việc huy động vốn theo hình thức phát hành cổ phiếu đang được ưa
chuộng nhất hiện nay , và đây cũng là phương thức huy động vốn tối ưu nhất
. Chúng ta nên chọn nguồn này . Chúng ta thấy các luồng truyền thông đại
chúng không ngừng ca ngợi tán dương tác dụng việc huy động vốn qua phát
hành cổ phiếu trong việc khởi sự kinh doanh cũng như lúc cân tăng cường
vốn để đẩy mạnh hoạt động nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Vậy tại sao nguồn vốn cổ phần lại có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư
như vậy ? Lí do chính là nó khiến cho doanh nghiệp có cảm giác “thoải mái”
được sử dụng một lượng vốn “miễn phí”. Bởi vì doanh nghiệp không có
trách nhiệm phải hoàn lại tiền vốn gốc và khoản lãi suất cho người đầu
tưmua cổ phiếu . Lợi tức cổ phiếu (cổ tức )chỉ phải chi trả khi công ti làm ăn
có lãi . Ngược lại nếu công ti làm ăn thua lỗ hoặc chưa có lãi công ti không
có trách nhiệm hoàn trả ( đương nhiên , việc làm ăn của doanh nghiệp phải
minh bạch , công khai )
Việc thiết lập doanh nghiệp theo mô hình công ti cổ phần hoặc chuyỷen đổi
hình thành doanh nghiệp sang loại hình công ti cổ phần là việc làm được nhà
nước khuyến khích . Vì đây là một loại hình doanh nghiệp có tổ chhức quản
trị hệ thống và hiệu quả và các nhà đầu tư kinh doanh trên thế giới rất ưa
chuộng công ti cổ phần có điều kiện tham gia thị trường chứng khoán do đó
góp phần phát triển thị trường vốn . Tuy nhiên vẫn có những doanh nghiệp
chưa hoàn toàn thích thú với loại công ti cổ phần do việc huy động vốn bằng
phát hành cổ phiếu vẫn còn có những hạn chế và các dàng buộc cần được
doanh nghiệp cân nhắc kĩ lưỡng . Giới hạn phát hành quy định dàng buộc có
tính chất pháp lí . Lượng cổ phiếu tối đa mà công ti được quyền phát hành
8
gọi là vốn cổ phiếu được cấp phép . Đây là một trong nhhững quy định của
ủy ban chứng khoán nhà nước nhằm quản lý và kiểm soát chặt chẽ các hoạt
động phát và giao dịch chứng khoán . Tại nhiều nước , số cổ phiếu dược
phép phát hành dược ghi trong điều lệ của công ti , tuy nhiên một số nước
khác không quy định ghi số lượng đó trong điều lệ công ti . Muốn tăng vốn
cổ phần thì trước hết phải được đại đa số cổ đông cho phép , sau đó phải
hoàn tất những thủ tục quy định khác
Hầu hết các nước đều sử dụng giới hạn phát hành như một công cụ quan
trọng để kiểm soát và hạn chế các rủi do cho công chúng . Thông thường một
công ti có thể phát hành một lần hay một số lần trong giới hạn số cổ phiếu đã
được cấp phép phát hành . VD: công ti X được phép phát hành 100 triệu cổ
phiếu giả sử năm nay đã phát hết 40 triệu cổ phiếu thì đương nhiên công ti
còn được phép phát hành 60 triệu cổ phiếu
Tuy nhiên , trên thực tế việc quản lý và kiểm soát quá trình phát hành
chứng khoán tùy thuộc vào chính sách cụ thể của nhà nước . Ở Việt Nam
hiện nay , hệ thống văn bản pháp quy về chứng khoán mới được xây dựng và
đang trong quá trình hoàn thhiện đẻ tạo điều kiện tốt hơn cho việc hoạt động
huy động vốn của doanh nghgiệp và lưu chuyển vốn trong nền kinh tế
Sau khi phát hành phần lớn cổ phiếu nằm trong tay các nhà đầu tư –các
cổ đông . Những cổ phiếu này được gọi là những cổ phiếu đang lưu hành trên
thị trường . Tuy nhiên , có thể chính công ti phát hành mua lại một số cổ
phiếu của mình nhằm mục đích nào đó . Những cổ phiếu được công ti mua
lại như vậy gọi là cổ phiếu quỹ . Những cổ phiếu này được tạm thời coi như
