Biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm ở công ty cơ khí trần hưng đạo

  • 91 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế, các doannh nghiệp Việt
Nam đang đứng trước những cơ hội nhưng cũng phải đương đầu với rất nhiều khó
khăn và thách thức. Sự cạnh tranh gay gắt và quyết liệt trên thị trường cũng như việc
xoá bỏ hàng rào thuế quan trong tương lai gần đã tạo nên sức ép buộc các doanh
nghiệp Việt Nam phải chú trọng vấn đề chất lượng sản phẩm, coi chất lượng sản phẩm
là vấn đề sồng còn của mình. Chất lượng sản phẩm ngày nay đã trở thành một trong
những nhân tố cơ bản quyết định sự thành bại trong cạnh tranh, quyết định sự tồn tại
và phát triển của từng doannh nghiệp và cảu cả nền kinh tế. Thực tế cho thấy các
doanh nghiệp thành đạt thường là nhưnngx doanh nghiệp quan tâm đến vấn đề chất
lượng, thực hiện và duy trì các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm phù hợp với
nhu cầu khách hàng và nhu cầu thị trường. Nhận thức được tầm quan trọng của việc
nâng cao chất lượng sản phẩm, sau thời gian thực tập ở công ty cơ khí Trần Hưng
Đạo, em đã lựa chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm ở công ty cơ
khí Trần Hưng Đạo”.
1
PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
CHƯƠNG I: CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
I KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI, CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ.
Chất lượng sản phẩm là một phạm trù rất rộng và phức tạp phản ánh các nội dung kỹ
thuật, kinh tế và xã hội. Cùng với sự vận động không ngừng được bổ sung và hoàn
thiện phản ánh chính xác đầy đủ nội dung, yêu cầu chất lượng sản phẩm. Trong sản
xuất kinh doanh không ai phủ nhận tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm, chất
lượng sảnn phẩm được coi là xuất phát điểm của mọi quá trình sản xuất kinh doanh,
được nhìn nhận linh hoạt gắn bó chặt chẽ với nhu cầu khách hàng trên thị trường. Chất
lượng sản phẩm trở thành mục tiêu quan trọng của doanh nghiệp và chương trình phát
triển kinh tế của nhiều quốc gia trên giới
1. Khái niệm và đặc trưng của chất lượng sản phẩm
Khái niệm.
Theo giáo sư IshiKawa- Chuyên gia chất lượng Nhật Bản:
“Chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất ”
Theo Juran : “ Chất lượng sản phẩm là sự phù hợp mục đích sử dụng ”
Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO (International organization for
standardization)
“Chất lượng sản phẩm, dịch vụ là tổng thể các chỉ tiêu, đặc trưng của sản phẩm
thể hiện sự thỏa mãn nhu cầu trong những điều kiện nhất định tiêu dùng xác định
phù hợp công dụng sản phẩm”
Phần lớn các chuyên gia về chất lượng sản phẩm trong nền kinh tế thị trường đều
coi chất lượng sản phẩm là sự phù hợp với nhu cầu hay mục đích sử dụng của
khách hàng . Chất lượng sản phẩm luôn gắn bó chặt chẽ với nhu cầu và xu hướng
và vận động của thị trường , do vậy cần phải thường xuyên đổi mới cải tiến kịp
thời cho thích ứng đòi hỏi của khách hàng. Khách hàng là người xác định chất
2
lượng chứ không phải là nhà sản xuất hay nhà quản lý. Tuy nhiên , quan điểm chất
lượng sản phẩm hướng về khách hàng có thể dẫn đến sự xem nhẹ và bỏ qua đặc
tính nội tại vốn có của sản phẩm.
Cục đo lường chất lượng Việt Nam đã đưa ra khái niệm
“ Chất lượng là tổng hợp tất cả tính chất biểu thị giá trị sử dụng phù hợp nhu
cầu xã hội xác định, đảm bảo các yêu cầu của người sử dụng nhưng cũng đảm bảo
tiêu chuẩn thiết kế và khả năng sản xuất của từng nước” (TCVN 5814-1994)
Chất lượng sản phẩm được tạo nên từ nhiều yếu tố, điều kiện trong chu kỳ sống
sản phẩm như : chất lượng máy móc, lao động , nguyên vật liệu, quản lý, cung
ứng... Như vậy, ta có thể khái quát những yếu tố chung của chất lượng sản phẩm
như sau:
- Chức năng công dụng của sản phẩm: là những đặc tính cơ bản của sản phẩm
dưa lại những lợi ích nhất định về giá trị sử dụng hay tính hữu ích của chúng.
- Những đặc điểm riêng biệt dặc trưng cho từng sản phẩm: thể hiện sự đặc biệt
của sản phẩm tạo ra khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
- Tính tin cậy của sản phẩm: đặc trưng cho thuộc tính của sản phẩm giữ được
khả năng làm việc chính xác, ổn định và an toàn trong một khoảng thời gian
nhất định nào đó.
- Tuổi thọ của sản phẩm: thể hiện thời gian tồn tại có ích của sản phẩm trong
quá trình đáp ứng yêu cầu người tiêu dùng.
- Các dịch vụ sau bán: thể hiện sự đáp ứng đòi hỏi của khách hàng sau khi đã
trao sản phẩm cho họ .
