Ca dao và những đề tài mà ca dao thể hiện

  • 25 trang
  • file .pdf
I. GIỚI THIỆU VỀ CA DAO VÀ TIẾNG ĐÀN MÀ NÓ THỂ HIỆN
Dân tộc Việt Nam của chúng ta có một nền ca dao lâu đời và rất phong phú.
Trải qua bốn ngàn năm thăng trầm,người Việt đã đúc kết một kho tàng dân ca thấm
đẫm tình yêu Quê hương đất nước. Nghệ thuật gìn giữ và phát triển ca dao từ ngàn
xưa đã trở thành nét văn hoá đặc biệt của người Việt Nam.
Ca dao từ ngàn xưa gắn với cuộc sống vất vả và những sinh hoạt đời thường
nhất của người dân Việt Nam. Nó là những câu hát phản chiếu đời sống tâm hồn,
đời sống tình cảm của người bình dân, chứa đựng những đạo lý dân gian sâu sắc.
Có ý kiến cho rằng: “Ca dao là cây đàn muôn điệu của tâm hồn quần chúng”.
Không vội vàng nói về tính đúng sai của ý kiến này mà chúng ta hãy đi tìm hiểu
xem nó có phải là muôn điệu không? Và điều gì đã tạo ra tính muôn điệu của ca
dao?
Ca Dao là cây đàn muôn điệu của đời sống tâm hồn quần chúng. Hình ảnh so
sánh ví von ca dao như một cây đàn thật là đặc biệt. Cây đàn thì trong chúng ta
không một ai là không biết nó như thế nào rồi. Nhưng ở đây chúng ta hãy nói về
tiếng đàn khi những sợi dây đàn hay phím đàn vang lên. Khi dây đàn chưa rung,
phím đàn chưa đánh thì chúng ta chưa thể biết rằng cái gì sẽ đến tiếp theo nữa đây.
Tiếng đàn, lúc trầm, lúc bổng, khi thì ngân lên những khúc tráng ca anh hùng,
mạnh mẽ, đôi khi lại ngân lên những khúc ca thê lương, ai oán. Số phím, số dây
đàn trên một cây đàn thì ta có thể đếm được, đoán được nhưng những tình cảm,
tâm tư trong một giai điệu không ai có thể đếm cho hết được cả. Khi nó vang lên
hùng hồn, mãnh liệt, khi thì lại ai oán tới não lòng. Nó rất phù hợp với ca dao bởi
vì chưa có một mảng nào trong đời sống con người mà ca dao không phản ánh
được hết cả. Ca dao chính là tiếng lòng của con người, là tiếng cười của cuộc sống
hàng ngày và tiếng than thân trách phận.
Để nói về tính muôn điệu của ca dao chúng ta hãy đi tìm hiểu về những đề tài
mà ca dao thể hiện. Những đề tài mà ca dao thể hiện bắt nguồn từ thực tế cuộc
sống lao động, sản xuất và những sinh hoạt đời thường, từ những rung động tinh tế
trước thiên nhiên, từ đời sống thuần hậu chất phác của người lao động. Chính vì
vậy, những hình ảnh của ca dao mộc mạc nhưng mang theo bao hơi thở tâm tình,
những nổi niềm thân phận. Toát lên từ những lời ca, ý thức về phẩm giá, nhân
1
cách, những tình cảm thương nhớ đợi chờ, là khát vọng được chia sẻ, ước ao về
một cuộc sống thủy chung mặn nồng.
II. NHỮNG ĐỀ TÀI CA DAO THỂ HIỆN
1. Ca dao về than thân
Ca dao là sản phẩm tinh thần của tập thể nhân dân, là tấm gương phản chiếu tâm
hồn người lao động một cách sâu sắc. Tính chất đồng sáng tạo đó đã tạo ra trong ca
dao tiếng nói riêng, trong văn học dân gian nói chung các công thức truyền thống
mang tính thẩm mĩ cộng đồng trong sáng tạo nghệ thuật. Khi tìm hiểu ca dao cần
đặt bài ca dao đó trong hệ thống công thức nghệ thuật truyền thống để chúng có thể
âm vang trong nguồn mạch chung và thể hiện được sắc thái chung độc đáo. Trong
ca dao có niềm vui và nỗi buồn, có tiếng ca nghĩa tình và tiếng hát than thân. Khi
nghĩ về thân phận của mình, người nông dân xưa kia thường cất lên tiếng ca chất
chứa nỗi buồn tủi, đắng cay. Trong dòng mạch đó nổi lên rõ nhất là tiếng hát than
thân về cuộc đời người phụ nữ mà hai bài ca dao mở đầu bằng hai tiếng “Thân em”
là minh chứng.
Cuộc đời người phụ nữ xưa kia có rất nhiều nỗi khổ cực, đắng cay. Nỗi khổ về
vật chất, phải thức khuya dậy sớm dãi gió, dầm sương:
Thân em như lá đài bi,
Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầm sương,
Ngày ngày hai bữa cơm đèn,
Lấy gì má phấn răng đen hỡi chàng.
