Bổ nhiệm cán bộ diện ban thường vụ tỉnh uỷ bắc giang quản lý giai đoạn hiện nay

  • 103 trang
  • file .pdf
LUẬN VĂN:
Bổ nhiệm cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ
Bắc Giang quản lý giai đoạn hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cán bộ và công tác cán bộ luôn là vấn đề quan trọng quyết định đến sự thành bại
của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc"
[38, tr.269], "Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém " [38,
tr.240]. Cán bộ và công tác cán bộ càng có ý nghĩa quan trọng hơn khi đất nước ta đang
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Nghị quyết
hội nghị lần thứ ba BCH Trung ương (khoá VIII) về chiến lược cán bộ trong thời kỳ
mới tiếp tục khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn
liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ, là khâu then chốt trong công tác
xây dựng Đảng” [14, tr.66].
Để sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc đi đến thắng lợi, đòi hỏi phải huy
động được sức lực, trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân; trong đó vấn đề có tính quyết định
là phải xây dựng được ĐNCB có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực gánh vác nhiệm vụ
được giao. Muốn vậy cần phải thực hiện đồng bộ, khoa học tất cả các khâu của công tác
cán bộ, gồm: Xây dựng tiêu chuẩn, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm,
điều động, luân chuyển, chính sách, kiểm tra và quản lý cán bộ. Trong đó, BNCB có ý
nghĩa quan trọng, quyết định trực tiếp đến hiệu quả, chất lượng của công tác cán bộ và
có ý nghĩa kiểm nghiệm các khâu khác trong công tác cán bộ.
Thời gian qua, công tác cán bộ nói chung và BNCB nói riêng ở tỉnh Bắc Giang
được các cấp uỷ đảng nhận thức tương đối đầy đủ và đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đạt
một số kết quả tích cực, góp phần xây dựng ĐNCB có phẩm chất, năng lực, trình độ, uy tín,
cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của địa phương. Tuy nhiên, công tác bổ
nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử còn bộc lộ một số hạn chế là: Nhận
thức về BNCB và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong BNCB có lúc, có nơi chưa
sâu; thực hiện quy trình, quy chế, quy định về BNCB chưa thật sự đầy đủ, nghiêm túc, vẫn
còn tình trạng bỏ sót; công tác đánh giá cán bộ phục vụ cho BNCB đôi khi còn chủ quan,
chưa thật công tâm, tiêu chí đánh giá còn chung chung, thiếu cụ thể; một số trường hợp
BNCB lãnh đạo, quản lý còn nặng về cơ cấu, chưa bảo đảm tiêu chuẩn, còn lúng túng, bị
động và có biểu hiện cục bộ, hẹp hòi; vẫn còn tình trạng bố trí chưa đúng người, phân công
chưa phù hợp với năng lực, sở trường, chuyên môn đào tạo, dẫn đến công việc trì trệ; có
trường hợp cán bộ vi phạm kỷ luật, uy tín giảm sút nhưng chưa kịp thời thay thế…Hạn chế
trên mặc dù không phổ biến, nhưng phần nào có ảnh hưởng đến chất lượng lãnh đạo, chỉ
đạo, triển khai, thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác cán bộ, BNCB trong giai đoạn
hiện nay, đặc biệt BNCB thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý, tác giả mạnh dạn đi sâu tìm
hiểu đề tài Bổ nhiệm cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý giai
đoạn hiện nay, với hy vọng góp phần khắc phục hạn chế, xây dựng ĐNCB diện BTV
Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý trong sạch, vững mạnh, đáp ứng tốt yêu cầu của thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về công tác cán bộ và
BNCB ở nhiều góc độ khác nhau. Có thể nêu lên một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
liên quan đến đề tài như:
- Bệnh quan liêu trong công tác cán bộ ở nước ta hiện nay - Thực trạng và giải
pháp- PGS, TS. Trương Thị Thông và TS. Lê Kim Việt (đồng chủ biên), Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2008.
- Đổi mới mạnh mẽ, triển khai đồng bộ công tác tổ chức xây dựng Đảng - Nông
Đức Mạnh, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 11, 2007.
- Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng ĐNCB trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước - PGS, TS Nguyễn Phú Trọng và PGS, TS Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên),
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
- “Phát huy dân chủ công khai- Một biện pháp quan trọng trong công tác cán
bộ”- Cao Ngọc Hải, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 7, 2006.
- Quán triệt sâu sắc, thực hiện đúng, thống nhất các quy chế, quy định về công tác
cán bộ - Hồ Đức Việt, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 10, 2007.
- “Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ”- Nguyễn Đức Hạt, Tạp chí cộng sản, số 776,
tháng 6-2007.
- “Trách nhiệm người đứng đầu trong công tác cán bộ” - Bùi Đức Lại, Tạp chí
Xây dựng Đảng, số 6, 2007.
- “Tư tưởng Hồ Chí Minh về sử dụng cán bộ” - Nguyễn Thế Tư, Tạp chí Xây
dựng Đảng, số 10, 2007.
- “Về thí điểm bổ nhiệm, đề bạt cán bộ sau khi cán bộ trình đề án” - Trần Minh
Tuấn, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 7, 2007.
- "Xây dựng ĐNCB chủ chốt các cấp, trước mắt là người đứng đầu”- Chu Văn Rỵ,
Tạp chí Cộng sản, số 5, 1997:
* Về đề tài khoa học, luận án, luận văn:
- "Cơ sở lý luận và thực tiễn đánh giá, luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý trong
thời kỳ CNH, HĐH đất nước"- Đề tài khoa học cấp Nhà nước do PGS, TS Trần Đình
Hoan làm chủ nhiệm, 2005.