không lưu hành . Việc mua lại hoặc bán ra các cổ phiếu này phụ thuộc một số
yếu tố như:
- tình hình cân đối vốn và khả năng đầu tư
- tình hình biến động thị giá chứng khoán trên thị trường
- chính sách đối với việc sáp nhập hay thôn tính công ty
- tình hình trên thị trường chứng khoán và quy định của ủy ban chứng
khoán nhà nuớc
- mệnh giá và thị giá
Gía trị ghi trên mặt cổ phiếu gọi là mệnh giá , giá cả của cổ phiếu trên thị
trường gọi là thị giá . Gía trị cổ phiếu được ghih trong sổ sách của công ty
gọi là giá trị ghi sổ , đó cũng chính là mệnh giá của các cổ phiếu đã phát
hành
Mệnh giá không chỉ được ghi trên mặt cổ phiếu mà còn được ghi rõ trong
giấy phép phát hành và trên sổ sách kế toán của công ty . Tuy nhiên , mệnh
giá chỉ có ý ngghĩa khi phát hành cổ phiếu và sau thời gian ngắn sau khi cổ
phiếu được phát hành . Thị giá phản ánh sự đánh giá của thị trường đối với
cổ phiếu , phản ánh lòng tin của các nhà đầu tư đối với công ty
Vậy cổ đông có quền hạn gì ?Các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường
chính là những người sở hữu công ty , do đó họ có quyền trước hết với tài
sản và sự phân chia tài sản hay thu nhập của công ty . Cổ đông có quyền
9
tham gia vào kiểm soát và điều khiển các công việc của công ty . Tuy nhiên
thông thường có một lượng cổ đông của công ty, nên mỗi cổ đông chỉ có một
quyền lực giới hạn nhất định trong việc bỏ phiếu hay chỉ định thành viên của
ban giám đốc . Một số công nhân viên hay một số vấn đề đặc biệt cần có sự
nhất chí của đa số cổ đông
Tùy theo việc quy định trong điều lệ công ty có thể hình thành các
phương thức bỏ phiếu khác nhau . Hai phương pháp được sử dụng rộng dãi
nhất là bỏ phiếu theo đa số và bỏ phiếu gộp
Bỏ phiếu theo đa số là việc cổ đông có thể dùng mỗi lá phiếu đẻ bầu một
người quản lý , các chức danh sẽ được bầu riêng rẽ . Điều này rõ ràng có lợi
cho những người đang nắm đa số cổ phiếu của công ty vì: họ có thể tạo áp
lực mạnh hơn bằng đa số cổ phiếu nắm giữ
Cơ chế bỏ phiếu gộp cho phép cùng bỏ phiếu cho một số ứng cử viên
nào đó , tức là một cổ đông có thể dồn toàn bộ số phiếu có trong tay cho một
ứng cử viên được ưa chuộng . Đây là lý do tại sao một số các cổ đông thiểu
số ủng hộ cơ chế bỏ phiếu gộp
Trong điều lệ công ty , có quy định rõ về phạm vi những sự vụ cần đa số
(trên 50%trở lên ) cổ đông tán thành và những vấn đề cần được đa số (trên
75%) cổ đông tán thành
Vấn đề chống thôn tính , bảo vệ công ty trước sự xâm thực bằng cổ
phiếu của các công ty khác là một khía cạnh đặc biệt . Huy động vốn qua
phát hành cổ phiếu phải xét đến nguy cơ bị thôn tính . Do đó phải xét đến tỷ
lệ cổ phần tối thiểu cần duy trì quyền kiểm soát của công ty
1.3.2 Cổ phiếu ưu tiên
Cổ phiếu ưu tiên thường chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ
phiếu được phát hành . Tuy nhiên , trong một số trường hợp , việc dùng cổ
phiếu ưu tiên là thích hợp . Cổ phiếu ưu tiên có đặc điểm là nó thường có cổ
tức cố định . Người chủ cổ phiếu này có quyền được thanh toán lãi trước các
cổ đông thường . Nếu số lãi chỉ đủ để trả cho số cổ tức cho các cổ đôngưu
tiên thì các cổ đông thường sẽ không được nhận cổ tức của kỳ đó . Việc giải
quyết chính sách được ghi rõ trong điều lệ công ty.
Phần lớn cá công ty cổ phần quy định rõ :công ty có nghĩa vụ trả hết số lợi
tức chưa thanh toán của các kì trước cho cổ đông ưu tiên , sau đó mới thanh
toán cho các cổ đông thường .