Hiện nay, quan niệm về chất lượng sản phẩm còn được tiếp tục phát triển bổ
sung, mở rộng hơn nữa để thích hợp với sự phát triển của thị trường. Để đáp ứng
nhu cầu khách hàng các doanh nghiệp không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm
của mình. Song không thể theo đuổi chất lượng với bất kỳ giá nào mà luôn có sự
giới hạn về kinh tế - xã hội - công nghệ. Khi đề cập đến chất lượng sản phẩm thì
không thể bỏ qua các yếu tố giá cả và dịch vụ sau bán. Ngoài ra, vấn đề giao hàng
3
đúng lúc, đúng thời hạn, thái độ của người phục vụ cũng là yếu tố vô cùng quan
trọng trong sản xuất hiện đại.
Đặc trưng cơ bản của chất lượng sản phẩm.
* Chất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế- kỹ thuật-xã hội tổng hợp:
Luôn thay đổi theo thời gian , không gian, môi trường và điều kiện kinh doanh.
Chất lượng là khả năng đáp ứng các yêu cầu , vì vậy một sản phẩm muốn đáp ứng
được nhu cầu sử dụng thì phải có tiêu chuẩn về chức năng phù hợp. Để tạo ra tiêu
chuẩn đó thì phải có những giải pháp kỹ thuật thích hợp, không thể tạo ra sản phẩm có
chất lượng cao bằng khả năng kỹ thuật non kém. Chỉ có công nghệ cao, máy móc
thiết bị tiên tiến phù hợp trình độ lao động, nguyên vật liệu tốt mới làm ra sản phẩm có
tính năng sử dụng cao thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
Chất lượng không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là vấn đề kinh tế, sự thỏa mãn
nhu cầu khách hàng không chỉ bằng những tiêu chuẩn về chức năng sản phẩm mà còn
bằng chi phí tạo ra nó. Đời sống xã hội ngày càng phát triển nhu cầu con người luôn
thay đổi họ không chỉ muốn ” Ăn no mặc ấm” mà còn ”Ăn ngon mặc đẹp”. Như vậy
chất lượng sản phẩm là sự kết hợp 3 yếu tố kinh tế- kỹ thuật- xã hội.
*Chất lượng sản phẩm phải được đánh giá qua các chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ thể.
Không thể tạo ra một mức chất lượng cao nếu chỉ dựa trên những ý tưởng, nhận xét về
mặt định tính. Mỗi sản phẩm được đặc trưng bằng các tiêu chuẩn, đặc điểm riêng biệt
nội tại của nó phụ thuộc vào trình độ thiết kế sản phẩm và được biểu thị bằng các chỉ
tiêu cơ, lý, hóa nhất định có thể đo lường và đánh giá được nhờ đó ta có thể so sánh
được chất lượng các sản phẩm.
*,Chất lượng sản phẩm phải có tính tương đối
Thể hiện trên cả hai mặt không gian và thời gian. Một loại sản phẩm có thể được
đánh giá có chất lượng cao ở thị trường này nhưng lại không ở thị trường khác.
Ngay trên một thị trường, cùng một loại sản phẩm được đánh giá khác nhau về chất
lượng với những người tiêu dùng khác nhau. Nhu cầu khách hàng lại luôn thay đổi
4
sản phẩm phù hợp mong muốn khách hàng hôm nay nhưng ngày mai thì không. Vì
vậy, chất lượng sản phẩm phải luôn được đổi mới, linh hoạt và phải đón trước được
nhu cầu khách hàng thì các doanh nghiệp mới thành công cao.
* ,Chất lượng sản phẩm thể hiện hai cấp độ phản ánh hai mặt khách quan và chủ
quan.
Chất lượng trong tuân thủ thiết kế thể hiện ở mức độ chất lượng sản phẩm đạt
được so với tiêu chuẩn đề ra. Khi sản phẩm có những đặc tính kinh tế - kỹ thuật
càng gần tiêu chuẩn kinh tế thì chất lượng càng cao. Loại chất lượng này phụ thuộc
chặt chẽ vào tiêu chuẩn, đặc điểm, trình độ công nghệ, cách tổ chức qu*****
thỏa mãn một số người nhất định.
- Chất lượng phù hợp: là chất lượng đảm bảo đúng thiết kế hay tiêu chuẩn đã qui
định.
- Chất lượng thị hiếu: là chất lượng phù hợp với sở thích, sở trường, tâm lý người
tiêu dùng.
 Phân loại theo hệ thống chất lượng ISO 9000.
-Chất lượng thiết kế: là giá trị các chỉ tiêu đặc trưng của sản phẩm được phác thảo
qua văn bản trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu thực tế, các đặc điểm của quá trình sản
xuất- tiêu dùng, so sánh chỉ tiêu chất lượng hàng tương tự của các hãng khác thông
qua: Nghiên cứu thị trường, trình độ thiết kế viên, nguyên vật liệu đưa vào...
-Chất lượng tiêu chuẩn: là giá trị cấc chỉ tiêu đặc trưng được cấp có thẩm quyền
phê duyệt dựa trên cơ sở nghiên cứu chất lượng thiết kế mà cơ quan nhà nước xét
duyệt, bao gồm: tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, quốc gia, ngành, doanh
nghiệp..
- Chất lượng thực tế: là mức độ chất lượng thực tế đạt được do các yếu tố chi phối
như: điều kiện tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu...
- Chất lượng cho phép: là mức độ cho phép giới hạn về độ lệch giữa chất lượng
tiêu chuẩn và chất lượng thiết kế, chất lượng cho phép phụ thuộc vào trình độ tay
nghề công nhân, phương pháp quản lý của doanh nghiệp...
5
- Chất lượng tối ưu:là chất lượng mà tại đó lợi nhuận đạt được do nâng cao chất
lượng sản phẩm cao hơn mức chi phí tăng lên để đạt mức chất lượng đó. Sản phẩm
hàng hóa đạt chất lượng tối ưu là chỉ tiêu chất lượng sản phẩm thỏa mãn nhu cầu
người tiêu dùng, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường, sức tiêu thụ nhanh đạt
hiệu quả kinh doanh cao
2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm.