- Luân chuyển cán bộ diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý giai đoạn hiện nay-
Nguyễn Văn Năng, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, Hà Nội, 2006.
- “Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong BNCB diện BTV Huyện uỷ Vĩnh
Thuận, tỉnh Kiên Giang quản lý giai đoạn hiện nay”, Lê Văn Đủ, Luận văn thạc sĩ khoa
học chính trị, Hà Nội, 2008.
- “Xây dựng ĐNCB lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”-Nguyễn Thái Sơn, Luận án tiến sĩ khoa học
lịch sử, Hà Nội, 2002.
- “Quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc
Giang quản lý trong giai đoạn hiện nay”- Thân Minh Quế, Luận văn thạc sĩ khoa học
chính trị, Hà Nội 2007.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, bài viết trên đã đi sâu nghiên cứu dưới
nhiều góc độ khác nhau và đề ra nhiều giải pháp cụ thể, thiết thực nhằm xây dựng
ĐNCB thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đặc biệt, một số công
trình đã đề cập đến vấn đề xây dựng ĐNCB nói chung, xây dựng ĐNCB diện BTV Tỉnh
uỷ Bắc Giang quản lý nói riêng và đã có những đóng góp nhất định về mặt lý luận và
thực tiễn. Song đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu có hệ thống dưới góc
độ một luận văn khoa học về BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý, khi mà
trong thực tiễn công tác BNCB đang đặt ra nhiều vấn đề rất mới cần được quan tâm
xem xét, giải quyết một cách đồng bộ, toàn diện.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát, đánh giá đúng thực trạng BNCB diện
BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý từ năm 2005 đến nay, luận văn đề xuất mục tiêu,
phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu
quả BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản
lý.
- Phân tích những ưu điểm và hạn chế trong BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang
quản lý từ năm 2005 đến nay; tìm nguyên nhân ưu điểm, hạn chế của thực trạng và rút
ra những kinh nghiệm từ thực tiễn.
- Đề xuất mục tiêu, phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng
BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản
lý.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý từ
năm 2005 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cán bộ và BNCB; đặc
biệt chú ý các quan điểm của Đảng ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật
lịch sử, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, như:
phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, quy nạp và diễn dịch, thống kê, điều tra...
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần đánh giá đúng thực trạng, bổ sung, làm rõ cơ sở lý luận và
thực tiễn của BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản, có tính khả thi, góp phần thực hiện tốt việc
BNCB diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý giai đoạn hiện nay.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong BNCB của các cấp uỷ đảng,
cơ quan tổ chức cán bộ và trong nghiên cứu, giảng dạy về công tác cán bộ của trường
chính trị tỉnh, trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
được kết cấu gồm 2 chương, 5 tiết.
Chương 1
BỔ NHIỆM CÁN BỘ DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ
BẮC GIANG QUẢN LÝ - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN
VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. ĐẢNG BỘ TỈNH, BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ BẮC GIANG VÀ
CÁN BỘ DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ BẮC GIANG QUẢN LÝ
1.1.1. Khái quát về Đảng bộ tỉnh và BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang
1.1.1.1. Đảng bộ tỉnh Bắc Giang
Bắc Giang là tỉnh miền núi nằm ở phía Đông Bắc của Tổ quốc, Phía Bắc và Đông
Bắc tiếp giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây và Tây Bắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên, phía Nam
và Đông Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh. Diện tích tự nhiên của
tỉnh 3.822,6 km2; gồm 09 huyện, 01 thành phố trực thuộc tỉnh, với 230 xã, phường, thị
trấn (177 xã miền núi, 33 xã đặc biệt khó khăn). Dân số của tỉnh đến cuối năm 2009 gần
1,6 triệu người với trên 20 dân tộc anh em cùng chung sống; trong đó, dân tộc Kinh
chiếm 87,9%, còn lại là các dân tộc: Nùng, Tày, Sán Chí, Sán Dìu, Cao Lan, Dao,
Hoa...; có 02 tôn giáo hoạt động hợp pháp là Phật giáo và Thiên Chúa giáo.
Đến cuối năm 2009, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang có 15 đảng bộ trực thuộc (trong đó
10 đảng bộ huyện, thành phố; 05 đảng bộ trực thuộc), với 61.601 đảng viên, 824 tổ chức
cơ sở đảng (324 đảng bộ và 500 chi bộ), 3.768 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở. Bộ máy
cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể cấp tỉnh gồm: 08 ban, cơ quan của Tỉnh uỷ;
MTTQ và 05 đoàn thể nhân dân; 12 hội quần chúng; 29 sở, ban, ngành trực thuộc
HĐND, UBND tỉnh; 19 cơ quan ngành dọc Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh.
Những năm qua, Đảng bộ tỉnh đã luôn quán triệt, kiên định đường lối đổi mới;
giữ vững nguyên tắc tổ chức của Đảng; phát huy dân chủ, truyền thống đoàn kết; triển
khai lãnh đạo toàn diện các mặt công tác. Trong từng giai đoạn đều đề ra nhiệm vụ
trọng tâm, trọng điểm; trong đó luôn xác định rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung
tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng văn hoá là nền tảng, mục tiêu và động lực
phát triển. Hướng trọng tâm vào lãnh đạo phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
và ngành nghề nông thôn; đồng thời, tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất nông nghiệp
hàng hoá, nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
CNH, HĐH; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá và giải quyết các vấn đề xã
hội; bảo đảm giữ vững ổn định chính trị tại địa phương. Do có sự tập trung lãnh đạo, chỉ
đạo của Đảng bộ tỉnh và sự phấn đấu nỗ lực của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, Bắc
Giang đã có bước tiến mới trên con đường CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Chỉ tính
riêng sau gần 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (2006-
2009), trong điều kiện phải chống chọi với bão lũ và ảnh hưởng của suy thoái kinh tế
toàn cầu, song tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của tỉnh vẫn ở mức khá, đạt trên
9%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ
tăng, tỷ trọng nông - lâm nghiệp giảm; các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá - xã
hội có nhiều tiến bộ; đời sống nhân dân cơ bản ổn định; quốc phòng - an ninh được giữ
vững.