Các cổ phiếu ưu đãi cố thể được chính công ty phát hành thu hồi lại
(chuộc lại ) khi công ty cần thiết . Những trường hợp nhưvậy cần quy định rõ
những điểm sau :
- trường hợp nào thì công ty có thể mua lại cổ phiếu
- giá cả khi công ty mua cổ phiêu
- thời hạn tối thiểu được phép mua lại cổ phiếu (VD5 năm )
Trong thực tế ở một số nước như Mỹ chẳng hạn , rất hiếm khi cổ đông ưu
tiên có quyền bỏ phiếu một cách đầy đủ . Tuy nhiên nếu có ít nhất 2/3 cổ
đông ưu tiên nhất trí về một vấn đề nào đó thì ban lãnh đạo công ty phải xem
10
xét ý kiến của họ . Nếu cá cổ phiếu ưu tiên không được trả cổ tức thì các cổ
đông của những cổ phiếu đó có thể được quyền bỏ phiếu
Một vấn đề rấ quan trọng khi phát hành cổ phiêu ưu tiên đó là thuế . Khác
với chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập công ty , cổ tức được
lấy từ lợi nhuận sau thuế . Đó là hạn chế của cổ phiếu ưu tiên . Mặc dù vậy
như đã đề cập cổ phiếu ưu tiên vẫn cố những ưu điểm với công ty phát hành
và cả nhà đầu tư .
Khi nào các hãng phát hành và thu hồi cổ phiếu ?Để trả lời câu hỏi này
cần xem xét những khía cạnh sau:
Các hãng thường cố cân bằng giữa nợ và vốn chủ sở hữu , để giữ vững
khả năng thanh toán , củng cố uy tín tài chính . Khi tỉ lệ nợ ở mức thấp , nếu
cần vốn thì các công ty thường chọn cách phát hành trái phiếu tức là tăng nợ
(mà không tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu). Nếu tỉ lệ nợ ở mức cao
công ty phải tránh tăng tỷ lệ nợ và chon cách phát hành cổ phiêu
Tuy nhiên , thực tế các công ty không quan tâm nhiều đến giữ một mức
cânn bằng chính xác . Việc điều chỉnh vốn chủ sở hữu và vốn nợ thường
ngẫu hứng và theo kiểu linh hoạt” tùy cơ ứng biến”
Sự phản ứng trước các biến động của thị trường chứng khoán là một yếu
tố đáng chú ý .
Một số nhà phân tích tài chính doanh nghiệp đả dưa ra một số nhận xét
sau :
Phần lớn các cổ phiếu được phát hành bổ xung sau khi thị giá của cổ
phiếu của công ty đó tăng lên trên thị trường chứng khoán
Giá cổ phiếu tăng lên là một cơ hội có nhiều cơ hội đầu tư mở rộng vào
những dự án có triển vọng trong doanh nghiệp
Tuy nhiên , người ta chưa lí giải được một cách tường tận vì sao trên
thực tế các công ty thường chọn việc phát hành cổ phiếu sau khi giá cổ phiếu
tăng . Một số nguyên nhân có thể là những yếu tố sau đây :
- do đòi hỏi cân bằng tỉ lệ nợ (như nói ở trên )
- do tỷ lệ P/E ở mức cao , tức là thị giá cổ phiêu tăng mạnh hơn tốc độ tăng
của tỉ suất lợi nhuận ròng
- do yếu tố tâm lý của công chúng và các nhà đầu tư trên thị trường
Ngoài ra , vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có thể được bổ xung từ phần
chênh lệch giá lại TSCĐ , chênh lệch tỉ giá
2 Vốn nợ
2.1 Nguuồn vốn tín dụng ngân hàng
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng luôn chiếm tỉ lệ lớn trong tổng nguồn vốn
của doanh nghiệp . Nó có rất nhiều ưu điểm . Khi có đủ điều kiện để vay thì
doanh nghiệp sẽ được cấp ngay tín dụng đêt đáp ứng nhu cầu với nhiều hình
thức như :cho vay ngắn hạn , dài hạn , trung hạn, với nhiều mức lãi suất và
cách thức thanh toán khác nhau . Tuy nhiên , bản thân việc vay vốn không
phải lúc nào cũng là thượng sách . Do khi vay ngân hàng doanh nghiệp phải
11
chịu chi phí sử dụng vốn (lãi suất )và các hạn chế về điều kiện tín dụng ,
kiểm soát của ngân hàng
Điều kiện tín dụng :
Các doanh nghiệp muốn vay tại các ngân hàng thương mại cần đảm bảo
các yêu câu bảo đảm an toàn tín dụng của ngân hàng . Doanh nghiệp phải
xuất trình hồ sơ vay vốn và các thông tin cần thiết mà ngân hàng yêu cầu .