Nhưng nỗi khổ lớn nhất của họ vẫn là nỗi khổ tinh thần. Xã hội phong kiến xưa
kia với những quan điểm bất công như “tam tòng” (ở nhà phải theo cha, lấy chồng
phải theo chồng, chồng chết phải theo con) đã gây ra bao nỗi khổ cực cho người
phụ nữ trong suốt cả cuộc đời. Họ không có quyền định đoạt hạnh phúc cũng như
cuộc đời mình. Chính vì thế, khi nghĩ về thân phận của mình, người phụ nữ thường
cất lên tiếng hát than thân chứa chất nỗi buồn tủi, đắng cay. Nếu thống kê, ta sẽ
thấy số bài ca dao mở đầu bằng cụm từ “Thân em như” chiếm số lượng khá lớn.
2
Nỗi khổ về thân phận bị phụ thuộc ấy được thể hiện rõ nét qua biện pháp nghệ
thuật so sánh quen thuộc của ca dao.
Bài ca dao mang nét chung trong biện pháp nghệ thuật và nội dung ý nghĩa. Hai
bài ca dao đều sử dụng cụm từ mở đầu “Thân em như”. Sự giống nhau ở cấu trúc
mở đầu là đặc điểm của một số bài ca dao tạo nên một hệ thống lối nói khắc sâu ấn
tượng chung về “thân phận” con người.
Bài ca dao đều sử dụng biện pháp so sánh trực tiếp. Hai vế so sánh được nối bởi
từ “như” tạo nên sự đối chiếu những nét tương đồng giữa hai đối tượng khác loại,
giúp người nghe hiểu đặc điểm của sự vật và cảm thông với tâm sự của nhân vật
trữ tình.
Thân phận con người có ý nghĩa vô cùng lớn lao lại được tác giả dân gian so
sánh với những vật , những đối tượng mong manh, nhỏ bé, bị phụ thuộc, chỉ được
xem xét, đánh giá ở giá trị sử dụng, bị “đồ vật hóa”:
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
Đây là một trong số ít bài ca mà người phụ nữ thể hiện rõ sự tự ý thức về vẻ
đẹp hình thức của mình. Tấm lụa mềm mại, óng ả nổi bật về màu sắc. “Tấm lụa
đào” là biểu tượng của tuổi thanh xuân tươi đẹp mà người phụ nữ đã ý thức được
một cách rõ ràng. Câu thơ thứ nhất nêu lên hình ảnh so sánh một cách khái quát,
còn câu thơ thứ hai mang tính chất bổ sung, làm rõ nghĩa cho câu trên. “Tấm lụa
đào” là tấm lụa đẹp về hình thức và có giá trị nhưng lại “phất phơ giữa chợ”. Chợ
là nơi kẻ qua, người lại, nơi người đời mua bán, trao đổi hàng hóa, vật dụng. Người
ta có thể bán, có thể mua. “Tấm lụa đào” trở thành đối tượng sở hữu của bất kì
người nào có nhu cầu mua bán, nó không có quyền lựa chọn, định đoạt số phận
mình. Hình ảnh ẩn dụ và câu hỏi tu từ “biết vào tay ai” chứa đựng biết bao lo lắng
về thân phận phụ thuộc, nổi trôi, mong manh của người phụ nữ trong xã hội xưa.
3
Thân em như củ ấu gai
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen
Ai ơi, nếm thử mà xem!
Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi.
Đây là bài ca dao có nét chung với bài ca dao 1 như trên đã phân tích
nhưng lại có sắc thái riêng độc đáo. Nếu ở bài 1, người phụ nữ ý thức được về vẻ
đẹp hình thức thì ở bài 2 này, người phụ nữ muốn khẳng định về vẻ đẹp nội dung,
phẩm chất bên trong dẫu bề ngoài không tương xứng. Củ ấu gai có vẻ đen đúa, xấu
xí, gai góc nhưng ẩn chứa sau vẻ ngoài xấu xí ấy là ruột ấu trắng thơm, ngọt bùi.
Ai đã một lần ăn chắc sẽ nhớ và càng nhớ hơn bài học tự rút ra về cách đánh giá sự
vật trong cuộc đời. Bài ca sử dụng phương pháp đối lập ngay trong một dòng thơ
(tiểu đối) với các cặp tương phản: trong – ngoài, trắng – đen “Ruột trong thì trắng
vỏ ngoài thì đen”. Lời mời mọc, nhắn gửi của người phụ nữ với người đời vừa là
sự tự khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của mình song nghe cũng thật tủi hờn, xót xa:
Ai ơi, nếm thử mà xem!
Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi.
Với người con gái, sự mời mọc tha thiết và tự khẳng định ấy là sự “vạn bất đắc
dĩ” bởi vì vẻ đẹp bên trong – giá trị thực của họ chẳng được ai biết đến. Bài ca dao
có sự lựa chọn hình ảnh so sánh rất chính xác, vừa cụ thể vừa biểu cảm, chắc chắn
đây phải là người phụ nữ lao động gắn bó với ruộng đồng mới có cái nhìn so sánh
giản dị, tự nhiên như vậy. Hình ảnh so sánh đã cụ thể hóa tâm trạng tủi hờn của
người phụ nữ. Bài ca có ý nghĩa nhân văn và ý nghĩa ngầm phê phán những ai
không coi trọng giá trị đích thực của con người.