Mặc dù vậy, Bắc Giang vẫn là tỉnh nghèo, mức tăng trưởng kinh tế còn thấp,
chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; trình độ quản lý,
năng lực cạnh tranh, khả năng hội nhập kinh tế còn thấp; cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng
chưa theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội. Một số vấn đề về giáo dục, y tế, văn
hoá, xã hội còn có mặt hạn chế, bất cập; đời sống nhân dân nhìn chung còn ở mức thấp
(năm 2009 bình quân GDP/người mới đạt khoảng 530 USD). Công tác xây dựng các tổ
chức trong hệ thống chính trị còn bộc lộ một số hạn chế: Một số cấp uỷ chưa thực hiện
tốt việc đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ, nhất là cán bộ trẻ, cán bộ
nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số. Việc đánh giá tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững
mạnh ở một số nơi chưa sát thực chất; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ
sở đảng chưa ngang tầm nhiệm vụ, nhất là ở khu vực nông thôn, đường phố, doanh
nghiệp. Chỉ đạo, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp có mặt kém hiệu quả. Hoạt
động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân ở một số nơi còn nặng về hành chính, sự vụ,
chưa thật sự gần dân, gắn bó với cơ sở. Công tác an ninh trật tự có mặt hạn chế, tình
hình tội phạm và tệ nạn xã hội vẫn diễn biến phức tạp. Đây chính là những lực cản trên
con đường phát triển mà Đảng bộ tỉnh Bắc Giang phải tập trung giải quyết trong thời gian
tới.
Những khuyết điểm, hạn chế trên có nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ
quan; trong đó có nguyên nhân trực tiếp, có ý nghĩa quan trọng là do năng lực lãnh đạo
của Tỉnh uỷ, BTV Tỉnh uỷ và chất lượng, năng lực công tác của ĐNCB, trước hết là
ĐNCB lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý.
1.1.1.2. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang- vai trò, chức năng, nhiệm vụ
Theo khoản 2, điều 9, chương II, Điều lệ Đảng (khoá X) quy định: “Giữa hai kỳ
Đại hội, cơ quan lãnh đạo Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp
hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp uỷ)” [16, tr.9]. Như vậy, cấp uỷ là tên gọi tắt dùng
để chỉ tập thể BCH đảng bộ, chi bộ được đại hội đảng bộ, chi bộ bầu ra, có vai trò là cơ
quan lãnh đạo cao nhất của đảng bộ, chi bộ đó giữa hai kỳ đại hội. Đại hội đại biểu,
hoặc đại hội đảng viên của đảng bộ, chi bộ thảo luận, biểu quyết nhiều nội dung tại đại
hội, trong đó có bầu cử cấp uỷ.
Điều 19 Điều lệ Đảng quy định: “Cấp uỷ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
(gọi tắt là tỉnh uỷ, thành uỷ),…lãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu; nghị
quyết, chỉ thị của cấp trên” [16, tr.16]; Điều 20 Điều lệ Đảng ghi: “Hội nghị tỉnh uỷ,
thành uỷ, …bầu ban thường vụ, bầu bí thư và phó bí thư trong số uỷ viên thường vụ” và
“Ban thường vụ lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của đại hội đại biểu,
nghị quyết, chỉ thị của cấp uỷ cùng cấp và cấp trên; quyết định những vấn đề về chủ
trương, tổ chức, cán bộ” [16, tr.17].
Như vậy, theo Điều lệ Đảng, BTV cấp uỷ vừa là cơ quan lãnh đạo, vừa có nhiệm
vụ chỉ đạo, tổ chức triển khai, thực hiện các nghị quyết, chỉ thị được BCH đảng bộ giao
và là cơ quan thường trực để giải quyết các công việc giữa 2 kỳ họp BCH đảng bộ. Tuỳ
theo phân cấp quản lý, BTV cấp uỷ thay mặt BCH đảng bộ thực hiện công tác cán bộ
của đảng bộ.
Căn cứ quy định Điều lệ Đảng (khoá X) và quy định, hướng dẫn của Trung ương,
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVI (năm 2005) đã bầu ra BCH Đảng bộ
tỉnh gồm 49 uỷ viên. Tại hội nghị lần thứ nhất, BCH Đảng bộ tỉnh đã bầu BTV Tỉnh uỷ
gồm 13 uỷ viên; bầu bí thư, 02 phó bí thư Tỉnh uỷ trong số uỷ viên BTV Tỉnh uỷ và đã
được BCT Trung ương Đảng chuẩn y kết quả bầu cử. Căn cứ quy định, hướng dẫn của
Trung ương, BTV Tỉnh uỷ phân công các uỷ viên BTV như sau: Bí thư, kiêm chủ tịch
HĐND tỉnh; 01 phó bí thư thường trực, phụ trách công tác xây dựng đảng, MTTQ, đoàn
thể; 01 phó bí thư- Chủ tịch UBND tỉnh; 10 uỷ viên thường vụ phân công đảm nhiệm các
chức vụ: phó chủ tịch HĐND tỉnh; phó chủ tịch UBND tỉnh; chủ nhiệm UBKT Tỉnh uỷ;
trưởng các ban: tổ chức, tuyên giáo, dân vận; giám đốc Công an tỉnh; chỉ huy trưởng Bộ
Chỉ huy Quân sự tỉnh; bí thư Thành uỷ Bắc Giang và bí thư Huyện uỷ Yên Thế.