2.2.1 Chỉ tiêu đặc trưng cho chất lượng
Chỉ tiêu chất lượng là những tiêu chuẩn, tính năng hoặc những đặc trưng nào đó
của sản phẩm mà nhờ chúng sản phẩm đáp ứng yêu cầu chất lượng, và có thể so
sánh, đánh giá chất lượng các sản phẩm
*Chỉ tiêu công dụng
Đây là nhóm chỉ tiêu quan trọng nhất thường được giới thiệu rộng rãi để người
tiêu dùng biết trong các bản thuyết minh hướng dẫn sử dụng hoặc trên nhãn hiệu
sản phẩm. Nhóm chỉ tiêu công dụng thể hiện rõ tính năng, tác dụng và điều kiện
sử dụng sản phẩm
- Những chỉ tiêu thể hiện quy cách sản phẩm: chỉ tiêu này nêu rõ sản phẩm có
thể dùng vào việc gì và những điều kiện cần thiết để sử dụng chúng giúp
người tiêu dùng có thể lựa chọn sản phẩm đúng mục đích sử dụng.
- Những chỉ tiêu thể hiện tính năng, đặc điểm sản phẩm như: hiệu suất, suất tiêu
hao điện năng, nhiên liệu, độ chính xác, độ tin cậy, tuổi thọ...là cơ sở so sánh
những sản phẩm cùng quy cách xem sản phẩm nào ưu việt hơn .
* Chỉ tiêu an toàn.
Với một số loại sản phẩm thì nhóm chỉ tiêu này đặc biệt quan trọng và được
kiểm soát nghiêm ngặt. Chẳng hạn:
Hàng thực phẩm chỉ tiêu an toàn là chỉ tiêu vệ sinh.
Với thiết bị máy móc chỉ tiêu an toàn thể hiện khả năng bảo vệ thiết bị khi có
sự cố, bảo vệ người sử dụng, sự an toàn kết cấu khi vận hành...
Chỉ tiêu an toàn được đánh giá bằng các bộ phận bảo vệ như: Bảo vệ khi có sự
cố, bảo vệ quá dòng, quá điện áp...
6
* Chỉ tiêu thẩm mỹ.
Là những chỉ tiêu đặc trưng cho sự gợi cảm, hấp dẫn của sản phẩm, sự hợp lý
của hình thức, bao gói, mẫu mã sản phẩm. Tùy từng loại sản phẩm có những chỉ
tiêu thẩm mỹ khác nhau như về màu sắc, độ bền, họa tiết, kết cấu, độ bóng, độ
cứng...
*Chỉ tiêu công thái
Thể hiện mối quan hệ sản phẩm với người tiêu dùng và môi trường, sự phù hợp
của sản phẩm với đặc diểm sinh lý, tâm lý của người tiêu dùng với điều kiện sử
dụng.
*Chỉ tiêu về công nghệ
Đặc trưng cho sự thuận lợi và hiệu quả sử dụng sản phẩm do đặc điểm công
nghệ đem lại. Nhóm chỉ tiêu này đặc biệt quan trọng đối với máy móc thiết bị có
liên quan đến kỹ thuật bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa...
*Nhóm chỉ tiêu công nghệ bao gồm: Hệ số lắp ráp, hệ số sử dụng nguyên vật
liệu, xuất nguyên vật liệu...
* Chỉ tiêu tiêu chuẩn hóa
Đặc trưng cho mức độ sử dụng các chi tiết, bộ phận được tiêu chuẩn hóa trong sản
phẩm và cho biết bộ phận cấu tạo sản phẩm được sử dụng theo tiêu chuẩn nào có
tính thống nhất cao, dễ sử dụng, dễ sửa chữa.
* Chỉ tiêu kinh tế.
Đặc trưng cho tính kinh tế của sản phẩm liên quan đến hiệu quả sử dụng bao gồm:
Giá mua ban đầu, chi phí lắp đặt, chi phí vận hành, chi phí cho quá trình sử dụng...
Hệ thống chỉ tiêu trên không tồn tại độc lập, tách rời mà chúng có mối quan hệ chặt
chẽ thống nhất với nhau. Đối với mỗi loại sản phẩm khác nhau thì chỉ tiêu chất
lượng có ý nghĩa khác nhau. Do đó mỗi doanh nghiệp cần căn cứ vào đặc điểm sử
dụng của sản phẩm, tổ chức sản xuất, quan hệ cung cầu...để lựa chọn cho mình
những chỉ tiêu phù hợp, có sắc thái riêng biệt với các sản phẩm cùng loại khác trên
thị trường.