Trước tiên ngân hàng phải phân tích hồ sơ vay vốn , đánh giá các thông tin
liên quan đén dự án đầu tư hoặc kế hoạch sản xuât- kinh doanh của doanh
nghiệp vay vốn
Điêu kiện bảo đảm tiền vay :
Khi doanh nghgiệp vay vốn nói chung các ngân hàng thường yêu cầu
doanh nghiệp đi vay phải có các bảo đảm tiền vay, phổ biến nhất là tài sản
thuế chấp . Việc yêu cầu người vay có tài sản thuế châp trong nhiều trường
hợp làm cho bên đi vay không thể đáp ứng được các điều kiện vay , kể cả
những thủ tục pháp lí về giấy tờ …Đây là một dào cản vì rất nhiều trường
hợp doanh nghiệp có dự án sản xuất- kinh doanh rất khả thi , khả năng thành
công mang lại lợi nhuận là rất lớn nhưng hiện tai doanh nghiệp không đủ tài
sản đẻ thuế chấp vay ngân hàng . Đây là vấn đề doanh nghiệp cần tính đến
khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng
Sự kiểm soát của ngân hàng :
Một khi doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thì doanh nghiệp cũng phải
chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích và tình hình sử dụng vốn vay .
Nói chung sự kiểm soát này không gây khó khăn cho doanh nghiệp , tuy
nhiên trong một số trường hợp cũng làm cho doanh nghiệp có cảm giác bị
“kiểm soát”
Lãi suất vay vốn :
Lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn . Lãi suất vay vốn tùy
thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong từng thời kì . nếu lãi suất
vay quá cao thì doanh nghiệp sẽ phai chịu chi phí sử dụng vốn lớn và làm
giảm thu nhập của doanh nghiệp . Có thời kì lãi suất vay vốn ở nước ta khá
cao và thiếu tính cạnh trannh do đó không tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp mở rộng sản xuất-kinh doanh
Mặt khác lãi suất vay vốn được tính vào chi phí tài chính do đó ảnh
hưởng tới lợi nhuận trước thuế . Do đó tiết kiệm được thuế. Đây là một ưu
điểm so vơi việc sử dụng vốn chủ sở hữu được tính vào lợi nhuận sau thuế
3.Nguồn vốn tín dụng thương mại
Đối với doanh nghiệp được tài trợ bằng nguồn vốn tín dụng thương mại là
một phương thức rẻ , linh hoạt và tiện dụng trong kinh doanh . Hơn nữa nó
còn tạo ra khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu
bền . Các điều kiện ràng buộc cụ thể có thể được ấn định khi hai bên kí hợp
đồng kinh doanh hay hợp đồng kinh tế nói chung . Đây là nguồn tài trợ ngắn
12
hạn quan trọng đối với hầu như tâts cả các doanh nghiệp và đối với các công
ty thương mại , nó là nguồn tài trợ ngắn hạn lớn nhất
Tuy nhiên cần nhận thấy tính chất rủi do của quan hệ tín dụng thương mại
khi quy mô tài trợ quá lớn
Mức độ sử dụng tín dụng thương mại của một doanh nghiệp tùy vào chi phí
của khoản tín dụng đó . Trong nhiều trường hợp chi phí sử dụng khá
caoVDmột dao dịch tín dụng thương mại quy định hình thức thanh toán
“2/10net30”tức là nhà thanh toán ssẽ triết khấu 2% trên giá trị của hóa đơn
mua hàng nếu người mua trả tiền trong 10 ngày kể từ ngày giao hàng . Nếu
người mua trả tiền trong khoảng thời gian 20 ngày , tức là từ ngày thứ 11 đến