Cơ cấu độ tuổi của BTV Tỉnh uỷ thời điểm Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (năm
2005) như sau: Từ 41 đến 50 tuổi có 04 đồng chí; từ 51-55 tuổi có 08 đồng chí; trên 55 tuổi
có 01 đồng chí. Cả 13 đồng chí uỷ viên thường vụ Tỉnh uỷ đều là nam giới. Về trình độ
chuyên môn: 13 đồng chí đều có trình độ đại học; trong đó tiến sĩ 01 đồng chí. Về lý luận
chính trị: 13 đồng chí đều có trình độ cử nhân, cao cấp.
Các đồng chí uỷ viên BTV Tỉnh uỷ đều là những cán bộ lãnh đạo tiêu biểu cho lòng
trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng; gương mẫu về đạo đức lối sống; có tín
nhiệm cao trong Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh; có tư duy chính trị nhạy bén,
thể hiện qua thực tiễn điều hành công việc và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá
trình lãnh đạo, chỉ đạo.
Trên cơ sở Quy định số 23-QĐ/TW ngày 31/10/2006 của BCT về thi hành Điều lệ
Đảng (khoá X), các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương; ngày 23/01/2006 BCH
Đảng bộ tỉnh Bắc Giang (khoá XVI) đã ban hành Quy chế làm việc số 01-QC/TU, sau đó
sửa đổi, bổ sung quy chế trên và ngày 26/6/2009 ban hành Quy chế làm việc số 06-QC/TU.
Tại Điều 3, Quy chế làm việc số 06-QC/TU của BCH Đảng bộ tỉnh quy định: “BTV Tỉnh
uỷ là cơ quan thay mặt Tỉnh uỷ lãnh đạo, chỉ đạo các mặt công tác, hoạt động của Đảng bộ
tỉnh giữa 2 kỳ hội nghị Tỉnh uỷ” [12, tr.3]. Tại điều 4 Quy chế làm việc số 06-QC/TU quy
định trách nhiệm, quyền hạn của BTV Tỉnh uỷ như sau:
1. Cụ thể hoá và có kế hoạch tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Trung
ương và nghị quyết của Tỉnh uỷ. Thay mặt Tỉnh uỷ lãnh đạo, kiểm tra toàn diện các mặt
công tác của Đảng, chính quyền và đoàn thể ở địa phương.
2. Thảo luận, quyết định: Chương trình công tác hằng năm của BTV Tỉnh uỷ. Các
nhiệm vụ, biện pháp chủ yếu về: quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội của các
huyện, thành phố; quy hoạch ngành; phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế- xã hội quan
trọng của tỉnh; hợp tác với nước ngoài; nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; công tác xây dựng
đảng và tổ chức, cán bộ; các chương trình, kế hoạch về lãnh đạo và tổ chức thực hiện
nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hằng năm trong Đảng bộ tỉnh.
3. Quyết định về công tác tổ chức, cán bộ:
- Phân công công tác đối với các đồng chí uỷ viên BTV Tỉnh uỷ, uỷ viên BCH Đảng
bộ tỉnh.
- Nhận xét, đánh giá cấp uỷ viên; trưởng các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể nhân dân
tỉnh; thường trực cấp uỷ huyện. Xác nhận quy hoạch; quyết định tuyển chọn, bố trí, phân
công công tác, giới thiệu ứng cử, chỉ định, bổ nhiệm, miễn nhiệm, kỷ luật, cho thôi việc,
nghỉ chế độ một lần, nghỉ hưu trước tuổi, nâng lương trước thời hạn và thực hiện chính sách
đối với cán bộ thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý.
- Chuẩn bị nhân sự để Tỉnh uỷ xem xét, đề nghị BCT, BBT Trung ương Đảng giới
thiệu ứng cử các chức danh: Bí thư Tỉnh uỷ, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh, Chủ
tịch UBND tỉnh; giới thiệu nhân sự bổ sung tỉnh uỷ viên; bầu bổ sung uỷ viên BTV Tỉnh
uỷ, uỷ viên UBKT Tỉnh uỷ. Giới thiệu nhân sự Phó Chủ tịch HĐND tỉnh và Phó Chủ tịch
UBND tỉnh để HĐND tỉnh bầu (sau khi đã có ý kiến của Tỉnh uỷ).
- Đề nghị BCT, BBT Trung ương bố trí, phân công công tác; nhận xét, đánh giá; bổ
nhiệm, miễn nhiệm; khen thưởng, kỷ luật; nghỉ hưu và thực hiện chính sách đối với các
chức danh cán bộ của tỉnh thuộc quyền quyết định trực tiếp của BCT, BBT Trung ương: Bí
thư Tỉnh uỷ, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh.
- Hiệp y về đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng... đối với cán bộ là cấp
trưởng của một số cơ quan trực thuộc Trung ương đóng trên địa bàn và cấp trưởng,
cấp phó của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, Công an tỉnh, theo phân cấp quản lý cán bộ của
BCT.