2.2.2 Các chỉ tiêu dùng để phản ánh và đánh giá.
7
Ngoài các chỉ tiêu đặc trưng cho chất lượng sản phẩm, để phân tích tình hình thực
hiện chất lượng giữa các bộ phận các doanh nghiệp còn sử dụng các chỉ tiêu:
+ Dùng thước đo hiện vật :
(Số sản phẩm hỏng bao gồm sản phẩm có thể sửa chữa và không thể sửa chữa )
+ Dùng thước đo giá trị :
- Tỷ lệ đạt chất lượng
- Hệ số thiệt hại sản phẩm hỏng
II . CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
1 Nhóm nhân tố khách quan bên ngoài
Chất lượng sản phẩm ngày càng được phát triển và hoàn thiện theo một chu
trình kép kín. Tổ chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế (ISO) gọi chu trình này là
vòng tròn chất lượng. Vòng tròn chất lượng là cơ
Thống kê xd cầu định
sởcácđểyêuxác các
kĩ thuật yếu tố ảnh
, nghiên
Nghiên cứu Marketting cứu triển khai sản xuất sản phẩm
hưởng tới chất lượng sản phẩm từ quá trình hình thành cũng như duy trì từ khâu
đầu đến khâu cuối trên cơ sở đó đưa ra biện pháp để điều chỉnh các yếu tố cần
Cung cấp
thiết để nâng cao chất lượng sản phẩm. Chia nhóm
vậtnhân
tư kĩ tố ảnh hưởng tới chất
Thanh lý sau thuật
lượng bên trong
SD và bên ngoài
Chuẩn bị và khai triển
quá trình sản xuất
Tự bảo dưỡng kĩ thuật
Sản xuất
Lắp đặt và vận
hành
Thử nghiệm và kiểm
tra
8
Bán và cung cấp
Bao gói và dự trữ
Vòng tròn chất lượng( TCVN-5204-ISO9004)
1.1 Nhu cầu nền kinh tế -văn hóa - xã hội.
Bất cứ ở trình độ nào, với mục đích sử dụng gì, chất lượng sản phẩm bao giờ
cũng bị chi phối, bị ràng buộc bởi hoàn cảnh, điều kiện và nhu cầu nhất định của
nền kinh tế. Trong thực tế không một sản phẩm nào tồn tại và phát triển mà ít
nhiều không liên quan đến nhưng mặt sau của nền kinh tế: cơ cấu, tính chất, đặc
điểm và xu hướng vận động của nhu cầu tác động trực tiếp tới chất lượng sản
phẩm.
Vấn đề kinh tế của tiêu dùng,cũng như thói quen tập quán ảnh hưởng tới chất
lượng sản phẩm mà các nhà sản xuất phải cố gắng đáp ứng. ậ những độ tuổi khác
nhau, trình độ nhận thức khác nhau, phong cách tiêu dùng khách nhau ảnh hưởng
9
đến chất lượng sản phẩm khác nhau. Chính vì thế chất lượng sản phẩm chịu ảnh
hưởng lớn của nền kinh tế- văn hóa- xã hội.
1.2 Trình độ khoa học- kỹ thuật- công nghệ.
Ngày nay, khoa học kỹ thuật đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Do
đó chất lượng của bất kỳ sản phẩm nào cũng gắn liền và bị quyết định bởi sự phát
triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt việc ứng dụng những thành tựu công nghệ
mới. Chu kỳ công nghệ ngày càng được rút ngắn, sản phẩm sản xuất ngày càng có
khả năng cung cấp nhiều lợi ích hơn cũng chính vì vậy mà những chuẩn mực về
chất lượng thường xuyên trở nên lạc hậu. Làm chủ được khoa học công nghệ, tạo
điều kiện để ứng dụng một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất thành tựu khoa học kỹ
thuật vào sản xuất là vấn đề quyết định đối với nâng cao chất lượng sản phẩm,
góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.3 Nhu cầu thị trường
Nhu cầu thị trường là xuất phát điểm của quá trình quản lý chất lượng sản phẩm,
tạo động lực định hướng cho việc hoàn thiện chất lượng sản phẩm, các sản có thể
được đánh giá cao ở thi trường này nhưng lại không cao ở thị trường khác. Nhu
cầu thị trường thương xuyên thay đổi ở trong nước cũng như trên thế giới về cỡ
loại, tính năng, kỹ thuật, số lượng, chủng loại, cho ai, lúc nào, tính an toàn, thẩm
mỹ...Vì vậy, phải tiến hành nghiêm túc thận trọng công tác điều tra nghiên cứu
nhu cầu khách hàng như thói quen, khả năng thanh toán ...nhằm đưa ra những sản
phẩm phù hợp, có đối sách kịp thời đúng đắn.
1.4 Hiệu lực của cơ chế quản lý.
Các doanh nghiệp không thể tồn tại một cách biệt lập mà luôn có mối quan hệ
chặt chẽ và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình chính trị xã hội và cơ chế
chính sách quản lý của nhà nước. Cơ chế quản lý vừa là môi trường vừa là điều
kiện cần thiết để tác động đến phương hướng, tốc độ cải tiến và nâng cao chất
lượng sản phẩm của doanh nghiệp.
- Trên cơ sở một hệ thống pháp luật chặt chẽ, quy định những hành vi và trách nhiệm
pháp lý của nhà sản xuất đối với nhà nước và người tiêu dùng. Nhà nước tiến hành
10
điều tra theo dõi chặt chẽ mọi hoạt động của người sản xuất nhằm bảo vệ người tiêu
dùng. Nhà nước tiến hành kiểm tra, theo dõi chặt chẽ mọi hoạt động của nhà sản xuất
nhằm bảo vệ người tiêu dùng.
- Nhà nước xây dựng các chính sách thưởng phạt về chất lượng ảnh hưởng tới tinh
thần các doanh nghiệp trong việc cố gắng nâng cao chất lượng sản phẩm. Việc khuyến
khích và hỗ trợ của nhà nước đối với các doanh nghiệp thông qua các chính sách về
thuế, tài chính là những điều kiện để đảm bảo chất lượng. Chú trọng đầu tư theo chiều
sâu để nâng cao hiệu quả tổng hợp của lực lượng sản xuất, dành lực lượng thích đáng
cho việc nghiên cứu, chế thử... nhằm nâng cao chất lượng.