ngày thứ 30kể từ ngày giao hàng thì phải thanh toán toàn bộ hóa đơn . Trong
trường hợp này người mua đã mất khoản chiết khấu mà có thể coi mhư là chi
phí cơ hội mà doanh nghiệp phải trả để được sử dụng khoản tiền hàng trong
thời gian 20 ngày
Chẳng hạn , với giá trị mua hàng là 100 ÚD thì với những điều kiện như
trên người mua hàng chỉ phải trả 98 ÚD nếu trả trong thời hạn 10 ngày và trả
100ÚD nêu trả trong thời hạn từ 20-30 ngày .Tỉ lệ chiết khấu sẽ là
2/98=0,204 hay 2,04%tiền lãi trong thời gian 20 ngày . Do đó chúng ta có thể
tính được lãi suất đơn trobg thời hạn một năm như
sau :2,04%x360/20=36,7%
Và nếu tính theo lãi suất kép thì còn cao hơn :
(1+0,204)^18-1=48,3%
Tóm lại , chi phhí của tín dụng thương mại là chi phí mà khi người mua
không thanh toán được tiền trong thời hạn được hưởng triết khấu và có thể
tính chi phí của nó như sau:
Tỉ lệ chi phí =(tỉ lệ chiết khấu / (100-tỉ lệ chiết khấu))x(360 / (số ngày thu
mua –thời gian được hưởng triết khấu))
Trong những điều kiện này nếu doanh nghiệp muốn hưởng chiết khấu thì
nên thanh toán vào ngày thứ 10 , và nếu không đủ khả năng thì nên để hết
hạn của hóa đơn mới thanh toán là có lợi nhât . Bởi trong thời gian từ ngày
thứ 11 đền ngày thứ 30 doanh nghiệp không phải trả thêm bất cứ khoản chi
phí nào .
Một trường hợp khác nữa có thể xảy ra là doanh nghiệp chủ động không
thanh toán đúng hạn thì chi phí sẽ thế nào ?
Nhà quản trị tài chính có thể” tận dụng” tín dụng thương mại bằng cách
trì hoãn việc thanh toán các khoản tiền mua trả chậm vượt quá thời hạn phải
trả . Khi điều đó được áp dụng trong thực tế thì chi phí của tín dụng thương
mại giảm , thực tế náy được minh họa trong bảng sau :
13
Số ngày từ khi Số ngày từ Điều kiện tín dụng
có hóa đơn cho hoãn thanh
đến khi trả tiền toán 1/10 net 30 2/10 net 30 3/10 net 30
30 0 18,2% 36,7% 55,7%
45 15 10,4% 21% 31,8%
60 30 7,3% 14,7% 22,3%
90 60 4,5% 9,2% 13,9%
Nguyên nhân làm giảm chi phí là do doanh nghiệp từ bỏ khoản tiền chiết
khấu để trả cho việc sử dụng nguồn ngân quỹ đó trong khoảng thời gian dài
hơn những điều kiện tín dụng đã được quy định trong thỏa thuận mua bán .
Không có nhà cung cấp nào lại áp dụng những biện pháp xiết chặt hay phạt
vạ khách hàng trong trường hợp đôi khi khách hàng chậm thanh toán một vài
ngày so với thời gian quy định trong hợp đồng . Mức độ rộng lượng đó tùy
vào nhà cung cấp và các điều kiện kinh tế , cạnh tranh tại thời điểm diễn ra
giao dịch .
Tuy nhiên khi áp dụng sách lược thanh toán này , doanh nghiệp có thể
chịu một số tổn hại đến vị thế tín dụng và danh tiến của công ty . Vì người ta
sẽ đặt ra câu hỏi doanh nghiệp hoạt động như thế nào mà thường xuyên thanh
toán không đúng hạn ? Một là khả năng trả nợ của doanh nghiệp có vấn đề .
Hai là doanh nghiệp là cơ sở không giữ chữ tín , có nhưng không trả . Hậu
quả là doang nghiệp phải chịu những chi phí tín dụng coa hơn trong những
giao dịch sau , bởi các nhà cung cấp có thể quy định thêm một số loai chi phí
tài chính khách trong hợp đồng .