- Quyết định thành lập, ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ đối với các tổ chức
đảng trực thuộc ở những nơi có đặc điểm riêng (không phải đảng bộ cấp huyện, thành phố)
theo quy định của Trung ương; thành lập, giải thể các ban cán sự đảng, đảng đoàn theo
hướng dẫn của Trung ương. Quyết định phân cấp quản lý cán bộ đối với các ban cán sự
đảng, đảng đoàn ở các cơ quan, ban, ngành, MTTQ, đoàn thể tỉnh; các huyện uỷ, thành uỷ,
đảng uỷ trực thuộc.
- Định hướng nhân sự đại hội đại biểu các đảng bộ huyện, thành phố, đảng bộ trực
thuộc, MTTQ và các đoàn thể nhân dân; các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội cấp
tỉnh.
- Cho ý kiến về công tác chuẩn bị và duyệt báo cáo chính trị trình đại hội đảng bộ
các huyện, thành phố, đảng bộ trực thuộc.
- Quyết định thành lập mới, sáp nhập hoặc giải thể các ban, cơ quan của Tỉnh uỷ.
Cho chủ trương về việc giải thể, sáp nhập, thành lập mới cơ quan, đơn vị thuộc UBND tỉnh
quản lý, theo hướng dẫn của Trung ương.
- Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và mối quan hệ công
tác của các ban, cơ quan thuộc Tỉnh uỷ (trừ UBKT Tỉnh uỷ), MTTQ và các đoàn thể nhân
dân cấp tỉnh.
- Khi cần thiết, ban hành một số quy chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, tổ
chức trong hệ thống chính trị của tỉnh.
- Xét khen thưởng đối với tổ chức đảng và đảng viên; xem xét giải quyết khiếu nại,
tố cáo và quyết định kỷ luật theo quy định của Điều lệ Đảng.
4. Chỉ đạo phương hướng giải quyết đối với các vụ án phức tạp liên quan đến chính
trị, quan hệ đối ngoại và việc truy cứu trách nhiệm hình sự của các cơ quan pháp luật đối
với cán bộ thuộc diện BTV Tỉnh uỷ quản lý.
5. Nghe các báo cáo về: tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội và
kiểm điểm sự chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh 6 tháng, 01 năm; kết quả thực hiện kế
hoạch xây dựng cơ bản, chương trình mục tiêu hằng năm và phương hướng, nhiệm vụ, giải
pháp chủ yếu của năm sau; báo cáo tình hình dự toán thu, chi ngân sách của tỉnh 06 tháng
và hằng năm; báo cáo quyết toán ngân sách hằng năm; những công việc Thường trực Tỉnh
uỷ giải quyết hằng tháng; tình hình lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám
sát, thi hành kỷ luật và hoạt động của UBKT các cấp trong Đảng bộ tỉnh 6 tháng, một năm;
tình hình chấp hành pháp luật và hoạt động của các cơ quan tư pháp trên địa bàn tỉnh
hằng năm; tình hình thu, chi ngân sách của Đảng bộ tỉnh hằng năm; các chính sách liên
quan đến đông đảo nhân dân.
6. Chuẩn bị nội dung các kỳ họp của Tỉnh uỷ. Thay mặt Tỉnh uỷ báo cáo các mặt
công tác định kỳ và đột xuất với BCT, BBT Trung ương; thông báo cho cấp uỷ trực thuộc
tỉnh các nội dung theo quy định. Báo cáo những công việc BTV Tỉnh uỷ đã giải quyết với
Tỉnh uỷ.
7. Chỉ đạo làm thử, rút kinh nghiệm những vấn đề mới và quan trọng trong công tác
lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ. Tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị
của Trung ương, Tỉnh uỷ và BTV Tỉnh uỷ. Tham gia hoặc kiến nghị với Trung ương những
vấn đề về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật... thuộc thẩm quyền của cấp trên.
8. Ban hành nghị quyết hoặc thông báo ý kiến lãnh đạo về quy hoạch, kế hoạch phát
triển các ngành và các lĩnh vực, các địa bàn trọng yếu; về việc vận dụng các cơ chế, chính
sách của Nhà nước, hoặc cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội lớn của tỉnh có ảnh hưởng sâu
rộng lớn đến đời sống nhân dân; về chủ trương huy động các nguồn lực, vay vốn để đầu tư
phát triển; về chủ trương đầu tư một số dự án quan trọng, sử dụng nhiều đất, hoặc ảnh
hưởng đến quyền lợi của nhiều đối tượng xã hội, đến an ninh, quốc phòng, đối ngoại trên
địa bàn, phù hợp với tình hình thực tiễn của tỉnh; định hướng đổi mới, nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, khuyến khích phát triển và quản lý kinh tế ư
nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở địa bàn tỉnh. Thảo luận và quyết định những vấn
đề cần thiết khác do Đảng đoàn HĐND tỉnh, Ban Cán sự đảng UBND tỉnh, các tổ chức
đảng trực thuộc đề nghị.
9. BTV Tỉnh uỷ có thể uỷ nhiệm cho các uỷ viên BTV Tỉnh uỷ thực hiện một số
công việc cụ thể. Các uỷ viên BTV Tỉnh uỷ có trách nhiệm tổ chức thực hiện, báo cáo tình
hình kết quả thực hiện nhiệm vụ và chịu trách nhiệm trước BTV Tỉnh uỷ về nhiệm vụ được
giao. Đồng chí Uỷ viên BTV Tỉnh uỷ là Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh uỷ và Chủ nhiệm
UBKT Tỉnh uỷ được thay mặt BTV Tỉnh uỷ ký một số văn bản theo sự uỷ quyền của BTV
Tỉnh uỷ.