Ngoài ra, điều kiện tự nhiên cũng là nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
như: Khí hậu, các tia bức xạ mặt trời có thể làm thay đổi màu sắc, mùi vị của sản
phẩm hay nguyên vật liệu dùng để sản xuất sản phẩm, hoặc mưa bão có thể gây ẩm
mốc... doanh nghiệp cần chú ý bảo quản và ngăn chặn những nhân tố gây tác động
xấu.
2. Những nhân tố bên trong doanh nghiệp
2.1 Lực lượng lao động
Con người là nhân tố vô cùng quan trọng quyết định tới chất lượng sản phẩm vì con
người tham gia vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất. Bao gồm toàn thể cán
bộ, công nhân viên trong doanh nghiệp. Trình độ chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm,
ý thức tinh thần, trách nhiệm, sự năng động, sáng tạo có ảnh hưởng trực tiếp tới chất
lượng sản phẩm. Do đó, doanh nghiệp phải có chính sách tuyển dụng, đào tạo, huấn
luyện, có chế độ đãi ngộ thoả đáng để kích thích sự hăng hái làm việc.
2.2 Máy móc thiết bị và công nghệ
Đối với mỗi doanh nghiệp, máy móc thiết bị và công nghệ là yếu tố cơ bản tác động
mạnh mẽ và trực tiếp ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm. Mức độ chất lượng sản
phẩm phụ thuộc rất lớn vào trình độ hiện đại, cơ cấu tính đồng bộ, tình hình bảo
dưỡng, duy trì khả năng làm việc theo thời gian làm việc của máy móc thiết bị, công
nghệ, trình độ công nghệ của cá doanh nghiệp không thể tách rời trình độ của các nước
trên thế giới. Muốn sản phẩm có chất lượng đủ khả năng cạnh tranh thì phải có công
11
nghệ phù hợp . Trong khi nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt, khan hiếm đòi hỏi ứng
dụng khoa học công nghệ vào sản xuất mới đạt sản phẩm có chất lượng cao với chi phí
hợp lý.
2.3 Vật tư, nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu là yếu tố cấu thành tham gia trực tiếp cấu thành sản phẩm vì
vậy,chất lượng , cơ cấu, tính đồng bộ của nguyên vật liệu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
chất lượng sản phẩm. Vì vậy, cần quan tâm tới khâu bảo quản dự trữ để sử dụng
nguyên vật liệu đủ định lượng theo tiêu chuẩn, xây dựng mối quan hệ tốt lâu dài giữa
người sản xuất và người cung ứng. Xu hướng chuyên môn hoá hiện nay làm cho việc
sử dụng bán thành phẩm ngày càng gia tăng, các doanh nghiệp hiện đại chỉ chế tạo
một số bộ phận , 1 số bộ phận mua rồi lắp thành sản phẩm hoàn chỉnh. Bởi vậy, chất
lượng sản phẩm bị chi phối vào các bạn hàng nên phải tạo lập quan hệ tốt để họ cung
ứng kịp thời đầy đủ chính xác góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh
nghiệp.
2.4 Công tác quản lý chất lượng sản phẩm
Quản lý chất lượng về cơ bản là những hoạt động và kỹ thuật nhằm đạt duy trì chất
lượng 1 sản phẩm, quy trình dịch vụ, việc đó gồm: Theo dõi tìm hiểu và loại trừ các
nguyên nhân gây ra những trục trặc về chất lượng để các yêu cầu của khách hàng tiếp
tục được đáp ứng. Trình độ quản lý nói chung và quản lý chất lượng là một trong
những nhân tố cơ bản góp phần đảy nhanh tốc độ cải tiến hoàn thiện chất lượng sản
phẩm. Quản lý chất lượng sản phẩm trở thành một nhiệm vụ trung tâm của quá trình
sản xuất của doanh nghiệp.
- Xây dựng tiêu chuẩn: Việc thực hiện công tác xây dựng chỉ tiêu chất lượng
sản phảm sẽ hình thành sản phẩm mới hợp lý về công dụng, thích hợp về thị hiếu, loại
bỏ sản phẩm không kinh tế, sử dụng hợp lý nguyên vật liệu, rút ngắn thời gian sản
xuất, nâng cao năng suất lao động... vì vậy nâng cao chất lượng sản phẩm phải coi
trọng công tác xây dựng tiêu chuẩn và định mức kinh tế kỹ thuật của sản phẩm.
- Kiểm tra quá trình cung ứng nguyên vật liệu.
12
- Kiểm tra kỹ thuật: cần kiểm tra việc thiết lập hệ thống kế hoạch sản xuất sản
phẩm trên từng loại máy móc thiết bị có phù hợp không, nếu không phải điều chỉnh
lại, doanh nghiệp cần tiến hành chặt chẽ từng công đoạn , thực hiện bảo dưỡng sửa
chữa máy móc thiết bị, cung cấp kịp thời phụ tùng linh kiện thay thế.
- Kiểm tra chất lượng sản phẩm: Kiểm định đánh giá trình độ chất lượng sản
phẩm, khắc phục nguyên nhân gây sản phẩm kém.
Chất lượng sản phẩm là vô cùng quan trọng, do đó không thể phó mặc cho các nhân
viên kiểm tra chất lượng, không nên coi kiểm tra chất lượng là trách nhiệm của phòng
kiểm tra (KCS) mà là của mọi thành viên trong doanh nghiệp. Các công nhân sản xuất
trực tiếp phải ý thức tầm quan trọng của việc mình làm ra từng sản phẩm chất lượng
tốt.