Hai bài ca dao trên bổ sung cho nhau, là sự tự khẳng định một vẻ đẹp bên ngoài,
một vẻ đẹp bên trong nhưng bao trùm là cảm hứng ngậm ngùi, xót xa về thân phận
người phụ nữ trong xã hội xưa. Đó là giá trị tố cáo và giá trị nhân đạo sâu sắc trong
tiếng hát than thân ướt đầm nước mắt của người phụ nữ.
Các bài ca dao có cùng công thức mở đầu gần gũi nhau bởi nét tương đồng trong
nội dung, ý nghĩa và cùng sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh. Bên cạnh đó, mỗi
4
bài có nét riêng trong việc lựa chọn đối tượng miêu tả và biểu hiện. Cũng để diễn
đạt thân phận chìm nổi của người phụ nữ mà có một loạt hình ảnh khác nhau để so
sánh khiến biện pháp nghệ thuật và nội dung diễn đạt càng đa dạng, phong phú,
tránh được sự đơn điệu, nhàm chán. So sánh là sự khắc họa một cách cụ thể, làm
sáng rõ hơn những khái niệm trừu tượng: “Thân em” là khái niệm trừu tượng được
thể hiện thông qua những hình ảnh giản dị, gần gũi với cuộc sống con người: “tấm
lụa đào”, “giếng nước giữa đàng”, “miếng cau khô”, “hạt mưa sa”,… Những vật
thể rất khác nhau ấy được xích lại gần nhau nhờ những nét tương đồng bởi sự lựa
chọn của biện pháp so sánh. Điều này giúp việc khắc họa sâu hơn đặc điểm đối
tượng được đem ra so sánh mà vẫn giàu giá trị biểu cảm. Ta có thể thấy như có
tiếng thở dài cam chịu, giọt nước mắt đắng cay của bao kiếp người phụ nữ xưa kia.
Trong ca dao còn rất nhiều bài khác cũng sử dụng biện pháp nghệ thuật này để
thể hiện nội dung tương tự. Bởi vì ca dao là sáng tác của nhân dân lao động, được
diễn xướng trong lao động, trong hát đối đáp nơi hội hè, đình đám. Từ đời này qua
đời khác, ca dao được lưu truyền, khắc họa thêm tâm tình người lao động:
Thân em như cái quả xoài trên cây
Gió đông gió tây, gió nam gió bắc
Nó đánh lúc la lúc lắc trên cành.
- Thân em như chổi đầu hè
Phòng khi mưa gió đi về chùi chân.
- Thân em như giếng nước trong
Để cho bèo tấm, bèo ong lọt vào.
- Thân em như giếng giữa đàng
Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân.
- Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng.
5
Tiếp mạch cảm xúc chung về thân phận phụ thuộc, mỏng manh, nổi nênh của
người phụ nữ trong ca dao, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã khắc họa rõ nét hơn trong
tiếng thơ đầy bản sắc của bà tạo nên một tiếng nói chung, một mạch tiếp nối giữa
văn học dân gian và văn học viết:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Những bài ca dao trên cho ta hiểu hơn về nỗi khổ của cuộc đời người phụ nữ
xưa, giúp ta thêm yêu cuộc sống hiện nay. Người phụ nữ hiện đại vẫn giữ những
nét dịu dàng, khiêm nhường của người phụ nữ truyền thống nhưng họ không còn
phải cam chịu cuộc sống phụ thuộc mà đã ý thức được về vị thế xã hội của mình,
chủ động và xây dựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn:
Một buổi sớm mai trớm bước chân mình trên cát
Người mẹ cho ra đời những Phù Đổng Thiên Vương
Dẫu là nguyên thủ quốc gia hay là những anh hùng
Là bác học hay là ai đi nữa
Cũng là con của người phụ nữ
Người đàn bà rất bình thường không ai biết tuổi tên
(Xuân Quỳnh)
2. Ca dao về tình yêu đôi lứa với nhiều cung bậc tìn cảm đa dạng và phong
phú
Tình yêu vẫn luôn là một đề tài muôn thuở của văn học ở mọi giai đoạn. Nhắc
đến những bài thơ tình ta không khỏi nhớ đến những nhà thơ lớn như: Xuân Diệu,
Nguyễn Bính, Huy Cận..., hay những nhà thơ thời nay như: Đỗ Trung Quân, Phan
Thị Thanh Nhàn... Họ là những nhà thơ trong giai đoạn thơ văn hiện đạị Nhưng đã
là người Việt Nam thì thật thiếu sót nếu ta không nhớ đến kho tàng văn chương
truyền miệng của cha ông từ ngàn xưa để lại: Thơ ca dân gian. Ta hãy quay về cội
nguồn như tìm lại chính mình qua một khía cạnh của thơ ca dân gian: Ca dao Việt
6
Nam. Chúng ta cùng nhìn lại những bài ca dao mang chủ đề về tình yêụ Đó là
những vần thơ trữ tình, sâu sắc, đậm đà chất dân tộc và rất phổ biến trong dân gian
mà có thể bạn đã từng nghe qua.