Như vậy, là cơ quan lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ họp BCH Đảng bộ tỉnh,
BTV Tỉnh uỷ có vai trò rất quan trọng, lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện các mặt công tác và hoạt
động của các tổ chức trong hệ thống chính trị của tỉnh, từ lãnh đạo phát triển kinh tế, văn
hoá xã hội, an ninh quốc phòng…, đến công tác xây dựng đảng, chính quyền, đoàn thể
nhân dân. Căn cứ các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, BTV Tỉnh uỷ đề ra các chủ
trương, nhiệm vụ, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị của
địa phương trong từng thời gian. Mọi công việc có hoàn thành và đạt được kết quả tốt, đều
phụ thuộc vào quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của BTV Tỉnh uỷ.
1.1.2. Cán bộ và đội ngũ cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang
quản lý - quan niệm, vai trò, đặc điểm
1.1.2.1. Quan niệm, vai trò của cán bộ
+ Vấn đề cán bộ đã được khá nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập,
nhưng trong phạm vi luận văn này, để hiểu rõ đối tượng, vai trò, đặc điểm của ĐNCB
diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý, rất cần được nhận thức đúng về danh từ “cán
bộ”.
Các nhà nghiên cứu đã xác định: Danh từ "cán bộ" được du nhập vào nước ta từ
những năm 30 của thế kỷ XX và được nhân dân ta sử dụng khá phổ biến để chỉ những
người đi hoạt động cho cách mạng. Sau khi cách mạng giành được thắng lợi, nhà nước
dân chủ nhân dân được thành lập, hệ thống chính trị được xây dựng, phát triển và hoàn
thiện cùng với sự phát triển của ĐNCB, công chức, viên chức, thì danh từ "cán bộ" vẫn
được sử dụng để chỉ tất cả những người làm việc trong bộ máy của hệ thống chính trị.
Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ học, xuất bản năm 2000, giải
thích khái niệm "cán bộ" có 2 nghĩa: “1. Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn
trong cơ quan nhà nước; 2. Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ
chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ” [55, tr.109]. Theo giải thích trên,
danh từ “cán bộ” được hiểu theo nghĩa thứ nhất là người làm công tác có chuyên môn đơn
thuần trong cơ quan nhà nước; còn hiểu theo nghĩa thứ hai là người có chức vụ, có thể từ
cấp phó trở lên, phân biệt với người làm việc chuyên môn đơn thuần không có chức vụ.
Như vậy, khái niệm trên tuy đã có sự phát triển hơn, nhưng chưa làm rõ được
những người làm việc chuyên môn đơn thuần trong các cơ quan Đảng, đoàn thể và cũng
chưa phân biệt được người làm việc chuyên môn có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên
với người có trình độ trung cấp trở xuống. Nếu phân biệt “cán bộ” là người có chức vụ
với người không có chức vụ, thì lực lượng này chiếm số ít trong ĐNCB và chủ yếu hình
thành qua con đường bổ nhiệm, bầu cử trong cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị,
và đây mới chỉ là cách định nghĩa chung nhất, khi sử dụng vào từng trường hợp cụ thể
cần phải định nghĩa lại cho sát hợp hơn.
Khi xây dựng Đề án Pháp lệnh cán bộ, công chức, do hệ thống chính trị nước ta
có những đặc điểm riêng, nên BCT (khoá VIII) đã có ý kiến chỉ đạo:
Ở nước ta, sự hình thành ĐNCB, viên chức có đặc điểm khác các nước. Cán bộ
làm việc ở các cơ quan Nhà nước, Đảng và đoàn thể là một khối thống nhất trong
hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Bởi vậy, cần có một pháp lệnh có phạm vi
điều chỉnh chung đối với cán bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị bao gồm: các công
chức nhà nước (trong đó có công chức làm việc ở cơ quan quân đội, cảnh sát, an
ninh…), cán bộ làm việc chuyên trách trong các cơ quan Đảng, đoàn thể [22, tr13].
Như vậy, theo tinh thần chỉ đạo của BCT thì khái niệm “cán bộ” của ta bao hàm
cả công chức, viên chức hoạt động trong các tổ chức Đảng, Nhà nước và các đoàn thể
nhân dân.
Còn theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công
chức được ban hành ngày 08/5/2003, thì cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong
biên chế, bao gồm có 8 nhóm đối tượng. Nhưng cách định nghĩa này còn quá rộng và
một số chức danh có nên gọi là cán bộ không, như giáo viên làm công tác chuyên môn
đơn thuần chẳng hạn.
Trong Sửa đổi lề lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ là những
người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi
hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu
rõ, để đặt chính sách cho đúng” [38, tr.269].
Từ nhận định và phân tích trên, có thể hiểu quan niệm về “cán bộ” dưới góc
độ: 1. Là người làm công tác chuyên môn trong cơ quan, tổ chức của hệ thống chính
trị; 2. Là người có chức vụ, có vai trò lãnh đạo, quản lý, điều hành phối hợp hoạt
động của các cá nhân trong đơn vị, cơ quan, tổ chức nhằm giải quyết quan hệ công
tác theo mục tiêu đã đề ra; 3. Là người được tuyển dụng, bổ nhiệm, bầu cử trong cơ
quan, tổ chức của hệ thống chính trị.
Cũng cần phân biệt cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý, cụ thể như sau:
Thông thường, khái niệm cán bộ lãnh đạo vẫn được hiểu đó là những người giữ
chức vụ và có trách nhiệm cao trong một tổ chức, có tầm ảnh hưởng lớn đến hoạt động
của tổ chức, của bộ máy và có vai trò tham gia định hướng, điều khiển hoạt động của cả
bộ máy, chẳng hạn như: các uỷ viên BCH, BTV cấp uỷ đảng; trưởng, phó các đoàn
thể…đó là những người đứng đầu quan trọng nhất, có chức vụ cao nhất trong một tập
thể, có quyền đề ra những quyết định về chủ trương công tác, có trách nhiệm và quyền
hạn điều hành một tập thể, một đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ và có thể chi phối, dẫn
dắt toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định.