Quản lý kỹ thuật và kiểm tra chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào phương thức tổ chức
nên cần phải xác định lại trách nhiệm của mỗi bộ phận trong doanh nghiệp. Mục đích
của việc kiểm tra chất lượng sản phẩm là đảm bảo sản phẩm cuối cùng đạt yêu cầu đặt
ra với giá thành thấp nhất, muốn đạt được điều đó phải hợp nhất công tác kiểm tra chất
lượng vào quá trình sản xuất sản phẩm. Thực chất của công tác kiểm tra chất lượng
sản phẩm là phòng ngừa việc đưa ra thị trường những sản phẩm hỏng chứ không đơn
thuần loại bỏ chúng , phải vạch ra những khuyết điểm , nguyên nhân và biện pháp
khắc phục .
Nhu cầu thị
trường Khoa học công nghệ Cơ chế quản lý
trình độ công nghệ
Khách hàng Chính sách
Chất lượng sản
phẩm
kĩ năng trình chất
độ Kiểm tra
lượng đo lường
kinh An toàn chủng loại
nghiệm
Vốn
Con người M M thiết Nguyên Quản lý chất
bị vật liệu lượng
13
III. VAI TRÒ ĐẢM BẢO , NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM.
Trong đời sống xã hội và giao lưu kinh tế có vai trò hết sức quan trọng và đang trở
thành thách thức to lớn trên phạm vi toàn thế giới. Nâng cao chất lượng sản phẩm
không chỉ có ý nghĩa to lớn và thiết thực đối với hoạt động sản xuất kinh doanh mà
còn ảnh hưởng trực tiếp tới người lao động, người tiêu dùng và nền kinh tế quốc dân.
Chính vì vậy, nâng cao chất lượng sản phẩm là một biện pháp quan trọng để doanh
nghiệp có thể tồn tại và đứng vững trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt và
khốc liệt, để đáp ứng nhu cầu luôn thay đổi cuả khách hàng. Nâng cao chất lượng sản
phẩm không chỉ nghĩa là làm sản phẩm sử dụng tốt hơn, an toàn hơn mà đồng nghĩa
tăng tính hữu ích , đa năng của sản phẩm.
* Đối với người sản xuất
- Nâng cao chất lượng sản phẩm giúp doanh nghiêp có khả năng cạnh tranh
cao trên thị trường , mở rộng thị trường và chinh phục khách hàng .
- Tạo uy tín, danh tiếng cho doanh nghiêp . Đó là tài sản vô hình thu hút được
khách hàng, tăng doanh thu, phát triển và mở rộng sản xuất.
- Hạ giá thành, tạo cơ hội cho doanh nghiêp buôn bán làm ăn với các nước khác
giữ uy tín cho quốc gia .
- Nâng cao chất lượng sản phẩm tức là cùng một khối lượng nguyên vật liệu có
thể sản xuất ra một giá trị sử dụng cao hơn nên tiết kiệm được sức người, sức của và
đạt hiệu quả kinh tế cao hơn.
* Đối với xã hội và nền kinh tế quốc dân
- Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng giá trị sử dụng và lợi ích xã hội
trên một đơn vị chi phí đầu vào, giảm lượng nguyên vật liệu sử dụng, giảm ô nhiễm
môi trường , phát triển sản xuất, đảm bảo việc làm, thu nhập cho người lao động .
- Tạo dược lòng tin cậy của người tiêu dùng với sản phẩm
14
- Tăng khả năng cạnh tranh về kinh tế, khẳng định vị trí sản phẩm của đất nước
trên thị trường quốc tế.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm là một biện pháp hữu hiệu kết hợp các loại lợi
ích: doanh nghiêp, xã hội, người tiêu dùng, người lao động.
Chất lượng sản phẩm tạo nên hình ảnh tốt đẹp của doanh nghiêp. hoặc ngược lại.
Người mua hàng có thể hoàn toàn không biết đến khả năng , nguồn lực của doanh
nghiêp nhưng họ biết đến doanh nghiêp qua sử dụng sản phẩm. Theo số lượng thống
kê những công ty có vị thế hàng đầu về chất lượng đã thiết lập giá ở mức 8% cao hơn
so với đối thủ cạnh tranh có vị thế thấp hơn về chất lượng. Họ cũng đạt mức trung
bình về thu hồi vốn cho đầu tư 30% so với mức 20% của những công ty ở những thang
bậc khác nhau của chất lượng.
CHƯƠNG II : QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG
I. Khái niệm, vai trò quản trị chất lượng
1, Khái niệm, vai trò quản trị chất lượng
1.1 Khái niệm
Để tạo ra những sản phẩm thoả mãn nhu cầu khách hàng, nâng cao hiệu quả công
tác quản lý và tạo ra những sản phẩm có chi phí hợp lý ngay cả trong quá trình vận
hành nhằm đảm bảo sự ổn định lâu dài của các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật. Trách nhiệm
quản lý chất lượng không chỉ nằm trong khâu sản xuất mà cả trong hoạt động quản lý
bán hàng. Quản lý chất lượng là trách nhiệm của tất cả các cấp từ cán bộ lãnh đạo, chỉ
đạo đến mọi thành viên trong tổ chức.
“ Quản trị chất lượng là một tập hợp những hoạt động của chức năng quản trị
chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục đích và thực hiện chúng bằng những
15
phương tiện như lập kế hoạch , điều khiển chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến
chất lượng trong khuôn khổ hệ thống pháp luật”.
Các quan điểm về quản lý chất lượng được phát triển và hoàn thiện liên tục thể hiện
ngày càng đầy đủ hơn bản chất tổng hợp, phức tạp của vấn đề chất lượng và sự phản
ánh thích hợp với điều kiện và môi trường kinh doanh mới.