Ca dao là một dạng của thơ và ở thời đại nào nó cũng chinh phục được người
đọc. Hơn nữa, những bài ca dao với nội dung về tình yêu không cứng nhắc với
những niêm luật phức tạp như thơ cổ điển. Để hiểu rõ ràng hơn, đầu tiên ta thấy
rằng tình yêu nam nữ trong ca dao được thể hiện rất trong sáng và lành mạnh:
Thuyền ai lơ lửng bên sông
Có lòng đợi khách hay không hỡi thuyền?
Ta thấy sự bài tỏ tình cảm tế nhị qua hình ảnh bến và thuyền:
Thuyền ơi có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.
Trong bước đầu đi đến tình yêu, đâu có ai trong chúng ta dễ dàng bày tỏ
được tình cảm của mình một cách "xuôi chèo mát mái" đâu. Chỉ với hai câu ca dao
ngắn gọn mà đã lột tả được sự ngập ngừng rất dễ thương đó:
Thò tay mà bứt cọng ngò
Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ
Ta tìm thấy trong ca dao Việt nam những hình ảnh nói lên tình cảm chân thật,
sâu đậm của người dân:
Nước sông Tô vừa trong vừa mát
Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh
Dừng chèo muốn tỏ tâm tình
Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu.
7
Lòng chung thuỷ của người Việt Nam là một trong những nội dung tất yếu thể
hiện qua ca dao:
Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta tình nặng nghĩa dày
Dù có xa nhau đi nữa cũng ba vạn chín nghìn ngày mới xa.
Lòng chung thuỷ sắt son cũng được thể hiện thật tuyệt vời như:
Chừng nào cho song bỏ ghành
Cù lao bỏ biển anh mới đành bỏ em.
Đặc điểm của ca dao Việt Nam là ngắn gọn, súc tích. Nó được hình thành bằng
những hình ảnh, ngôn từ hết sức giản dị và chân thật gần gũi với đời sống người
dân. Do đó, chỉ cần đọc qua ta có thể nhớ được dễ dàng nhưng có đọc đi đọc lại ta
mới thấy hết được cái hay, cái đẹp của ca dao Việt Nam trong cách thể hiện nội
dung:
Thương anh vô giá quá chừng
Trèo truông quên mệt ngậm gừng quên cay
Nhác trông thấy bóng anh đây
Ăn chín lạng hạt ớt ngọt ngay như đường.
Ca dao Việt Nam không phải là những lời thơ bóng bẩy, nó gợi lên những hình
ảnh thiên nhiên gần gũi nên dễ dàng đi vào lòng người:
Rủ nhau xuống bể mò cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Em ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau.
Bên cạnh đó, có những bài ca dao mà trong đó ta chỉ thấy niềm cảm thông
và tình yêu cao thượng mà không thấy sự giận hờn hay trách móc:
8
Mình nói dối ta mình hãy còn son
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò
Con mình những trấu cùng tro
Ta đi xách nước rửa cho con mình.
Tất cả những mối tình không phải lúc nào cũng đi đến kết cục hạnh phúc. Trong
một mối tình sẽ có nước mắt, hạnh phúc hay sự khổ đau khi chia xa và ca dao Việt
Nam cũng không ngoài quy luật đó:
Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác xưa.
Cùng với những lời than xót xa, ngậm ngùi, tiếng đàn trong ca dao còn được
dùng là phương tiện để thể hiện tình cảm của con người, tình cảm của đôi lứa:
Ở đâu năm cửa nàng ơi
Sông nào sáu khúc chảy ra một dòng
Sông nào bên đục, bên trong
Núi nào thắt cổ bồng mà có thánh sinh
Đền nào thiêng nhất xứ Thanh
Ở đâu mà lại có thành tiên xây
Tác giả dân gian dùng cách hỏi đố để diễn đạt ý định của mình. Hình thức hỏi
đáp giữa chàng trai và cô gái cũng là một hình thức truyền đạt phổ biến trong văn
học dân gian. Đây cũng là một nét đẹp trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của
người lao động ngày xưa. Cô gái cũng không hề tỏ ra thua kém và cũng đối đáp lại
rằng:
Thành Hà Nội 5 cửa chàng ơi
Sông Lục Đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng
Nước sông Thương bên đục bên trong
Núi Đức Thánh Tản thắt cổ Bồng Lai có thánh sinh
9
Đền Sòng thiêng nhất xứ Thanh
Ở trên tỉnh lạng có thành tiên xây.
Trong ca dao tình yêu có muôn vàn giai điệu khác nhau giống như tiếng đàn
vậy. Đó là khát vọng về tình yêu đôi lứa, muốn được tự do, được giải phóng khỏi
xiềng xích của chế độ phong kiến, gò ép tình cảm của con người:
Trách mình chẳng trách ai đây
Trách con đò ngắn sông sâu khó dò
Tình yêu đôi lứa trong ca dao xưa phải chịu trăm bề hủ tục. Họ phải chịu rào cản
của gia đình, làng xóm và cả cái chế độ phong kiến cũ kĩ lạc hậu bóp nghẹt quyền
tự do của họ. Tuy nhiên không hẳn vì thế mà tình yêu của họ lại không đẹp . Họ
hẹn thề với nhau giẫu cho đứng giữa họ là trăm bề khoảng cách:
Cây khô chết đứng giữa trời
Chết thời chịu chết không bội lời hẹn xưa.