Theo Từ điển bách khoa toàn thư của Liên Xô (trước đây) thì cán bộ lãnh đạo có
hai nghĩa: 1.Chỉ người đứng đầu của một tổ chức, một phong trào; 2.Là người làm thức
tỉnh hành vi của người khác.
Như vậy có thể hiểu, cán bộ lãnh đạo là người đứng đầu một tổ chức, cơ quan,
một phong trào, có thẩm quyền ra các quyết định định hướng, điều hành hoạt động của
tổ chức, cá nhân. Còn cán bộ quản lý cũng là người đứng đầu một tổ chức, nhưng nhấn
mạnh việc điều hành hoạt động của tổ chức, việc sử dụng công cụ phương tiện để điều
khiển một loại hoạt động nào đó.
Giữa cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý có điểm giống nhau là: Cán bộ lãnh đạo
và cán bộ quản lý đều là chủ thể ra quyết định, điều khiển hoạt động của một tổ chức;
người cán bộ lãnh đạo cũng phải thực hiện chức năng quản lý và người cán bộ quản lý
cũng phải thực hiện chức năng lãnh đạo, cho nên khó có thể phân biệt rạch ròi đầu là
người lãnh đạo, đâu là người quản lý.
Tuy nhiên, hai khái niệm trên không hoàn toàn đồng nhất với nhau: Hoạt động
lãnh đạo chủ yếu là định hướng cho khách thể thông qua hệ thống cơ chế, đường lối, chủ
trương, chính sách "làm thức tỉnh" hành vi của đối tượng, định hướng hoạt động của đối
tượng và xã hội; còn hoạt động quản lý mang tính điều khiển, vận hành thông qua những
thiết chế có tính pháp lệnh được quy định từ trước. Cán bộ quản lý còn được hiểu là nhà
điều hành, nhà quản lý; họ là những người có chức trách, nhiệm vụ điều khiển, tổ chức,
phối hợp hoạt động chuyên môn trong một khâu, một công đoạn, một chương trình, dự
án. Xét trên tổng thể, quá trình quản lý là sự tiếp tục của quá trình lãnh đạo, là khâu tất
yếu để thực hiện sự lãnh đạo. Sự khác nhau giữa cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý chỉ là
tương đối, nhưng lại rất cần thiết cho công tác tổ chức cán bộ.
Cũng cần hiểu rõ thêm khái niệm “cán bộ lãnh đạo chủ chốt”. Trước hết, cần làm
rõ “chủ chốt” là gì? Trong “Từ điển tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ học ghi: “Chủ chốt
quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt. Cán bộ chủ chốt của phong trào” [55, tr.174].
Trong mỗi tổ chức đều có người lãnh đạo, nhiều tổ chức có tập thể lãnh đạo.
Trong tập thể lãnh đạo có người đứng đầu. Người đó là cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Vậy,
cán bộ lãnh đạo chủ chốt là người đứng đầu quan trọng nhất, có tác dụng chi phối
chính toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định. Khi xác định cán bộ lãnh đạo chủ
chốt cần đặt cán bộ trong một tổ chức nhất định. Có thể có cán bộ ở tổ chức này, trong
mối quan hệ này là cán bộ chủ chốt, nhưng trong tổ chức khác, trong mối quan hệ khác
lại không phải là cán bộ chủ chốt.
+ Cán bộ, công tác cán bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng và luôn được các nhà
lãnh đạo của giai cấp vô sản quan tâm hàng đầu.
C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đặt nền móng cho vấn đề cán bộ và xây
dựng ĐNCB của giai cấp vô sản. Từ kinh nghiệm rút ra trong lịch sử phát triển của
xã hội loài người và qua quá trình truyền bá lý luận khoa học vào phong trào vô sản,
hai ông khẳng định: “Tư tưởng căn bản không thực hiện được gì hết, muốn thực hiện
tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” [37, tr.181]. Theo
luận điểm trên, “Lực lượng thực tiễn” được hiểu là toàn bộ quần chúng vô sản và các
tầng lớp nhân dân lao động bị áp bức, bóc lột đang hành động với những hình thức
khác nhau trong cuộc đấu tranh với giai cấp tư sản và các giai cấp bóc lột khác. Còn
“những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” được hiểu là những người định
hướng, dẫn dắt hành động của quần chúng vô sản, đó là những đại biểu ưu tú nhất,
lãnh tụ của phong trào công nhân đã được giác ngộ lý luận của chủ nghĩa xã hội
khoa học và là những người cộng sản đầu tiên của giai cấp vô sản.
Kế thừa, phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề cán bộ,
V.I.Lênin cho rằng: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền
thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính
trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” [32,
tr.473]. Như vậy, theo Lênin, mỗi giai cấp muốn giành được quyền thống trị thì trong
hàng ngũ của mình phải có những nhà lãnh đạo có khả năng dẫn dắt phong trào và khi
đã có đường lối đúng thì cán bộ là khâu quyết định để biến đường lối đó thành hiện thực
cách mạng.