Theo A.G.Robéton- người Anh: “ quản lý chất lượng sản phẩm và ứng dụng các sản
phẩm, thủ tục kiến thức khoa học kỹ thuật đảm bảo cho các sản phẩm đã, đang sản
xuất phù hợp với yêu cầu thiết kế hoặc với yêu cầu trong hợp đồng kinh tế bằng con
đường hiệu quả nhất, kinh tế nhất”.
Theo A.V.Feigenbaun- người Mỹ: “ quản lý chất lượng là một hệ thống hoạt động
thống nhất có hiệu quả của những bộ phận khác nhau trong một tổ chức chịu trách
nhiệm triển khai các tham số chất lượng, duy trì mức chất lượng đã đạt được và nâng
cao nó để đảm bảo sản xuất và tiêu dùng sản phẩm một cách kinh tế nhất, hiệu quả
nhất “
Theo Philip.B.Grosby:” quản lý chất lượng là một phương tiện có tính chất hệ thống
đảm bảo việc tôn trọng tổng thể tất cả các thành phânf của một kế hoạch hành động”.
Theo ISO 9000:” quản lý chất lượng sản phẩm là các phương pháp hoạt động được
sử dụng nhằm đáp ứng yêu cầu về chất lượng”.
Mặc dù có nhiều quan điểm về quản lý chất lượng song chúng có nhiều điểm tương
đồng, có thể khái quát bằng khái niệm sau:” quản lý chất lượng là hệ thống các hoạt
động, các biện pháp và quy định hành chính, xã hội , kinh tế – kỹ thuật dựa trên các
thành tựu của khoa học hiện đại nhằm sử dụng tối ưu những tiềm năng để đảm bảo,
duy trì và không ngừng nâng cao chất lượng nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của xã hội
với chi phí thấp nhất”.
1.2 Vai trò quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng sản phẩm đóng vai trò rất quan trọng trong doanh nghiệp , nó
quyết định chất lượng sản phẩm tung ra thị trường như thế nào, cao hay thấp ...qua đó
quyết định sự tồn vong và thịnh suy của công ty trên thị trường. Đối với mọi doanh
16
nghiệp, quản lý chất lượng sản phẩm nhằm duy trì, đảm bảo và nâng cao chất lượng
sản phẩm, tạo khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tăng lợi nhuận.
Kono Suke Matuhita – chủ tịch tập đoàn điện tử Nhật Bản:” Nếu cho rằng mọi hàng
hoá có linh hồn thì chất lượng chính là linh hồn của nó” ( Bản lĩnh trong kinh doanh-
NXB quốc gia 1994). Như vậy nâng cao chất lượng sản phẩm phải cần nhiều nỗ lực và
thái độ của nhà sản xuất thực hiện thông qua hàng loạt các giải pháp từ khâu định
chiến lược đến mua yếu tố đầu vào, tổ chức công nghệ sản xuất và cung ứng sản phẩm
đến khách hàng, nó còn đặt ra với cả người phân phối bán hàng.
2. Chức năng quản lý chất lượng
2.1 Hoạch định chất lượng
* Vai trò
- Hoạch định chất lượng là chức năng quan trọng nhất và là khâu đầu tiên của hoạt
động quản lý , là định hướng phát triển chung cho toàn công ty
- Làm cho hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả hơn nhờ khai thác hiệu quả
nguồn lực và tiềm năng dài hạn làm giảm chi phí chất lượng .
- Xác định chính xác mục tiêu, giúp công ty mở rộng thị trường.
- Tạo ra văn hoá mới, một sự chuyển biến căn bản về phương pháp quản lý chất
lượng của các công ty.
* Nội dung
- Xác định mục tiêu chất lượng và chính sách chất lượng.
- Phát triển các quá trình hình thành các đặc điểm của sản phẩm đáp ứng nhu cầu
khách hàng
- Xây dựng các giải pháp kinh tế kỹ thuật cần thiết ở từng giai đoạn
* Cơ sở
Nhu cầu khách hàng về chất lượng sản phẩm, khả năng công nghệ...
2.2 Tổ chức thực hiện
Là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động tác nghiệpthông qua những phương
tiện kỹ thuật, phương pháp cụ thể nhằm đảm bảo chất lượng theo đúng yêu cầu
đề ra
17
- Giúp từng người , từng bộ phận thực hiện mục tiêu rõ ràng
- Phân giao nhiệm vụ cho từng người, từng bộ phận phải cụ thể khoa học để tạo
thoả mái trong quá trình làm việc.
- Tổ chức các chương trình đào tạo, cung cấp kiến thức, kinh nghiệm phương pháp
cần thiết
- Cung cấp nguồn lực về tài chính và phương tiện kỹ thuật để thực hiện nhiệm vụ .
2.3 Kiểm tra, kiểm soát chất lượng.
Kiểm tra chất lượng được xem là một hệ thống các hoạt động nghiệp vụ nhằm theo
dõi, thu thập ,phát hiện và đánh giá những trục trặc khuyết tật của quá trình, của sản
phẩm trong mọi khâu. Mục đích kiểm tra không phải phát hiện sản phẩm hỏng , loại ra
mà phải tìm kiếm nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, ngăn chặn .
- Xác định mức độ chất lượng thực tế đạt được có tuân thủ quy trình quy phạm
không?
- So sánh giữa chất lượng thực tế với chất lượng kế hoạch để phát hiện sai lệch.