Họ thề non, hẹn biển với nhau nhằm làm cho đối phương tin tưởng vào tình cảm
của mình vậy. Nó thể hiện khát vọng về sự tự do trong tình yêu, sự giải thoát khỏi
chế độ phong kiến và xã hội hiện tại lấy mất tự do và trói chặt họ trong tù ngục.
3. Ca dao châm biếm, đã kích, trào phúng
Ca dao là tiếng đàn để con người ta có thể châm biếm, đã kích, trào phúng thể
hiện tính cách, tâm hồn và quan niệm sống của người xưa. Khi họ châm biếm, đã
kích là họ biết sống, biết phân biệt: phải-trái, tốt-xấu, đúng-sai. Bởi vậy những bài
ca dao có nội dung vô cùng phong phú, thể hiện một cách nhìn rất sâu sắc, một bản
lĩnh sống đàng hoàng của người dân lao động:
Em là con gái còn trinh
Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè
Ông Nghè cho lính ra ve
10
Trăm lạy ông Nghè em đã có con
Bài ca dao đã đã kích trực tiếp vào cái thế lực cường quyền ép buộc, bóc lột đến
những thứ nhỏ nhất của người nông dân. Vừa đọc thì ta có cảm giác buồn cười
nhưng ẩn sau nó là một sự châm biếm các thế lực cầm quyền bóc lột nhân dân mà
tiêu biểu trong bài ca dao là ông Nghè.
Chó đâu chó sủa lỗ không
Không thằng ăn trộm, cũng tên ăn mày
Ở đây tiếng chó sủa được người dân miêu tả trong câu ca dao để thể hiện những
kẻ ăn trộm hay ăn mày. Những kẻ không công, không việc chỉ biết sống nhờ vào
của cải của người khác. Nhưng thực chất ở đây là tiếng chó báo hiệu cho những kẻ
tu tô, thu thuế đang đến. Bài ca dao còn nhằm thể hiện đời sống vất vả của người
nông dân vì phải chịu bao nhiêu là thứ thuế. Hay có chó sủa báo hiệu cho người
dân biết rằng những kẻ đòi nợ lại đang tìm tới.
Khi họ biết châm biếm là biết sống, biết phân biệt phải, trái, tốt, xấu là biết cười.
Đồng thời giễu cợt, đả kích, đã hạ bệ, hạ nhục biết bao đối tượng "cao quý, tôn
nghiêm" trong xã hội phong kiến. Trong số đó phải kể đến một bài ca dao ngắn
gọn về một đám ma đáng chê trách ở làng quê ngày xưa:
Con cò chết rũ trên cây
Cò con mở lịch xem ngày làm ma
Cà cuống uống rượu la đà
Chim ri ríu rít bò ra lấy phần
Chào mào thì đánh trống quân
Chim chích cởi trần vác mõ đi rao.
Bài ca dao cho thấy hình ảnh một xã hội phong kiến hiện lên thật sinh động,
chân thật qua "vai" các con vật. Mỗi con vật đều có cá tính và hành động riêng
đúng với người mà nó ám chỉ. Qua hệ thống ẩn dụ này khiến việc châm biếm, phê
phán của người lao động rất kín đáo và sâu sắc. Ở đây, tang chủ là gia đình nhà cò
11
"con cò", một ẩn dụ về người nông dân nghèo khó, thân phận bé mọn "chết rũ" trên
cây (tức là chết đã nhiều ngày), tử khí có thể đã bốc lên, vừa đau thương vừa bối
rối. Thế mà vẫn chưa được chôn cất bởi cò con vẫn còn mở lịch xem ngày làm ma,
chọn ngày lành tháng tốt. Ấy vậy mà xã hội đó coi như một đám rước, đám hội. Họ
kéo đến ồn ào nhốn nháo, không phải để chia buồn hay giúp đỡ việc tang mà trái
lại họ xúm nhau lại để chia phần. Từ cường hào, lý dịch cho đến người dân được
dịp ăn uống và hăng hái tham gia. Đây chính là “việc làng” trong xã hội ngày xưa.
Hình ảnh cà cuống tượng trưng cho kẻ tai to mặt lớn trong xã hội như xã trưởng, lý
trưởng nhưng họ không lo cho dân, không vì dân mà lại say sưa uống rượu la đà,
ngả nghiêng mất cả tư thế thành kính trang nghiêm chia buồn với tang chủ. Chim ri
ám chỉ bà con láng giềng thì vui vẻ như ngày hội kéo đến ăn uống và lấy phần.
Chào mào tượng trưng cho bọn cai lệ, lính lệ, đám thợ kèn thì vui vẻ đánh trống
quân (một trong những làn điệu chèo rộn ràng hát trong ngày hội). Chim chích thì
cởi trần trùng trục vác mõ đi rao để thông báo cho mọi người biết mà kéo đến cho
đông không có gì là đau thương, hay chia sẻ với gia đình tang chủ.