4 . Một số nguồn tài trợ không do vay ngắn hạn như nợ tích lũy và tiền
đặt cọc của khách hàng
Các nguồn kinh phí này là hình thức tai trợ “miễn phí” bởi lẽ doanh
nghiệp có thể sử dụng tiền mà không phải trả lãi cho đến ngày phải thanh
toán
Tuy nhiên phạm vi ứng dụng của khoản nợ tích lũy là có giới hạn . Bởi
lẽ doanh nghiệp chỉ có thể trì hoãn việc nộp thuế trong điều kiện cực kì khó
khăn về tài chính và phải chịu phạt . Hoặc nếu doanh nghiệp chậm trả lương
sẽ làm giảm tinh thần làm việc của công nhân , do đó sẽ ảnh hưởng đến kết
quả kinh doanh của công ty
5. Vay vốn từ dân cư và các tổ chức kinh doanh khác thông qua phát
hành trái phiếu
Sử dụng nguồn tài trợ này doanh nghiệp phải trả lãi và lãi suất phải hấp
dẫn thì mới có thể thu hút được các nhà đầu tư . Sử dụng nguồn vốn này nếu
doanh nghiệp là tổ chức có tiến thì việc huy động mới dễ dàng , có thể huy
động được lượng vốn lớn , tuy nhiên nếu là doanh nghiệp nhỏ thì vô cùng
khó khăn , vì công ty nhỏ ít người biết nên không biết tình hình tài chính của
công ty thế nào trả nợ ra sao nên họ không dám mạo hiểm mua nhiều .
Thực tế ở nước ta thị trường trái phiếu còn trong giai đoạn rất sơ khai .
Cho đến nay trái phiếu của công ty được phát hành trên thị trường trái phiếu
14
Việt Nam còn rất ít . Thực tế thì một số tổ chức đã tổ chức phát hành trái
phiếu ra công chúng như công ty Tài chính quốc tế Việt Nam (VILC )PHÁT
HÀNH 20 tỷ VNĐ thông qua ngân hàng Công thương Việt Nam làm đại lí
phát hành thời hạn 2năm (2000 ) . Tuy vậy kĩ thuật phát hành còn hạn chế
nên các trái phiếu này không được chuẩn hóa , chỉ giống như kì phiếu có thời
hạn và không được dao dịch trên thị trường chứng khoán . Các doanh nghiệp
nhà nước (DNNN ) mặc dù có nhu cầu lớn về vốn song ít phát hành trái
phiếu để huy động vốn dài hạn . Ngoài ra có một vài công ty tư nhân và
DNNN phát hành trái phiếu . Chẳng hạn trái phiếu công ty thép Miền Nam
phát hành thời hạn 20-30 năm và lãi suất được công bố hàng năm . Ban cổ
phần hóa và công ty điện lực Việt Nam (EVN )cho biết ngày 17/11/06 thông
qua ngân hàng An Bình làm bảo lãnh , EVN sẽ phát hành thêm 100 tỷ đồng
trái phiếu . Đây là lần phát hành thứ 7 trong năm 2006 nâng tổng vốn huy
động lên tới 5000 tỷ đồng . trái phiếu điện lực phát hành lần này có mệnh giá
100.000đồng / trái phiếu , kỳ hạn là 10 năm , lãi suất năm đầu là 9,6 %/ năm ,
từ năm thứ hai là 9,95 %/ năm . Như vậy đây là trai phiếu lãi suất thay đổi .
Đợt phát hành trái phiếu này chủ yếu cho nhà đầu tư nước ngoài .
Nhìn chung một thị trường trái phiếu công ty có ý nghĩa đối với việc
huy động vốn dài hạn khó có thể hình thành trong tương lai gần . Hiện tại
ViệtNam còn thiếu nhiều diều kiện để phát hành thị trường trái phiếu công ty
(ngay ở nhiều nước ASEAN thị trường này vẫn còn nhỏ bé và có nhiều
khiếm khuyết ). Do vậy đây không phải là một cách huy động vốn tối ưu cho
doanh nghiệp
6. Vốn vay của nước ngoài hay hinh thành liên doanh với nước ngoài .
Doanh nghiệp có thể đi vay của các tổ chức quốc tế hay chính phủ nước
ngoài . Hoặc tiền hành liên doanh với nước ngoài để nhận được sự đầu tư về
vốn , kĩ thuuật , còn phía chúng ta chủ yếu góp quyền sử dụng đất và lao
động . Trên thế giới có nhiều tổ chức tài chính chuyên hỗ trợ khu vực kinh tế
tư nhân , trong đó công ty tài chính quốc tế ( IFC ) là tổ chức phi chính phủ
thuộc ngân hàng thế giới (WB ) được thành lập với chức năng hỗ trợ tài
chính cho các doanh nghiệp ở các nước qua các dự án đầu tư kinh doanh .