- Phân tích thông tin về chất lượng làm cơ sở cho việc cải tiến chất lượng, sản
phẩm
Có thể tiến hành kiểm tra định kỳ hoặc kiểm tra bất thường
2.4 Chức năng điều chỉnh và cải tiến chất lượng.
Đây là hoạt động nhằm làm cho các hoạt động của hệ thống doanh nghiệp có khả
năng thực hiện ddược những tiêu chuẩn chất lượng đề ra, đồng thời cũng là đưa ra chất
lượng sản phẩm thích ứng với tình hình mới nhằm giảm khoảng cách giữa mong muốn
của khách hàngvà thực tế chấ lượng đạt được, thoả mãn nhu cầu khách hàng ở mức độ
cao hơn.
Những nhiệm vụ chủ yếu:
- Xác định các yêu cầu cụ thể và cải tiến chất lượng
- Xác định các yêu cầu cụ thể và điều kiện nhân lực, tài chính, vật tư cần thiết.
- Duy trì và khuyến khích quá trình xây dựng và thực hiện các dự án cải tiến chất
lượng sản phẩm
18
Với những chỉ tiêu không đạt , phải phân tích nguyên nhân nhằm xác định xem
vấn đề thuộc về khách hàng hay thực hiện, tìm ra điều sai để tiến hành hoạt động
điều chỉnh hợp lý, có thể đổi mới hoặc cải tiến.
3. Nội dung quản lý chất lượng .
3.1 Quản lý chất lượng trong khâu thiết kế.
Đây là hệ thống hết sức quan trọng và ngày nay được coi là nhiệm vụ đầu tiên
trong quản lý chất lượng , mức độ thoả mãn nhu cầu sản phẩm hoàn toàn phụ thuộc
vào chất lượng thiết kế. Chất lượng thiết kế tác động trực tiếp tới chất lượng sản
phẩm
Để thực hiện mục tiêu đó cân thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tập hợp tổ chức và thực hiện sự phối hợp giữa các nhà thiết kế, tài chính, tác
nghiệp... để thiết kế sản phẩm, chuyển hoá những yêu cầu đó thành đặc điểm sản
phẩm.
- Đưa ra các phương án khác nhau về sản phẩm có thể đáp ứng yêu cầu khác nhau
của khách hàng. Đặc điểm sản phẩm có thể lấy từ sản phẩm cũ hay cải tiến những
sản phẩm đócho phù hợp đòi hỏi mơí hoặc nghiên cứu thiết kế đặc điểm sản phẩm
mới.
- Đánh giá phương án thiết kế và lựa chọn phương án tối ưu, phân tích kinh tế về
mối quan hệ giữa lợi ích của đặc điểm sản phẩm mới đưa lại và chi phí cần thiết
để tạo ra chúng. Trong giai đoạn này, sử dụng các hệ thống đảm bảo chất lượng :
Hệ thống điều kiện kỹ thuật thít kế, duyệt thiết kế, thẩm định bản vẽ, thử nghiệm
sản phẩm.
3.2. Quản lý chất lượng trong giai đoạn cung ứng.
Mục tiêu cơ bản của phân hệ cung ứng là đáp ứng đầy đủ 5 yêu cầu: chính xác về
thời gian, địa điểm, số lượng, chất lượng, chủng loại. Do đó giai đoạn này cần:
- Lựa chọn nhà cung ứng phù hợp đảm bảo tính ổn định cao của đầu vàoquá trình
sản xuất, xây dựng mối quan hệ tin tưởng lâu dài.
- Tạo lập một hệ thống thông tin phản hồi chặt chẽ với người cung ứng.
19
- Thoả thuận về việc đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng của nguyên vật liệu cung ứng
cũng như các phương pháp thẩm tra, xác minh.
- Phải xác định rõ, đầy đủ thống nhất các điều khoản trong việc giải quyết trục trặc
khuyết tẩttong qua trình cung ưngs nguyên vật liệu như: phương án giao nhận,
thời gia, địa điểm...
3.3. Quản lý chất lượng trong quá trình sản xuất.
Mục đích: Huy đọng và khai thác có hiệu quả các quá trình công nghệ, máy móc
thiết bị và con người đã lựa chọn để sản xuất sản phẩm có chất lượng phù hợp thiết kế
ban đầu.
- Kiểm tra nguyên vật liệu trước khi đưa vào sử dụng.
- Thiết lập các quy trình, thủ tục, thao tác, tiêu chuẩn ở toàn bộ dây chuyền sản
xuất.
- Kiểm tra các sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, bộ phận, chi tiết, thành phẩm.
- Kiểm tra hoàn chỉnh thường xuyên các dụng cụ đo lườngchất lượng sản phẩm,
công việc được tiến hành với cả lĩnh vực quản lý.
- Kiểm tra công nghệ, thiết bị kỹ thuậtvà có giải pháp đảm bảochất lượng hoạt
động của máy móc thiết bị.
Người ta thường sử dụng các chỉ tiêu: chỉ tiêu phản ánh chất lượng kỹ thuật,
nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, chất lượng quản trị...Và các hệ thống
đảm bảo chất lượng: Hệ thống duyệt thiết kế quy trình(kỹ sư công nghệ, người thiết
kế sản phẩm...) , hệ thống kiểm tra chất lượng.
3.4. Quản lý chất lượng trong phân phối bán hàng.
Mục đích: Cung cấp nhanh đầy đủ kịp thời các sản phẩm đáp ứng nhu cầu khách
hàng với chi phí hợp lý, bên cạnh đó tìm mọi cách để tạo điều kiện cho người sử dụng
có thể khai thác được tối đa những tính năng của sản phẩm. Do vậy, mà chúng ta cần
xác định các hình thức và phương thức quảng cáo cho phù hợp, gây ấn tượng.
Những nhiệm vụ chủ yếu:
- Xác định danh mục sản phẩm hợp lý.
- Tổ chức mạng lưới tiêu thụ hợp lý.
20