Từ xưa đến nay ta vẫn thấy việc tang là chuyện buồn, là việc hiếu, thể hiện tình
cảm, đạo đức của người sống với người đã chết. Cái quy luật khắc nghiệt của sự
Sinh - Tử đã trở thành một chuyện vô cùng đặc biệt, ngoài tính huyết thống gia tộc
còn mang tính xã hội sâu sắc, nó không còn là việc riêng của mỗi gia đình mà còn
là việc chung của làng bản và xã hội. Do đó bài ca dao tuy là lời người xưa, nói về
xã hội phong kiến ngày xưa, nhưng càng đọc ta càng hiểu, càng suy ngẫm càng
thấm thía được những bài học thiết thực cho ngày nay khi nếp sống văn minh đang
từng ngày từng giờ đến với mỗi gia đình, mỗi bản làng, góc phố, thì hiện tượng
xem ngày giờ tốt xấu, bầy cỗ linh đình, phúng viếng rườm rà vẫn còn bắt gặp ở đó
đây mà ta cần phải có ý thức nhắc nhở, vận động, tuyên truyền mọi người thực
hiện nghiêm chỉnh làm sao trong mỗi đám tang phải trang nghiêm, thành kính và
hết sức tiết kiệm, xoá bỏ những hủ tục lạc hậu, góp phần thực hiện tốt nếp sống
văn minh trong việc tang.
12
4. Ca dao hài hước
Ca dao là cây đàn muôn điệu của người dân quê Việt Nam được hiện lên với
những cung bậc sắc thái cảm xúc khác nhau. Cùng với tiếng hát than thân xót xa,
buồn tủi, tiếng hát giao duyên đằm thắm, nghĩa tình, ca dao Việt Nam còn vang
tiếng cười hài hước, châm biếm, trào phúng, đả kích rất vui, khoẻ, sắc nhọn, thể
hiện tính cách, tâm hồn và quan niệm sống của người dân lao động.
Tiếng đàn trong ca dao còn được thể hiện rất rõ trong ca dao hài hước. Đây là
một tiếng đàn vui, nhằm mang lại tiếng cười cho con người. Ca dao hài hước chứa
đựng cả cái nhìn, thái độ, tình cảm của người dân trước hiện tượng đời sống , mối
quan hệ tình cảm giữa người với người. Không những thế tiếng cười còn là vũ khí
tinh thần giúp họ vượt lên bao khó khăn của đời sống. Tiếng cười trong ca dao
phong phú và nhiều cung bậc. Có khi là tiếng cười trào lộng, dí dỏm, có khi là
tiếng cười chua chát trước sự thật đáng cười, đáng chán, cũng có khi là tiếng cười
phản kháng trước thực tại xã hội nhiều bất công, ngang trái:
Chàng dẫn thì em xem như là
Nờ nào em lại phá ngang như là
Người ta thách lợn thách gà
Nhà em thách cưới một nhà khoai lang.
Ở đây là lời ngầm đáp lại của cô gái đối với một chàng trai đnag muốn hỏi cưới
mình nhưng vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không thể chuẩn bị lễ vật hỏi cưới
thật là đầy đủ được. Cô gái ngầm đáp lại để chàng trai yên tâm đi đến hạnh phúc.
Cái tinh tế trong lời cô gái vừa phản ứng tròng lời thách cưới phá ngang, vừa là
mong mỏi chàng trai người cần cù, siêng năng xứng đáng với tấm chân tình của cô.
Không những thế cô gái còn mang tới sự nhắn nhủ về sự cần kiệm: Củ nhỏ mời họ,
củ to mời làng, không bỏ xót củ mẻ, củ rím, củ hà. Lời đáp đó mang lại niềm hi
vọng, lạc quan về hạnh phúc.
Còn duyên kén cá chọn canh
Hết duyên ếch đực, cua kềnh cũng vơ
13
Bài ca dao vừa có tính chất gây cười, vừa ám chỉ những cô gái có tính tự cao
(chảnh). Lúc còn duyên thì kén này kén nọ. Họ thường nói ở đây tới những cô gái
nhà giàu, hách dịch, không để ý tới những người để ý tới họ. Nhưng tới khi hết
duyên, nghĩa là đã qua thời kì thanh xuân thì vẫn một mình. Khi đó lại mong ước
có người đến hỏi nhưng lại không ai. Điều này ám chỉ cái thói kén cá chọn canh
của những cô gái và kết quả là cuối cùng ếch đực, cua kềnh cũng vơ.
5. Ca dao về tình yêu, niềm tự hào về quê hương đất nước
Ca dao là những tiếng lòng của con người được phác họa qua những vần thơ dân
gian lưu truyền qua nhiều thế hệ được kế thừa và phát huy trở thành “tinh hoa –
bản sắc độc đáo riêng biệt của dân tộc”.
Hình ảnh của quê hương – đất nước ngự trị trong ca dao, trong tiếng hát, chan
chứa tình cảm, yêu mến, niềm tự hào của dân tộc:
Thăng Long Hà Nội đô thành
Nước non ai vẽ nên tranh họa đồ
Cố đô rồi lại tân đô
Ngàn năm văn vật bây giờ là đây
Thăng Long là trọng địa của nước ta được hưng khởi vào thời Lý Thái Tổ năm
1010, xưa gọi là kinh đô, cố đô...Ngày nay được gọi là Thủ đô Hà Nội, nơi phát
triển đất nước, đưa đất nước vươn tầm với thế giới:
Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn
Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn
Hỏi ai gây dựng nên non nước này?