Hoạt động tài trợ vốn của IFC đã thực hiện nhiều nơi trên thế giới như Mỹ
Nhật và các nước đang phát triển như Trung Quốc , thái Lan
Dô vốn đầu tư đồ sộ nên tới hàng trăm tỷ ÚSD nên IFC đã hỗ trợ đầu tư
cho nhiều dự án trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau như : xi măng , sắt
thép , nông nghiệp , công nghiệp ….
Nhiều công ty kinh doanh của nhiều nước đã vượt qua sự khó khăn do
thiếu vốn nhờ sự giúp đỡ của IFC Vì vậy người ta nói IFC đóng vai trò khá
quan trọng cho việc hỗ trợ phát triển của các công ty tạo cơ sở hình thành
nhiều khu vực kinh tế tư nhân năng động trên thế giới .
Như vậy đây có thể coi là nguồn tài trợ vốn cho các doanh nghiệ Việt
Nam . Nếu doanh nghiệp của bạn thiếu vốn bạn có thể liên hệ thẳng với IFC
hoặc chi nhánh của IFC tại Việt Nam .
15
Một VDcụ thê là hai nhà đầu tư tài chính lớn của Mỹ là quỹ đầu tư Texas
Pacific Group (TBG )và Intel Capital (thuộc tập đoàn Intel ) vừa quyết định
đầu tư 36,5 triệu USD vào công ty FPT thông qua việc mua cổ phiếu của
công ty này . Họ đầu tư vào FPT vì mức tăng trưởng của công ty này luôn ở
mức cao : 70%/ năm trong nhiều năm qua .
Trong 10 tháng qua , khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã
nộp ngân sách nhà nước 1,011 tỉ USD , tăng 13 % so với cùng kì năm ngoái
(không kể các nguồn thu từ dầu thô và thuế nhập khẩu )đóng góp trên 10%
tổng thu ngân sách nhà nước . Số liệu trên cho thấy khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài đang là khu vực kinh tế phát triển năng động , đạt hiệu quả cao
trong nền kinh tế .
Đó là các số liệu cụ thể về vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam .Như vậy
nguồn vốn đầu tư nước ngoài , đặc biệt là đầu tư trực tiếp (FDI ) có tác động
rất tích cực trong phát triển kinh tế . Sử dụng FDI giúp cho các doanh nghiệp
Việt Nam ( đặc biệt doanh nghiệp tư nhân , doanh nghiệp vừa và nhỏ ) tăng
vốn đầu tư tạo cơ hội mở rộng quy mô sản xuất , nâng cấp trang thiết bị ,
tiếp cận công nghệ hiện đại qua chuyển giao công nghệ đầu tư từ phía nước
ngoài .
Thứ hai khi hợp tác kinh doanh với nhà tư bản nước ngoài (NTBNN )
các doanh nghiệp tư nhân (DNTN ) Việt Nam sẽ có thêm những kinh nghiệm
quản lí kinh doanh mới tiên tiến trong kinh tế thị trường , có mặt bằng sản
xuất quy mô lớn , có cơ hội đào tạo nguồn nhân lực vừa có tay nghề cao , vừa
co tác phong công nghiệp , thêm những cơ hội mở rộng thị trường xuất nhập
khẩu , giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Việt Nam đi dần vào quỹ
đạo của kinh tế thị trường và hội nhập cùng với khu vực
Chúng ta không thể phủ nhận vai trò quan trọng của vốn đầu tư nước
ngoài trong giai đoạn hiện nay nhưng chúng ta cũng cần nhìn nhận những
tiêu cực của nó :
Cơ cấu vốn đầu tư còn bất hợp lý so với định hướng đầu tư phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước .Trong thời gian qua ,hoạt động FDI mới chỉ tập
trung đầu tư vào các ngành dễ thu lợi nhuận ,thời gian thu hồi vốn ngắn ,một
số lĩnh vực trong các ngành nông ,lâm nghiệp ,công nghiệp và dịch vụ có giá
trị lớn như GTVT ,BCVT ,ngân hàng ,tài chính …chiếm tỉ lệ thấp về số
lượng dự án và số vốn đầu tư .Một số dự án kinh doanh kém hiệu quả buộc
phải phá sản do thua lỗ kéo dài .Đã có nhiều doanh nghiệp liên quan phải
chuyển sang công ty 100% vốn nước ngoài để cải thiện tình hình hoạt động
sản xuất ,kinh doanh .Nhiều công ty liên doanh với nước ngoài có giá trị góp
vốn của Việt Nam thấp ,chủ yếu là giá trị quyền sử dụng đất và công nghệ cũ
và lạc hậu gây ô nhiễm môi trường .
Đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia chi
phối cho nên nếu nền kinh tế nước ta không phát triển nhanh và bền vững thì
dễ dẫn đến sự lệ thuộc vào vốn ,kỹ thuật ,thị trường và mạng lưới tiêu
16
thụ ,phân phối của nước ngoài làm ảnh hưởng đến kinh tế xã hội của đất
nước ,tăng xu hướng phân hóa giàu nghèo trong xã hội .
Khi đi vay của các tổ chức tài chính nước ngoài thì chúng ta đã hình thành
nên các khoan nợ nước ngoài .Nếu sử dụng không hiệu quả ,quản lí khôngtốt
có thể làm cho các khoản nợ này ngày càng lớn và có thể khủng hoảng nợ
xảy ra .Vấn đề này tác động rất nhiều đến nền kinh tế và an ninh chính trị
quốc gia .
Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy việc chấp nhận vốn nước ngoài có vai
trò quan trọng đặc biệt (chiếm tỉ trọng áp đảo trong tổng lượng đầu tư ) ở giai
đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa như là một tiền đề để nâng cao
nhanh chóng năng lực tích lũy trong nước từ đó đảo ngược lại tương quan là
một sách lược có thể rất khôn ngoan .
Như vậy ta có thể kết luận là việc huy động và sử dụng vốn nước ngoài là
nhằm để tận dụng tối đa các lợi thế của doanh nghiệp , của đất nước . Nhưng
phải duy trì ở một tỷ lệ tương ứng với năng lực trả nợ của doanh nghiệp .
NGUỒN NÀO LÀ TỐI ƯU DOANH NGHIỆP
Qua việc phân tích ưu điểm và nhươc điểm của các phương thức tài trợ vốn
cho doanh nghiệp trên đây thì câu hỏi đặt ra với chúng ta là : doanh nghiệp
nên chọn nguồn tài trợ nào là có lợi nhất ?nguồn nào là tối ưu nhất ?
Theo quan điểm của cá nhân người viết em nghĩ rằng nguồn vốn tối ưu
cho các doanh nghiệp là cổ phần hóa thông qua phát hành cổ phiếu , tức là
huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán .
III. Cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp :
Phát hành cổ phiếu là phương thức tối ưu nhưng trong điều kiện hạn hẹp
vốn như ở nước ta vấn đề huy động và sử dụng vốn có hiệ quả là công việc
cần thiết đối với doanh nghiệp . Để thực hiện được điều đó các doanh nghiệp
phải tính toánh và xây dựng cho mình một cơ cấu vốn tối ưu .
Cơ cấu vốn là thuật ngữ dùng để chỉ tỉ trọng các nguồn vốn trong tổng số
tiền dược sử dụng để tài trợ cho tổng tài sản của nó chẳng hạn một công ty có
tổng tài sản là 100 đơn vị tiền trong đó 70 đơn vị là do các cổ đông đóng
góp , 30 đơn vị là nợ vay cũng có nghĩa là cơ cấu vốn của công ty trên là
70% vốn vhủ sở hữu và 30% là nợ vay .
Nhưng do mỗi nguồn vốn huy động có chi phí khác nhau nên với cùng một
lượng vốn huy động nhưng tỉ lệ của các nguồn vốn khác nhau thì cũng khác
nhau . Do vậy khi huy động vốn phục vụ kinh doanh người quản lí tài chính
của doanh nghiệp phải tính toán một cơ cấu vốn hợp lí là một việc làm cần
thiết .
Chúng ta có thể xem xét ảnh hưởng của việc sử dụng các cơ cấu vốn khác
nhau qua ví dụ : giả sử doanh nghiệp A cần một lượng vốn hoạt động là 200
triệu ÚD . Số vốn này có thể huy động theo cơ cấu 10% nợ 90% vốn chủ sở
hữu , cũng có thể huy động 30% là nợ và 70% vốn chủ sở hữu , hoặc 50% nợ
và 50% vốn chủ sở hữu . Gỉa sử thêm rănghf chi phí cố định là 40 triệu ÚSD
17