Khi đã giành được chính quyền, lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội,
V.I.Lênin lại khẳng định: “Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh, hiện
nay đó là then chốt; nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ
giấy lộn” [35, tr.449]. Lênin cho rằng, nhiệm vụ chính của cách mạng lúc này không chỉ
là ra nghị quyết, mà cần phải có những người tổ chức thực hiện nghị quyết, những cán
bộ cách mạng. Như vậy, theo Lênin, vị trí, vai trò của cán bộ gắn chặt với vai trò lãnh
đạo của Đảng. Đường lối chủ trương của Đảng có trở thành hiện thực cách mạng? Vai
trò lãnh đạo và sức mạnh của Đảng có được tăng cường? Đảng có tồn tại, phát triển?
chính là ở ĐNCB.
Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem: "Cán bộ là cái gốc của mọi công
việc" [38, tr.269], "Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém"
[38, tr.240]. Người còn quan niệm: cán bộ là tiền vốn của Đảng, có vốn mới làm ra lãi.
Người chỉ rõ vai trò cán bộ thể hiện qua các mối quan hệ cơ bản, đó là: 1. Là người lãnh
đạo, họ nhân danh Đảng, nhân danh tổ chức làm đầu tàu dẫn dắt phong trào cách mạng
của quần chúng, làm gương cho quần chúng, với phương châm “đảng viên đi trước,
làng nước theo sau”; 2. Là cầu nối giữa Đảng với quần chúng, họ “đem chính sách của
Đảng, của Chính phủ giải thích cho quần chúng hiểu rõ và thi hành”, đồng thời “đem
tình hình của quần chúng báo cáo với Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho
đúng” [38, tr.269]; 3. Là người đầy tớ của nhân dân, phụng sự nhân dân, bảo vệ lợi ích
và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Người nhấn mạnh: “Chủ tịch, bộ trưởng, thứ
trưởng, uỷ viên này khác là làm gì? Làm đầy tớ cho nhân dân” [39, tr.373].
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn ý thức rõ ý
nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ. Nghị quyết Hội nghị
Trung ương 3 (khoá VIII) về Chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước đã xác định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của
cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ, là khâu then
chốt trong công tác xây dựng Đảng” [14, tr.66]. Tính then chốt của cán bộ xuất phát từ
các mối quan hệ biện chứng giữa cán bộ với đường lối, nhiệm vụ chính trị, với tổ chức
và với phong trào cách mạng của quần chúng. Kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ rõ, mức độ
đúng đắn của đường lối và việc cụ thể hoá đường lối chính xác, kịp thời, cũng như việc
tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách đều tuỳ thuộc ở chất lượng ĐNCB. Vì
vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục nhấn mạnh: “Nhiệm vụ quan
trọng nhất là xây dựng ĐNCB lãnh đạo, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược và
người đứng đầu tổ chức các cấp, các ngành của hệ thống chính trị” [15, tr.293].
Như vậy, có thể khẳng định rằng ở bất kỳ giai đoạn nào trong sự nghiệp cách
mạng của Đảng thì cán bộ và công tác cán bộ luôn có vai trò quyết định đến sự thành
công hay thất bại trong lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị và quyết định
trực tiếp đến sự nghiệp cách mạng của Đảng ta.
1.1.2.2. Quan niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm của đội ngũ cán bộ diện Ban
Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý
a) Quan niệm cán bộ diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý
Do ĐNCB trong hệ thống chính trị rất đông, được hình thành ở nhiều cấp, nhiều
địa phương và trong phạm vi cả nước, nên muốn quản lý cán bộ chặt chẽ, rất cần thiết
phải phân công, phân cấp quản lý cán bộ. Chính xuất phát từ yêu cầu đó, ngày
03/5/1999, Bộ Chính trị (khoá VIII) có Quyết định số 49-QĐ/TW, sau đó sửa đổi, bổ
sung Quyết đinh số 49-QĐ/TW cho phù hợp với yêu cầu mới, và ngày 04/7/2007, Bộ
Chính trị (khoá X) có Quyết định số 67-QĐ/TW ban hành Quy định về phân cấp quản
lý cán bộ.
Căn cứ Quyết định số 67-QĐ/TW của BCT và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung
ương; BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang có Quyết định số 374-QĐ/TU ngày 03/12/2007 và sau đó
sửa đổi, bổ sung, ban hành Quyết định số 747-QĐ/TU ngày 24/7/2009 “Quy định về phân
cấp quản lý cán bộ”. Theo quy định trên, cán bộ diện BTV Tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý
gồm các chức danh sau:
* Ở cấp tỉnh:
- Các đồng chí uỷ viên BTV Tỉnh uỷ, uỷ viên BCH Đảng bộ tỉnh, Trưởng ban,
phó trưởng ban của Tỉnh uỷ, Chánh Văn phòng, phó chánh văn phòng Tỉnh uỷ;
- Phó chủ tịch HĐND, phó chủ tịch UBND tỉnh; Uỷ viên Thường trực HĐND
tỉnh;
- Uỷ viên UBKT Tỉnh uỷ, uỷ viên UBND tỉnh; bí thư, phó bí thư đảng đoàn, ban
cán sự đảng;
- Chủ tịch, phó chủ tịch: Uỷ ban MTTQ, Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân, Hội
Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh tỉnh; Bí thư, phó bí thư Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh tỉnh;
- Giám đốc, phó giám đốc Công an tỉnh và các sở trực thuộc UBND tỉnh; Đài
Phát thanh - Truyền hình tỉnh; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh tỉnh Bắc
Giang, Kho bạc Nhà nước tỉnh, Bảo hiểm Xã hội tỉnh;
- Chỉ huy trưởng, phó chỉ huy trưởng, Chính uỷ, phó chính uỷ Bộ Chỉ huy Quân
sự tỉnh;
- Chánh án, phó chánh án Toà án nhân dân tỉnh;
- Viện trưởng, phó viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh;
- Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh; Tổng Biên tập, phó tổng
biên tập Báo Bắc Giang;