Phong cảnh Hồ Tây giữa lòng Hà Nội rất nên thơ, ẩn chứa biết bao lịch sử như
một bức tranh sinh động:
14
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ
Quả thật, thắng cảnh nơi đây nên thơ, hữu tình, diệu kỳ đối với con người:
Trên Chùa đã động tiếng chuông
Gà Thọ Xương đã gáy, chim trên nguồn đã kêu
Không những thế, mà còn có những con sông nổi tiếng uốn lượn quanh xóm
làng:
Làng tôi có lũy tre xanh
Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng
Bên bờ vải nhãn hai hàng
Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng
Hình ảnh lũy tre làng làm vệ sĩ quê hương, con sông chuyên chở ân tình đất
nước uốn quanh xóm làng, để nuôi dưỡng những sản vật, làm xanh tươi cây trái
cho làng quê:
Đồn rằng chợ Bỏi vui thay
Đằng đông có miếu, đằng tây có chùa
Giữa chợ lại có đền thờ
Dưới sông nước chảy đò đưa dập dìu
Đây là nét văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc, thể hiện thuần phong
mỹ tục của dân Việt Nam, phục hiện lại nếp sinh hoạt truyền thống.
Miền Bắc còn có những quả núi cao ngất ngưởng khoe vẻ đẹp cường tráng, oai
hùng với chiến công, oanh liệt về lịch sử của dân tộc:
15
Nhất cao là núi Ba Vì
Nhất lịch, nhất sắc kinh kỳ Thăng Long
Với nét đẹp hài hòa hòan hảo, tương hợp cùng bốn mùa :
Quê em có gió bốn mùa,
Có trăng giữa tháng, có Chùa quanh năm.
Chuông hôm, gió sớm, trăng rằm,
Chỉ thanh đạm thế âm thầm thế thôi.
Các Tỉnh miền Bắc đều thừa hưởng di sản thiên nhiên ban tặng, để minh chứng
điều này chúng ta sẽ khảo sát:
Bắc Cạn có suối đãi vàng,
Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh.
Ngoài những con sông, suối, hồ… là những dãy núi oai hùng đã ẩn chứa những
dấu ấn vẻ vang trong lịch sử cũng như trong Phật giáo là Đỉnh Thiêng Yên Tử:
Nào ai quyết chí tu hành,
Có về Yên Tử mới đành lòng tu.
Thể hiện sự vượt khó, ý chí, nghị lực của bậc tu hành, nơi đây không chỉ là thiên
nhiên hùng vĩ mà còn lưu danh sử sách những kỳ tích oanh liệt của dân tộc.
Chùa Hương – Động Hương Tích, phong cảnh thiên nhiên đẹp sắc sảo được
chúa Trịnh Sâm khắc 5 chữ : “Nam thiên đệ nhất động”. Hành trình vào Động
Hương Tích, từ Bến Đục sang Bến Trong, chùa Thiên Trù chập chùng giữa rừng
núi bao la:
Ai đi trẩy hội chùa Hương
Làm ơn gặp khách thập phương hỏi giùm
Mớ rau sắng, quả mơ non
16
Mơ chua sắng ngọt, biết còn thương chăng?
Không chỉ là một thiên động đệ nhất, mà còn có lễ hội, những sản vật địa
phương nổi tiếng như rau sắng, quả mơ, hồng trà, củ mài...
Nếu như những phía trên là những ngôi cổ tự tọa lạc chập chùng giữa thiên
nhiên của núi rừng thì Chùa Phả Lại tỉnh Hải Dương vươn cao, soi mình trên sông
nước:
Xa đưa văng vẳng tiếng chuông,
Kìa chùa Phả Lại chập chùng bên sông.
Những hình ảnh tỏa sáng bản sắc dân tộc cũng lưu dấu nơi tận cùng miền biên
giới Lạng Sơn nổi tiếng:
Lạng Sơn có phố Kỳ Lừa,
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.
Tất cả những thiên nhiên kỳ vĩ ấy được tạo hóa ưu đãi, đến với Hà Nam, phong
cảnh Chùa Tiên không nằm giữa rừng núi thiên tạo mà do bảo tồn sinh thái của con
người tạo nên :
Chùa Tiên chín chín cây thông,
Ai không trồng đủ, làng không cho về.
Không chỉ là nước non hữu tình từ thiên nhiên tạo hóa, mà còn có những đặc sản
của từng miền, không cầu kỳ, tận hưởng những hương vị ngọt ngào từ những đặc
sản:
Thanh Trì có bánh cuốn ngon,
Có gò Ngũ Nhạc có con sông Hồng.
Thanh Trì cảnh đẹp người đông,
Có cây sáo trúc bên đồng lúa xanh.
Chúng ta cất bước từ Nam ra Bắc đã cảm nhận được vẻ đẹp thiên phú ấy:
17
Đường về xứ Bắc xa xa,
Có về Hà Nội với ta thì về.
Đường thủy thì tiện thuyền bè,
Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang.
Thời nay chẳng sợ gian nan,
Đường sắt tàu hỏa bạt ngàn nối nhau.
Đường không “book vé” rất mau,
Khởi hành Sơn Nhất hội tao Nội Bài
Chúng ta dừng chân nơi khúc ruột thân thương miền Trung, xứ Nghệ:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Bài ca dao thể hiện vẻ đẹp của vùng xứ Nghệ tĩnh. Đó là một vẻ đẹp của núi non
và sông nước. Đường vào xứ Nghệ quanh quanh ý chỉ những con đường khi vào
xứ Nghệ quanh co, uốn khúc. Chính đó nó lại tạo cho người đến đây một cảm giác
rất lạ, rất riêng của xứ Nghệ. “Non xanh nước biếc như tranh họa đồ” chỉ tới cảnh
sắc của xứ nghệ vô cùng đẹp. Tranh họa đồ là một bức tranh về cảnh sắc thiên
nhiên vô cùng đẹp mà người xưa thường dùng để diễn tả những vẻ đẹp tự nhiên. Ở
đây “non xanh” là bức tranh có núi non xanh thẳm, vẻ đẹp của thiên nhiên với cây
cối bao quanh những ngọn núi tạo ra một cảm giác mát rượi cho những ai trừng đặt
chân đến. “Nước biếc” chỉ nước ở xứ Nghệ có một màu xanh biếc không pha lẫn
với bùn đất. Nước biếc là một thứ nước thể sự trong trẻo, ý noi nước ở đây vô cùng
trong xanh. Trong bài ca dao nói tới phong cảnh xứ nghệ rất đẹp và nên thơ và
quyến rũ tới lòng người những ai tới đây.
Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát
Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng cũng bát ngát mênh mông.
18
Con người như hòa vào thiên nhiên, hòa vào cảnh vật trong bài ca dao. Cô gái
đang độ tuổi thanh xuân đầy sức sống đón nắng ban mai với niềm rung động dạt
dào. Cô gái hòa vào cánh đồng lúa, đứng trước sự sống lớn ấy, tâm hồn như rộng
mở hơn, cô xúc động trước vẻ đẹp tuyệt diệu của quê hương.
Miền Nam – vùng đất mới khai phá, tuy được thiên nhiên ưu đãi,
nhưng khi còn ban sơ hoang dã là vùng “kinh địa”:
Rừng thiêng nước độc thú bầy,
Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội đầy như bánh canh.
Thế nhưng, bằng nghị lực và ý chí sắc đá của dân tộc, Cha Ông ta đã thu phục
và kiến tạo thành vùng đất mới trù phú:
Ai về Gia Định thì về,
Nước trong gạo trắng dễ bề làm ăn.
Những vụ lúa bội thu, những vườn hoa quả trĩu cành…
Biên Hoà bưởi chẳng đắng the
Ăn vào ngọt lịm như chè đậu xanh
Dự báo đều hướng về thiên nhiên:
Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm
Chắc là nước bể, nước mưa đầy trời.
Ai ơi, nên nhớ lấy lời,
Trông cơ trời đất, liệu thời làm ăn.
Đặc sản, sản vật, hoa màu phong phú nơi đó, thể hiện quá trình phấn đấu và sức
sống dạt dào dân bản xứ:
Tháp Mười sinh nghiệp phèn chua,
Hổ mây, cá sấu thi đua vẫy vùng.
19
Chúng ta xuôi dòng Hậu Giang sẽ được thường thức rất nhiều các món ăn đặc
trưng từng vùng:
Ai về tới thẳng Năm Căn
Ghé ăn bánh gỏi Sóc Trăng, Bãi Xàu
Mắm nêm, chuối chát, khế, rau,
Tôm càng Đại Ngãi cặp vào khó quên!
6. Ca dao về tình cảm gia đình và bạn bè
Ca dao là cây đàn muôn điệu rung lên những tiếng tơ lòng của người dân đất
Việt. Những câu ca đằm thắm, trữ tình mang chở cả điệu tâm hồn và chứa chan
những tình cảm thiết tha, sâu năng, đặc biệt là tình cảm gia đình. Bởi vậy, có ý
kiến cho rằng: “Ca dao dân ca đã thể hiện tình cảm gia đình sâu sắc”.
Những lời hát ấy đã đi sâu vào tiềm thức mỗi người qua tiếng ru của bà, của mẹ
và nhắc nhở chúng ta về công ơn trời biển của mẹ cha:
Công cha như núi ngất trời
Nghĩ mẹ như nước ở ngoài biển Đông
Núi cao biển rộng mênh mông
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!
Bài ca dao như một lời nhắn nhủ nhẹ nhàng mà tha thiết. Phép so sánh được sử
dụng liên tiếp khiến hai câu thơ vừa cụ thể, vừa gợi hình, sinh động. Công cha và
nghĩa mẹ được ví với những hình ảnh thiên nhiên vĩnh hằng: núi ngất trời, nước
biển Đông. Ơn cha to lớn không thể đo đếm còn tình mẹ thương con sâu nặng,
đong đầy. Những lời thơ gợi nhắc về công ơn sinh thành dưỡng dục bao la vô tận
của mẹ cha. Đồng thời, tác giả dân gian khuyên răn kẻ làm con phải có bổn phận
chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ để đền đáp công ơn ấy. Những lời ca dao thấm
đượm nghĩa tình như ru hồn người vào thế giới của đạo lý, yêu thương.
Không những nhắn nhủ con người về công ơn cha mẹ, ca dao dân ca còn thể
hiện tình cảm nhớ thương quê mẹ của người con gái xa:
20